Tải bản đầy đủ

Luận văn nghiên cứu hoạt động sinh kế cộng đồng nhằm phát triển sản xuất tại xã phúc an và vĩnh kiên (huyện yên bình, tỉnh yên bái)

PHẠM ĐĂNG ĐỊNH
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG SINH KẾ CỘNG ĐỒNG NHẰM
PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT TẠI HAI XÃ VĨNH KIÊN VÀ PHÚC AN
THUỘC HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN


PHẠM ĐĂNG ĐỊNH

NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG SINH KẾ CỘNG ĐỒNG NHẰM
PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT TẠI HAI XÃ VĨNH KIÊN VÀ PHÚC AN
THUỘC HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI

Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 60 62 01 16

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN


Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. DƯƠNG VĂN SƠN


3
LỜI CAM ĐOAN
Trong thời gian thực tập tại xã Vĩnh Kiên, Phúc An huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái,
tôi đã chấp hành đầy đủ, nghiêm chỉnh mọi nội quy, quy định của cơ quan. Tôi xin cam
đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài: “Nghiên cứu hoạt động sinh kế cộng
đồng, nhằm phát triển sản xuất của 2 xã Vĩnh Kiên và phúc An, huyện Yên Bình, tỉnh
Yên Bái". Là trung thực và chưa được sử dụng trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học
nào. Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện đề tài này là của các cán bộ
lãnh đạo, công chức 2 xã Vĩnh Kiên; Phúc An, Cán bộ, lãnh đạo phòng nông nghiệp PTNT
huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, có thông tin trích dẫn trong đề tài đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Thái Nguyên, ngày 6 tháng 11 năm 2015
rri rw_
_ _ • 2_1

Tác giả luận văn

LỜI CẢM ƠN

Phạm Đăng Định

Sau thời gian học tập và nghiên cứu tại khoa sau đại học - trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên, được sự giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo và bạn bè, tôi đã hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Nghiên cứu hoạt động sinh kế cộng đồng, nhằm phát
triển sản xuất của 2 xã Vĩnh Kiên và phúc An huyện Yên Bình tỉnh Yên Bái". Hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp này, cho phép tôi được bày tỏ lời chân thành cảm ơn tới thầy giáo
PGS.TS. Dương Văn Sơn, là người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình hoàn thành đề tài tốt nghiệp.
Đồng thời tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo trong Phòng
Đào tạo - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong cả quá trình học tập ,
nghiên cứu tại trường. Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đến 3 em sinh viên lớp KTNN43 thuộc
Khoa Kinh tế và PTNT đã trực tiếp tham gia cùng tôi điều tra, thu thập số liệu tại 2 xã


4
nghiên cứu.

Tôi xin chân thành cảm ơn các cô, chú, anh, chị trong ban lãnh đạo UBND xã Vĩnh
Kiên, Phúc An, Cán bộ, lãnh đạo phòng nông nghiệp PTNT huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái,
đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập tại địa phương.
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình hoàn thành đề tài nhưng không thể tránh khỏi
có những thiếu sót, nên tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo
trong khoa để đề tài này được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 6 tháng 11 năm 2015
rri r _ _ • 2_1

Tác giả luận văn

Phạm Đăng Định
MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

w_


5
CIAT

: Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế

CNTB

: Chủ nghĩa tư bản

HND
Mean

: Hộ nông dân
: Số trung bình

PTNT

: Phát triển nông thôn

RTB
SD

: Roots, Tubers and Banana
: Độ lệch chuẩn của mẫu

SE

: Sai số chuẩn của số trung bình

UBND

: Ủy ban nhân dân

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang

DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1. Khung sinh kế bền vững.....................................................................................10
Hình 1.2. Tài sản của người dân.........................................................................................12


7
MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề
Sinh kế là những hoạt động để nuôi sống bản thân và gia đình của người dân. Hiện
nay, sinh kế là mối quan tâm của rất nhiều nhà chính sách, bởi nó là điều kiện cần thiết cho
quá trình phát triển, nâng cao đời sống con người. Trên thực tế, các hoạt động sinh kế của
người dân chịu nhiều ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội,
con người,...
Việc lựa chọn những hoạt động sinh kế của người dân chịu ảnh hưởng rất lớn từ nhiều
yếu tố: điều kiện tự nhiên, xã hội, yếu tố con người, vật chất, cơ sở hạ tầng... Việc đánh giá
hiệu quả các hoạt động sinh kế giúp chúng ta hiểu rõ được những phương thức sinh kế của
người dân có phù hợp với các điều kiện của địa phương hay không. Các hoạt động sinh kế
đó có bền vững, phát triển lâu dài và ổn định, lâu dài hay không là do các giải pháp phát
triển bền vững trong các cộng đồng dân cư của mỗi địa phương.
Nước ta là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân số sống ở nông thôn và gần 70%
lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Khu vức nông thôn có khoảng 13 triệu hộ,
trong đó có khoảng hơn 11 triệu hộ chuyên sản xuất nông nghiệp. Với trình độ dân trí và tập
quán canh tác còn hạn chế nên năng suất lao động chưa cao, thu nhập còn thấp, tình trạng
đói nghèo vẫn diễn ra rộng khắp các khu vực. Xây dựng các chiến lược sinh kế bền vững và
xóa đói giảm nghèo là những chính sách hỗ trợ cơ bản hướng vào phát triển con người, nhất
là người nghèo, tạo cơ hội cho họ tham gia vào quá trình phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước, để cho người nghèo có cơ hội và điều kiện tiếp cận các
nguồn lực để phát triển sản xuất tự vươn lên thoát khỏi đói nghèo, có một cuộc sống ổn
định hơn. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, người dân còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận
các nguồn lực để phát triển kinh tế. Họ ít có khả năng tiếp cận với các nguồn lực như tài
chính, thông tin, cơ sở vật chất để phát triển.
Nông nghiệp là một trong những ngành đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền
kinh tế đất nước. Từ muôn đời xưa ông cha ta đã coi trọng việc phát triển ngành nông
nghiệp như là mục tiêu sống còn của dân tộc. Qua quá trình đổi mới, phát triển của từng


