Tải bản đầy đủ

thảo luận tình hình nợ công ở việt nam

Học viện Ngân Hàng
----------

Bài tiểu luận
Đề tài: “thực trạng nợ công của Việt Nam hiện nay? Giải pháp để
đảm bảo an toàn nợ công ở Việt Nam”

Hà nội, 3/5/2016
1


Mục lục

I.
II.

Đặt vấn đề.
Nợ công – một số vấn đề lý luận.
1.
2.
3.

4.
5.

III.

Thực trạng nợ công ở Việt Nam.
1.
2.
3.
4.

IV.

Quan niệm về nợ công.
Bản chất của nơ công.
Phân loại nợ công.
An toàn nợ công và ngưỡng an toàn nợ công.
Tác động của nợ công.
Quy mô nợ công ở Việt Nam.
Cơ cấu nợ công Việt Nam.
Tình hình sử dụng nợ công và trả nợ công Việt Nam.
Kết quả đạt được và những hạn chế.

Giải pháp an toàn nợ công Việt Nam.

Thành Viên Nhóm:
2


Hoàng Trọng Đạt 
2. Vương Thị Ngọc Ánh
3. Nguyễn Thị Hải Quỳnh
4. Nguyễn Thị Diệp
5. Nguyễn Thị Tú Uyên
6. Mai Thị Thảo Trang
7. Đỗ Thị Nhung
8. Đỗ Thị Thư
9. Đinh Anh Tài
10. Saovapha Ngonphadi
1.


16A4030046
17A4020050
17A4020489
17A4000675
17A4020644
17A4020597
17A4020413
17A4020567
17A4010242
17A4001045

3


I.

Đặt vấn đề

Kinh tế thế giới hiện đang trong bối cảnh tăng trưởng chậm lại, khủng hoảng tài
chính một phần bắt nguồn từ sự quản lý nợ công yếu kém của các quốc gia. Như
khủng hoảng nợ công Mexico 1994, khủng hoảng nợ công Nga 1998, khủng hoảng
nợ công Brazil 1998-1999, ... gần đây nhất là cuộc khủng hoảng nợ công trong khối
EU được khởi phát từ Hi Lạp và lan rất nhanh ra hàng loạt nước khác. Các yếu tố
rủi ro ngày càng tăng cùng với sự hiện hữu của nguy cơ suy thoái kép được cảnh
báo dẫn đến sự cần thiết tái cơ cấu kinh tế toàn cầu và cải cách hệ thống tài chính
với việc đảm bảo an toàn vốn. Như chúng ta đã biết các quốc gia trên thế giới có
nền kinh tế khác nhau vì vậy cách xử lý nợ công các nước không giống nhau. Như
cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á xảy ra năm 1997 khi Thái Lan chỉ có khoản nợ
công ở mức 15% GDP. Sự sụp đổ của nền kinh tế Argentina - quốc gia từng được
Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) ngợi ca là một hình mẫu về quản lý nợ công quốc gia là
điều cần rút ra cách xử lý nợ công. Nhật Bản hiện đang là nước có nợ công lớn nhất
thế giới. Nợ công của Nhật Bản là hơn 12.570 tỷ USD, khoảng 227,9% GDP. Với
mức nợ công là 11.700 tỷ USD. Nhưng có một điều là nợ công của Nhật Bản không
gây khó cho nền kinh tế do họ có khả năng trả nợ vì chủ yếu họ nợ trong nước. Do
đó, nếu cho rằng thắt chặt chi tiêu nhằm tránh được khủng hoảng là không hẳn
đúng mà vấn đề là phải luôn ý thức và kiểm soát mức nợ phù hợp với nền kinh tế
của mỗi quốc gia sao cho phù hợp.
Trong 50 năm qua, thế giới đã chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ nợ công của các
nước, đặc biệt là các khoản nợ nước ngoài mà nguyên nhân chính là để bắt kịp tốc
độ tăng trưởng kinh tế chung của thế giới, nhiều nước buộc phải vay nợ nước ngoài
để phát triển kinh tế, nhất là những nước đang phát triển như Việt Nam. Theo số liệu
IMF Việt Nam đang có mức nợ công/GDP cao hơn hẳn các nước ASEAN, gấp đôi
nhiều nước và gấp rưỡi Thái Lan. Khởi nguốn từ gói kích cầu năm 2009, giai đoạn
2010-2012, Chính phủ vay nợ ngắn hạn nhiều, chủ yếu bằng trái phiếu kỳ hạn 1-2
năm khiến cho ngân sách nhà nước những năm gần đây có mức thâm hụt ngày
càng tăng. Nếu tính theo thông lệ quốc tế nợ công Việt Nam còn cao hơn nhiều vì
không tính đến nợ doanh nghiệp nhà nước và nợ các tổ chức công khác. Do đó bài
viết sẽ phân tích, nêu những con số cụ thể tình hình nợ công Việt Nam nhằm phản

4


ánh rõ hơn thực trạng nợ công Việt Nam hiện nay. Đồng thời cũng đưa ra một vài
giải pháp theo ý kiến chủ quan để đảm bảo an toàn nợ công Việt Nam.
II.
1.

Nợ công – một số vấn đề lý luận:
Quan niệm về nợ công:

Nợ công là khoản nợ mà chính phủ của một quốc gia phải chịu trách nhiệm về
việc chi trả khoản nợ đó. Do đó thuật ngữ nợ công thường được sử dụng cùng
nghĩa với các thuật ngữ như nợ nhà nước hay nợ chính phủ. Tuy nhiên, nợ công
hoàn toàn khác với nợ quốc gia. Nợ quốc gia là toàn bộ khoản nợ của một quốc gia,
bao gồm hai bộ phận là nợ của nhà nước và nợ của tư nhân ( doanh nghiệp, tổ
chức, cá nhân ). Như vậy, nợ công chỉ là một bộ phận của nợ quốc gia mà thôi.


