Tải bản đầy đủ

Điều tra, đánh giá thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Thiên Tôn, Huyện Hoa Lư, Tỉnh Ninh Bình

1. Đặt vấn đề
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra hết sức khẩn trương, bộ mặt xã hội đã
có nhiều chuyển biến tích cực. Cho đến nay, nó không chỉ phát triển ở các thành
phố, khu đô thị lớn của nước ta mà đang mở rộng ra các huyện lân cận.
Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống của người dân được cải thiện đáng
kể. Mức sống của người dân càng cao thì nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm xã hội
càng cao, điều này đồng nghĩa với việc gia tăng lượng rác thải sinh hoạt. Rác thải
sinh hoạt phát sinh trong quá trình ăn, ở, tiêu dùng của con người, được thải vào
môi trường ngày càng nhiều, vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường dẫn
đến môi trường bị ô nhiễm. Đặc biệt ở các khu đô thị, lượng dân cư tập trung đông
kéo việc thải ra thường xuyên một lượng rất lớn rác thải sinh hoạt mà viêc quản lý
chúng ở nhiều nơi còn yếu kém và gặp khó khăn. Vì vậy nghiên cứu việc quản lý,
xử lý và tái chế rác thải sinh hoạt trong đô thị là một trong những vấn đề đáng
được quan tâm trong quá trình phát triển và xây đựng đô thị.
Hoa Lư là một huyện nằm liền kề với thành phố Ninh Bình. Huyện có đường
giao thông thuận lợi, nên các cơ sở sản xuất, các khu công nghiệp ngày càng được
mở rộng thu hút một lượng lớn lao động ở các tỉnh, huyện khác. Thị trấn Thiên
Tôn là trung tâm văn hóa, chính trị của huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình. Những năm
gần đây, thị trấn đã có những bước phát triển đáng kể về kinh tế xã hội, tốc độ tăng

trưởng kinh tế khá, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, một vấn
đề đang nổi cộm lên ở huyện Hoa Lư hiện nay chính là vấn đề rác thải sinh hoạt.
Rác thải không những chỉ làm ảnh hưởng đến môi trường, đến mỹ quan của thị
trấn, mà nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân nơi đây.


Xuất phát từ thực trang trên, nhằm tìm ra biện pháp quản lý, xử lý phù hợp
góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt, chúng tôi tiến hành
thực hiện đề tài: “Điều tra, đánh giá thực trạng và đề xuất một số biện pháp
quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Thiên Tôn, Huyện Hoa
Lư, Tỉnh Ninh Bình”.
1.2. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU NGHIÊN CỨU
1.2.1. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng và công tác quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt của Thị
trấn Thiên Tôn.
- Đánh giá công tác quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt của Thị trấn.
- Đề xuất một số biện pháp cải thiện công tác quản lý, xử lý rác thải sinh
hoạt góp phần bảo vệ môi trường Thị trấn.
2.2. Yêu cầu nghiên cứu
- Thu thập đầy đủ các số liệu phản ánh tình hình quản lý rác thải ở địa
phương, các cơ sở pháp lý để quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt bảo vệ môi trường.
- Đánh giá hiện trạng thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt tại địa
phương, từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý để nâng cao tính hiệu quả.


2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan về môi trường
2.1.1 Khái niệm về môi trường và ô nhiễm môi trường
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ
mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự
tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên." (Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi
trường của Việt Nam).
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:
- Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh
học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của
con người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật,
đất, nước... Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa,
trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần
cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta
cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú.

- Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là những
luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định... ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp
Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình,
tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể,... Môi trường xã hội định hướng
hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể
thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật
khác.
Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm
Tiêu chuẩn môi trường. Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc
chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây
hại đến sức khoẻ con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất
lượng môi trường. Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí
thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh


học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ. Tuy nhiên, môi trường chỉ được
coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác nhân
trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu.
2.1.2 Thực trạng ô nhiễm môi trường toàn cầu hiện nay
Sự suy thoái sinh thái ngày càng gia tăng, cộng với thiệt hại về những xung
đột chính trị đã khiến môi trường toàn cầu đang gặp vô số hiểm nguy. Thế giới đã
lãng phí biết bao cơ hội để có thể cải thiện môi trường vào những năm 90 và hậu
quả là chúng ta đã phải chi 608 tỷ USD cho việc khắc phục những thảm họa khắc
nghiệt của thiên tai trong thập kỷ qua. Số tiền này bằng cả 4 thập kỷ trước đó chi
vào công việc tương tự.
Môi trường toàn cầu đang có chiều hướng ngày càng xấu đi và có ảnh hưởng
nhất định đến sự tồn vong của con người. Và con người đang đứng trước những
thách thức lớn về môi trường toàn cầu.
Thách thức thứ nhất: Ô nhiễm đất. Trên toàn thế giới đang có xu hướng tăng
hiện tượng đất bị ô nhiễm, bởi: một là, do con người quá lạm dụng hoặc do tác
động phụ của việc sử dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu, chất diệt cỏ và các chất
kích thích sinh trưởng khác. Mỗi năm, trên thế giới có hàng nghìn hóa chất mới
được đưa vào sử dụng trong khi con người vẫn chưa hiểu biết hết tác động phụ của
chúng đối với hệ sinh vật. Hai là, không xử lý đúng kỹ thuật các chất thải công
nghiệp và sinh hoạt khác của người và súc vật, hoặc các xác sinh vật chết gây ra...
Thách thức thứ hai, đó là vấn đề ô nhiễm nguồn nước. Sự ô nhiễm các nguồn
nước đang có nguy cơ gia tăng do thiếu biện pháp xử lý cần thiết các loại rác thải
sinh hoạt và công nghiệp; do các hóa chất dùng trong nông nghiệp và các nguồn
nhiễm xạ, nhiễm bẩn từ các nguyên vật liệu khác dùng trong sản xuất; ô nhiễm do
các loài thực vật nổi trên mặt nước sinh sôi mạnh làm động vật biển chết hàng loạt
do thiếu ô xy.