8

thời kỳ,... Nông nghiệp nước nhà đã trải qua bao nhiêu biến cố thăng trầm, của lịch sử dân
tộc, có không ít những khó khăn trở ngại. Đến nay nông nghiệp Việt Nam đã có những
bước phát triển, từ những nước khó khăn về lương thực, trở thành một trong những nước
xuất khẩu lương thực hàng đầu thế giới. Mặc dù vậy nền nông nghiệp nước ta đang còn có
nhiều hạn chế, nhất là việc ứng dụng những tiên bộ kỹ thuật vào thực tế sản xuất, so sánh
với nước trên thế giới thì hiện nay lại xây dựng một nền nông nghiệp dựa vào việc ứng
dụng khoa học công nghệ, khai thác các tiềm năng của đất và từ đó phát triển các ngành
khác.
Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cộng đồng dân cư, trong đó có nhiều nông
dân. Cộng đồng này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường
trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác. Nông thôn
Việt Nam có vị trí địa chính trị đặc biệt quan trọng, chiếm khoảng 70% dân số nước ta sống
ở vùng nông thôn. Muốn thực hiện thành công mục tiêu thiên niên kỷ, đưa nước ta cơ bản
trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, thì phát triển nông thôn là chiến lược đặc biệt
cần được quan tâm và có những giải pháp bền vững.
Trong bối cảnh kinh tế nông nghiệp đang có những biến động hết sức phức tạp
nhất là về chi phí

sản xuất đầu vào, giá trị sản phẩm nông nghiệp

thấp như hiện nay, để đạt được kết quả chiến lược phát triển nông thôn sẽ rất khó khăn nếu
thiếu các yếu tố tác động, hỗ trợ từ các ngành khác đang phát triển trong nước, những tác
động đó phải kể đến các ngành khác như: Công nghiệp chế tạo để tạo ra những máy móc
thiết bị hỗ trợ cho nông nghiệp, chế biến sản phẩm sau thu hoạch, thương nghiệp dịch vụ để
thúc đẩy gia tăng giá trị hàng hóa của ngành nông nghiệp.
Sự phối

hợp giữa các ngành:

Trồng

trọt; Chăn nuôi; Thủy sản; Lâm

nghiệp, sẽ tạo ra sự thay đổi tập quán canh tác thuần túy của công đồng dân cư, từ đó thúc
đẩy sản xuất phát triển, tạo điều kiện cho việc tăng thu nhập của người dân, như vậy sinh kế
của người dân mới được bề vững.
Phúc An và Vĩnh Kiên (huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái) là 2 xã miền núi có các điều
kiện kinh tế, xã hội còn gặp nhiều khó khăn thuộc khu vực II, dân trí của người dân không


9

đồng đều, các điều kiện về cơ sở hạ tầng, diện tích đất canh tác, vốn, khoa học kỹ thuật còn
thiếu thốn, thiếu đất canh tác, diện tích đất canh tác chủ yếu là rừng, lúa nước ít, khó khăn
về thủy lợi,... Sinh kế của các hộ
vàotrồng trọt, bao gồm:

gia

đình địa phương

chủ yếu

dựa

trồng

rừng, lúa, sắn, ngô, lạc,... Chăn nuôi bao gồm: bò, lợn, gà, cá và một số vật nuôi khác. Bên
cạnh đó còn vận dụng mặt nước nuôi trồng thủy sản tại ven hồ Thác Bà. Với các điều kiện
sản xuất khó khăn như vậy, rất cần có các can thiệp trong nông nghiệp thông qua các dự án,
các giải phát triển kinh tế xã hội tại các địa phương này thì mới có thể đảm bảo an ninh
lương thực đảm bảo sinh kế cho người dân nơi đây.
Để có cái nhìn

tổng thể, hệ thống

về thực trạng

hoạt động sinh kế của

cộng đồng địa phương nhằm đề xuất các can thiệp cũng như đề ra được các giải pháp đảm
bảo sinh kế bền vững của các can thiệp

hiệu quả trong phát triển

nông nghiệp, nông thôn. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu hoạt động
sinh kế cộng đồng nhằm phát triển sản xuất tại xã Phúc An và Vĩnh Kiên (huyện Yên
Bình, tỉnh Yên Bái)

2. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội của địa bàn nghiên cứu;

-

Đánh gía hoạt động sinh kế và thu nhập của cộng đồng dân cư tại địa bàn nghiên cứu xã
Vĩnh Kiên và Phúc An huyện, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.

-

Đề xuất

các giải pháp cải thiện sinh kế, phát triển sản xuất,

nâng cao

thu nhập cộng đồng địa phương.
3. Ý nghĩa của đề tài

3.1.

Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

-

Củng cố thêm kiến thức thực tế cho sinh viên trong quá trình đi thực tập cơ sở.

-

Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập, xử lý thông tin của sinh viên trong quá trình nghiên
cứu.

3.2.
-

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Đây là một đề tài mới nghiên cứu về vấn đề sinh kế của cộng đồng người dân miền
núi tại địa phương vì

vậy đây sẽ là cơ sở để xây dựng nền


1

móng cho các cuộc nghiên cứu sau này khi nghiên cứu đến các hoạt động sinh kế giúp thúc
đẩy sản xuất tại một khu vực nhất định.