Theo quan điểm của Ngân hàng thế giới WB là toàn bộ những khoản nợ của
chính phủ và những khoản nợ của chính phủ bảo lãnh:
- Nợ của chính phủ là toàn bộ các khoản nợ trong nước và nước ngoài của
chính phủ và các đại lý của chính phủ; các tính, thành phố hoặc các tổ chức
chính trị trực thuộc chính phủ và các đại lý của tổ chức này; các doanh
-



nghiệp nhà nước.
Nợ của chính phủ bảo lãnh là những khoản nợ trong nước và nước ngoài của

khu vực tư nhân do chính phủ bảo lãnh.
Theo quan điểm của quỹ tiền tệ quốc tế IMF, nợ công bao gồm nợ của khu vực
tài chính công và nợ của khu vực phi tài chính công.
- Nợ của khu vực tài chính công là khoản nợ của các tổ chức tiền tệ ( NHTW,
các tổ chức tín dụng nhà nước ) và các tổ chức phi tiền tệ ( các tổ chức tín
-



dụng không cho vay mà chỉ có chức năng hỗ trợ phát triển ).
Nợ của khu vực phi tài chính công: là nợ của chính phủ, tỉnh thành phố, các

tổ chức chính quyền địa phương, các doanh nghiệp phi tài chính nhà nước.
Theo quản lý nợ công của Việt Nam bao gồm nợ chính phủ, nợ chính phủ bảo
lãnh và nợ chính quyền địa phương.
- Nợ chính phủ: là khoản nợ được ký kết, phát hành nhân danh nhà nước hoặc
chính phủ, các khoản nợ do bộ tài chính ký kết, phát hành hoặc ủy quyền
phát hành; không bao gồm các khoản nợ do ngân hàng nhà nước Việt Nam
-

phát hành nhằm thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời ký
Nợ được chính phủ bảo lãnh: là các khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức

-

kinh tế trong và ngoài nước, chính phủ đứng ra bảo lãnh.
Nợ chính quyền địa phương: là các khoản nợ do UBND cấp tỉnh, thành phố
trực thuộc TW ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành.
5


2.

Bản chất của nợ công

Về bản chất, nợ công chính là các khoản vay để trang trải thâm hụt ngân sách.
Các khoản vay này sẽ phải hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn, nhà nước sẽ phải thu
thuế tăng lên để bù đắp. Vì vậy, suy cho cùng, nợ công chỉ là sự lựa chọn thời gian
đánh thuế: hôm nay hay ngày mai, thế hệ này hay thế hệ khác. Vay nợ thực chất là
cách đánh thuế dần dần, được hầu hết chính phủ các nước sử dụng để tài trợ cho
các hoạt động chi ngân sách. Tỷ lệ nợ công/GDP chỉ phản ảnh một phần nào đó về
mức độ an toàn hay rủi ro của nợ công. Mức độ an toàn hay nguy hiểm của nợ công
không chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ nợ/GDP mà quan trọng hơn, phụ thuộc vào tình trạng
phát triển của nền kinh tế. Trách nhiệm trả nợ của nhà nước được thể hiện dưới hai
góc độ trực tiếp và gián tiếp. Trực tiếp là việc cơ quan có thẩm quyền đi vay do đó
cơ quan nhà nước đó phải chịu trách nhiệm trả nợ. Gián tiếp là cơ quan nhà nước
có thẩm quyền đứng ra bảo lãnh cho một chủ thể trong nước vay nợ, trong trường
hợp bên vay không trả được nợ thì trách nhiệm trả nợ thuộc về cơ quan đứng ra
bảo lãnh. Mục đích cao nhất cho việc huy động và sử dụng nợ công là phát triển
kinh tế - xã hội vì lợi ích chung.

3.

Phân loại nợ công

Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí có một ý nghĩa khác nhau
nhằm thuận tiện cho việc nghiên cứu, đánh giá cũng như quán lý nợ công. Phân loại
nợ công xuất phát từ một số tiêu chí sau:


Căn cứ váo kỳ hạn nợ:
- Nợ ngắn hạn: là những khoản nợ có thời hạn thanh toán ngắn hạn (thường
dưới 1 năm). Khoản nợ này chủ yếu để đáp ứng nhu cầu bù đắp thiếu hụt
-

ngân sách tạm thời.
Nợ trung và dài hạn: là những khoản nợ có kỳ hạn thanh toán dài (từ 1 năm
trở lên). Khoản nợ này nhằm phục vụ nhu cầu đầu tu phát triển kinh tế.

Việc căn cứ vào kỳ hạn nợ sẽ tạo điều kiện thuận lời cho việc quản lý khả năng
thanh toán các khoản vay nhằm xác định thời điểm phải thanh toán gốc và lãi trong
tương lai để đưa ra giải pháp bố chí trả nợ phù hợp.


Căn cứ vào vị trí địa lý:
6


-

Nợ trong nước: bao gồm các khoản vay từ các chủ thể trong nước, chủ yếu

-

chính phủ phát hành các công cụ nợ để vay từ các chủ thẻ trong nước.
Nợ nước ngoài: bao gồm khoản vay từ các chủ thể ngoài nước như: Kí kết
hiệp định vay nợ với chính phủ, hay các tổ chức tài chính, tiển tệ nước ngoài,
khoản vay thương mại từ chủ thể nước ngoài.

Việc căn cứ vào vị trí địa lý giúp đánh giá chính xác hơn tác động của việc thay
đổi yếu tố kinh tế trong nước và ngoài nước đến quy mô, khả năng thanh toán
khoản nợ đến hạn.


Căn cứ vào nghĩa vụ trả nợ:
- Nợ trực tiếp: là khoản nợ trực tiếp mà chính quyền trung ương và chính
-

quyền địa phương có trách nhiệm trả nợ.
Nợ dự phòng: là các khoản nợ phát sinh khi một hoặc vài điều kiện xác định
trước đó thay đổi, đó là khoản nợ được chính phủ bảo lãnh, khi khoản nợ này
không được con nợ trả, chính phủ sẽ phải đứng ra trả nợ thay.

Việc căn cứ vào nghĩa vụ trả nợ cho thấy rõ hơn các rủi ro tiềm ẩn đối với nợ
công khi môi trường kinh tế thay đổi cũng như khả năng kiểm soát, xử lý đối với các
khoản nợ được bảo lãnh thường thấp hơn đối với các khoản nợ mà chính phủ vay
trưc tiếp.


Căn cứ vào lãi xuất vay:
- Nợ có lãi xuất cố đinh: là những khoản nợ có mức lãi xuất cố định từ khi vay
-

đến khi đáo hạn, không bị phụ thuộc vào biến động của thi trường.
Nợ có lãi xuất thả nổi: là những khoản nợ được điều chỉnh về lãi xuất khi có
sự biến động về lãi xuất trên thị trường.

Việc căn cứ vào lãi xuất vay sẽ giúp cho nhà quản lý nợ điều hành danh mục nợ
dựa trên các dự báo về biến động lãi xuất. Qua đó, quản lý rủi ro lãi xuất đối với
khoản nợ có lãi xuất thả nổi và các khoản nợ có lãi xuất cố định khi có sự biến động
lãi xuất và khi phát hành khoản nợ mới.


