Tải bản đầy đủ

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ PHÙ HỢP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG

ĐÀO THỊ KIM OANH

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI RẮN
Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH,
TỈNH NAM ĐỊNH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
QUẢN LÝ PHÙ HỢP

Hà Nội, 2016
1


TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG

ĐÀO THỊ KIM OANH

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI RẮN
Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH,

TỈNH NAM ĐỊNH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
QUẢN LÝ PHÙ HỢP

Ngành : Quản lý tài nguyên và môi trường
Mã nghành

: 52850101

NGƯỜI HƯỚNG DẪN:TS. PHẠM THỊ MAI THẢO

Hà Nội, 2016
2


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Đồ án tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu và học hỏi của tôi dưới sự hướng
dẫn của TS. Phạm Thị Mai Thảo, không sao chép ở bất cứ tài liệu nào. Các số liệu
được sử dụng trong đồ án để thực hiện cho việc đánh giá, nhận xét, đề xuất là số
liệu thực tế. Ngoài ra, tôi có sử dụng một số nhận xét, nhận định của các tác giả từ
các nguồn khác nhau và được ghi trong phần tài liệu tham khảo.
Nếu như phát hiện có bất cứ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm trước hội đồng cũng như kết quả đồ án của mình.
Hà Nội, ngày tháng 6 năm 2016.

3


LỜI CẢM ƠN
Học đại học là bước đệm đối với mỗi sinh viên, nó chính là cẩm nang, hành
trang sẽ đi suốt cuộc đời cho mỗi sinh viên trước khi ra trường đem những kiến thức
đã học ở trường về địa phương, nơi công tác để vận dụng vào thực tiễn, góp một
phần công sức của mình vào công cuộc xây dựng quê hương, đất nước.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Môi Trường, Trường
Đại Học Tài Nguyên và Môi Trường Hà Nội đã luôn quan tâm và tận tình truyền
những kiến thức quý báu cho em trong thời gian học tập và rèn luyện tại trường.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Phạm Thị Mai Thảo
(Trường Đại Học Tài Nguyên và Môi Trường) đã tận tình hướng dẫn, định hướng
và tạo điều kiện cho em trong suốt thời gian thực hiện đồ án tốt nghiệp này.
Xin cảm ơn các cô chú công tác tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định và

bệnh viện Lao- bệnh phổi,bệnh viện đa khoa Sài Gòn - Nam Định đã tạo điều kiện
giúp đỡ cháu trong quá trình thu thập thông tin, số liệu để hoàn thành bài báo cáo.
Cuối cùng em xin dành lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè là những người luôn
quan tâm, động viên, đồng thời là trỗ dựa tinh thần lớn nhất giúp em hoàn thành tốt
công việc dự định trong suốt thời gian gian qua.
Hà Nội, ngày 28, tháng 1, năm 2016.
Sinh viên
Đào Thị Kim Oanh

4


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH

5


DANH MỤC BẢNG

6


DANH MỤC HÌNH

7


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu
BV
BVĐK
CSYT
BHYT
CTR
CTRYT
CTRTT
CTRNH

8

Tên
Bệnh viện
Bệnh viện đa khoa
Cơ sở y tế
Bảo hiểm y tế
Chất thải rắn
Chất thải rắn y tế
Chất thải rắn thông thường
Chất thải rắn nguy hại


