Tải bản đầy đủ

Một số kinh nghiệm giúp học sinh dân tộc giảm bớt lỗi chính tả lớp 5

Trường Tiểu học Chu Văn An

Đồng Thị Thanh Thuyù

ĐỀ TÀI:

MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH CÁC
DÂN TỘC GIẢM BỚT LỖI CHÍNH TẢ .

A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Tiếng Việt có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của mỗi người và cả
dân tộc ta. Tiếng Việt là một tiếng nói (hay ngôn ngữ) có chữ viết. Học Tiếng
Việt không chỉ là để biết nói mà còn phải biết viết, biết sử dụng thành thạo chữ
viết Tiếng Việt. Chữ viết còn là phương tiện truyền đạt đồng thời còn là phương
tiện tiếp nhận thông tin. Nói, viết còn là hai cách biểu hiện ý nghĩ, tình cảm, tư
tưởng bằng chất liệu âm thanh và chữ viết. Ngoài nội dung của lời nói được ghi
lại, chữ viết còn có thể biểu đạt thêm bằng hình thức của nó như : chữ viết hoa
tỏ lòng kính trọng, một nét hoa mỹ để làm duyên, chữ viết nghiêng hay tô đậm
để nhấn mạnh....
-“ Chữ đẹp là tính nết- Của những người trò ngoan”, “Nét chữ, nết

người”, là nhằm coi trọng nét chữ đẹp. Nhưng yêu cầu và mục tiêu của chương
trình phân môn “Chính tả” ở Tiểu học hiện nay cho học sinh là không những
phải có kỹ năng viết đẹp mà phải có kỹ năng viết đúng chính tả.
- Học sinh lớp tôi có nhiều học sinh dân tộc học chung nên mắc lỗi chính
tả rất nhiều. Có những học sinh viết sai hơn 10 lỗi ở một bài chính tả khoảng 60
chữ. Khi chấm bài Tập làm văn, tôi không thể hiểu các em muốn diễn đạt điều gì
vì bài viết mắc quá nhiều lỗi chính tả. Điều này ảnh hưởng tới kết quả học tập
của các em ở môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác, hạn chế khả năng
giao tiếp, làm các em mất tự tin, trở nên rụt rè, nhút nhát.

-1-


Trường Tiểu học Chu Văn An

Đồng Thị Thanh Thuyù

- Hiện nay chất lượng chữ viết của học sinh là vấn đề luôn được nhiều
người trong và ngoài ngành giáo dục quan tâm lo lắng, là nỗi băn khoăn lo lắng
của mỗi giáo viên nói chung và của giáo viên Tiểu học nói riêng. Vậy “Làm thế
nào để học sinh viết đúng chính tả, rồi viết đẹp ?” Đây là câu hỏi khiến tôi phải
suy nghĩ, tìm tòi để giải đáp. Trong năm học 2011 - 2012 vừa qua tôi đã đi sâu
nghiên cứu, tìm tòi để nhằm giải đáp câu hỏi trên.
- Chính vì những lý do trên mà tôi đã cố gắng thống kê, phân loại lỗi, tìm
hiểu nguyên nhân và đưa ra một số kinh nghiệm ít ỏi của mình, mong rằng nó sẽ
góp một phần nhỏ vào việc dạy chính tả được tốt hơn , nhằm“ giúp học sinh các
dân tộc giảm bớt lỗi chính tả. Cũng như góp một phần nhỏ vào việc dạy chính tả
được tốt hơn cho học sinh lớp năm, lớp cuối cấp. Và đó là lí do khiến tôi chọn
đề tài này.

II. LICH SỬ NGHIÊN CỨU:
Ở tiểu học hiện nay việc dạy Tiếng Việt cần chú trọng cả bốn kĩ năng:
nghe, nói, đọc, viết. Cả bốn kĩ năng này rất cần thiết cho việc học Tiếng Việt,
riêng kĩ năng nghe và viết rất quan trọng cho việc học của phân môn Chính tả.

-2-


Trường Tiểu học Chu Văn An


Đồng Thị Thanh Thuyù

Trong mấy năm gần đây việc đổi mới sách giáo khoa và phương pháp
dạy học đã gây xôn xao với nhiều ý kiến khác nhau của các nhà nghiên cứu. Đặc
biệt vấn đề đổi mới phương pháp luôn được coi là vấn đề được quan tâm. Việc
dạy Tiếng Việt nói chung và dạy phân môn Chính tả nói riêng luôn được các
nhà giáo dục và nhà nghiên cứu quan tâm. Họ luôn tìm và đưa ra các biện pháp
dạy học phù hợp nhất nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục.Thông qua
mạng internet tôi thấy đã có giáo viên tiểu học đã nghiên cứu đề tài này như:
Nguyễn Thị Lý giáo viên trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám, huyện Krông Pắc,
Tỉnh ĐăkLăk; Quách Thị Quý – Trường Tiểu học Quý Lộc. Trong đó phải kể
đến là dạy học môn Tiếng Việt theo chương trình và sách giáo khoa mới của tác
giả Trần Thị Minh Phương. Phương pháp dạy học Tiếng Việt của Bộ Giáo dụcĐào tạo. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra cơ sở lí luận, thực trạng và những giải
pháp cho việc dạy học Chính tả nói riêng theo chương trình mới. Và đồng thời
đi sâu vào các phương pháp, biện pháp dạy học tích cực và việc áp dụng các
phương pháp, biện pháp tích cực đó trong phân môn Chính tả. Đó là quá trình
giảng dạy của giáo viên và lĩnh hội tri thức từ phía học sinh. Giáo viên là người
tổ chức, hướng dẫn hoạt đéng học còn học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo
trong quá trình học. Dựa trên những nghiên cứu chung của các nhà giáo dục, ở
đề tài này tôi sẽ nghiên cứu sâu hơn, cụ thể hơn, thực tế hơn về các biện pháp
khắc phục lỗi chính tả. Qua việc nghiên cứu này để thấy được thực trạng lỗi
chính tả của học sinh, và hiệu quả của việc áp dụng các biện pháp này trong dạy
học Chính tả ở Tiểu học, tôi sẽ tiếp tục tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này để thấy
được ưu, nhược điểm của các biện pháp khắc phục mà các nhà nghiên cứu chưa
chỉ ra. Từ đó phát huy tối đa những ưu điểm đã có và hạn chế những nhược
điểm khi sử dụng cho các trường Tiểu học có nhiều học sinh dân tộc.