Căn cứ theo loại tiền vay:
- Nợ bằng đồng nội tệ: là những khoản nợ được vay bằng chính đồng tiền của
-

quốc gia đó.
Nợ bằng ngoại tệ: là những khoản nợ được vay bằng các đồng ngoại tệ, có
thể vay từ các chủ thể trong nước hoặc nước ngoài.

7


Việc căn cứ theo loại tiền vay giúp cho nhà quản lý nợ cân đối và bố chí nguồn
vốn thanh toán trả nợ phù hợp, xác định và phòng ngừa rủi ro khi có biến động về tỷ
giá hối đoái.
4.

Tác động của nợ công đến nền kinh tế Việt Nam

Nợ công vừa có nhiều tác động tích cực nhưng cũng có một số tác động tiêu
cực. Nhận biết những tác động tích cực và tiêu cực nhằm phát huy mặt tích cực,
hạn chế mặt tiêu cực là điều hết sức cần thiết trong xây dựng và thực hiện quản lý
nợ công.
-

Tích cực:

Nợ công làm gia tăng nguồn lực cho Nhà nước, từ đó tăng cường nguồn vốn để
phát triển cơ sở hạ tầng và tăng khả năng đầu tư đồng bộ của Nhà nước. Việt Nam
đang trong giai đoạn tăng tốc phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, trong đó cơ sở hạ tầng là yếu tố có tính chất quyết định. Muốn phát
triển cơ sở hạ tầng nhanh chóng và đồng bộ, vốn là yếu tố quan trọng nhất. Với
chính sách huy động nợ công hợp lý, nhu cầu về vốn sẽ từng bước được giải quyết
để đầu tư cơ sở hạ tầng, từ đó gia tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế.
Huy động nợ công góp phần tận dụng được nguồn tài chính nhàn rỗi trong dân
cư. Một bộ phận dân cư trong xã hội có các khoản tiết kiệm, thông qua việc Nhà
nước vay nợ mà những khoản tiền nhàn rỗi này được đưa vào sử dụng, đem lại
hiệu quả kinh tế cho cả khu vực công lẫn khu vực tư.
Nợ công sẽ tận dụng được sự hỗ trợ từ nước ngoài và các tổ chức tài chính
quốc tế. Tài trợ quốc tế là một trong những hoạt động kinh tế – ngoại giao quan
trọng của các nước phát triển muốn gây ảnh hưởng đến các quốc gia nghèo, cũng
như muốn hợp tác kinh tế song phương. Nếu Việt Nam biết tận dụng tốt những cơ
hội này, thì sẽ có thêm nhiều nguồn vốn ưu đãi để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng,
trên cơ sở tôn trọng lợi ích nước bạn, đồng thời giữ vững độc lập, chủ quyền và
chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước.
Bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước, nợ công là hệ quả trực tiếp của thâm hụt
ngân sách và quy mô nợ công đúng bằng quy mô thâm hụt ngân sách tích tụ qua
các năm. Về nguyên tắc, để bù đắp thâm hụt ngân sách, chính phủ các nước phải
8


vay trong và ngoài nước, chứ không được phát hành tiền để tránh nguy cơ xảy ra
lạm phát cao. Vay nước ngoài gây dựng được một lượng vốn theo yêu cầu, nhằm
đạt được các mục tiêu về chi phívà rủi ro, đáp ứng được các mục tiêu quản lý nợ
khác của Chính phủ đã đề ra.
-

Tiêu cực:

Thứ nhất, Ảnh hưởng ngược từ các chính sách khi nợ công quá lớn:Khi nợ công
quá lớn, việc thắt chặt chi tiêu, thực hiện chính sách “thắt lưng buộc bụng” để giảm
thâm hụt ngân sách là điều kiện phải đáp ứng để được nhận sự hỗ trợ cần thiết
từcác tổ chức tín dụng quốc tế. Tuy nhiên, trong thời điểm hiện nay, khi nền kinh tế
toàn cầu mới thoát khỏi khủng hoảng, bắt đầu có dấu hiệu phục hồi do kết quả của
các gói kích thích kinh tế mà chính phủ các nước đã chi ra trong những năm trước
đây, thì việc cắt giảm chi tiêu, tăng thuế sẽ làm giảm đầu tư, kìm hãm sự phục hồi
của nền kinh tế, làmchậm tốc độ tăng trưởng, thậm chí có thể đẩy nền kinh tế vào
“khủng hoảng kép”.
Thứ hai, bị hạ bậc tín nhiệm. Khi nợ công liên tục tăng cao, nền kinh tế bị hạ bậc
tín nhiệm theo báo cáo của các tổ chức chuyên đi đánh giá tín nhiệm các công ty và
quốc gia khác, niềm tin của người dân và giới đầu tư bị lung lay, khi đó nền kinh tế
dễ trở thành mục tiêu tấn công của các thế lực đầu cơ quốc tế. Khi đó, các quỹ đầu
tư lớn lập tức bán ra loại trái phiếu này, đồng thời từ chối mua vào trong các đợt
phát hành tiếp theo. Nếu chính phủ muốn huy động tiền từ thị trường tài chính sẽ
phải chấp nhận chi phí vốn cao hơn và sau đó, rơi vào vòng xoáy: tiếp tục bị tụt bậc
tín nhiệm.
Thứ ba, tác động từ nợ chính phủ tới tăng trưởng kinh tế. Trong những năm gần
đây, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng trong dài hạn một khoản nợ chính phủ lớn
(tỷ lệ của nó so với GDP cao) làm cho sự tăng trưởng của sản lượng tiềm năng
chậm lại vì những lý do sau:
- Tăng cường xuất khẩu để trả nợ nước ngoài và do đó khả năng tiêu dùng giảm
sút.
- Gây ra hiệu ứng thế chỗ cho vốn tư nhân.