Thách thức thứ ba là vấn đề ô nhiễm không khí. Sự phát triển công nghiệp và
đời sống đô thị dựa trên “nền văn minh dầu mỏ” đang làm không khí bị ô nhiễm
bởi các chất thải khí SO2, NO2, CO, hơi chì, mồ hóng, tro và các chất bụi lơ lửng
khác sinh ra trong quá trình đốt cháy nhiên liệu hay các chất cháy khác...Theo
thống kê của Liên Hiệp Quốc, hiện có tới 50% dân số thành thị trên thế giới sống
trong môi trường không khí có mức khí SO2 vượt quá tiêu chuẩn và hơn 1 tỉ người
đang sống trong môi trường có bụi than, bụi phấn vượt quá tiêu chuẩn cho phép.
Thách thức thứ tư là tài nguyên biển đang bị khai thác bừa bãi, rừng bị thu hẹp
dần cùng với sự gia tăng đất bị sa mạc hóa. Biển càng ngày càng trở thành cái
thùng rác lớn nhất của quả đất nên ngày càng bị ô nhiễm nặng. Thêm vào đó là sự
khai thác bừa bãi, mù quáng quá mức cho phép của con người. Hiện nay, trước sức
ép của các vấn đề kinh tế-xã hội, các nước đã và đang đồng loạt tiến quân ra đại
dương nên sự cạn kiệt tài nguyên biển và vấn đề ô nhiễm đang ngày càng trở nên
trầm trọng. Cùng với biển, rừng đang ngày càng bị thu hẹp dần. Tốc độ phá rừng ở
nhiều quốc gia trên thế giới đang ở mức độ chóng mặt. Rừng bị thu hẹp kéo theo
những tai họa khổng lồ mang tính chất toàn cầu như làm biến dạng hệ sinh thái,
tăng nguy cơ khan hiếm nước, thay đổi khí hậu và gia tăng các tai họa thiên
nhiên[21].
2.1.3 Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe con người.
Các hoạt động của con người như chặt phá và khai thác rừng bừa bãi, khai thác
các nguồn tài nguyên thiên nhiên không có kiểm soát, gây ô nhiễm môi trường, phá
huỷ cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học. Ở nước ta, nhiều nơi rừng bị phá huỷ
nặng nề, đất bị xói mòn, thoái hoá, dẫn đến thiên tai, lũ lụt, đe doạ trực tiếp đến sức
khoẻ và cuộc sống của nhân dân. Các chất thải cũng góp phần gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng. Trong cuộc sống hàng ngày, con người thải ra môi trường
bên ngoài vô vàn các loại chất thải khác nhau.
Hiện nay, ở nước ta chất thải đang là vấn đề bức xúc của toàn xã hội, chất
thải đang hàng ngày hàng giờ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng nghiêm trọng


đến sức khoẻ con người. Không khí ô nhiễm có thể giết chết nhiều cơ thể sống
trong đó có con người. Ô nhiễm ozone có thể gây bệnh đường hô hấp, bệnh tim
mạch, viêm họng, đau ngực, tức thở. Ô nhiễm nước gây ra xấp xỉ 14.000 cái chết
mỗi ngày, chủ yếu do ăn uống bằng nước bẩn chưa được xử lý. Các chất hóa học
và kim loại nặng nhiễm trong thức ăn nước uống có thể gây ung thư. Dầu lan có
thể gây ngứa rộp da. Ô nhiễm tiếng ồn gây điếc, cao huyết áp, trầm cảm và bệnh
mất ngủ, gây nhiều hậu quả nghiêm trọng [21].
2.2. Tổng quan về rác thải sinh hoạt
2.2.1 Một số khái niệm
Rác thải là bất kì loại vật liệu nào ở dạng rắn mà con người loại bỏ mà không
được tiếp tục sử dụng như ban đầu .
Rác thải là các loại rác thải không ở dạng lỏng, không hòa tan được thải ra từ
các hoạt động sinh hoạt, công nghiệp. Rác thải còn bao gồm cả bùn cặn, phế phẩm
nông nghiệp, xây dựng, khai thác mỏ…[8]
Rác thải là những vật chất ở dạng rắn do các hoạt động của con người và
động vật tạo ra. Những “sản phẩm” này thường ít được sử dụng hoặc ít có ít, do đó
nó là “sản phẩm” ngoài ý muốn của con người. Rác thải có thể ở dạng thành phẩm,
được tạo ra trong hầu hết các giai đoạn sản xuất và trong tiêu dùng .
Rác thải sinh hoạt là những chất thải có liên quan đến các hoạt động của con
người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các
trung tâm dịch vụ, thương mại. Rác thải sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại,
sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, tre, gỗ, lông gà lông vịt, vải, giấy, rơm, rạ,
xác động vật, vỏ rau quả v.v…[14].
2.2.2. Nguồn gốc, phân loại, thành phần rác thải sinh hoạt
 Nguồn gốc
Khối lượng rác thải sinh hoạt ngày càng tăng do tác động của sự gia tăng dân
số, sự phát triển kinh tế - xã hội, sự thay đổi tính chất tiêu dùng trong các đô thị và
các vùng nông thôn. Trong đó các nguồn chủ yếu phát sinh chất thải bao gồm:


- Từ các khu dân cư (chất thải sinh hoạt).
- Từ các trung tâm thương mại, các công sở, trường học, công trình.
- Từ các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, các hoạt động xây dựng.
- Từ các làng nghề ..v..v….

Nhà dân, khu
dân cư.

Cơ quan
trường học

Nơi vui chơi,
giải trí

Chợ, bến xe,
nhà ga

Rác thải

Bệnh viện, cơ
sở y tế

Giao thông,
xây dựng

Chính quyền
địa phương

Khu công
nghiệp, nhà
máy, xí nghiệp

Hình 2.1 Sơ đồ nguồn phát sinh chất thải
(Nguồn: Huỳnh Tuyết Hằng, 08/2005)
 Phân loại rác thải
Rác thải được thải ra từ các hoạt động khác nhau được phân loại theo các
cách sau:
- Theo vị trí hình thành: người ta phân biệt ra rác thải trong nhà, rác thải
ngoài nhà, rác thải trên đường, chợ…..
- Theo thành phần hóa học và đặc tính vật lý: người ta phân biệt theo các
thành phần vô cơ, hữu cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, da, giẻ vụn, cao
su, chất dẻo…
- Theo mức độ nguy hại:
+ Rác thải nguy hại: bao gồm các loại hóa chất dễ gây phản ứng, độc hại, rác
thải sịnh hoạt dễ thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc các rác thải phóng xạ, các rác


thải nhiễm khuẩn, lây lan… có thể gây nguy hại tới con người, động vật và gây
nguy hại tới môi trường. Nguồn phát sinh ra rác thải nguy hại chủ yếu từ các hoạt
động y tế, công nghiệp và nông nghiệp.
+ Rác thải không nguy hại: là những loại rác thải không có chứa các chất và
hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác thành phần.
 Thành phần của rác thải
Thành phần của rác thải rất khác nhau tùy thuộc từng địa phương, tính chất
tiêu dùng, các điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác. Thông thường thành phần
của rác thải bao gồm các hợp phần sau: Chất thải thực phẩm, giấy, catton, vải vụn,
sản phẩm vườn, gỗ, thủy tinh, nhựa, bụi tro, cát đá, gạch vụn…
Bảng 2.1 Thành phần rác thải sinh hoạt ở một số vùng năm 2000
(tính theo % trọng lượng)
Thành phần