III. PHẠM VI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
- Phạm vi nghiên cứu :
+ Lớp 5A gồm 34 em (16 nữ và 18 nam).
+ Độ tuổi 33 em 10 tuổi, 1em 11 tuổi
-3-


Trường Tiểu học Chu Văn An

Đồng Thị Thanh Thuyù

+ Thuộc trường tiểu học Chu Văn An - Cư Jut - ĐăkNông.
- Mục đích nghiên cứu: Tìm lỗi chính tả của học sinh lớp 5A thường
mắc và đưa ra một số giải pháp khắc phục.

B. PHẦN NỘI DUNG
I. THỰC TRẠNG:
1. Thuận lợi:
- Hằng ngày, giáo viên được gần gũi và tiếp xúc trực tiếp với học sinh nên
tìm hiểu và nắm bắt được những khó khăn và sai sót của các em khi viết chính tả
rất thuận lợi.
- Việc tham dự các buổi chuyên đề, hội giảng của trường, đã góp phần
cho giáo viên được học hỏi, phấn đấu tìm tòi nâng cao kiến thức, kĩ năng thực
hành sư phạm. Từ đó vận dụng sáng tạo và linh hoạt trong phương pháp giảng
dạy để nâng cao chất lượng học tập Tiếng Việt cho học sinh.

2. Khó khăn:
- Tiếng Việt là môn học khó, nhất là phân môn chính tả, đòi hỏi người
giáo viên phải có kiến thức sâu rộng, phong phú.
- Đa số học sinh các dân tộc nói và phát âm chưa chính xác một số âm,
vần, dấu thanh do ở nhiều vùng miền khác nhau nên đã ảnh hưởng nhiều khi viết
chính tả.
- Một số học sinh đọc không trôi chảy nên thường viết sai chính tả nhiều.
- Do chưa nắm vững quy tắc viết chính tả nên học sinh còn bối rối, phân
vân khi viết và viết chậm.
- Do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, các em nhanh nhớ nhưng cũng mau
quên, mức độ tập trung thực hiện các yêu cầu bài học chưa cao.

3. Số liệu thống kê:
Vào đầu năm học 2012- 2013, lớp 5A tôi chủ nhiệm có khoảng:

-4-


Trường Tiểu học Chu Văn An

Đồng Thị Thanh Thuyù

- Khoảng 15% học sinh viết tương đối đúng chính tả, viết nhanh và sạch
sẽ.
- Khoảng 40% học sinh đạt điểm khá, viết hơi chậm.
- Khoảng 45% học sinh đạt điểm trung bình, yếu, viết rất chậm, sai quá
nhiều lỗi chính tả, thậm chí đó là những chữ thông thường, đơn giản. Vì thế, khi
chấm bài của học sinh, giáo viên không hiểu các em viết chữ gì.

II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP:
Trước khi vào nghiên cứu vấn đề tôi dựa vào 2 cơ sở sau:

1. Cơ sở lý luận:
Chính tả là phân môn nhằm rèn cho học sinh kĩ năng nghe - viết, nhớ viết và làm các bài tập chính tả, rèn luyện các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ. Kĩ
năng chính tả thực sự cần thiết không chỉ đối với học sinh tiểu học mà còn với
tất cả mọi người. Khi đọc một văn bản viết đúng chính tả, người đọc mới có cơ
sở để hiểu đúng nội dung văn bản đó. Trái lại, một văn bản mắc nhiều sai sót về
chính tả, người đọc khó nắm bắt nội dung và có thể hiểu sai hoặc không hiểu
đầy đủ nội dung văn bản. Viết chính tả đúng còn giúp học sinh học tốt các phân
môn khác, là cơ sở cho việc học bộ môn Tiếng Việt ở tiểu học. Chính tả còn bồi
dưỡng cho học sinh một số đức tính và thái độ cần thiết trong công việc như:
cẩn thận, chính xác, óc thẩm mĩ, lòng tự trọng và tinh thần trách nhiệm.