-

Đề tài góp phần làm rõ một số vấn đề trong hoạt động sinh kế của cộng đồng người dân
miền núi, hiệu quả của các hoạt động sinh kế ấy mang lại và những định hướng cho
phương làm



sở xây

dựng

kế

hoạch

địa

phát triển

kinh tế xã hội những năm tiếp theo.
Bổ sung một số lý thuyết về hoạt động sinh kế, đóng góp một mẫu nghiên cứu xã
hội học làm sáng tỏ thực trạng sinh kế, đồng thời tìm hiểu đời sống hiện nay của
người dân nơi đây.


Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1.
1.1.1.

Khái niệm và thuật ngữ liên quan
Nông nghiệp
Đất nước ta đang phát triển, hiện nay tỷ trọng trong thu nhập quốc dân của chung ta

đã có nhiều thay đổi, xong nông nghiệp vẫn là một trong những ngành sản xuất vật chất chủ
yếu của nền kinh tế nhằm cung cấp lương thực và các sản phẩm thiết yếu cho con người và
xã hội. Là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp, không chỉ là một ngành
kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học - kỹ thuật, bởi vì cơ sở để phát triển nông
nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học - cây trồng, vật nuôi.
Sản xuất nông nghiệp ở đây theo nghĩa rộng thì nó bao hàm các ngành Chăn nuôi,
nông, Lâm; Thủy sản. ở một tỉnh miền núi phía bắc như Yên Bái thì để phát triển nông
nghiệp cần phải có sự kết hợp giữa các lĩnh vực nông nghiệp để có sự tương trợ lẫn nhau và
điều quan trọng hơn là phải làm cho người sản xuất có sự quan tâm thoả đáng, gắn lợi ích
của họ với sử dụng quá trình sinh học đó nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuối cùng
hơn.
Hiện nay hầu hết các nước đang phát triển đến những nước còn khó khăn quan tâm
đến ngành nông nghiệp và thu nhập từ nông nghiệp để đảm bảo an ninh lương thực và an
sinh xã hộ. Tuy nhiên, ngay cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ
trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và
không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người những sản phẩm tối
cần thiết đó là lương thực, thực phẩm như Nhật, Mỹ,... Những sản phẩm này cho dù trình độ
khoa học - công nghệ phát triển như hiện nay, vẫn chưa có ngành nào có thể thay thế được.
Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của
con người và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

1.1.2.

Hộ gia đình, nông hộ và thu nhập của nông hộ
Khái niệm

hộ gia đình: Trong

tiếng Việt, “hộ” là một

danh từ được

dùng để chỉ gia đình - được coi như một đơn vị xã hội trong các quan hệ với chính quyền,


có liên quan đến tài sản, tư liệu lao động, nhân khẩu. Chính vì vậy mà người ta thường gộp
chung hộ và gia đình. Tiêu biểu là cách sử dụng thuật ngữ kép "hộ gia đình" trong khẩu ngữ.
Tuy vậy, giữa hộ và gia đình có điểm phân biệt cụ thể: Gia đình là một nhóm người
có quan hệ hôn nhân hoặc cùng huyết thống. Nó cũng là một loại hộ cơ bản và chứa đựng
nhiều yếu tố để hình thành hộ. Song điều mà chúng ta chó ý là mối quan hệ giữa các thành
viên của hộ không đơn thuần chỉ là huyết thống.
Trên thế giới và ở nước ta đã có nhiều quan niệm về hộ. Theo Liên Hợp quốc (UN),
"Hộ là những người cùng chung sống một mái nhà cùng ăn chung và có chung ngân quỹ".
Quan niệm này nhấn mạnh đến các tiêu thức: cơ sở kinh tế và sinh sống.
Tiếp cận khái niệm hộ từ góc độ vai trò và đặc thù của hộ, tại Hội thảo quốc tế lần
thứ 4 về quản lý nông trại (Hà Lan, 1980), nhiều đại biểu có đồng quan điểm: "Hộ là đơn vị
kinh tế cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất tiêu dùng và các loại hoạt động xã hội
khác". Hộ trong nông nghiệp, nông thôn chủ yếu là hộ nông dân, gắn liền với canh tác nông
nghiệp.
Nhà khoa học Nga, AV.Traianôp (1889- 1939), cho rằng "Hộ nông dân là đơn vị sản
xuất rất ổn định", "Hộ nông dân là phương tiện tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển sản
xuất nông nghiệp". Còn hai nhà khoa học Mats Lundahl và Thommy Svensson thì nhấn
mạnh: "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất cơ bản "[3]
Từ một số quan niệm tiêu biểu của các nhà khoa học nước ngoài, ta thấy họ cùng
chung những quan điểm sau: Hộ là một đơn vị kinh tế - xã hội
cơ bản, sự tồn tại của kinh tế hộ là một khách quan, nó có vai trò quan trọng trong phát
triển kinh tế xã hội.
Các nhà khoa học nước ta cũng đã đưa ra nhiều quan niệm về hộ. Có tác giả cho
rằng: "Hộ là một nhóm người cùng huyết thống hay không cùng huyết thống, cùng chung
sống hay không cùng chung trong một mái nhà. Họ có cùng nguồn thu nhập, cùng ăn chung,
cùng tiến hành sản xuất chung" Một tác giả khác nhấn mạnh tới các tiêu thức: "Hộ nông dân
là đơn vị kinh tế mà các thành viên của nó sống chung với nhau trong một mái nhà, liên hệ
với nhau bởi hôn nhân, huyết thống, có chung thu nhập, trong đó có thu nhập từ nông
nghiệp do lao động sử dụng đất đai đem lại. Trong nền kinh tế hàng hóa, Hộ nông dân