LỜI MỞ ĐẦU
1

Sự cấp thiết
Ngày nay vấn đề môi trường và dân số Việt Nam ngày càng gia tăng kinh tế
cũng phát triển dẫn đến nhu cầu khám và điều trị bệnh gia tăng, số bệnh viện gia
tăng. Từ năm 2007 có 956 bệnh viện tuyến huyện nhưng chưa được quản lý chặt
chẽ, quản lý theo hình thức đối phó. Ô nhiễm môi trường do các hoạt động y tế mà
tình trạng xử lý kém hiệu quả chất thải y tế.
Hiện nay vấn đề về chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường và
xã hội cấp bách của nước ta. Nhiều bệnh viện trở thành nguồn gây ô nhiễm cho môi
trường dân cư xung quanh gây dư luận trong cộng đồng.
Thành phố Nam Định nằm ở phía bắc của tỉnh Nam Định. Trên địa bàn
thành phố có rất nhiều cơ sở khám chữa bệnh nhà nước và tư nhân lớn cụ thể là
gồm 15 bệnh viện và bao gồm nhiều cơ sở y tế khám chữa bệnh trên địa bàn thành
phố. Những năm qua các bệnh viện ở thành phố Nam Định tỉnh Nam Định được
đóng vai trò quan trọng trong quá trính phát triển chung của đất nước. Nhờ sự nổ
lực phấn đấu không ngừng đó mà bệnh viện đạt được nhiều thành quả đáng kể trong
công tác khám chữa bệnh phòng bệnh và chăm lo sức khỏe cho người dân. Bên
cạnh những thành quả đạt được thì hiện nay vấn đề nhức nhối tại bệnh viện là tình
trạng chất thải y tế thải ra với khối lượng khá lớn. Do đó, vấn đề quản lý và xử lý
chất thải rắn y tế tại các cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Nam Định rất cấp thiết.
Chất thải rắn y tế là một trong những chất thải nguy hại vào bậc nhất, việc quản lý
và xử lý các loại chất thải này rất phức tạp và gặp nhiều khó khăn. Nếu không có
biện pháp quản lý hợp lý, xử lý không tốt thì đây sẽ là nguồn lây lan các mầm bệnh,
ảnh hưởng đến sức khỏe con người, gây ra những vấn đề ô nhiễm môi trường một
cách nghiêm trọng. Thành phố Nam Định với bệnh viện lớn bệnh viện đa khoa tỉnh
Nam Định ngoài ra còn bệnh viện chuyên kho, các phòng khám tư nhân và cơ sở y
tế trên địa bàn thành phố Nam Định là nơi chăm sóc sức khỏe chính của người dân
trong thành phố cũng như các khu vực lân cận. Vì vậy, hằng ngày bệnh viện, trạm
xá và phòng khám tư nhân tiếp nhận hàng trăm bệnh nhận và không tránh khỏi
lượng rác thải phát sinh là rất nhiều. Đặc biệt do tính chất nguy hại của rác thải y tế
9


rất cao đối với môi trường và sức khỏe con người nên việc quản lý, xử lý triệt để
nguồn rác thải này yêu cầu rất cấp bách hiện nay
Từ thực tiễn trên, với mục đích “Đánh giá hiện trạng chất thải rắn y tế trên
địa bàn thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định và đề xuất giải pháp quản lý phù hợp”
với mong muốn sẽ đề xuất những giải pháp có thề áp dụng vào thực tế một cách
hiệu quả nhất.

2. Mục tiêu nghiên cứu.
a. Mục tiêu chung
- Đánh giá hiện trạng phân loại, thu gom, lưu trữ, vận chuyển và xử lý chất
thải y tế của một số bệnh viện trên địa bàn thành phố Nam Định tỉnh Nam Định
nhằm đảm bảo an toàn và vệ sinh môi trường đạt tiêu chuẩn cho phép đối với chất
thải y tế.
b. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá hiện trạng phân loại, thu gom, lưu trữ, vận chuyển và xử lý chất
thải y tế tại một số bệnh viện trên địa bàn Thành Phố Nam Định tỉnh Nam Định.
- Đánh giá hiểu biết của cán bộ nhân viên, người nhà bệnh nhân về tình hình
quản lý chất thải y tế của một số bệnh viện.
- Đề xuất các giải pháp quản lý chất thải y tế đảm bảo an toàn và vệ sinh môi
trường.
3. Nội dung nghiên cứu
* Để đạt được các mục tiêu đề ra, đề tài cần thực hiện các nội dung sau:
- Khảo sát đánh giá hiện trạng phát sinh, thành phần, tính chất của chất thải y
tế.
- Đánh giá hiện trạng thu gom, phân loại và xử lý chất thải y tế.
- Lập phiếu điều tra các cán bộ nhân viên, người nhà bệnh nhân về tình hình
quản lý chất thải y tế của bệnh viện
- Đề xuất biện pháp thích hợp quản lý chất thải y tế dựa trên các vấn đề bất
cập.