9


- Tăng thuế để trả lãi nợ vay chính công dân nước mình => Thuế làm méo mó nền
kinh tế, gây ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội.Ngoài ra, còn có một số quan điểm
cho rằng việc chính phủ sử dụng công cụ nợ để điều tiết kinh tế vĩ mô sẽ không có
hiệu suất cao vì có hiện tượng crowding out (đầu tư cho chi tiêu của chính phủ tăng
lên).
- Phát hành trái phiếu tuy có làm tăng tổng cầu, song mức tăng không lớn vì có
những tác động phụ làm giảm tổng cầu.
- Gây ra áp lực lạm phát, tác động tiêu cực tới tốc độ tăng trưởng thực
Thứ tư, gánh nặng cho toàn bộ nền kinh tế cùng với rủi ro chênh lệch tỉ giá.
- Nợ công ở mức cao sẽ kéo theo mức bội chi ngân sách lớn và dần dần sẽ trở
thành gánh nặng cho nền kinh tế.
- Trong khi trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam trong những năm gần
đây, Chính phủ đang có kế hoạch triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn như nhà máy
điện nguyên tử, đường sắt cao tốc,… nên tỷ lệ nợ nước ngoài sẽ tăng vọt. Nhìn lại
quá trình này, đã có lúc Nhà nước phải đi vay với tỷ giá chỉ 11 nghìn Việt Nam đồng
quy đổi bằng 1 USD, thì ở thời điểm hiện tại tỷ giá quy đổi đã lên đến mức trên dưới
20 nghìn Việt Nam đồng quy đổi bằng 1 USD. Như vậy là khoản chênh lệch tỷ giá
này toàn bộ nền kinh tế của chúng ta phải hứng chịu.

III.

Thực trạng nợ công ở Việt Nam

Việt Nam mở cửa nền kinh tế được 30 năm và đã đạt được những bước tiến vượt
bậc. Ở giai đoạn trước khủng hoảng kinh tế Việt Nam được coi là một trong những
điểm sáng của nền kinh tế thế giới với tốc độ tăng trưởng bình quân 7,8%/năm.
10


Nhất là năm 2007, năm Việt Nam ra nhập WTO các chỉ tiêu kinh tế đều hoàn thành
và vượt mức kế hoạch, tốc độ tăng trưởng lên tới 8,48%. Sau khủng hoảng, kinh tế
Việt Nam cũng chao đảo theo kinh tế thế giới, mực độ trăng trưởng giảm mạnh.
Nhưng những năm gần đây đã có dấu hiệu phục hồi trở lại.

Có thể thấy GDP binh quân / người năm 2014 gấp 3 lần năm 2005. Tuy vậy Việt
Nam thuộc nhóm nước đang phát triển, quy mô kinh tế vẫn nhỏ so với mặt bằng
chung thế giới, nên kinh tế phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp
thô và công nghiệp nhẹ. Do đó, hiện tại và tương lai gần việc vay nợ chính phủ nói
riêng và nợ công là một nhu cầu tất yếu. Vì Việt Nam vẫn rất cần những khoản hỗ
trợ về tài chính từ các tổ chức trên thế giới để có thể phát triển hơn nữa.

1) Quy mô nợ công Việt Nam

Theo Ngân hàng Thế giới, tổng nợ công (nợ của chính phủ, nợ do chính phủ bảo
lãnh và nợ của chính quyền địa phương) đã tăng từ 54,5% GDP 2013 lên mức

11


59,6% năm 2014. “Mặc dù mức nợ công vẫn nằm trong phạm vi bền vững, chi phí
trả nợ gia tăng đang làm co giảm dư địa tài khóa” – WB đánh giá.

Theo số liệu nghiên cứu của The Econnomist, đến ngày 11/10/2015, nợ công của
Việt Nam được ước tính ở mức 92,6 tỷ USD, chiếm 46% GDP, tăng khoảng 6,4 tỷ
USD trong vòng 3 tháng trước đó và 9,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Nếu tình trung
bình, mỗi người dân Việt Nam hiện đang gánh 1.016 USD nợ của đất nước. Đây là
con số gấp 4 lần số nợ công của Việt Nam vào thời điểm cách đây 10 năm ( nợ
công là 22,3 tỷ USD, bình quân 268 USD mỗi người). Nợ công VN tăng nhanh trong
giai đoạn 2011-2015, từ mức 50,1% GDP lên 62,2% GDP, tiệm cận giới hạn 65%
theo quy định của Luật quản lý nợ công. Năm 2015 cũng là năm dư nợ Chính phủ
đạt 50,3%
Nếu tính theo % GDP, tỷ lệ nợ mà The Economist công bố (46%) đang thấp hơn
khá nhiều so với số liệu do Bộ Tài chính công bố gần nhất vào cuối tháng 9 (59,6%).
Nếu tính theo cách tính của WB và IMF thì có lẽ tỷ lề nợ công của Việt Nam còn hơn
100% GDP như 2 nước thành viên EU là Hy Lạp và AiLen.
Tỷ trọng nợ công so với GDP tăng nhanh từ 50% năm 2011 lên 59,6% năm 2014.
79,6% con số này là nợ chính phủ, 19% là nợ được chính phủ bảo lãnh và khoảng
1,4% là nợ của chính quyền địa phương. Bộ Tài chính dự báo tổng dư nợ công có
thể đạt mức đỉnh điểm gần 65% GDP vào cuối năm 2017. Sau đó, tỷ lệ nợ/GDP sẽ
giảm dần do thắt chặt tài khóa.
12


Dẫn số liệu của IMF – Triển vọng kinh tế thế giới (WEO) trong Báo cáo kinh tế quý I
vừa công bố, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) cho hay, so với
một số nước ASEAN, Việt Nam có tỷ lệ nợ công so với GDP cao hơn hẳn. Nợ công
của Việt Nam cao gấp rưỡi đến gấp đôi nhiều nước trong khu vực như Thái Lan,
Indonesia, Philippines và Campuchia. Tuy nhiên, nếu xét về tăng trưởng GDP năm
2015, Việt Nam có mức tăng trưởng cao hơn các nước này, chỉ sau Campuchia.
Đáng nói hơn, theo dự báo của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) trong nhóm nước này Việt
Nam là nước duy nhất có tỷ lệ nợ công/GDP tiếp tục tăng đến gần 68% GDP vào
năm 2020. Trong khi đó, từ nay đến năm 2020, một số nước như Malaysia,
Philippines, Indonesia… được cho là sẽ giảm mạnh nợ công. Ngay như Myanmar,
nợ công cũng giảm mạnh từ 2011 đến nay và dự báo chỉ tăng nhẹ trong các năm
tiếp theo.