(HND) là một đơn vị kinh tế độc lập - tù chủ,... trong mọi loại hoạt động sản xuất kinh
doanh nông nghiệp". Có tác giả nhấn mạnh đến hoạt động kinh tế cho rằng, "HND là đơn vị
kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường". Một tác giả
khác xuất phát từ các tổng kết về mặt lịch sử cũng như thực tiễn, lại cho rằng: "Quan điểm
coi HND là đơn vị sản xuất tự chủ là hoàn toàn đúng đắn về lý luận cũng như thực tiễn",...
Để có nhận thức đầy đủ về hộ và kinh tế HND ở nước ta hiện nay, cần tìm hiểu
những đặc điểm của kinh tế HND ở các nước kinh tế đang phát triển. Chúng tôi
tình với quanđiểm cho

rằng, ngoại

đồng

trừ một số nước phát

triển, các HND ở khu vực các nước đang phát triển "có mức thu nhập thấp nhất so với các
nhóm hộ khác trong xã hội". Các HND là các nhà sản xuất nhỏ, quy mô ruộng đất của nhiều
hộ chỉ cho phép sản xuất ra một lượng sản phẩm đủ nuôi sống các thành viên, tỷ trọng nông
phẩm là hàng hóa còn thấp.
Các HND có số thu lợi nhuận thấp, phần lớn sản phẩm của họ làm ra khi bán ra chỉ
vừa đủ để trang trải chi phí sản xuất. Vì vậy mức độ tích lũy để mở rộng sản xuất hầu như
không đáng kể. Các HND thường sản xuất độc canh trên diện tích sản xuất nhỏ, thời gian
lao động của họ chưa được tận dụng tối đa, không có thu nhập thêm nếu không tạo ra được
việc làm tại chỗ.
Cơ cấu kinh tế HND khá đa dạng theo nhiều nghề khác nhau. Tổ chức phân công lao
động trong hộ có khả năng linh hoạt, vừa chuyên môn lại vừa có khả năng theo hướng kinh
doanh tổng hợp. Kinh tế HND có tính ổn định tương đối cao và có khả năng điều chỉnh linh
hoạt phương hướng sản xuất theo mùa vụ, ngành nghề cho phù hợp với thời tiết và nhu cầu
của xã hội. Mặt khác, tính khép kín chu trình sản xuất (từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ) lại
cho phép HND có tính ổn định tương đối trước những diễn biến bất thường của mùa vụ hay
thị trường.
Tính độc
doanh nhỏ

lập của kinh tế HND

tương đối cao, quy mô

bé, vốn liếng hạn hẹp, trình độ

sản xuất kinh

sản xuất còn thấp cũng

là những

nhân tố khiến cho HND gặp nhiều khó khăn trong ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ nên
không có khả năng chuyển hướng sản xuất trước những tác động của thiên tai hay biến động
của thị trường. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự PHGN của đối tượng


HND mà ở các nhóm xã hội khác không có.
Gắn với nông nghiệp và nông thôn, kinh tế HND còn mang trong nó nhiều đặc điểm
kinh tế - xã hội, văn hóa của cộng đồng nông thôn được hình thành trong lịch sử. Với nhiều
quốc gia, trong đó có nước ta, những đặc điểm này vừa mang lại những thuận lợi (chẳng
hạn, làng nghề truyền thống, văn hóa truyền thống, những tục lệ tốt đẹp trong kinh
doanh,...), và cũng gây ra không ít những trở ngại trên con đường phát triển kinh tế hộ
(chẳng hạn, tính chất cô lập của phường hội, những hủ tục, quan niệm lạc hậu trong sản
xuất,...).

1.1.3.

Sinh kế 1.1.31. Khái

niệm sinh kế
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về sinh kế. Theo một số tác giả, sinh kế
bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (gồm các nguồn lực vật chất và xã hội như: cửa hàng,
nguồn tài nguyên, đất đai, mặt nước, đường xá, máy móc thiết bị phục vụ cho đời sống của
người dân,...) cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện để kiếm sống của con người
(Scoones, 1998) [10].
Sinh kế của nông hộ là hoạt động kiếm sống của con người, được thể hiện qua hai
lĩnh vực chính là nông nghiệp và phi nông nghiệp.
Hoạt động nông nghiệp bao gồm: Trồng trọt (Lúa, ngô, khoai, sắn, lạc, cây ăn quả,
rau màu,...); chăn nuôi(Lợn, gà, trâu, bò, cá,...) và Lâm nghiệp ( Trồng cây keo, bạch đàn,
mỡ, rừng,.)
Hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu bao gồm các dịch vụ, buôn bán và
các ngành nghề khác.
Như vậy, trong phạm vi báo cáo này, sinh kế của người dân nông thôn được hiểu là
các hoạt động sản xuất nông nghiệp để nuôi sống cho chính gia đình họ. Vì vậy, xây dựng
kế hoạch chiến lược cải thiện sinh kế chính là việc xây dựng các thí nghiệm trình diễn hiện
trường để góp phần cải thiện sinh kế địa phương. Qua đó góp phần phát triển kinh tế và xóa
đói giảm nghèo.

1.1.3.2.