Hà Nội

Chất hữu cơ
Cao su, nhựa
Giấy, catton, giẻ vụn

53,00
9,15
1,48
3,40

Kim loại
Thủy tinh, gốm, sứ
Đất, đá,cát, gạch vụn
Độ trơ
Độ ẩm
Tỷ trọng (tấn/m3)

Việt Trì
55,0
4,52
7,52
0,22

Thái

Đà

Hạ

Nguyên
55,0
3,0
3,0
3,0

Nẵng
45,47
13,10
6,36
2,30

Long
49,20
3,23
4,6
0,4

2,70
0,63
0,7
1,85
3,7
30,27
32,13
35,3
38,87
15,9
13,17
17,15
10,9
11,0
47,7
45,0
44,23
49,0
46,0
0,42
0,43
0,45
0,50
0,50
(Nguồn: Báo cáo kết quả khảo sát của CEETIA, 2001)

2.2.3 Một số tính chất của rác thải sinh hoạt
 Tính chất lý học
Những tính chất lý học quan trọng của rác thải sinh hoạt bao gồm khối
lượng riêng, độ ẩm, kích thước hạt, sự phân bố kích thước, khả năng giữ nước và
độ xốp (độ rỗng) của các khí đã nén.
- Khối lượng riêng:


Khối lượng riêng của rác thải sinh hoạt sẽ rất khác nhau tùy thuộc theo vị trí
địa lý, mùa trong năm, thời gian lưu trữ, ....
Khối lượng riêng của rác thải sinh hoạt ở các khu đô thị được lấy từ xe ép rác
dao động từ 178 - 415 kg/m3, và giá trị đặc trưng là 297 kg/m3.
- Độ ẩm: Độ ẩm của RTSH dao động trong khoảng 15 - 40 %, giá trị trung
bình đạt khoảng 20%.
- Kích thước và sự phân bố kích thước: Kích thước và sự phân bố kích thước
có trong rác thải sinh hoạt đóng vai trò quan trọng trong việc thu hồi vật liệu, nhất
là sử dụng phương pháp cơ học như sàng quay và các thiết bị tách rời từ tính.
- Khả năng tích ẩm:
Khả năng tích ẩm của rác thải sinh hoạt là thông số có ý nghĩa quan trọng
trong việc xác định lượng nước rò rỉ ra bãi chôn lấp. Phần nước dư vượt quá khả
năng tích trữ của rác thải sẽ thoát ra ngoài thành nước rò rỉ. Khả năng tích ẩm sẽ
thay đổi tuỳ theo điều kiện ép rác và khả năng phân huỷ của rác.
- Độ thẩm thấu của rác nén:
Thông số vật lý quan trọng để khống chế sự vận chuyển của chất lỏng và khí
trong bãi chôn lấp là tính dẫn nước của rác thải đã nén. Độ thẩm thực phụ thuộc vào
tính chất của rác thải, sự phân bố kích thước, lỗ hổng và độ xốp.
 Tính chất hoá học
Tính chất hoá học của rác thải sinh hoạt đóng vai trò quan trọng trong việc
lựa chọn phương án xử lý và thu hồi nhiên liệu. Các chỉ tiêu hóa học cơ bản bao
gồm: chất hữu cơ và chất tro, hàm lượng Cacbon cố định, …
 Tính chất sinh học
Tính chất sinh học của rác thải sinh hoạt bao gồm: khả năng phân huỷ sinh học
của các thành phần hữu cơ; sự hình thành mùi; sự sinh sản ruồi, muỗi.
- Khả năng phân huỷ sinh học của các thành phần hữu cơ:


Rác thải sinh hoạt chứa hàm lượng thành phần hữu cơ, nhất là các thành
phần dễ phân huỷ sinh học dưới tác dụng của các loài vi sinh vật như thực phẩm,
rác từ vườn ...
- Sự hình thành mùi:
Mùi sinh ra khi tồn trữ rác thải trong thời gian dài giữa các khâu gom, trung
chuyển và thải ra bãi rác nhất là ở những vùng có khí hậu nóng do quá trình phân huỷ
kỵ khí của các chất hữu cơ dễ bị phân huỷ trong rác thải sinh hoạt.
- Sự sinh sản ruồi, muỗi:
Vào mùa hè cũng như tất các mùa ở những vùng có khí hậu ấm áp, sự sinh
sản ruồi muỗi ở khu vực chứa rác là vấn đề đáng quan tâm.
2.2.4 Tác hại của rác thải sinh hoạt
 Tác hại của rác thải sinh hoạt đến môi trường
- Môi trường đất
+ Rác thải sinh hoạt nằm rải rác khắp nơi không được thu gom đều được lưu
giữ lại trong đất, một số loại chất thải khó phân hủy như túi nilon, vỏ lon,
hydrocacbon… nằm lại trong đất làm ảnh hưởng tới môi trường đất: thay đổi cơ
cấu đât, đất trở nên khô cằn, các vi sinh vật trong đất có thể bị chết.
+ Nhiều loại chất thải như xỉ than, vôi vữa… đổ xuống đất làm cho đất bị
đóng cứng, khả năng thấm nước, hút nước kém, đất bị thoái hóa.
- Môi trường nước
+ Lượng rác thải rơi vãi nhiều, ứ đọng lâu ngày, khi gặp mưa rác rơi vãi sẽ
theo dòng nước chảy, các chất độc hòa tan trong nước, qua cống rãnh, ra ao hồ,
sông ngòi, gây ô nhiễm nguồn nước mặt tiếp nhận.
+ Rác thải không thu gom hết ứ đọng trong các ao, hồ là nguyên nhân gây
mất vệ sinh và ô nhiễm các thủy vực. Khi các thủy vực bị ô nhiễm hoặc chứa nhiều
rác thì có nguy cơ ảnh hưởng đến các loài thủy sinh vật, do hàm lượng oxy hòa tan
trong nước giảm, khả năng nhận ánh sáng của các tầng nước cũng giảm, dẫn đến