2) Cơ cấu nợ công và tốc độ gia tăng nợ công Việt Nam

Cơ cấu nợ công Việt Nam

13


Cơ cấu nợ công của Việt Nam, tính đến 31/12/2015, tỷ lệ nợ công ở mức 61,3%
GDP, trong đó nợ Chính phủ 48,9% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia ở mức
41,5% GDP (bao gồm các loại trái phiếu, tín phiếu, vay ODA, vay thương mại từ các
đối tác song phương và đa phương), còn lài là nợ chính phủ bảo lãnh (các loại trái
phiếu do Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) và Ngân hàng Chính sách Xã hội
phát hành) và nợ của chính quyền địa phương. Cơ cấu dư nợ công bao gồm nợ
Chính phủ chiếm 80,3%, nợ được Chính phủ bảo lãnh chiếm 18,2% và nợ chính
quyền địa phương chiếm 1,5%. Khoảng 94% danh mục nợ nước ngoài của Chính
phủ là các khoản vay ODA, vay ưu đãi có kỳ hạn dài, lãi suất ưu đãi và quy mô huy
động tương đối ổn định. Nhật bản là nước viện trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam.

Trong cơ cấu tổng dư nợ của Chỉnh phủ, trái phiếu chính phủ (TPCP) sẽ tăng từ
32,5% năm 2015 lên 40% năm 2020, tương đương 22% GDP; vay viện trợ phát
triển chính thức (ODA) sẽ giảm từ 40,7% năm 2015 xuống 32,7% năm 2020; TPCP
phát hành quốc tế sẽ tăng từ 9,3% năm 2015 lên 12,7% năm 2020; và các khoản
vay khác trong nước (tín phiếu kho bạc) sẽ giảm từ 17,5% năm 2015 xuống 14,5%
năm 2020.

14




Tốc độ gia tăng nợ công của Việt Nam

Nguồn: bộ tài chính
Theo bảng cập nhật của Đồng hồ nợ công thế giới, nợ công của Việt Nam tính
đến ngày 18/3/2016 là 94,8 tỷ USD, tương ứng số nợ công trên đầu người của mỗi
người Việt Nam là 1.039 USD/người (tương đương gần 22,8 triệu đồng).
So với thời điểm này 1 năm về trước, nợ công của Việt Nam đã tăng 8,1 tỷ USD,
tương đương mức tăng trung bình của các năm 2013, 2014 và 2015.
Với số liệu gia tăng nợ công của Việt Nam như hiện nay, sau 2 năm con số nợ
công của Việt Nam đã tăng 16,1 tỷ USD. Nếu tính mốc từ năm 2010, sau 6 năm, con
số nợ công của Việt Nam đã tăng lên 49,4 tỷ USD từ 45,39 tỷ USD (năm 2010).
Theo số liệu dù nợ công của Việt Nam vẫn ở mức cao, song từ năm 2010 cho
đến nay tốc độ gia tăng nợ công của Việt Nam đã được giảm dần. Theo đồng hồ nợ
công thế giới, tốc độ gia tăng nợ công thời điểm 18/3/2016 đạt 9,3%, thấp hơn tốc
độ gia tăng của năm 2015 và các năm về trước.

15




3) Tình hình sử dụng nợ công và trả nợ công của Việt Nam

Tình hình sử dụng nợ công

Năm 2015,trên 98% vốn vay được sử dụng trực tiếp cho các dự án hạ tầng, phần
còn lại được đưa vào NSNN chi cho đầu tư phát triển (1,5%) và một phần chi sự
nghiệp trong các dự án vay ODA theo cam kết (0,4%).
Phần còn lại chi cho đầu tư phát triển giảm mạnh, từ 25% trong tổng chi NSNN giai
đoạn 2006 - 2010 xuống còn khoảng 18% giai đoạn 2011 - 2015.( theo báo cáo của
cựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng)
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, năm 2014 đã huy động 627.800 tỷ đồng, trong đó
trên 98% vốn vay được sử dụng cho các dự án hạ tầng
-

Đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư, đảm bảo an sinh xã hội, tuy nhiên đầu tư kém
hiệu quả.

Quy mô nợ công so với GDP tuy đang ở mức cao, gần với ngưỡng được Quốc
hội cho phép, nhưng do nguồn lực ngân sách còn hạn chế nên vẫn cần huy động
vốn vay trong và ngoài nước để đầu tư
Một số liệu do Bộ Tài chính công bố cho thấy rằng trên 70% nguồn vốn ODA
được sử dụng cho đầu tư công và cung ứng vốn thực hiện các dự án sản xuất kinh
doanh của các tập đoàn kinh tế nhà nước. Điều đáng tiếc là khu vực kinh tế nhà
nước làm ăn thường không hiệu quả. Các số liệu thống kê chính thức cho biết rằng
khu vực kinh tế nhà nước chiếm 70% tổng vốn đầu tư quốc gia nhưng chỉ đóng góp
khoảng 30% vào tổng sản lượng quốc gia. Điều đó có nghĩa là các khu vực tư và
khu vực đầu tư nước ngoài chỉ sử dụng 30% vốn đầu tư quốc gia nhưng lại đóng
góp đến 70% tổng sản lượng. Hiệu quả sử dụng nguồn vốn của khu vực kinh tế nhà
nước như vậy là bốn lần kém hơn các khu vực kinh tế khác, năng suất lao động
kém hơn và thu nhập lao động bình quân cũng thấp hơn, trong khi khu vực này
ngoài những ưu đãi mang tính chính sách về nguồn vốn, về lãi suất còn được
hưởng các đặc quyền, các ưu thế kinh tế vượt trội mà các khu vực khác không có.
Một số công trình sử dụng vốn vay ODA:

16


Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 1

Nhà máy nhiệt điện Ô Môn 2
Tuy nhiên, vấn đề công khia thiếu minh bạch trong các dự án ODA được đặt ra.
Ví dụ: bê bối tiêu cực gian lận, tham nhũng tại các dự án ODA

như vụ

PMU18(2006), vụ Huỳnh Ngọc SỸ(2011)…
Ông Nguyễn Thành Đô, Nguyên Cục trưởng Cục quản lý nợ và tài chính đối
ngoại (Bộ Tài chính) dẫn chứng một số ví dụ điển hình trong việc sử dụng không
hiệu quả nguồn vốn ODA như: dự án trích dầu cám ở Bến Tre và dự án dây chuyền
dệt bao đay ở Tp. Hồ Chí Minh vay vốn ODA từ Ấn Độ. Vì công nghệ lạc hậu, không
có nguyên liệu và không có nơi tiêu thụ sản phẩm nên sau khi bàn giao không vận
hành được. Dự án nhà máy thủy sản đông lạnh Hạ Long, vay vốn ODA Italia - thất
bại do sản phẩm không cạnh tranh được thị trường...
17


-

Trả nợ các khoản vay khác

Thực tế, theo WB, tận dụng điều kiện tài chính toàn cầu thuận lợi và nâng cao
xếp hạng tín dụng quốc gia trong thời gian gần đây, Việt Nam đã phát hành trái
phiếu quốc tế 10 năm với tổng giá trị 1 tỷ USD (lãi suất 4,8%) vào tháng 11/2014 –
lần phát hành ra thị trường quốc tế đầu tiên trong 5 năm. Phần lớn số thu của đợt
phát hành trái phiếu này được sử dụng để tái cơ cấu các khoản vay trước đó.
VD năm 2013, Chính phủ đã bảo lãnh phát hành trái phiếu của DATC để tái cấu
trúc khoản vay 600 triệu USD của Vinashin.
-

Góp phần tài trợ thâm hụt ngân sách nhà nước.