Sự bền vững và khung sinh kế bền vững


Yếu tố được xem là bền vững khi mà nó có thể tiếp tục diễn ra trong tương lai, đối
phó và phục hồi được sau các áp lực và sốc mà không làm huỷ hoại các nguồn lực tạo nên
sự tồn tại của yếu tố này. Các nguồn lực này có thể thuộc nguồn tự nhiên, xã hội, kinh tế hay
thể chế. Điều này giải thích tại sao tính bền vững thường được phân tích theo 4 khía cạnh:
Bền vững về kinh tế, về môi trường, về thể chế và xã hội [10].
Bền vững không có nghĩa là sẽ không có gì thay đổi, mà là có khả năng thích nghi
theo thời gian. Tính bền vững là một trong những nguyên tắc cơ bản của phương pháp sinh
kế bền vững.
Một sinh kế được xem là bền vững khi nó phải phát huy được tiềm năng con người
để từ đó sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ. Nó phải có khả năng đương đầu
và vượt qua áp lực cũng như các thay đổi bất ngờ.
Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho
các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai. Trên thực tế thì nó nên thúc đẩy sự hòa hợp giữa
chúng và mang lại những điều tố đẹp cho tương lai (Scoones, 1998) [10].


Sinh kế bền vững, nếu theo nghĩa này, phải hội đủ những nguyên tắc sau: Lấy con
người làm trung tâm, dễ tiếp cận, có sự tham gia của người dân, xây dựng dựa trên sức
mạnh con người và đối phó với các khả năng dễ bị tổn thương, tổng thể, thực hiện ở nhiều
cấp, trong mối quan hệ với đối tác, bền vững và năng động.
Khung sinh kế bền vững
Hình 1.1. Khung sinh kế bền vững
(Nguồn: DFID, 2002) [9]
Khung sinh

kế bền vững bao

gồm những

nhân tố chính ảnh hưởng

đến sinh kế của con người, và những mối quan hệ cơ bản giữa chúng. Nó có thể được sử
dụng để lên kế hoạch cho những hoạt động phát triển mới và đánh giá sự

đóng

vào

hoạt động

sự bền

vững

sinh

kế

của những

góp

hiện tại. Cụ thể là:
- Cung cấp bảng liệt kê những vấn đề quan trọng nhất và phác họa mối liên hệ giữa
những thành phần này;


-

Tập trung sự chú ý vào các tác động và các quy trình quan trọng;

-

Nhấn mạnh sự tương tác phức tạp giữa các nhân tố khác nhau, làm ảnh hưởng đến sinh kế.
Các thành phần của khung sinh kế bền vững, gồm:

a) Hoàn cảnh dễ bị tổn thương
Hoàn cảnh dễ bị tổn thương là môi trường sống bên ngoài của con người. Sinh kế và
tài sản sẵn có của con người bị ảnh hưởng cơ bản bởi những xu hướng chủ yếu, cũng như
bởi những cú sốc và tính thời vụ. Chính những điều này khiến sinh kế và tài sản trở nên bị
giới hạn và không kiểm soát được.
Các xu hướng: Xu hướng dân số, xu hướng tài nguyên kể cả xung đột, xu hướng
kinh tế

quốc gia, quốc tế, những xu hướng cai trị (bao gồm chính

sách, những xu hướng kỹ thuật).
Cú sốc: Cú sốc về sức khoẻ con người, thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh cây trồng
vật nuôi.
Tính thời vụ: Biến động giá cả, sản xuất, sức khoẻ, những cơ hội làm việc.
Những nhân tố cấu thành hoàn cảnh dễ bị tổn thương quan trọng vì chúng có tác
động trực tiếp lên tình trạng tài sản và những lựa chọn của con người mà với chúng sẽ mở ra
cơ hội để họ theo đuổi những kết quả sinh kế có lợi.

b) Những tài sản sinh kế
Tiếp cận sinh kế thì cần tập trung trước hết và đầu tiên với con người. Nó cố gắng
đạt được sự hiểu biết chính xác và

thực tế về sức mạnh của con

người (tài sản hoặc tài sản vốn) và cách họ cố gắng biến đổi chúng thành kết quả sinh kế
hữu ích.


Hình 1.2. Tài sản của người dân
(Nguồn: DFID, 2002) [10]
Khung sinh kế xác định 5 loại tài sản trung tâm mà dựa vào đó tạo ra những sinh kế:

-

Nguồn vốn con người (Human capital)

-

Nguồn vốn xã hội (Social capital)

-

Nguồn vốn tự nhiên (Natural capital)

-

Nguồn vốn vật chất/vốn vật thể (Physical capital)

-

Nguồn vốn tài chính (Financial capital)

1.13.3.
-

Đặc điểm của mô hình 5 loại tài sản

Hình dạng của ngũ giác diễn tả khả năng tiếp cận của người dân với các loại tài sản. Tâm
điểm là nơi không tiếp cận được với loại tài sản nào. Các điểm nằm trên chu vi là tiếp cận
tối đa với các loại tài sản, trong đó nguồn vốn con người được coi là yếu tố quan trọng nhất.

-

Những ngũ giác có hình dạng khác nhau có thể được vẽ cho những cộng đồng khác nhau
hoặc cho những nhóm xã hội khác nhau, có nguồn thu nhập khác nhau trong cộng đồng đó.


-Một tài sản riêng lẻ có thể tạo ra nhiều lợi ích. Nếu một người có thể tiếp cận chắc
chắn với đất đai (tài sản tự nhiên) họ cũng có thể có được nguồn tài chính vì họ có thể sử
dụng đất đai không chỉ cho những hoạt động sản xuất trực tiếp mà còn cho thuê. Tương tự
như vậy, vật nuôi (tài sản hữu hình) có thể tạo ra nguồn vốn xã hội (uy tín và sự liên hệ với
cộng đồng) cho người sở hữu chúng,... Nguồn vốn xã hội này được tích lũy tổng hợp từ các
nguồn vốn khác.