ảnh hưởng tới khả năng quang hợp của thực vật thủy sinh và làm giảm sinh khối
của các thủy vực.
+ Ở các bãi chôn lấp rác chất ô nhiễm trong nước rác là tác nhân gây ô nhiễm
nguồn nước ngầm trong khu vực và các nguồn nước ao hồ, sông suối lân cận. Tại
các bãi rác, nếu không tạo được lớp phủ bảo đảm hạn chế tối đa nước mưa thấm
qua thì cũng có thể gây ô nhiễm nguồn nước mặt.
- Môi trường không khí
+ Tại các trạm/ bãi trung chuyển rác xen kẽ khu vực dân cư là nguồn gây ô
nhiễm môi trường không khí do mùi hôi từ rác, bụi cuốn lên khi xúc rác, bụi khói,
tiếng ồn và các khí thải độc hại từ các xe thu gom, vận chuyển rác.
+ Tại các bãi chôn lấp chất thải rắn vấn đề ảnh hưởng đến môi trường khí là
mùi hôi thối, mùi khí metan, các khí độc hại từ các chất thải nguy hại.
 Tác hại của rác thải sinh hoạt đối với sức khỏe con người
- Tác hại của rác thải lên sức khỏe con người thông qua ảnh hưởng của chúng
lên các thành phần môi trường. Môi trường bị ô nhiễm tất yếu sẽ tác động đến sức
khỏe con người thông qua chuỗi thức ăn.
- Tại các bãi rác, nếu không áp dụng các kỹ thuật chôn lấp và xử lý thích hợp,
cứ đổ dồn rồi san ủi, chôn lấp thông thường, không có lớp lót, lớp phủ thì bãi rác
trở thành nơi phát sinh ruồi, muỗi, là mầm mống lan truyền dịch bệnh, chưa kể đến
chất thải độc hại tại các bãi rác co nguy cơ gây các bệnh hiểm nghèo đối với cơ thể
người khi tiếp xúc, đe dọa đến sức khỏe cộng đồng xung quanh.
- Rác thải còn tồn đọng ở các khu vực, ở các bãi rác không hợp vệ sinh là
nguyên nhân dẫn đến phát sinh các ổ dịch bệnh, là nguy cơ đe dọa đến sức khỏe
con người. Theo nghiên cứu của tổ chức y tế thế giới (WHO), tỷ lệ người mắc
bệnh ung thư ở các khu vực gần bãi chôn lấp rác thải chiếm tới 15,25 % dân số.
Ngoài ra, tỷ lệ mắc bệnh ngoại khoa, bệnh viêm nhiễm ở phụ nữ do nguồn nước ô
nhiễm chiếm tới 25 % .
 Rác thải sinh hoạt làm giảm mỹ quan đô thị


- Rác thải sinh hoạt nếu không được thu gom, vận chuyển đến nơi xử lý, thu
gom không hết, vận chuyển rơi vãi dọc đường, tồn tại các bãi rác nhỏ lộ thiên…
đều là những hình ảnh gây mất vệ sinh môi trường và làm ảnh hưởng đến vẻ mỹ
quan đường phố, thôn xóm.
- Một nguyên nhân nữa làm giảm mỹ quan đô thị là do ý thức của người dân
chưa cao. Tình trạng người dân đổ rác bừa bãi ra long lề đường và mương rãnh vẫn
còn rất phổ biến, đặc biệt là ở khu vực nông thôn nơi mà công tác quản lý và thu
gom vẫn chưa được tiến hành chặt chẽ.
2.2.5 Hiện trạng rác thải sinh hoạt tại các đô thị ở Việt Nam
Theo thống kê năm 2007, lượng RTSH phát sinh trong cả nước khoảng 17 triệu
tấn, trong đó vùng đô thị chiếm 24% dân số thải ra 6,5 triệu tấn (chiếm 38%
tổng lượng RTSH cả nước).
Tỉ lệ thu gom phổ biến ở mức 70% dao động từ mức thấp nhất là 45% ở Long
An đến mức cao nhất là 95% ở thành phố Huế, phổ biến 70%
Công nghệ xử lý chủ yếu vẫn là chôn lấp, chiếm 95%. Một số địa phương đã áp
dụng công nghệ tái chế và ủ phân compost như: Cầu Diễn – Hà Nội (ủ đống tĩnh có
thổi khí…), Thủy Phương – Huế (ASC), Đông Vinh – Nghệ An (Seraphin), Hóc
Môn – TP. Hồ Chí Minh (Dano System), Sơn Tây – Hà Nội (Seraphin) Hải Phòng
(công nghệ ướt)… Tuy nhiên, hiệu quả đến đâu cần phải có một đánh giá chuyên
sâu hơn, vì gần đây các phương tiện truyền thông phản ánh ô nhiễm môi trường tại
nhà máy rác Sơn Tây, Thủy Phương…
Quá trình đô thị hóa kéo theo lượng RTSH tại các đô thị và khu công nghiệp ngày
càng nhiều với thành phần phức tạp, ở các đô thị nước ta tăng trung bình mỗi năm
khoảng 10%. Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát
triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, như các đô thị tỉnh
Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá


(12,7%), Cao Lãnh (12,5%)... Các đô thị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ phát sinh
RTSH tăng đồng đều hàng năm và với tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%).
Tổng lượng phát sinh RTSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị
loại IV là các trung tâm văn hóa, xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên cả nước lên
đến 6,5 triệu tấn/năm, trong đó RTSH phát sinh từ các hộ gia đình, nhà hàng, các
chợ và kinh doanh là chủ yếu. Lượng còn lại từ các công sở, đường phố, các cơ sở
y tế.
Kết quả điều tra tổng thể năm 2006 - 2007 cho thấy, lượng RTSH đô thị phát
sinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Tuy chỉ
có 2 đô thị nhưng tổng lượng RTSH phát sinh tới 8.000 tấn/ngày (2.920.000
tấn/năm) chiếm 45% tổng lượng RTSH phát sinh từ tất cả các đô thị (hình 2.1 và
bảng 2.3).