10


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Định nghĩa và thành phần, phân loại chất thải rắn y tế

1.1.1 Định nghĩa về chất thải y tế
- Chất thải y tế: Theo Quy Chế quản lý chất thải y tế (Bộ Y Tế) thì Chất thải
y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất
thải y tế nguy hại và chất thải thông thường.
- Chất thải nguy hại là chất thải chứa các yếu tố độc hại, phóng xạ, lây
nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác
(Luật Bảo Vệ Môi Trường 2014).
- Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe
con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ,
dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu
hủy an toàn.
* Mặt khác CTR y tế cũng bao gồm:
- Các vật sắc nhọn: Khái niệm về các vật sắc nhọn bao gồm các vật dụng, đối
tượng và thiết bị có đầu nhọn hoặc có các bộ phận lồi ra có khả năng cắt đứt hoặc
xuyên qua vào da. Các vật này bao gồm kim tiêm dưới da, dao mổ, ống thuốc tiêm,
lọ thủy tinh vỡ.
- Các dược liệu: Khái niệm về các dược chất bao gồm các loại dược liệu,
thuốc tân dược sử dụng trong việc phòng tránh, chuẩn đoán, chăm sóc và chữa
bệnh, đau ốm, thương tích hoặc khuyết tật ở người hoặc động vật.
- Các độc chất đối với tế bào: Các đọc chất đối với tế bào bao gồm các dược
chất, thuốc chữa bệnh bảng độc có khả năng gây ung thư, làm ngưng trệ tế bào, đầu
độc tế bào, gây biến dị… Chúng được sử dụng trong việc điều trị ung thư và có khả
năng gây tổn thương cho da hoặc các mô tế bào nếu tiếp xúc với chúng. Chất thải
thuộc loại này cũng bao gồm cả các dụng cụ dung để chứa đựng và xử lý các độc
chất đối với tế bào chẳng hạn như các vật sắc nhọn, bơm tiêm, dụng cụ, tiêm truyền
tĩnh mạch, ống thuốc tiêm, chai lọ nhỏ đựng thuốc, găng tay và băng gạc.
* Ngoài ra, trong lĩnh vực y tế còn phát sinh các ô nhiễm khác:

11


- Chất thải rắn y tế phát sinh từ các lĩnh vực chăm sóc bệnh nhân, giải phẫu,
nghiên cứu, các phương tiện chuyên chở hoặc y tế và từ các công việc khám
nghiệm, xử lý tử thi, giải phẫu học, bệnh lý học cũng như khám chữa bệnh thú y.
- Nước thải bệnh viện bao gồm nước thải sinh hoạt của cán bộ công nhân
viên làm việc trong bệnh viện, bệnh nhân và thân nhân bệnh nhân.
- Môi trường không khí tại các phòng xét nghiệm, kho hóa chất, dược phẩm,
các khí phóng xạ cũng như môi trường tại các lò đốt chất thải rắn y tế.
1.1.2 Thành phần chất thải y tế
a. Thành phần vật lí
- Thành phần vật lí của chất thải y tế điển hình bao gồm kim tiêm, bơm tiêm
kèm kim tiêm, thiết bị giải phẫu, mô tế bào người hoặc động vật, xương, nội tạng,
bào thai hoặc các bộ phận của cơ thể, bình, túi hoặc ống dẫn chứa chất lỏng từ cơ
thể, các vật dụng và vật chất khác bị loại bỏ trong khuôn khổ thăm khám và điều trị
chuyên khoa, trong thực tế nghiên cứu về răng miệng hoặc thú y, có nguy cơ tiềm
tàng đối với sức khỏe của con người khi tiếp xúc với chúng.
- Theo nghiên cứu khảo sát của Tổ chức Y tế thế giới tại các nước đang phát
triển, thành phần chất thải rắn từ hoạt động y tế như sau:


80% là chất thải thông thường có thể xử lí như chất thải sinh hoạt hay chất thải đô






thị.
15% là chất thải lây nhiễm và chất thải giải phẫu.
1% là chất thải sắc nhọn.
3% là chất thải được, chất thải hóa học.
Dưới 1 % là chất thải khác: phóng xạ, chất gây độc tế bào, bình chứa áp suất, chất
thải chứa kim loại nặng.
b. Thành phần hóa học
- Tính chất hóa học của chất thải rắn được thể hiện bởi các thành phần sau :



Thành phần hữu cơ: được xác định là thành phần vật chất có thể bay hơi sau khi

nung ở 950oC.
• Thành phần vô cơ: phần tro còn lại sau khi nung ở 950oC.
Thành phần phần trăm (%): phần trăm các nguyên tố C, H, O, N, S và tro thể
hiện qua bảng sau.
Bảng 1.1 Thành phần hóa học điển hình của chất thải y tế.
12