-

Phẩm

chất

của tài

sản thay đổi thường xuyên vì vậy ngũ

giác cũng

thay đổi liên tục theo thời gian.
1.1.3.4 Khái niệm các nguồn vốn sinh kế
Nguồn vốn sinh kế được hiểu như là các điều kiện khách quan và chủ quan tác động
vào một sự vật hiện tượng làm cho nó thay đổi về chất hoặc lượng. Trong phạm vi đề tài
này, các yếu tố về con người, tự nhiên, vật chất, tài chính, xã hội, các thể chế chính sách mà
xã hội quy định. Các nguồn vốn đó được hiểu như sau:

-

Vốn tự nhiên: là những yếu tố được sử dụng trong các nguồn lực tự nhiên. Nó cung cấp và
phục vụ rất hữu ích cho phương kế kiếm sống của con người. Có rất nhiều nguồn lực hình
thành nên nguồn vốn tự nhiên. Từ các hàng hóa công vô hình như không khí, tính đa dạng
sinh học đến các tài sản có thể phân chia được
sản xuất

như:

đất

sử

dụng trực

đai,

nguồn

tiếp

trong

nước, cây trồng, vật nuôi, mùa màng.

-

Vốn

con người:

Con người là cơ sở nguồn vốn

này. Vốn con người

bao gồm các yếu tố như cơ cấu nhân khẩu của hộ gia đình, kiến thức và giáo dục của các
thành viên trong gia đình (bao gồm trình độ học vấn, kiến thức truyền được hoặc được kế
thừa trong gia đình ), những kĩ năng và năng khiếu của từng cá nhân, khả năng lãnh đạo, sức
khỏe, tâm sinh lí của các thành viên trong gia đình, quỹ thời gian, hình thức phân công lao
động. Đây là một yếu tố được xem như là quan trọng nhất vì nó quyết định khả năng một cá
nhân, một hộ gia đình sử dụng và quản lí các nguồn vốn khác.

-

Vốn xã

hội:

Bao gồm các

mạng

lưới xã hội, các mối quan hệ với họ

hàng, người xung quanh, bao gồm ngôn ngữ, các giá trị về niềm tin tín ngưỡng, văn hóa, các


tổ chức xã hội, các nhóm chính thức cũng như phi chính thức mà con người tham gia để có
được những lợi ích và cơ hội khác nhau... Việc con người tham gia vào xã hội và sử dụng
nguồn vốn này như thế nào cũng tác động không nhỏ đến quá trình tạo dựng sinh kế của họ.
Vốn xã hội được duy trì, phát triển và tạo ra những lợi ích mà người sở hữu nó mong muốn
như khả năng tiếp cận và huy động nguồn lực có từ các mối quan hệ, chia sẻ thông tin, kiến
thức hay các giá trị chuẩn mực. Vốn xã hội của mỗi cá nhân được tích lũy trong quá trình xã
hội hóa của họ thông qua sự tương tác giữa các cá nhân.

-

Vốn vật chất: gồm các cơ sở hạ tầng xã hội, tài sản hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế như: giao
thông, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống tưới tiêu, cung cấp năng lượng, nhà ở, cac phương
tiện sản xuất, đi lại, thông tin.

-

Vốn tài chính: Những khó khăn về tài chính làm cho khả năng trỗi dậy của kinh tế nông hộ
bị giảm sút, muốn cải thiện được kinh tế nông hộ thì việc tăng đầu tư nhằm mở rộng quy mô
sản xuất, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm là một nhu cầu tất yếu. Trong điều kiện như
hiện nay, khi mà khả năng tích luỹ của hộ nông dân rất thấp, sự hỗ trợ của Chính phủ và các
tổ chức phi chính phủ ngày càng giảm, thì việc vay vốn để đầu tư được coi là hành vi quan
trọng nhất để thoả mãn về mặt tài chính.

1.1.4.

Sản xuất và thị trường

Ỉ . Ỉ . 4 . Ỉ . Khái niệm về sản xuất
Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh
tế của con người. Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong
thương mại. Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: sản xuất cái gì? sản xuất
như thế nào? sản xuất cho ai?, giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng
và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm.

1.1.4.2.

Khái niệm về thị trường
Trong nền kinh tế hiện nay không thể coi thị trường chỉ là những chợ, cửa hàng, siêu

thị mặc dù những nơi đó diễn ra quá trình mua và bán. Cần hiểu thị trường là nơi diễn ra các
mối quan hệ kinh tế, là nơi chứa đựng tổng số cung - cầu của hàng hóa.

* Một số quan điểm về thị trường:
-

Thị trường là nơi người mua và người bán mua và bán hàng hóa và dịch vụ.


-

Thị trường là nhu cầu về sản phẩm hoặc dịch vụ, hay nói cách khác, thị trường là một nhóm
người có nhu cầu cụ thể và sẵn sàng trả tiền nhằm thỏa mãn nhu cầu đó.

-

Thị trường là một cơ chế phân bổ nguồn lực, quy định sản xuất và phân phối sản phẩm, dịch
vụ thông qua hệ thống giá cạnh tranh.

-

Thị trường là một thể chế kinh tế để thực hiện các giao dịch kinh tế.

-

Thị trường là cầu nối giữa người sản xuất với người tiêu dùng, nó là mục tiêu của quá trình
sản xuất hàng hóa.
Định nghĩa nào thì cũng không thể tách rời khỏi quan điểm cốt lõi là: thị trường bao
gồm toàn bộ sự trao đổi hàng hóa, được diễn ra trong một thời điểm và một không gian nhất
định.