Trong quá trình thực hiện vai trò của mình NSNN luôn gặp phải những khó khăn
to lớn và trở nên hết sức bị động cả về thu lấn chi cân đối. thu NSNN tăng chậm và
không ổn định, nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân không đủ để bao chi cho
hầu hết các lĩnh vực kinh tế, xã hội và cho sản xuất kinh doanh. Từ đó dẫn đến thâm
hụt NSNN. Và đi vay nợ là 1 lựa chon được các quốc gia, trong đó cóVN chọn để
đáp ứng kịp thời thiếu hụt NSNN.


Tình hình trả nợ công

18


Theo phân tích của Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách( VEPR), số nợ gốc
phải trả là 62.600 tỉ đồng, chi từ ngân sách để trả nợ gốc là 62.500 tỉ đồng trong
năm 2010. Tới năm 2013, tổng nợ gốc phải trả tăng lên gấp đôi (125.800 tỉ) trong khi
chi ngân sách để trả nợ gốc đạt 55.600 tỉ đồng, khối lượng nợ gốc phải đảo nợ là
70.200 tỷ. Quy mô đảo nợ tiếp tục tăng lên mức 77.000 tỷ đồng trong năm 2014.
Bên cạnh đó, chi trả lãi cũng chiếm một tỉ lệ lớn trong thu chi ngân sách. So với
tổng chi, chi trả lãi chiếm một tỉ lệ ngày càng lớn, từ 3,2% năm 2010 tăng lên 6,7%
năm 2014. Xét về số tuyệt đối thì chi trả lãi năm 2014 tăng gấp 2.6 lần so với năm
2010.
Chi trả lãi chỉ thấp hơn chi cho giáo dục đào tạo (chiếm 17,3%), lương hưu và an
sinh xã hội (10,8%) và quản lý hành chính (9,7%) và lấn át các khoản chi thường
xuyên khác. Trong 3 năm gần đây, ngân sách thường chỉ dành từ 14-16% tổng thu
để trả nợ,
Theo báo cáo của thủ tướng chính phủ, tỷ lệ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so
với tổng thu NSNN năm 2015 khoảng 14,2% (theo quy định là không quá 25%).
Ngoài ra, trong điều kiện kinh tế vĩ mô ổn định hơn, chúng ta còn sử dụng một phần
vay mới với kỳ hạn dài hơn, lãi suất thấp hơn để đảo nợ, góp phần làm giảm áp lực
trả nợ trong ngắn hạn và giảm chi phí vay vốn. Việc đảo nợ này không làm tăng tổng
số nợ công và phù hợp với luật Quản lý nợ công cũng như thông lệ quốc tế.
Về vấn đề khả năng trả nợ công của Việt Nam ông Sandeep Mahajan (chuyên
gia kinh tế của ngân hàng thế giới) cho biết: ” Chúng tôi không quan ngại về khả
19


năng trả nợ của Việt Nam. Tỷ lệ nợ vẫn an toàn song vấn đề đáng ngại đối với Việt
Nam là kỳ hạn trả nợ. Các kỳ hạn trả nợ đang ngày càng ngắn lại, áp lực trả nợ rất
lớn. Chính phủ vẫn hoàn toàn có khả năng trả nợ các khoản đến hạn 100%. Nếu
như thâm hụt ngân sách vẫn cao như hiện nay thì con số nợ sẽ không bền vững, rủi
ro trong trung hạn là rất lớn”.
4) Kết quả đạt được và hạn chế nợ công ở Việt Nam


Kết quả đạt được
Trong thời gian gần đây, công tác quản lý nợ của Việt Nam đã đạt được những

tiến bộ đáng kể, góp phần ổn định và phát triển kinh tế đất nước, cụ thể là:
- Thông qua hoạt động vay nợ, Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp đã
huy động được nguồn vốn khá lớn cho đầu tư phát triển, đồng thời vẫn đảm bảo
quản lý nợ trong các giới hạn an toàn.
-

Hoạt động huy động vốn trong nước của Chính phủ thông qua phát hành tín

phiếu, trái phiếu Chính phủ cũng đã giúp hình thành thị trường trái phiếu Chính phủ
trong nước, một thành tố khá quan trọng để hình thành thị trường tài chính hoàn
chỉnh. Trái phiếu Chính phủ được niêm yết và giao dịch trên thị trường chứng khoán
đã góp phần làm tăng tính thanh khoản của thị trường trái phiếu Chính phủ nói riêng
và phát triển thị trường vốn trong nước nói chung.
-

Trong công tác quản lý nợ, các văn bản pháp lý ngày càng được hoàn thiện,

đồng bộ hơn và tiến gần đến các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, nhất là trong lĩnh
vực quản lý nợ nước ngoài. Chính phủ đã thực hiện nguyên tắc thống nhất quản lý
nợ Chính phủ, nợ quốc gia trên cơ sở phân công, xác định trách nhiệm rõ ràng hơn
giữa các cơ quan quản lý.
-

Công tác trả nợ Chính phủ trong và ngoài nước luôn được thực hiện đầy đủ,

đúng hạn, không để xảy ra nợ quá hạn như những năm về trước. Việc tích cực đàm
phán xử lý các khoản nợ cũ với các chủ nợ nước ngoài (thuộc Câu lạc bộ Pa - ri,
Câu lạc bộ Luân Đôn) đã giúp giảm đáng kể nghĩa vụ nợ của Việt Nam.