Biểu đồ 2.1. Tỷ lệ RTSH tại các loại đô thị Việt Nam năm 2007
Bảng 2.3. Lượng RTSH phát sinh ở các đô thị Việt Nam đầu năm 2007

STT Loại đô thị

Lượng RTSH
bình quân
(kg/người/ngày)

Lượng RTSH đô thị
phát sinh
Tấn/ngày
Tấn/năm


1
Đặc biệt
2
Loại I
3
Loại II
4
Loại III
5
Loại IV
Tổng cộng

0,84
0,96
0,72
0,73
0,65

8.000
1.885
3.433
3.738
626

2.920.000
688.025
1.253.045
1.364.370
228.490
6.453.930

Nguồn: Bộ tài nguyên và môi trường, 2007
Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các đô thị vùng
Đông Nam bộ có lượng RTSH phát sinh lớn nhất tới 2.450.245 tấn/năm (chiếm
37,94% tổng lượng phát sinh RTSH các đô thị loại III trở lên của cả nước), tiếp đến là
các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh RTSH đô thị là 1.622.060
tấn/năm (chiếm 25%). Các đô thị khu vực miền núi Tây Bắc bộ có lượng phát sinh
RTSH đô thị thấp nhất chỉ có 69.350 tấn/năm (chiếm 1% ), tiếp đến là các đô thị
thuộc các tỉnh vùng Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh RTSH đô thị là 237.350
tấn/năm (chiếm 4%). [20]

Biểu đồ 2.2. Tỷ lệ RTSH tại các vùng địa lý ở Việt Nam năm 2007
Đô thị có lượng RTSH phát sinh lớn nhất là TP. Hồ Chí Minh (5.500
tấn/ngày), Hà Nội (2.500 tấn/ngày); đô thị có lượng RTSH phát sinh ít nhất là Bắc


Kạn - 12,3 tấn/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 12,6 tấn/ngày, Cao Bằng 20 tấn/ngày; TP.
Đồng Hới 32,0 tấn/ngày; TP Yên Bái 33,4 tấn/ngày và thị xã Hà Giang 37,1
tấn/ngày.
Tỷ lệ phát sinh RTSH đô thị bình quân trên đầu người tại các đô thị đặc biệt
và đô thị loại I tương đối cao (0,84 - 0,96kg/người/ngày); đô thị loại II và loại III
có tỷ lệ phát sinh RTSH đô thị bình quân trên đầu người là tương đương nhau
(0,72 - 0,73 kg/người/ngày); đô thị loại IV có tỷ lệ phát sinh RTSH đô thị bình
quân trên một đầu người đạt khoảng 0,65 kg/người/ngày.
Tỷ lệ phát sinh RTSH tính bình quân lớn nhất tập trung ở các đô thị phát triển du
lịch như TP. Hạ Long 1,38kg/người/ngày; TP. Hội An 1,08kg/người/ngày; TP. Đà Lạt
1,06kg/người/ngày; TP. Ninh Bình 1,30kg/người/ngày. Các đô thị có tỷ lệ phát sinh
RTSH tính bình quân đầu người thấp nhất là TP. Đồng Hới (Tỉnh Quảng Bình) chỉ
0,31kg/người/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 0,35kg/người/ngày; Thị xã Kon Tum
0,35kg/người/ngày; Thị xã Cao Bằng 0,38kg/người/ngày. Trong khi đó tỷ lệ phát sinh
bình quân đầu người tính trung bình cho các đô thị trên phạm vi cả nước là
0,73kg/người/ngày (bảng 2.4).
Bảng 2.4. Lượng RTSH đô thị theo vùng địa lý
ở Việt Nam đầu năm 2007
STT Đơn vị hành chính

Lượng RTSH đô thị
Lượng RTSH
phát sinh
bình quân
(kg/người/ngày) Tấn/ngày
Tấn/năm

1
ĐB sông Hồng
2
Đông Bắc
3
Tây Bắc
4
Bắc Trung Bộ
5
Duyên hải Nam Trung Bộ
6
Tây Nguyên
7
Đông Nam Bộ
8
ĐB sông Cửu Long
Tổng cộng

0,81
0,76
0,75
0,66
0,85
0,59
0,79
0,61
0,73

4.444
1.164
190
755
1.640
650
6.713
2.136
17.692

1.622.060
424.860
69.350
275.575
598.600
237.250
2.450.245
779.640
6.457.580


Nguồn: Bộ tài nguyên và môi trường
Với kết quả điều tra thống kê chưa đầy đủ như trên cho thấy, tổng lượng
phát sinh RTSH tại các đô thị ở nước ta ngày càng gia tăng với tỷ lệ tương đối cao
(10%/năm) so với các nước phát triển trên thế giới. Tổng lượng phát sinh RTSH tại
các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV lên khoảng 6,5 triệu tấn/năm
(năm 2004: tổng lượng chất thải sinh hoạt của tất cả các đô thị Việt Nam là 6,4
triệu tấn/năm). Dự báo của Bộ Xây dựng và Bộ TN&MT cho biết, đến năm 2015,
khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ các đô thị ước tính khoảng 37 nghìn
tấn/ngày và năm 2020 là 59 nghìn tấn/ngày cao gấp 2 - 3 lần hiện nay. Như vậy,
với lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị gia tăng nhanh chóng và các công nghệ
hiện đang sử dụng không thể đáp ứng yêu cầu do điều kiện Việt Nam mật độ dân
số cao, quỹ đất hạn chế, việc xác định địa điểm bãi chôn lấp khó khăn, không đảm
bảo môi trường và không tận dụng được nguồn tài nguyên từ rác thải. Việc áp
dụng các công nghệ mới hạn chế chôn lấp chất thải rắn nhằm tiết kiệm quỹ đất,
đảm bảo môi trường và tận dụng nguồn tài nguyên từ rác thải là cấp bách.
2.3. Một số biện pháp xử lý rác thải sinh hoạt ở Việt Nam và trên thế giới.
2.3.1 Một số biện pháp xử lý rác thải sinh hoạt ở Việt Nam
a,Phương pháp ủ yếm khí (biogas).
Phương pháp ủ yếm khí (biogas) là phương pháp đã sử dụng từ lâu ở các nước
phát triển thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong vài chục năm gần đây với
mục đích giới hạn ở vùng quê làm chất đốt và thắp sáng. Gần đây công nghệ này càng
được hoàn thiện và chuyển hướng sang sử dụng các loại nguyên liệu là rác thải nông,
công nghiệp và rác thải sinh hoạt để sản xuất khí sinh học, đa dạng hoá nguồn năng
lượng và giảm thiểu ô nhiễm môi trường .
- Cơ sở khoa học:
Cơ sở của phương pháp này là nhờ sự hoạt động của các vi sinh vật mà các
hợp chất khó tan như: xenluloza, lignin, hemixenluloza, và các hợp chất cao phân tử
khác được chuyển thành chất dễ tan. Quá trình này xảy ra trong điều kiện kỵ khí nhờ