2. Cơ sở thực tế:
Năm học 2012- 2013 tôi được phân công giảng dạy lớp 5A, theo chỉ tiêu
của năm học đề ra là lớp phải có học sinh viết chữ đẹp cấp trường, cấp huyện,
cấp tỉnh. Tập thể lớp phải đạt vở sạch chữ đẹp cấp trường, cấp huyện. Bên cạnh
đó, song song với việc viết chữ đẹp- giữ vở sạch thì đối với học sinh lớp 5 cần
phải hạn chế bớt lỗi chính tả.
Qua thực tế nhiều năm dạy lớp 5, tôi nhận thấy các mắc lỗi do các
nguyên nhân chính như sau:
- Lỗi do vô ý, cẩu thả ( thiếu dấu phụ , dấu thanh)
- Lỗi do các vần khó ( vần uych, uynh, uyên, ươu…)
-5-


Trường Tiểu học Chu Văn An

Đồng Thị Thanh Thuyù

- Lỗi do phát âm sai ( hai trăm/ hai chăm…..)
- Lỗi do không hiểu nghĩa của từ
Từ thực tế trên, tôi nhận thấy rằng ngoài rèn luyện viết chữ đẹp cần phải
có biện pháp giảm bớt lỗi chính tả cho học sinh là cấp bách và cần thiết. Chính
vì thế để giải quyết vấn đề này người giáo viên cần phải dày công rèn luyện ,
đầy tình yêu thương và trách nhiệm với học sinh. Vì chất lượng học sinh, vì lòng
mong muốn và nguyện vọng của tôi, tôi đã mạnh dạn tìm hiểu nguyên nhân và
biện pháp khắc phục tình trạng trên.
Dựa vào 2 cơ sở trên, đồng thời để đề tài đạt được kết quả tôi tiến
hành các bước sau:
Bước 1. Thống kê các lỗi học sinh thường mắc:
Qua kinh nghiệm nhiều năm kết quả thống kê các loại lỗi, tôi thấy học
sinh các dân tộc của trường Tiểu học Chu Văn An thường mắc phải các loại lỗi
sau:

a. Lỗi về phụ âm đầu:
- Học sinh lớp tôi hay viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây:
+ ch/tr: cây che, bánh trưng, một chăm…
+ l/n: đi nàm, no nắng , lắng ấm…
+ s/x: song công việc , xơ bộ, xơ cứu
+ c/k/qu:, con ciến, céo co …
+ g/gh: gọn gẽ, gà ghô, gi nhớ…
+ ng/ngh: ngỉ ngơi, ngiên cứu, nước Ngha…
- Trong các lỗi trên đối với lớp tôi chủ nhiệm thì các em dân tộc Kinh ở
thôn 1, gốc người Hải Dương hay mắc lỗi l/n, ch/tr, s/x. Còn đối với các em
người dân tộc Tày, Nùng,Thái, H Mông hầu hết đều mắc các lỗi trên.

b. Lỗi về phần vần có nguyên âm đôi:
- Học sinh lớp tôi thường viết lẫn lộn các vần có chứa nguyên âm đôi như:
+iêm/im: lúa chiêm/ lúa chim,..
+ iêp/ip: rau diếp cá/ rau díp cá
-6-


Trường Tiểu học Chu Văn An

Đồng Thị Thanh Thuyù

+ iê/yê: kể chuiện/ kể chuyện, chim iến, quên/quyên
+ uô/u : lạnh buốt/ lạnh bút,..
+uôi/ui: muối/múi…
+ ươ/ư: con hưu,
+ ươi/ ưi: tươi/ tưi…
+ ươ/ iê: chai rượu/ chai riệu, con hươu/ con hiêu
- Trong lỗi trên thì các em dân tộc Kinh ở thôn 1, gốc người Hải Dương
thì khó phân biệt được ươ/ư, ươ/ iê nhưng các em người dân tộc Tày, Nùng,
Thái, H Mông thì hay mắc các lỗi iê/yê, uô/u, uôi/ui, ươi/ ưi, iêm/im, iêp/ip.

c. Lỗi về âm cuối:
- Học sinh lớp tôi thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau
đây: + o/u: cao su/ cau su, mào gà/ màu gà…
+ an/ang: cái bàng, bàng bạc, man vác…
+ ang/ anh: thành công thì viết thàng công
+ ong/on: Thầy Long thì viết thầy Lon,…
+ at/ac: chú bát, thơm ngác…
+ ăt/ăc: mặt áo, đánh giặt, mắt mưu…
+ ân/âng: tâng gia, nhà tần
+ ât/âc: nổi bậc, tất đấc
+ ên/ênh: bấp bên, nhẹ tên, ghập ghền, khấp khển…
+ êt/êch: trắng bệt, chợ tếch …
- Trong lỗi trên thì các em dân tộc Kinh ở thôn 1, gốc người Hải Dương
thì phân biệt rất tốt, nhưng các em người dân tộc Tày, Nùng,Thái, H Mông hầu
như đều mắc các lỗi trên.

d. Lỗi về thanh điệu:
Tiếng Việt có 6 thanh điệu (ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng) thì nhiều
học sinh người dân tộc Tày, Nùng, Thái, H Mông không phân biệt được 3 thanh
hỏi, ngã, sắc (kể cả một số em dân tộc Kinh có lực học yếu). Nhưng số lượng
tiếng mang 3 thanh này không ít và rất phổ biến.
-7-


Trường Tiểu học Chu Văn An

Đồng Thị Thanh Thuyù

Ví dụ: Sữa honđa, chỉ dẩn, giử gìn, dổ dành, lẩn lộn, nhứng/ những …

e. Lỗi về quy tắc viết hoa:
Học sinh lớp tôi thường hay mắc lỗi này (nhất là học sinh có học lực trung
bình và yếu) khi viết tên riêng chỉ tên người, tên địa lý, tên riêng nước ngoài,
nhất là học sinh yếu, nếu không được giáo viên nhắc nhở khi đang viết chính tả
thì khó có thể viết đúng được và còn tình trạng quên viết hoa đầu câu .
Bước 2. Khảo sát thực tế đầu năm: Khi nhận lớp dạy được 2 tuần
tôi bắt đầu thống kê lỗi các em thường mắc như sau:
Bảng số liệu số 1:
TSHS 34 em
Tỉ lệ