* Vai trò của thị trường trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp:
Thị trường có

vị trung tâm,

vừa là

mục tiêu của người sản xuất kinh

doanh, vừa là môi trường của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa nông nghiệp.
Đối với thương mại, dịch vụ nông nghiệp, thị trường đảm bảo quá trình hoạt động
kinh doanh diễn ra liên tục, quyết định sự sống còn và phát triển của doanh nghiệp. thị
trường là công cụ điều tiết của nhà nước đến hoạt động thương mại và toàn nền kinh tế. Thị
trường dự trữ hàng hóa phục vụ sản xuất và tiêu dùng xã hội đảm bảo việc điều hòa cung
cầu. Thị trường là một yếu tố
thuộc môi trường kinh doanh bên ngoài, môi trường kinh tế xã hội. Thị trường là cầu nối
giữa doanh nghiệp thương mại với bên ngoài, đó là khách hàng, các doanh nghiệp khác và
ngành khác,... Thị trường phá vỡ ranh giới của nền sản xuất tự
túc, phát triển

cácloại

dịch vụ

phục

nhiên, tự

cấp,

tự

vụ sản xuất và

tiêu dùng.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước,
thị trường nông sản phẩm có vai trò quan trọng là đối tượng, là căn cứ quan trọng của việc
xác định phương hướng sản xuất kinh doanh, là căn cứ để lập kế hoạch sản xuất.

1.1.5.

Cộng đồng và nguồn lực cộng đồng
- Khái niệm cộng đồng:


Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng (commmunity) có nhiều tuyến nghĩa
khác nhau, đồng thời cộng đồng cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học
như: xã hội học, dân tộc học, y học...Khái niệm cộng đồng thường dùng để chỉ nhiều đối
tượng có những đặc điểm tương đối khác nhau về quy mô và đặc tính xã hội. Ý nghĩa rộng
nhất của cộng đồng là tập hợp người với các liên minh rộng lớn như toàn thế giới (cộng
đồng thế giới), một châu lục (cộng đồng Châu Á, cộng đồng Châu Âu....), một khu vực
(cộng đồng Asean), cộng đồng còn được áp dụng để chỉ một kiểu xã hội, căn cứ vào những
đặc tính tương đồng về sắc tộc, chủng tộc

hay tôn giáo

(cộng

đồng người Do Thái, cộng đồng người da đen tại Hoa Kỳ....). Nhỏ hơn nữa, cộng đồng được
dùng khi gọi tên các đơn vị như làng/bản, xã, huyện...những người chung về lý tưởng xã
hội, lứa tuổi, giới tính, thân phận xã hội...[4]
Ở Việt Nam, có nhiều tài liệu đưa ra khái niệm “cộng đồng”. Từ điển tiếng Việt giải
thích: “cộng đồng là toàn thể những người sống thành một xã hội, nói chung có những
điểm giống nhau, gắn bó thành một khối ” [14]. Hiểu một cách đơn giản, cộng đồng là một
nhóm người có cùng những đặc điểm chung, ví dụ: đặc quyền, đặc lợi, sống với nhau, cùng
chia sẻ tài nguyên và lợi ích chung,... Nói cách khác, cộng đồng là một nhóm người cùng
sống với nhau trong một khu vực nhất định, có chung đặc điểm về tâm lý, tác động qua lại
và sử dụng tài nguyên vốn có để đạt mục đích chung.

-

Nguồn lực cộng đồng
Một cách khái quát nhất, nguồn lực từ cộng đồng là tất cả các nguồn lực thực tế
trong cộng đồng giúp người dân tạo dựng cuộc sống cho chính họ (Gord Cunningham,
2006). Nguồn lực cộng đồng được khái niệm một cách toàn vẹn bao gồm các thành phần
sau[5]

-

Các nguồn tài nguyên thiên nhiên (natural capitals): là các nguồn tài
nguyên thiên nhiên

tồn tại trong cộng

đồng. Ví

dụ: đất sản xuất, tài nguyên

rừng, thuỷ sản...

-

Các nguồn tài sản vật chất (physical capitals): là các công trình được xây dựng phục vụ
trực tiếp hay gián tiếp cho đời sống nhân dân tại cộng đồng (và các cộng đồng lân cận). Ví


dụ: cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm).

-

Các nguồn tài sản về con người (human capitals): gồm các kỹ năng (skills), kiến thức
(knowledge) và năng lực (talent) của các thành viên trong cộng đồng.

-

Các nguồn

tài sản xã hội (social capitals):

mối quan hệ

giữa các

thành viên trong cộng đồng, ví dụ như niềm tin (trust).

-

Các nguồn tài sản tài chính (financial capitals): là các nguồn lực kinh
tế tồn tại

trong cộng đồng như hệ thống ngân hàng

đang hoạt động trong

vùng, khả năng kinh tế của các thành viên trong cộng đồng.

1.2.
1.2.1.

Tình hình sản xuất nông nghiệp và nông hộ của Việt Nam
Sản xuất nông nghiệp và thu nhập
Từ sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, sản xuất nông nghiệp đã có những chuyển

biến quan trọng. Ruộng đất được giao cho hộ nông dân sử dụng lâu dài. Quyền sử dụng
ruộng đất lâu dài cùng với quyền sở hữu các tư liệu sản xuất khác - cơ sở vật chất và pháp lý
của quyền tự chủ sản xuất - là nguồn gốc tạo ra động lực mới thúc đẩy hộ nông dân hăng hái
chăm lo sản xuất, đồng thời khắc phục tình trang vô chủ trong quản ý sử dụng đất đai và các
tư liệu sản xuất khác trong nhiều năm qua.
Trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều chính sách ưu tiên đầu tư
cho các chương trình, dự án phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp và nông thôn, nhằm nâng
cao đời sống vật chất tinh thần của nông dân. Trong đó phải kể đến một số chính sách đó là:
Chính sách về đất đai gắn với quản lý rừng, biển và tài nguyên thiên nhiên; Chính
sách đảm bảo nguồn vốn cho quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn;
Từ đó đã thúc đẩy các ngành lĩnh vực kinh tế nhất là lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản,
và dịch vụ liên quan,...
Tăng kinh phí đầu tư phát triển nguồn nhân lực và các chương trình mục tiêu quốc
gia; Chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số;
theo chương trình 134 hỗ trợ đất ở, nước sinh hoạt cho các hộ nghèo vùng khó khăn;
Chương trình 135 về việc hỗ trợ các xã. Thôn đặc biệt khó khăn...