một quần thể vi sinh vật được gọi chung là vi sinh vật lên men metan. Quần thể này
chủ yếu là vi khuẩn kỵ khí hội sinh. Chúng biến đổi chất hữu cơ thành khí metan
(CH4), cacbonic (CO2) và một vài khí khác.
Trong quá trình này 90% các chất hữu cơ được chuyển hóa thành CO 2, CH4.
Chất lượng của khí thu được phụ thuộc vào chất lượng của nguồn nguyên liệu đầu
vào.
 Ưu điểm:
- Sản phẩm thu được chủ yếu là khí CH4 có thể tận thu làm năng lượng hoặc
làm khí đốt.
- Xử lý được một số lượng lớn rác thải.


Nhược điểm:

- Khó khăn trong việc xử lý bã thải trong các bể ủ.
- Khi bể ủ bị rò rỉ gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí.
b,Phương pháp ủ phân hữu cơ.
Cách đây hàng nghìn năm con người đã biết ủ lá cây, phân gia súc, thành
phân hữu cơ để bón cho cây trồng. Nhưng việc sản xuất và dùng phân ủ chỉ theo
những kinh nghiệm dân gian, chưa có những nghiên cứu về các quá trình diễn ra
trong đống ủ. Vào những năm đầu thế kỷ XX, các nhà sinh học bắt đầu nghiên cứu
tìm ra những yếu tố tác động vào quá trình ủ, rút ngắn thời gian và nâng cao chất
lượng phân ủ.
Theo thời gian phương pháp ủ ngày càng hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu chế
biến các chất thải nông nghiệp, đô thị, đồng thời kiểm soát ô nhiễm môi trường do
chúng gây ra.
 Cơ chế:
Quá trình ủ phân là sự phân huỷ sinh học các chất hữu cơ xảy ra do những nhóm
vi sinh vật dị dưỡng như: vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn và động vật nguyên sinh, trong đó
vai trò của hệ vi sinh vật phân giải xenluloza, lignin là rất quan trọng. Khi sự phân
huỷ các chất hữu cơ với sự có mặt của oxy thì quá trình này được gọi là quá trình


hiếu khí. Trong điều kiện này, vi sinh vật sử dụng oxy để phân huỷ các chất hữu
cơ, đồng hóa cacbon, nitơ, photo, sunfua và các chất dinh dưỡng khác tổng hợp
nên chất nguyên sinh của tế bào .
Vi sinh vật yếm khí phân huỷ các chất hữu cơ không cần oxy chủ yếu là nhóm
vi khuẩn sinh axit. Chúng phân huỷ các chất hữu cơ thành axit, anđehyt. Và nhóm
chuyển trực tiếp các chất thành CH4, NH3, CO2, H2 .
Ngày nay trên thế giới có rất nhiều phương pháp ủ chất thải làm phân khác
nhau:
- Phương pháp ủ rác thành đống lên men tự nhiên có đảo trộn
- Phương pháp ủ rác thành đống không đảo trộn và có thổi khí.
- Phương pháp lên men trong các thiết bị chứa.
- Phương pháp lên men trong lò quay.
 Ưu điểm:
- Rác hay than bùn không bị bỏ đi mà được tái chế thành sản phẩm phục vụ
cho nông nghiệp.
- Một nhà máy chế biến phân ủ đặt ở trung tâm giảm chi phí vận chuyển so
với việc chôn lấp.
- Dễ dàng thu gom các nguyên liệu tái chế được.
- Có thể xử lý được nước thải mùi cống.
- Các nguyên tắc trong sản xuất ủ từ rác thải đô thị và phế thải nông nghiệp
có thể áp dụng cho xử lý một số rác thải nông nghiệp.
 Nhược điểm:
- Vốn và chi phí tương đối lớn.
- Gặp nhiều khó khăn trong tiếp thị sản phẩm.
- Đòi hỏi người vận hành phải được đào tạo với trình độ phù hợp.
- Còn thiếu kinh nghiệm trong vận hành nhà máy hiện đại.
- Các phương pháp ủ rác hiện đại đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao, chi phí lớn.
Nhà máy không được thiết kế tốt sẽ gây bệnh bụi phổi cho công nhân trực tiếp sản
xuất.


- Vấn đề tuyển chọn và phân loại rác phải được coi trọng để tránh các mảnh
kim loại, thuỷ tinh có lẫn trong sản phẩm.
- Phần phi hữu cơ và phân hữu cơ không phân giải hết phải chôn lấp còn khá
lớn.
c,Công nghệ Seraphin
Sau một thời gian nghiên cứu, năm 2003, Công ty Cổ phần công nghệ môi
trường xanh Seraphin đã chế tạo thành công dây chuyền xử lý rác thải bằng công
nghệ Seraphin để tái chế rác thải sinh hoạt thành những sản phẩm có ích cho đời
sống.
Công nghệ này có khả năng tái chế tới 90% lượng rác thải gồm cả rác vô cơ
và hữu cơ; giảm diện tích chôn lấp rác; tiết kiệm được đất đai; mức đầu tư thấp
(chỉ bằng 30 - 40% so với dây chuyền nhập khẩu); hạn chế gây ô nhiễm môi
trường.
Công nghệ này vận hành hai dây chuyền sản xuất rác thải tươi (rác trong
ngày) và rác thải khô (rác đã chôn lấp) để tạo ra những sản phẩm khác nhau phục
vụ cho con người.
Ưu điểm:
- Hiệu quả xử lý rác đạt trên 90%.
- Giảm thiểu tối đa việc chôn lấp rác nên tiết kiệm đất đai, xoá bỏ được các
bãi rác đã chôn lấp và thu hồi được diện tích đất này để sử dụng cho mục đích
khác.
- Sản phẩm của quá trình xử lý sẽ góp phần thu hồi vốn đã bỏ ra.
- Sản phẩm tái chế bù vào chi phí vận hành.
- Đây là giải pháp xử lý sạch nhất trong các giải pháp.
- Không xuất hiện nước rỉ rác và mùi hôi thối.
 Nhược điểm:
- Vốn và chi phí ban đầu cao.