Phụ âm đầu Phần vần Phụ âm cuối Thanh điệu Viết hoa
13em
18 em
7 em
10 em
6em
38.23%
52.94%
20.58%
29.41%
17,12%

-8-


Trường Tiểu học Chu Văn An

Đồng Thị Thanh Thuyù

Bước 3. Tìm hiểu nguyên nhân mắc lỗi:
Qua 7 năm công tác tại trường mà địa bàn có nhiều học sinh dân tộc
học chung một lớp, tôi tìm hiểu được một số nguyên nhân sau:
a. Lỗi về âm đầu:
Học sinh lớp tôi những em thuộc phương ngữ Bắc cũng như học sinh các
dân tộc tiểu số như: Tày, Nùng, Dao, Thái và H Mông hay lẫn lộn giữa các chữ
ghi âm đầu l/n,ch/tr, s/x. d/gi/r. Những em thuộc phương ngữ Nam còn lẫn lộn
v và d. ( ví dụ : con vịt/con dịt, vàng chóe/ dàng chóe,…)
Các âm ghi bằng 2 hoặc 3 dạng (ví dụ: /k/ ghi bằng c / k /qu ; /i/ ghi bằng
i hoặc y…) dĩ nhiên là có những quy định riêng cho mỗi dạng, nhưng đối với
học sinh lớp tôi (nhất là học sinh yếu) thì rất dễ lẫn lộn.
b. Lỗi về phần vần:
Tôi nhận thấy có 2 nguyên nhân gây ra sự lẫn lộn về âm chính trong các
vần này:
- Nguyên nhân thứ nhất là do sự phức tạp của chữ quốc ngữ: Nguyên
âm /ă/ lại được ghi bằng chữ a trong các vần ay, au, các nguyên âm đôi iê, ươ,
uô/ lại được ghi bằng các dạng iê,yê, ia, ya; ươ, ưa; uô, ua .. Học sinh lớp tôi
những em thuộc phương ngữ Bắc cũng như học sinh các dân tộc tiểu số như:
Tày, Nùng, Dao, Thái và H Mông hay lẫn lộn: uyên/uien, quên hay viết là
quyên.
- Nguyên nhân thứ hai là do cách phát âm lẫn lộn trong phương ngữ Nam
đối với các âm chính trong hầu hết các vần trên.(ví dụ: muống/muốn, nói
chuyện/ chiện….)
c. Lỗi về âm cuối:

-9-


Trường Tiểu học Chu Văn An

Đồng Thị Thanh Thuyù

Học sinh lớp tôi những em thuộc phương ngữ Nam cũng như học sinh các
dân tộc tiểu số như: Tày, Nùng, Dao, Thái và H Mông ở lớp tôi khi viết hoàn
toàn không phân biệt các vần có âm cuối n/ng và ng/nh. Mà số từ mang các vần
này không ít. Mặt khác hai bán âm cuối i,u/ lại được ghi bằng 4 con chữ i/y
(trong: lai/lây), u/o (trong: sau/sao) do đó lỗi về âm cuối là lỗi khó khắc phục
đối với học sinh khu vực phía Nam ở lớp tôi.
d. Lỗi về thanh điệu:
Học sinh lớp tôi các em học sinh dân tộc Tày, Nùng, Thái, Dao, H Mông
cũng hay lẫn lộn 2 thanh sắc, ngã ; hỏi, nặng.
Còn những em thuộc phương ngữ Nam không phân biệt được 2 thanh hỏi,
ngã. Mặt khác, số lượng tiếng mang 2 thanh này khá lớn. Do đó lỗi về dấu thanh
rất phổ biến. Một số học sinh miền Bắc thường hay lẫn lộn 2 thanh sắc, ngã với
nhau.
e. Lỗi quy tắc viết hoa:
Học sinh dân tộc Tày, Nùng, Thái, Dao, H Mông mà có lực học yếu
thường hay mắc lỗi này. Khi viết tên riêng chỉ người và tên riêng nước ngoài,
viết hoa dầu câu không được giáo viên nhắc nhở khi đang viết chính tả rất dễ
mắc lỗi. Các em có lực học khá, giỏi thì rất ít mắc lỗi này.
* Bản thân tôi với kinh nghiệm ít ỏi trong thời gian 6 tháng nghiên
cứu tôi đưa ra một số biện pháp sau:

1.Khắc phục bằng cách luyện phát âm:
- Tôi thấy rằng việc phát âm đúng và chuẩn sẽ giúp cho học sinh viết
đúng chính tả, nên giáo viên phải chú ý luyện phát âm cho học sinh để phân biệt
các thanh, các âm đầu, âm chính, âm cuối .
- Việc rèn phát âm không chỉ được thực hiện trong tiết Tập đọc mà được
thực hiện thường xuyên, liên tục, lâu dài trong tất cả các tiết học như Chính tả,
Luyện từ và câu, Tập làm văn, Kể chuyện…cũng như trong giao tiếp hằng ngày
với học sinh. Ví dụ như:

- 10 -


Trường Tiểu học Chu Văn An

Đồng Thị Thanh Thuyù

* Để phân biệt âm đầu s/x: dù trong ngôn ngữ không có sờ nặng(s) hay sờ
nhẹ(x), nhưng khi đọc chính tả học sinh hay hỏi:“ sờ nặng hay sờ nhẹ“ thì tôi
cũng hay phân biệt theo cách này. Và tôi cũng hay nhắc nhở học sinh nghe cô
phát âm cong lưỡi – nặng hơi viết là s, còn phát âm ở đầu lưỡi viết là x.
* Để phân biệt âm đầu tr/ch: cũng giống như s/x , các em hay phân biệt tr
(chờ nặng) / ch (chờ nhẹ). Hầu như phương ngữ các em phía Bắc cũng như học
sinh các dân tộc tiểu số như: Tày, Nùng, Dao, Thái và H Mông ở lớp tôi không
có phụ âm tr, mà chỉ có âm ch. Chính vì vậy, nên tôi yêu cầu các em khi viết
phải hết sức lắng nghe giáo viên phát âm. Nếu phát âm cong lưỡi – nặng hơi viết
là tr, còn phát âm bình thường viết là ch.