Nhà nước đã huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của
Đảng - nhất là cấp cơ sở; Chỉ đạo và triển khai có hiệu quả các chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước, kết hợp phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, luôn chú
trọng đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội ở nông
thôn.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì và các phong trào của Hội Nông dân, Hội Phụ
nữ, Đoàn Thanh niên, Hội cựu chiến binh... cũng đã góp phần tích cực vào sự nghiệp phát
triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống, ổn định chính trị, xã hội ở nông thôn.
Phát huy vai trò quan trọng trong việc vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
Công tác dạy nghề nâng cao nguồn nhân lực trong nông thôn, đã có nhiều Trung tâm
dạy nghề và hỗ trợ việc làm trên toàn quốc, đã đào tạo nghề và giới thiệu việc làm cho hàng
chục ngàn lao động đi xuất khẩu lao động, góp phần quan
dịch cơ

cấu kinh

tế,

cơ cấu

trọng vào việc

chuyển

lao động

nông nghiệp, nông thôn, cải thiện điều kiện sống của nông dân, giữ vững ổn định chính trị,
trật tự xã hội ở nông thôn.
Đời sống vật chất, tinh thần của người dân ở hầu hết các vùng nông thôn ngày càng
được
Do sản

cải thiện;

xoá đói giảm nghèo

đạt thành

tựu to lớn

xuất phát triển, thu nhập tăng, đời sống nông dân ở đa số các vùng

được cải thiện rõ rệt. Từ năm 1996 đến nay, thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn tăng
lên hơn 3 lần (năm 2006 thu nhập bình quân là 6,1 triệu/người theo giá hiện hành; thu nhập
bình quân 1 hộ nông thôn đạt 26,1 triệu đồng, tăng 11,3 triệu
75,8% so

với

năm

2002). Nhờ

đồng

(tăng

thu nhập của hộ

nông dân tăng, nên vốn tích luỹ trong dân tăng khá.
Nông nghiệp vẫn là nguồn thu lớn nhất của hộ gia đình ở nông thôn; năm 2006 có
đến 68% hộ ở nông thôn dựa chủ yếu vào sản xuất nông, lâm, thủy, sản, tiếp đến là các hộ
làm dịch vụ và công nghiệp, xây dựng tương ứng là 15% và 11%. Công tác giảm nghèo
được tập trung đẩy mạnh, hướng vào các đối tượng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, đồng bào


dân tộc thiểu số. Tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực nông thôn giảm nhanh, từ 66,4% năm 1993,
45,5% năm 1998, 35,6% năm 2002, 27,5% năm 2004 xuống còn 18% năm 2007, mặc dù
chuẩn nghèo đã tăng lên. Xoá đói giảm nghèo nhanh là thành tựu lớn của Việt Nam được
cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Do đa số người nghèo sống ở nông thôn nên phát triển
nông nghiệp có giai đoạn đã đóng góp tới 80% thu nhập tăng thêm giúp các hộ thoát nghèo.
Tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận với các nguồn tín dụng, tiếp cận khoa học
cong nghệ, kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, phòng trừ dịch bệnh, bảo quản sau thu hoạch, chế
biến và tiêu thụ sản phẩm.
Mặc dù đã được quan tâm của nhà nươc, các cấp các ngành, nhưng đời sống người
dân nông thôn còn ở mức thấp (Thu nhập ở nông thôn năm 2008 chỉ bằng 60% bình quân
chung, tỷ lệ hộ nghèo 16.2%; Chênh lệch giàu nghèo cao (13.5 lần) [6].

1.2.2.

Nông hộ và trang trại
Kinh tế nông hộ hay còn gọi là kinh tế hộ nông dân đã có từ lâu. Cùng với sự phát

triển của lực lượng sản xuất thì các hình thức tổ chức sản xuất và các quan hệ sản xuất cũng
biến đổi theo, kinh tế nông hộ cũng có sự thay đổi và tương ứng với trình độ của nền sản
xuất.
Trong phương thức sản xuất trước Chủ nghĩa tư bản (CNTB), kinh tế nông hộ đồng
nghĩa với kinh tế nông dân cá thể - phổ biến là tiểu nông của nền nông nghiệp sản xuất nhỏ.
Trong CNTB, kinh tế nông hộ là hình thức kinh tế phổ biến của những nông hộ sản xuất
hàng hóa thường được gọi là các nông trại gia đình. Khi phương thức sản xuất xã hội chủ
nghĩa (XHCN) ra đời, kinh tế nông hộ có sự biến đổi cơ bản về hình thức và nội dung của
nó.
Trong thời kỳ sau tập thể hoá sản xuất nông nghiệp, các nước XHCN như Việt Nam,
Trung Quốc tiến hành cải cách, đổi mới theo hướng phát triển nền kinh tế
thành

phần theo

nhiều

cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà

nước. Mô hình nông hộ xã hội với các đơn vị kinh tế khác trên cơ sở bình đẳng cùng có
lợi. Kinh tế nông hộ

tồn tại với nhiều hình thức

sở hữu (Nhà

nước, tập thể, cá thể) gắn liền với thị trường và sản xuất hàng hoá, phát triển theo hướng


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×