Thành phần
Hàm lượng (%) Phân tử lượng (g) Lượng mol(kmol)
C
50.85
12
4.23
O
6.71
2
3.35
H
19.5
32
0.59
N
2.75
28
0.098
Ca
0.1
40
0.00025
P
0.08
15
0.0053
S
2.71
32
0.59
Cl
15.1
71
0.212
Độ tro
1.05
Hàm lượng nước
1.5
18
0.065
Tổng
100
(Nguồn : “Safe Management of Wastes From Health Care Activities”;
WHO,Geneva; 1999).
1.1.3 Phân loại chất thải y tế
a. Phân loại theo tổ chức y tế thế giới (WHO)
Chất thải thông thường: đó là các chất thải không độc hại, về bản chất tương
tự như rác thải sinh hoạt.
Chất thải là bệnh phẩm: mô, cơ quan, phần tử bào thai người, xác động vật
thí nghiệm, máu dịch thể.
Chất thải chứa phóng xạ: chất thải từ quá trình chiếu chụp X quang, phân
tích tạo hình cơ quan trong cơ thể, điều trị và khu trị khối u...
Chất thải hóa học: có tác dụng độc hại, ăn mòn, gây cháy hay nhiễm độc gen
không độc.
Chất thải nhiễm khuẩn: gồm các chất thải chứa tác nhân gây bệnh như vi
sinh vật kiểm định, bệnh phẩm bệnh nhân bị cách ly hoặc máu nhiễm khuẩn...
Các vật sắc nhọn: kim tiêm, lưỡi dao, kéo mổ, chai lọ vỡ... có thể gây thương
tích cho người và vật.
Dược liệu: dư thừa, quá hạn sử dụng.
b. Phân loại theo Việt Nam
b1. Theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT
Theo Quy chế Quản lý chất thải y tế ban hành theo quyết định số
43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y Tế, chất thải trong các cơ sở y tế
13


được phân thành 5 nhóm sau: chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học nguy hại, chất
thải phóng xạ, bình chứa áp suất, chất thải thông thường.

 Chất thải lây nhiễm
Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc
thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền,
lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn
khác sử dụng trong các loại hoạt động y tế.
Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm
dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly.
Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các
phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm.
Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể
người: rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm.

 Chất thải hóa học nguy hại
Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng.
Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính
thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu
(Phụ lục 3)
Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân, cadimi, chì

 Chất thải phóng xạ
Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ các hoạt động chẩn
đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất.

 Bình chứa áp xuất
Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung. Các bình này dễ gây
cháy, gây nổ khi thiêu đốt.

 Chất thải thông thường
Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học
nguy hại, phóng xạ, dễ cháy nổ, bao gồm:
Chất thải sinh hoạt phát sinh từ buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly).
14


Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thủy
tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín.
Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại.
Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy báo, tài liệu, vật liệu
đóng gói, thùng cat tông, túi nilon, túi đựng phim.
Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh.
Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế (Phụ Lục2)
b2. Theo Thông tư liên tịch 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT- Thông tư quy
định về quản lý chất thải y tế
1) Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: Đựng trong thùng hoặc hộp có màu vàng;
2) Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn: Đựng trong túi hoặc trong thùng có
lót túi và có màu vàng;
3) Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao: Đựng trong túi hoặc trong thùng có
lót túi và có màu vàng;
4) Chất thải giải phẫu: Đựng trong 2 lần túi hoặc trong thùng có lót túi và có
màu vàng;
5) Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng rắn: Đựng trong túi hoặc trong
thùng có lót túi và có màu đen;
6) Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng lỏng: Đựng trong các dụng cụ có
nắp đậy kín;
7) Chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đích tái chế: Đựng trong
túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu xanh;
8) Chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế: Đựng trong túi hoặc
trong thùng có lót túi và có màu trắng.
2 Nguồn phát sinh

- Nguồn phát sinh chất thải y tế chủ yếu là: bệnh viện; các cơ sở y tế khác
như: trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ sinh, phòng
khám ngoại trú, trung tâm lọc máu...; các trung tâm xét nghiệm và nghiên cứu y
sinh học; ngân hàng máu... Hầu hết các CTR y tế đều có tính chất độc hại và tính
đặc thù khác với các loại CTR khác. Các nguồn xả chất lây lan độc hại chủ yếu là ở
các khu vực xét nghiệm, khu phẫu thuật, bào chế dược (Bảng 1.2)
15


Bảng 1.2. Nguồn phát sinh các loại CTR đặc thù từ hoạt động y tế
Loại CTR
Chất thải sinh hoạt

Nguồn tạo thành
Các chất thải từ nhà bếp, các khu nhà hành chính, các loại
bao gói...