2. Khắc phục bằng cách phân tích, so sánh từ ngữ:
Đi đôi với việc phát âm, tôi thấy cần áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo
của tiếng, so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, nhấn mạnh những điểm khác nhau
để học sinh lưu ý và ghi nhớ khi thực hiện viết chính tả.
Ví dụ: Khi viết tiếng “buốt” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “bút”, giáo viên
yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:
- buốt = b + uôt + thanh sắc
- bút = b+ ut + thanh sắc
So sánh để thấy sự khác nhau: Tiếng “buốt” có âm chính nguyên âm đôi
là “uô”, tiếng “bút” có âm chính là âm “u”. Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết
các em sẽ không viết sai.

3. Khắc phục bằng cách giải nghĩa từ:
- Để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh các dân tộc việc giải nghĩa từ
đóng vai trò rất quan trọng.Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết
Luyện từ và câu, Tập đọc, Tập làm văn… nhưng nó cũng là việc làm rất cần
thiết trong tiết Chính tả, khi mà học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào
phát âm hay phân tích cấu tạo tiếng thì lúc đó giáo viên phải giải nghĩa từ cho
học sinh nắm rõ.

- 11 -


Trường Tiểu học Chu Văn An

Đồng Thị Thanh Thuyù

- Tôi thấy có nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh: Giáo viên có thể
cho học sinh đọc chú giải, đặt câu (nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã
hiểu nghĩa từ), tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật
thật, mô hình, tranh ảnh, có thể sử dụng Từ điển…
Ví dụ: Phân biệt chiêm và chim:
+ Giải nghĩa từ chiêm : lúa chiêm,chiêm bao,
+ Giải nghĩa từ chim: chim bồ câu, chim chích chòe

4. Khắc phục bằng ghi nhớ mẹo luật chính tả:
- Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật, giúp
giáo viên khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách rất hữu hiệu. Ngay từ lớp
1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như: các âm đầu k, gh,
ngh chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e, ê, Ngoài ra, giáo viên có thể cung cấp
thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như:
* Âm i, mà nếu không có âm đầu thì viết là y. Ví dụ: chim yến, yếm
dãi...Còn có âm phụ âm đầu đứng trước thì viết lá i. Ví dụ như: lim dim, quả
sim...Nếu không làm thay đổi nghĩa của từ thì có thể viết i hay y cũng được, ví
dụ như: địa lí/ địa lý, kĩ thuật/ kỹ thuật,... đều đúng. Nhưng nếu làm thay đổi
nghĩa thì không được viết tùy tiện, ví dụ như: cô Thủy không được viết cô Thủi.
* Để phân biệt các vần dễ lẫn lộn:
-Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu,
khuỵu chân; vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ ngoằn ngoèo, khoèo chân.
-Vần uynh/uych hay có các từ: huỳnh huỵch, luýnh huýnh...

5. Khắc phục bằng cách cho học sinh làm các bài tập chính tả:
Đây cũng là biện pháp rất hữu hiệu mà tôi đã áp dụng. Theo tôi, giáo
viên có thể đưa ra các dạng bài tập chính tả khác nhau để giúp học sinh tập
vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn cảnh
cụ thể. Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp học sinh rút ra các quy tắc chính tả
để các em ghi nhớ.

a. Bài tập trắc nghiệm:
- 12 -


Đồng Thị Thanh Thuyù

Trường Tiểu học Chu Văn An

a1/ Khoanh tròn vào chữ cái trước những chữ viết đúng chính tả:
Câu 1: a. no nghĩ

b. no âu

c. no ấm

d. ăn lo

Câu 2: a. nề lối

b. thợ nề

c. lề nếp

d. ngoài lề

a2/ Điền vào ô trống chữ Đ trước những chữ viết đúng chính tả, chữ S
trước những chữ viết sai chính tả:
Táng thành

Nắn nót

Họp bàng

Vẻ vang

Van xin

Siêng năng

b. Nối các tiếng ở cột A với các tiếng ở cột B để tạo thành
những từ viết đúng chính tả:
A
ngoại

B
nhân

siêu

xâm

xiêu

nước

c. Bài tập chọn lựa:
c1/ Chọn từ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống trong câu sau:
- Ly …. này rất ngọt (sửa, sữa)
- Mới tập đi em bé hay bị ….. (ngả, ngã).
- Đôi …… này rất đắt tiền (giày, dày)
- Sau khi ……. con, chị ấy trông thật …… (xinh, sinh)
c2/Chọn từ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống trong câu
sau:

- Bà em thường …. đèn ….. đêm khuya. (trong, chong)
- Bé Na thích nghe kể………cổ tích hơn đọc…… (truyện, chuyện)
- Trời nhiều …….., gió heo ………lại về. (mây, may)
c3/ Điền dấu hỏi hoặc dấu ngã lên trên chữ in nghiêng:
- Đến nga ba, mỗi người đi một nga.
- Mưa ra rích, ròng ra mấy ngày đêm.
- Sắp đến thị xa thì mưa xối xa.
- 13 -