- Các chất độc hại có thể lẫn trong sản phẩm làm ảnh hưởng đến chất lượng
phân hữu cơ và có thể phải phân vùng cây trồng.
- Hiệu quả kinh tế của nhà máy phụ thuộc vào tạo lập thị trường phân hữu
cơ vi sinh.
Như vậy, có rất nhiều công nghệ xử lý chất thải nói chung, rác thải sinh
hoạt nói riêng, mỗi công nghệ có những ưu điểm và nhược điểm khác nhau.
Vấn đề lựa chọn công nghệ xử lý nào phụ thuộc vào rất nghiều yếu tố đặc biệt
là yếu tố kinh tế - xã hội .
d,Phương pháp xử lý rác bằng công nghệ ép kiện [14].
Phương pháp ép kiện được thực hiện trên cơ sở toàn bộ rác thải tập trung thu
gom vào nhà máy. Rác được phân loại bằng phương pháp thủ công trên băng tải,
các chất trơ và các chất có thể tận dụng được như: kim loại, nilon, giấy, thủy tinh,
nhựa… được thu hồi để tái chế. Những chất còn lại sẽ được băng tải chuyền qua hệ
thống ép nén rác bằng thủy lực với mục đích làm giảm tối đa thể tích khối rác và
tạo thành cac kiện với tỷ số nén rất cao.
Các kiện rác đã nén ép này được sử dụng vào việc đắp các bờ chắn hoặc san
lấp các vùng đất trũng sau khi được phủ lên các lớp đất cát. Trên diện tích này có
thể sử dụng làm mặt bằng các công trình như: công viên, vườn hoa, các công trình
xây dựng nhỏ và mục đích chính là làm giảm tối đa mặt bằng khu vực xử lý rác.


Kim loại

Rác
thải

Phễu
nạp rác

Băng
tải rác

Phân
loại

Thủy tinh

Giấy
Nhựa
Các khối kiện
sau khi ép

Băng tải
thải vật liệu

Máy
ép rác

Hình 2.2 Sơ đồ công nghệ xử lý rác bằng phương pháp ép kiện
(Nguồn: Trần Hiếu Nhuệ, Quản lý chất thải rắn đô thị, 2001)
2.3.2 Một số biện pháp xử lý rác thải sinh hoạt trên thế giới.
a. Phương pháp chôn lấp
Trong các phương pháp xử lý và tiêu hủy chất thải rắn, chôn lấp là phương
pháp đơn giản và khá hiệu quả đối với một lượng rác ở các thahf phố đông dân cư.
Phương pháp này được áp dụng hầu hết các nước trên thế giới kể cả các nước phát
triển như Anh, Mỹ, CHLB Đức....
Nguyên lý cơ bản của phương pháp này là quá trình phân giải kị khí các
hợp chất hữu cơ trong rác thải. Các chất sẽ bị thối rữa nhờ quá trình phân hủy sinh
học bên trong tạo ra sản phẩm cuối cùng là các chất giàu dinh dưỡng như axit hữu
cơ, nitơ, các hợp chất amon và các khí như CO2, CH4...
Rác được chở tới bãi bằng xe chuyên dụng, dùng xe ủi san bằng, đầm nén
trên bề mặt và đổ lên một lớp đất. Hàng ngày phun thuốc diệt muỗi, rác vôi
bột...theo thời gian, sự phân hủy vi sinh vật làm co rác trở nên tơi xốp và thể tích
của bãi rác giảm xuống. Việc đổ rác tiếp tục cho đến khi bãi đầy thì chuyển sang
bãi mới. Hiện nay, chôn lấp RTSH vẫn được sử dụng đang phất triển nhưng phải
tuân thủ các quy định nghiêm ngặt về BVMT.
Các bãi chôn lấp rác thải phải được đặt xa khu dân cư, không gần nguồn
nước mặt và nước ngầm. Đáy của các bãi rác nằm trên tầng đất sét hoặc được phủ


một lớp chống thấm bằng vải địa chất, ở các bãi chôn rác thải cần thiết phải có hệ
thống thu gom xử lý nước khi thải ra môi trường (MT).
Việc thu khí ga để biến đổi thành năng lượng là một trong những khả năng
thu hồi kinh phí đầu tư các bãi rác.
Phương pháp này có ưu điểm như: công nghệ đơn giản, chi phí thấp. Song
nó cũng có một số nhược điểm như: chiếm diện tích đất lớn, không được sự đồng
tình của dân cư xung quanh, tìm kiếm vị trí xây dựng bãi chôn lấp mới là việc làm
rất khơ khăn và có nguy cơ dẫn đến ô nhiễm môi trường (ÔNMT) nước, không khí,
gây cháy nổ [14].
b. Đổ rác thành đống ( bãi rác hở)
Đây là phương pháp cổ điển đã được loài người áp dụng từ rất lâu, cho đến
nay phương pháp này vẫn được áp dụng ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới.
Nhưng có những nhược điểm sau:
- Tạo cảnh quan khó coi, gây cảm giác khó chịu khi chúng ta bắt gặp chúng.
- Đống rác thải là môi trường thuận lợ cho các loài động vật gặm nhấm, các
loài côn trùng, vi sinh vật gây bệnh sinh sôi, nảy nở gây nguy hiểm cho con
người.
Các bãi rác hở bị phân hủy lâu ngày sẽ bị rỉ nước và tạo nên vùng lầy lội, ẩm
ướt và từ đó hình thành các dòng nước rò rỉ chảy thấm vào các tầng đất bên dưới,
gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, hoặc tạo thành dòng chảy tràn gây ô nhiễm nguồn
nước mặt.
Bãi rác hở sẽ gây ô nhiễm không khí do quá trình phân hủy rác tạo thành các
khí có mùi hôi thối, mặt khác ở các bãi rác hở còn có nguy cơ xảy ra hiện tượng
“cháy ngầm” hay có thể cháy hình thành nên ngọn lửa, và tất cả các quá trình này
đều ảnh hưởng xấu đến môi trường.
Đây là phương pháp rẻ tiền, chỉ tiêu tốn chi phí cho công việc thu gom và vận
chuyển rác từ nơi phát sinh đến bãi rác. Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi một