Một số hạn chế

20


Bên cạnh những thành công đạt được, công tác quản lý nợ công ở Việt Nam
trước khi có Luật Quản lý nợ công còn bộc lộ nhiều bất cập, đặc biệt là :
Chưa có sự nhất quán các khái niệm về nợ cũng như phạm vi quản lý nợ trong các
văn bản pháp quy hiện hành như nợ Chính phủ, nợ khu vực công, nợ quốc gia. Việc
phân loại, tổng hợp nợ vì vậy cũng chưa theo các chuẩn mực quốc tế, việc quản lý
nợ còn chồng chéo giữa các cơ quan quản lý nhà nước, chưa có kế hoạch cụ thể
để xây dựng và sử dụng cơ sở dữ liệu về nợ công v.v.
Thứ nhất, định nghĩa Nợ công chưa hợp lý.
Theo cách định nghĩa của Luật Quản lý nợ công năm 2009, nợ công bao gồm ba
loại chính là nợ chính phủ, nợ chính quyền địa phương và nợ do Chính phủ bảo
lãnh. Ba loại nợ này xác định những trách nhiệm trả nợ trực tiếp của Chính phủ và
phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, theo thông lệ quốc tế, cách quy định nợ
công của Việt Nam hiện nay là chưa đầy đủ, thể hiện ở những điểm sau:
-

Nợ công không tính đến các khoản nợ của doanh nghiệp do Nhà nước nắm

100% vốn hoặc nắm vốn chi phối. Thực tế, trong cách định nghĩa phổ biến về nợ
công của những tổ chức quốc tế uy tín (IMF, OECD hoặc WB) thì những khoản nợ
này được xếp vào nợ công vì khác với các doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân, cuối
cùng thì Nhà nước cũng phải đảm bảo khả năng trả nợ cho các doanh nghiệp mà
Nhà nước có 100% vốn hoặc vốn chi phối nhằm đảm bảo an sinh và trật tự xã hội,
cho dù về mặt pháp lý, đây cũng chỉ là những doanh nghiệp thông thường. Về thực
tiễn, các doanh nghiệp này là những chủ thể dễ dàng nhất tiếp cận được với các
nguồn vốn tài trợ thông qua các hoạt động huy động vốn. Bên cạnh đó, với phương
châm kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, việc để các khoản nợ của doanh nghiệp
do Nhà nước nắm 100% hoặc vốn chi phối ra khỏi nợ công sẽ làm các nhà tài trợ
kém tin tưởng hơn vào khả năng quản lý nợ và trả nợ của Việt Nam.
- Các khoản nợ của Ngân hàng Phát triển Việt Nam không được xếp vào nợ công
là không hợp lý. Ngân hàng Phát triển Việt Nam được thành lập theo Quyết định số
108/2006/QĐ-TTg ngày 19/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ để thực hiện chính
sách tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước theo quy định
của Chính phủ. Về bản chất, Ngân hàng Phát triển Việt Nam không phải là doanh
21


nghiệp, vì nó hoạt động phi lợi nhuận, đồng thời nó cũng không phải là ngân hàng
theo đúng nghĩa vì nó không phải thực thi các nghĩa vụ tài chính như các ngân hàng
thương mại thông thường. Ngân hàng Phát triển Việt Nam được Chính phủ đảm bảo
khả năng thanh toán, được miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước
theo quy định của pháp luật. Thực chất, các khoản huy động của Ngân hàng Phát
triển Việt Nam được xem như là thay mặt Chính phủ, do đó cần xác định đây là nợ
công nhằm đảm bảo thông tin đầy đủ về nợ công ở Việt Nam.

Hai là, chưa có các quy định về chính sách và chiến lược nợ công của Việt Nam
Hiện nay, Luật Quản lý nợ công thể hiện không rõ ràng về chính sách đối với nợ
công. Chưa có một điều khoản nào quy định cụ thể về nội dung này. Chỉ có một vài
nội dung của chính sách nợ công được thể hiện lẻ tẻ trong Điều 5 Luật Quản lý nợ
công, cho thấy, vẫn còn có những nhầm lẫn giữa chính sách và các nguyên tắc
quản lý nợ. Chính sách nợ công là một trong những kim chỉ nam quan trọng để tăng
cường hiệu quả của quản lý nợ công, do đó cần được quy định cụ thể, nhất quán
hơn.
Bên cạnh đó, mặc dù chiến lược nợ được coi là một trong những công cụ để quản lý
nợ công, nhưng không có nội dung nào quy định về chiến lược nợ trong Luật Quản
lý nợ công. Bổ sung nội dung này vào Luật là hết sức cần thiết, nhằm minh bạch
hóa quan điểm và chủ trương của Nhà nước Việt Nam đối với các nhà tài trợ và đối
với hoạt động quản lý, sử dụng hiệu quả nợ công.

Ba là, còn nhầm lẫn giữa hoạt động quản lý nhà nước và hoạt động giám sát
Chức năng quản lý nhà nước được thể hiện rõ ràng bởi khả năng cho phép, khả
năng cấm đoán, khả năng xử phạt. Trong khi đó, chức năng giám sát là việc đánh
giá, phân tích và đưa ra các khuyến nghị, nên nó không cần mang yếu tố quản lý
nhà nước. Tuy nhiên, chức năng giám sát lại hết sức quan trọng vì nó là tiền đề, là
công cụ để thực hiện việc quản lý nhà nước một cách hiệu quả.

22


Quy định tại Điều 4 Luật Quản lý nợ công về nội dung quản lý nhà nước về nợ công
cho thấy còn có sự nhầm lẫn giữa chức năng giám sát và chức năng quản lý. Cụ
thể: nội dung quản lý nhà nước thể hiện ở các khoản 1, 2, 3, 8, 9 và 11; còn chức
năng giám sát thể hiện ở các khoản 4, 5 và 6. Những nội dung còn lại của Điều này
như công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ
v.v. cần được quy định trong những điều khác vì rõ ràng những hoạt động này không
phải là hoạt động quản lý nhà nước.

Bốn là, về các điều từ 37-39, cho phép chính quyền địa phương để các khoản vay
ngoài ngân sách
Theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, mọi khoản thu, chi của Nhà nước
phải được thể hiện vào ngân sách nhà nước. Đối với chính quyền địa phương, các
khoản vay nợ được quy định khá cụ thể nhằm tránh tình trạng phá vỡ cân đối tổng
thể ngân sách cũng như đảm bảo khả năng trả nợ của Nhà nước. Khác với ngân
sách trung ương, ngân sách địa phương được phép ghi các khoản huy động vốn
như là những nguồn thu ngân sách chứ không phải là để bù đắp bội chi ngân sách.
Trong khi đó, từ Điều 37 đến 39 Luật Quản lý nợ công, luật cho phép chính quyền
địa phương, ngoài việc huy động vốn thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội theo
quy định của Luật Ngân sách nhà nước, còn được phép huy động vốn cho các dự
án có khả năng hoàn vốn tại địa phương. Rõ ràng, nếu những dự án này là trách
nhiệm của chính quyền địa phương, thì nó cũng là những nhiệm vụ kinh tế - xã hội
phải thực hiện thông qua hoạt động ngân sách. Còn nếu không phải thuộc trách
nhiệm của chính quyền địa phương thì chính quyền địa phương vay cho ai và vay
để làm gì? Sự thiếu rõ ràng này sẽ làm cho hoạt động quản lý nợ công ở địa
phương trở nên phức tạp và rất không minh bạch.