Trường Tiểu học Chu Văn An

Đồng Thị Thanh Thuyù

- Kể mâu chuyện vui ở lớp mâu giáo.

d. Bài tập phát hiện:
Tìm từ sai chính tả trong câu sau và sửa lại cho đúng:
-Ai khảo mà sưng .
-Ăn bữa hôm no bữa mai
-Ăn miến trả miến
-Con sâu làm giầu nồi canh
-Dấy rách phải giữ lấy nề
-Muồi hương đưa theo chiều gió ngào ngạc
-Sung quanh hòn đá thần người ta cheo những cành hoa đang bằng che

e. Bài tập điền khuyết:
Điền vào chỗ trống dưới đây, có thể điền chữ ( hoặc tiếng) bắt đầu
bằng d,gi,r:
-Nam sinh …trong một … đình có truyền thống hiếu học.
-Bố mẹ …., Nam mới chịu tập thể ….
-Ông ấy nuôi chó…. để … nhà
-Tơ vừa …tờ báo ra, đàn đọc …. thì có khách

g. Bài tập tìm từ:
g.1/ Tìm các từ chứa tiếng bắt đầu bằng gi hoặc d/r có nghĩa như sau:
-Giữ lại để dùng về sau: …..
-Dám đương đầu với khó khăn , nguy hiểm:…..
-Biết rõ, thành thạo:……
g.2/Tìm các từ chỉ hoạt động:
-Chứa tiếng bắt đầu bằng r: ví dụ như: rửa chén, ….
-Chứa tiếng bắt đầu bằng d: ví dụ như: dọn dẹp, dạo chơi…
-Chứa tiếng bắt đầu bằng gi: ví dụ như: giục giã, giãy,…
-Chứa tiếng có vần ươt: ví dụ như: vượt sông,…
-Chứa tiếng có vần ươc: ví dụ như: bước, …
g.3/Tìm các từ ngữ chứa các tiếng chỉ khác nhau ở âm đầu v hay d
- 14 -


Đồng Thị Thanh Thuyù

Trường Tiểu học Chu Văn An
- vàng/ dàng:
- vào/ dào:
- vỗ / dỗ:
g.4/Tìm các từ láy theo những khuôn vần sau:
a, an- at:

b, ôn- ôt:

ang- ac:

ung- uc

c, un –ut:
ông- ôc:

h. Bài tập phân biệt:
* Đặt câu để phân biệt từng cặp từ sau:
- nồi - lồi
- no - lo
- bàn - bàng
- ngả - ngã
- chanh/tranh
- kiếp/kíp

i. Bài tập giải câu đố:
Tìm tiếng có chứa o hoặc ô thích hợp với mỗi ô trống rồi giải câu đố:
a/

Hoa gì đơm lửa rực h…..
Lớn lên hạt ng… đầy tr…. bị vàng?
( Là hoa gì?)

b/

Hoa nở trên mặt nước
Lại mang hạt tr… mình
Hương bay qua hồ r….
Lá đội đầu mướt xanh.
( Là cây gì?)

- 15 -


Trường Tiểu học Chu Văn An

Đồng Thị Thanh Thuyù

* Ngoài những giải pháp nêu trên tôi cũng mong muốn giáo viên phải kết
hợp nhiều phương pháp dạy học để tăng thêm hiệu quả . Biết rằng mỗi phương
pháp đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Tuy nhiên vận dụng có hiệu
quả hay không còn tùy thuộc vào khả năng truyền đạt của người giáo viên và sự
chăm chỉ học tập của học sinh. Để học sinh đạt được kết quả cao trong học tập,
ngoài kinh nghiệm giảng dạy, người giáo viên phải luôn luôn theo dõi những
tiến bộ trong học tập của học sinh, qua đó kịp thời cải tiến, điều chỉnh hoạt động
dạy- học cho có hiệu quả hơn. Điều quan trọng là với lương tâm và trách nhiệm,
trí tuệ và tâm huyết, mỗi người giáo viên cần biết tự rèn luyện, tự học tập, tự
sáng tạo để trở thành tấm gương sáng cho thế hệ trẻ phấn đấu và rèn luyện, xứng
đáng với niềm tin của nhân dân, góp phần trong sự nghiệp phát triển giáo dục và
đào tạo.
- Giáo viên phải có ý thức khắc phục ảnh hưởng của phương ngữ, phải có
chuẩn chính âm và viết chuẩn chính tả. Giáo viên phải quan tâm sửa sai cho học
sinh theo phương châm “ Sai gì sửa đấy, sai đâu sửa đó” thật kịp thời mọi lúc,
mọi nơi… để từ đó học sinh sẽ sửa được các lỗi chính tả đã mắc phải.
- Cần theo dõi và quan tâm giúp đỡ học sinh nhiều hơn trong những tiết
chính tả. Việc chấm chữa bài cho học sinh sau khi viết chính tả, cũng không kém
phần quan trọng thường giáo viên thu tất cả vở học sinh để tự mình chấm. Như
vậy giáo viên đã bỏ qua bước cho học sinh tự soát lỗi trên vở của mình hoặc của
bạn ( học sinh đổi vở cho nhau để bắt lỗi). Bằng cách này giáo viên chỉ có một
điểm lợi là giảm bớt thời gian trên tiết dạy. Nhưng có điểm bất lợi rất lớn là học
sinh không được tiếp xúc với bài mình vừa viết, không tự phát hiện ra những lỗi
viết sai với sự hướng dẫn sửa chữa của giáo viên. Như vậy, việc tự bản thân học
sinh sửa lỗi chính tả cho mình hoặc sửa lỗi cho bạn sẽ giúp học sinh khắc sâu và
nhớ lâu hơn những lỗi chính tả mà mình mắc phải.