diện tích bãi thải lớn, do vậy ở các thành phố đông dân cư và quỹ đất khan hiếm thì
nó lại trở thành phương pháp đắt tiền cộng với nhiều nhược điểm như trên [11].
c. Đốt rác
Đốt rác ở đây được hiểu là sự đốt rác có kiểm soát các chất rắn có thể đốt
được, tuy nhiên nó không đơn giản chỉ là việc đốt cháy một bãi rác ngoài trời. Đốt
rác là một phương pháp được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng, thông thường
người ta xây dựng các lò đốt chuyên biệt, nhiệt độ trong lò có thể lên đến hàng
nghìn độ C, có thể đốt cháy cả kim loại, thủy tinh… xử lý theo phương pháp này
có những ưu điểm sau:
- Đốt cháy hay tiêu hủy các loại côn trùng, sinh vật gây bệnh, chất gây ô
nhiễm.
- Diện tích nhỏ hơn diện tích các bãi rác chôn rác.
- Các lò đốt có thể làm giảm khối lượng rác thải từ 80-90%, số tro hay các
chất còn sót lại có thể đem chôn ở các bãi rác, thậm chí có thể bỏ xuống
biển, đại dương.
- Các lò đốt có thể xây dựng không xa thành phố, do đó chi phí vận chuyển
rác giảm xuống.
- Nhiệt phát tán trong quá trình đốt được thu hồi để cung cấp cho các nhà máy
điện, cho các nhà máy hay khu dân cư đô thị.
- Các lò đốt có thể xử lý được các chất thải rắn có chu kỳ phân hủy rất lâu dài
như vỏ xe, đệm cao su, các loại túi bóng, túi nilon…
- Bên cạnh những ưu điểm trên, phương pháp này cũng có những nhược điểm
như: chi phí mấy móc thiết bị cao [12].
d. Chôn rác dưới biển
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc chôn rác dưới biển cũng có nhiều điều
lợi. Ví dụ ở thành phố New York, trước đây chất thải rắn được chở đến các bến


cảng, sau đó chúng được các xà lan đem chôn dưới biển ở độ sâu 100feets, nhằm
tránh tình trạng lướ đánh cá bị vướng mắc. Ngoài ra ở một số thành phố ven biển
khác của Hoa Kỳ người ta còn xây dựng các bãi ngầm nhân tạo trên cơ sở sử dụng
các khối gạch bê tông phá vỡ từ các công trình xây dựng, hoặc thậm chí các ôtô
thải bỏ. Làm điều này vừa giải quyết được vấn đề rác thải, đồng thời tạo nên nơi
trú ẩn cho các loài sinh vật biển [12].
e. Chôn rác nhiệt phân
Đây là phương pháp xử lý rác thải tương tự cách làm than hầm, sử dụng
nhiệt đốt bên ngoài để loại trừ dần không khí trong rác, phương pháp này có những
ưu điểm sau:
- Quá trình nhiệt phân là một quá trình kín nên ít tạo ra khí thải ô nhiễm.
- Có thể thu hồi nhiều vật chất sau nhiệt phân. Ví dụ: rác thải đô thị ở Hoa Kỳ
sau khi nhiệt phân có thể thu lại dầu nhẹ, hắc ín và nhựa đường, chất
ammonium sulfate, than, chất lỏng chưa rượu, tất cả các chất kể trên có thể
tái sử dụng làm nguyên liệu.
f. Phương pháp xử lý rác bằng công nghệ Hydromex
Đây là một công nghệ mới lần đầu tiên được áp dụng ở Mỹ (2/1996). Công
nghệ Hydromex nhằm xử lý rác đô thị (kể cả rác độc hại) thành các sản phẩm phục
vụ ngành xây dựng, vật liệu, năng lượng và sản phẩm dùng trong nông nghiệp hữu.
Bản chất của công nghệ Hydromex là nghiền nhỏ rác sau đó polime hóa và sử
dụng áp lực lớn để nén, định hình các sản phẩm.
Rác thải được thu gom (rác hỗn hợp, kể cả rác cồng kềnh) được chuyển về
nhà máy, không cần phân loại và đưa vào máy cắt nghiền nhỏ, sau đó đưa đến các
thiết bị trộn bằng băng tải. Chất thải lỏng pha trộn trong bồn phản ứng, các phản
ứng trung hòa và khử độc thực hiện trong bồn. Sau đó chất thải lỏng từ bồn phản


ứng được bơm vào các thiết bị trộn: chất lỏng và rác thải kết dính với nhau sau khi
cho thêm thành phần polime hóa vào. Sản phẩm ở dạng bột ướt được chuyển đến
máy ép cho ra sản phẩm mới. Các sản phẩm này bền, an toàn với môi trường.
CTR chưa
phân loại

Kiểm tra bằng mắt

Cắt, xé,nghiền tơi nhỏ
Chất thải lỏng
hỗn hợp
Thành phần
polyme hóa

Làm ẩm

Trộn đều

Ép hay đùn ra

Sản phẩm mới

Hình 2.3 Sơ đồ xử lý rác theo công nghệ Hydromex
(Nguồn: www.scribd.com/doc/6899000/4PP-xl-rac-thai-ran)
2.4. Thực trạng và giải pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Ninh
Bình.
2.4.1. Công tác quản lý
Hiện nay, RTSH của TP Ninh Bình được Công ty MT&DVĐT Ninh Bình
chịu trách nhiệm thu gom, vận chuyển.
Rác thải trên địa bàn TP chưa có biện pháp quản lý riêng tất cả các loại rác
thải được đổ lẫn lộn với nhau.
Phương tiện thu gom, vận chuyển rác thải trong TP bao gồm: xe ép chở rác,
xe đẩy tay.
Hiện tại, lượng RTSH Cty MT&DVĐT thành phố Ninh Bình thu được trung
bình một ngày vào khoảng 135,8 tấn. Trên địa bàn TP có 27 điểm tập kết, trung
chuyển rác thải sinh hoạt. Hầu hết các điểm tập kết, trung chuyển và xử lý chất thải


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×