23


IV.

Giải pháp an toàn nợ công ở Việt Nam

Như đã phân tích, khi xem xét, đánh giá nợ công không chỉ chú ý vào tỷ lệ
nợ/GDP cao hay thấp mà quan trọng hơn là hiệu quả sử dụng vốn vay như thế nào,
tức là quản lý nợ công có hiệu quả, phát huy được các tác động tích cực của nợ
công và giảm bớt tác động tiêu cực của nó. Hiệu quả sử dụng các khoản vay nợ phụ
thuộc nhiều vào chính sách quản lý các khoản vay của ngân sách nhà nước. Do tính
chất khác biệt giữa nguồn vay và nguồn từ thuế và phí, việc quản lý một cách chặt
chẽ đòi hỏi phải có các cơ chế quản lý riêng biệt đối với các khoản chi từ nguồn vay
nợ và các khoản chi thông thường (từ nguồn thu thuế và phí). Theo đó, các khoản
chi từ nguồn vay nợ đòi hỏi phải có các quy định quản lý chặt chẽ theo hiệu quả đầu
ra, đảm bảo các tiêu chí về hoàn trả nợ (gốc và lãi), tiêu chí về tiến độ giải ngân và
hiệu quả sử dụng vốn, tiêu chí về giảm thiểu rủi ro và các tiêu chí khác. Những quy
định này thường áp dụng với mức độ đòi hỏi thấp hơn, hoặc không áp dụng đối với
các khoản chi tiêu ngân sách thông thường (được chi từ nguồn thu thuế và phí).
Việc có những quy định về quản lý ngân sách riêng biệt đối với các khoản chi từ
nguồn vay nợ được coi là một tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá tính bền vững
của nợ công nói riêng và ngân sách nhà nước nói chung.
Ngưỡng nợi công Việt Nam:
Theo thống kê của Bộ tài chính Việt Nam năm 2015, Nợ công của việt nam tăng
lên 2,36 triệu tỉ đông vào cuối năm 2014 .Mức này tương ứng với 59,6% Tổng sản
phẩm quốc nội (GDP) và cao hơn 5,1% so với cùng kỳ năm 2013. Hiện trần nợ công
của Việt Nam được đặt ở mức 65%. Tuy nhiên, giới chuyên gia cảnh báo con số này
có thể sẽ sớm vượt ngưỡng an toàn vì chính phủ không có khả năng giảm nợ công
xuống trong năm nay.
Để bảo đảm nợ công ở ngưỡng an toàn và bền vững, trong thời gian tới, Chính
phủ dự kiến bôôi chi ngân sách là 5% trong năm 2015, sau đó giảm dần 4% vào năm
2020, cùng với đó, Chính phủ khẳng định, sẽ giảm dần các chỉ tiêu nợ công trong
giai đoạn 2016 - 2020 để đến năm 2020 nợ công khoảng 60,2% GDP. Để làm được
24


điều đó nợ công phải được quản lý chặt chẽ từ khâu vay nợ, sử dụng và thanh toán
nợ đến hạn, nâng cao hiệu quả sử dụng, giữ vững uy tín quốc gia trong thanh toán
nợ, đảm bảo an ninh tài chính đối với các khoản nợ công, hạn chế rủi ro, cần thực
hiện tốt một số nội dung như sau:
Một là, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm tăng trưởng
kinh tế ở mức hợp lý, duy trì lãi suất ở mức hợp lý để không ảnh hưởng đến chi phí
nợ và khả năng vay nợ của Chính phủ, tạo niềm tin của nhà đầu tư vào các công cụ
nợ của Chính phủ.
Hai là, tiếp tục tái cơ cấu nợ công. Tái cơ cấu nợ công theo hướng tăng nhanh tỷ
trọng vay dài hạn với lãi suất thấp; tăng tỷ trọng nợ trong nước và giảm nợ nước
ngoài. Phát hành trái phiếu chính phủ có kỳ hạn dài hơn và lãi suất hợp lý để vừa
giảm thiểu rủi ro thanh toán, rủi ro thanh khoản vừa nhằm tái cơ cấu nợ. Kiểm soát
chặt chẽ viêôc bảo đảm trả nợ đối với các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh. Bố trí
nguồn từ ngân sách nhà nước trong giới hạn theo quy định và sử dụng Quỹ tích lũy
trả nợ để trả nợ đúng hạn.
Ba là, cần thực hiêôn kỷ luâôt tài khóa môôt cách rõ ràng và nghiêm ngăôt để tránh
tình trạng thâm hụt ngân sách triền miên, luôn ở mức cao gây ảnh hưởng bất lợi đến
nợ công. Kỷ luâôt tài khóa cần thực thi môôt cách cứng rắn, theo lôô trình rõ ràng. Cùng
với đó, cần xây dựng môôt cơ chế quản lý nợ công hiêôu quả. Chế đôô kiểm toán cần
sự minh bạch và có trách nhiêôm giải trình cao để có thể kiểm soát nợ công của Viêôt
Nam.
Bốn là, bảo đảm thu - chi ngân sách hợp lý. Đối với thu ngân sách nhà nước,
trong điều hành ngân sách hằng năm cần ưu tiên sử dụng số tăng thu so với dự
toán để giảm mức bội chi hoặc giành để trả nợ trước hạn. Hệ thống thuế cần được
cải cách bảo đảm các tiêu chí tạo nguồn thu bền vững, hiệu quả, công bằng và minh
bạch. Tâôp trung tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, chống thất thu
qua buôn lâôu, gian lâôn thương mại, đồng thời cải cách hành chính trong lĩnh vực
thuế và hải quan, tạo nguồn thu bền vững.
Đối với chi ngân sách nhà nước, cơ cấu lại theo hướng: đối với chi thường
xuyên, quản lý chăôt các khoản chi, tinh giảm biên chế, tiết kiêôm chi mua sắm, giảm
tối đa hôôi nghị, hôôi thảo, đi công tác nước ngoài. Đối với chi đầu tư, Nhà nước chỉ
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×