- 16 -


Trường Tiểu học Chu Văn An

Đồng Thị Thanh Thuyù

* Còn đối với học sinh: Để học sinh viết đúng chính tả, không bị mắc
lỗi, ngoài việc người giáo viên tích cực thì học sinh cũng cần phối hợp tích cực
để đạt hiệu quả cao. Do đó học sinh không được trực tiếp nhận ra các lỗi sai để
sửa lỗi, dễ dẫn đến sai này nối tiếp sai kia, muốn sửa được sai cho học sinh giáo
viên cần cho học sinh tự nhận lỗi sai và sửa chữa, giáo viên tích cực giúp học
sinh khắc phục các lỗi sai cơ bản do phương ngữ( học sinh ngọng l/n , tr/ch) do
chưa phân biệt các phụ âm l-n, ch-tr, s-x, d-gi-r và chưa nắm vững các nguyên
tắc ngữ âm học như gh ghép với âm e, ê, i, g ghép với âm o, ô, ơ… Từ chỗ học
sinh nhận thấy lỗi sai và ý thức ghi nhớ sửa các lỗi sai chính tả sẽ góp phần hoàn
thiện, nâng cao giờ học chính tả cho học sinh.

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
Trong quá trình đứng lớp, tôi đã áp dụng các biện pháp trên và nhận thấy
học sinh đã có tiến bộ khá rõ rệt. Bản thân các em cũng ý thức hơn khi viết bài
nên bài viết ít mắc lỗi chính tả. Những em trước kia thường sai 9, 10 lỗi thì nay
chỉ còn 4, 5 lỗi, những em trước kia sai 5, 6 lỗi thì nay chỉ còn 1, 2 lỗi… Tuy
rằng đây mới chỉ là kết quả hết sức khiêm tốn và việc “giúp học sinh các dân
tộc giảm bớt lỗi chính tả” là một quá trình lâu dài chứ không thể thực hiện ngày
một, ngày hai là được . Đến thi khảo sát giữa kì 1 tôi có kết quả thống kê như
sau:
Bảng số liệu số 2:
LỚP 5A
TSHS 34 em
Tỉ lệ

Phụ âm
đầu
5em
14.7%

Các lỗi thường mắc
Phần vần
Phụ âm
cuối
7 em
3 em
20.58%
8.82%

Thanh
điệu
2 em
5.88%

Viết hoa
2em
5.88%

- 17 -


Trường Tiểu học Chu Văn An

Đồng Thị Thanh Thuyù

Tôi thấy công việc mình làm đã bước đầu có hiệu quả và tôi tiếp áp dụng
các biện pháp khắc phục trên cho đến cuối kì 1 tôi khảo sát có kết quả như sau:
Bảng số liệu số 3:
LỚP 5A
TSHS 34 em
Tỉ lệ

Phụ âm
đầu
3em
8.82%

Các lỗi thường mắc
Phần vần Phụ âm cuối
Thanh
điệu
4em
2em
2 em
11.76%
5.88%
5.88%

Viết hoa
0 em
0%

- 18 -


Trường Tiểu học Chu Văn An

Đồng Thị Thanh Thuyù

IV. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
- Việc phát hiện lỗi chính tả, thống kê, tìm nguyên nhân gây lỗi, từ đó đưa
ra các giải pháp rất cần thiết, không thể thiếu trong quá trình dạy - học Tiếng
Việt. Nhưng không phải chỉ đưa ra các giải pháp là có thể thực hiện một cách có
hiệu quả. Sửa chữa, khắc phục lỗi chính tả là cả một quá trình lâu dài, đòi hỏi
người giáo viên phải kiên trì, bền bỉ, không được nóng vội. Bởi vì có những học
sinh tiến bộ ngay trong vài tuần nhưng cũng có những học sinh thì sự tiến bộ
diễn ra rất chậm, không phải vài tuần, có khi vài tháng, thậm chí cả một học kỳ.
Nếu giáo viên không biết chờ đợi, nôn nóng thì chắc chắn sẽ thất bại.
- Tôi thấy ngay từ khi các em mới bắt đầu “làm quen” với Tiếng Việt,
giáo viên nên hướng dẫn các em thật tỉ mỉ về các quy tắc chính tả, quy tắc kết
hợp từ, quy tắc ghi âm chữ quốc ngữ… tránh trường hợp học sinh vì thiếu hiểu
biết dẫn đến viết sai lỗi chính tả.
- Theo tôi, trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần phải tận tâm, luôn
quan sát, kiểm tra, … từ đó phát hiện ra những khó khăn, vướng mắc, hoặc
những lỗi mà học sinh hay mắc phải để kịp thời sửa chữa, uốn nắn.
- Và bản thân tôi mong muốn các đồng nghiệp cần phải không ngừng học
hỏi, tự tìm hiểu, nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên môn . Có nắm chắc
kiến thức, giáo viên mới có thể giúp học sinh chữa lỗi và khắc phục lỗi một cách
có hiệu quả.

C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:
I. KẾT LUẬN:
- Tôi nhận thấy đề tài này được thực hiện ở địa bàn nông thôn vùng sâu
vùng xa nhưng đã thu được kết quả khả quan. Vì vậy, việc xác định trọng điểm
chính tả theo ngôn ngữ vùng để xây dựng bài giảng là việc cần thiết cần được
vận dụng

- 19 -


Trường Tiểu học Chu Văn An

Đồng Thị Thanh Thuyù

- Bản thân tôi nhận thấy người giáo viên cần trang bị cho mình các kiến
thức về ngôn ngữ học, ngữ âm học, ngữ nghĩa học, chuẩn chính tả, các mẹo luật,
các ngoại lệ của việc viết chính tả. Ngoài ra cần phải là người nắm vững cơ sở
thực tế trong giảng dạy chính tả.
- Với kết quả nghiên cứu của mình, tôi không có tham vọng đưa ra các
biện pháp nhằm giải quyết vấn đề một cách tổng thể mà chỉ xin nêu một số kinh
nghiệm ít ỏi của cá nhân tôi tích luỹ được trong quá trình giảng dạy, mong muốn
được cùng chia sẻ với đồng nghiệp. Rất mong được nhận ý kiến đóng góp của
Ban giám hiệu cùng các đồng nghiệp. Tôi xin chân thành cảm ơn!

II. KIẾN NGHỊ:
- Với kinh nghiệm ít ỏi tích lũy được trong thực tế giảng dạy của bản
thân, tôi rất mong nhận sự góp ý, giúp đỡ của đồng nghiệp để rút kinh nghiệm
trong việc giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ngày càng đi lên.
- Trong quá trình làm đề tài được sự đồng ý của ban giám hiệu trường
Tiểu học Chu Văn An, bản thân tôi được dự giờ của một số đồng chí giảng dạy
lớp 3,4,5 . Đồng thời để kiểm nghiệm lại quá trình dạy và học môn chính tả. Bản
thân tôi có đề xuất sau:

1. Về lĩnh vực chuyên môn nhà trường:
- Tạo mọi điều kiện, khuyến khích giáo viên chủ động trong việc khai
thác nội dung, sáng tạo và xây dựng các kiểu bài tập phù hợp để giúp học sinh
khắc phục lỗi chính tả cho học sinh.
- Cung cấp các tài liệu về Nghiên cứu Tiếng Việt, từ điển Tiếng Việt.
- Tổ chức các chuyên đề về giảng dạy phân môn Chính tả.
- Cung cấp kịp thời các phương tiện dạy học phục vụ cho môn học.
- Trang bị thêm đồ dùng dạy học và phương tiện dạy học khác( máy
chiếu, phòng máy riêng để tiện giảng dạy các bài giảng điện tử).
- Trang bị thêm đồ dùng dạy học cho học sinh như:bảng phụ, phấn màu…

- 20 -


Đồng Thị Thanh Thuyù

Trường Tiểu học Chu Văn An

2. Về các cấp lãnh đạo phòng giáo dục:
Mong được sự quan tâm hơn nữa của các cấp cho việc dạy và học ở vùng
sâu, vùng xa như: đầu tư thêm cơ sở vật chất cũng như trang thiết bị dạy học.
Hằng năm tập huấn thêm các phương pháp dạy học mới cho chuyên môn hoặc
cho giáo viên.
Cư Jut, tháng 03 năm 2013
Người viết

ĐỒNG THỊ THANH THÚY
.

D. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Từ điển Tiếng Việt
2. Sổ tay chính tả
3.Thiết kế bài dạy Tiếng Việt 5( tập 1+ tập 2)
4. Bài tập trắc nghiệm Tiếng Việt 5
5. Mạng internet.

- 21 -


Trường Tiểu học Chu Văn An

Đồng Thị Thanh Thuyù

MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU.............................................................................................1
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:..............................................................................1
II. LICH SỬ NGHIÊN CỨU:........................................................................2
III. PHẠM VI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:.........................................3
B. PHẦN NỘI DUNG..........................................................................................4
I. THỰC TRẠNG:.........................................................................................4
II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP:..............................................................................5
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:..................................................................17
IV. BÀI HỌC KINH NGHIỆM..................................................................19
I. KẾT LUẬN:...................................................................................................19
II. KIẾN NGHỊ:...........................................................................................20
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................21

- 22 -


Đồng Thị Thanh Thuyù

Trường Tiểu học Chu Văn An

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
--------o0o--------

PHIẾU ĐÁNH GIÁ
I / Đánh giá, xếp loại của HĐKH trường Tiểu học Chu Văn An
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
.
…………………………………………………………………………………….
..…………………………………………………………………………………...
…………………………………………………………………………………….
..…………………………………………………………………………………...
…………………………………………………………………………………….
..…………………………………………………………………………………...
…………………………………………………………………………………….
..…………………………………………………………………………………...
…………………………………………………………………………………….
..…………………………………………………………………………………...
…………………………………………………………………………………….
..…………………………………………………………………………………...
…………………………………………………………………………………….
..…………………………………………………………………………………..
II / Đánh giá, xếp loại của HĐKH phòng GD-ĐT Cư Jut
.
…………………………………………………………………………………….
..…………………………………………………………………………………...
…………………………………………………………………………………….
..…………………………………………………………………………………...
…………………………………………………………………………………….
..…………………………………………………………………………………...
…………………………………………………………………………………….
..…………………………………………………………………………………...
…………………………………………………………………………………….
..…………………………………………………………………………………...
…………………………………………………………………………………….
..…………………………………………………………………………………...
…………………………………………………………………………………….
..…………………………………………………………………………………..
- 23 -


Trường Tiểu học Chu Văn An

Đồng Thị Thanh Thuyù

III/ Đánh giá, xếp loại của HĐKH sở GD-ĐT tỉnh ĐăkNông:
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………

- 24 -


Trường Tiểu học Chu Văn An

Đồng Thị Thanh Thuyù

……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………….

- 25 -


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×