Chất thải chứa các vi Các phế thải từ phẫu thuật, các cơ quan nội tạng của người
trùng gây bệnh

sau mổ xẻ và của các động vật sau quá trình xét nghiệm, các
gạc bông lẫn máu mủ của bệnh nhân...

Chất thải bị nhiễm Các thành phần thải ra sau khi dùng cho bệnh nhân, các chất
bẩn

thải từ quá trình lau cọ sàn nhà...

Chất thải đặc biệt

Các loại chất độc hại hơn các loại trên, các chất phóng xạ,
hóa chất dược...từ các khoa khám, chữa bệnh, hoạt động
thực nghiệm, khoa dược...
(Nguồn: Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, 2014)

3 Phương pháp thu gom, lưu trữ, vận chuyển, xử lý chất thải rắn tế.

- Thu gom chất thải tại nơi phát sinh là quá trình phân loại, tập hợp, đóng gói
và lưu trữ tạm thời chất thải tại địa điểm phát sinh chất thải trong cơ sở y tế.
- Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh, tới
nơi xử lý ban đầu, lưu trữ, tiêu hủy.
- Xử lý và tiêu hủy chất thải là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm làm
mất khả năng gây nguy hại của chất thải đối với sức khỏe con người và môi trường.
- Một số phương pháp xử lý chất thải rắn y tế
1.3.1. Tái chế chất thải bệnh viện
Các vật liệu thuộc chất thải thông thường không dính, chứa các thành phần
nguy hại (lây nhiễm, chất thải hóa học nguy hại, chất phóng xạ, thuốc gây độc tế
bào) được phép thu gom phục vụ mục đích tái chế, bao gồm:
Nhựa: Chai nhựa đựng các dung dịch không có chất hóa học nguy hại (dung

-

dịch NaCl 0,9%, glucose, natri bicacbonate,..) và các vật liệu nhựa khác không dính
-

các thành phần nguy hại.
Thủy tinh: Chai, lọ thủy tinh đựng các dung dịch không chứa các thành phần

-

nguy hại.
Giấy: Giấy, báo, bìa, thùng các – tông, vỏ hộp thuốc và các vật liệu giấy.
16


Kim loại: các vật liệu kim loại không dính các thành phần nguy hại (Bộ y tế,

-

2014)
1.3.2 Công nghệ đốt
Phương pháp đốt là phương pháp oxy hóa ở nhiệt độ cao với sự có mặt của
oxy trong không khí, trong đó chất thải sẽ được chuyển hóa thành khí và các chất
trơ không cháy. Kết quả là tiêu diệt hoàn toàn vi sinh vật, giảm được 95% thể tích
và khối lượng chất thải, làm thay đổi hoàn toàn trạng thái vật lý của chất thải. Lò
đốt thiết kế chuyên dùng cho xử lý chất thải bệnh viện được vận hành trong khoảng
nhiệt độ từ 700 đến 1200oC. Phương pháp đốt áp dụng chủ yếu cho chất thải lây
nhiễm, chất thải gây độc tế bào, không áp dụng cho các hóa chất có hoạt tính phản
ứng, bình chứa khí có áp suất, các chất nhựa có chứa halogen như PVC vì phát thải
dioxin (Đặng Kim Chi và cs, 2011). Phương pháp đốt có ưu điểm là với nhiệt độ
cao thì CTRYT nguy hại được xử lý triệt để, loại trừ được các mầm bệnh trong các
chất thải lây nhiễm, giảm tối đa thể tích chôn sâu sau khi xử lý. Tuy nhiên đốt ở
nhiệt độ không đủ theo quy định có thể phát sinh khí thải gây ô nhiễm không khí;
chi phí đầu tư xây dựng và quản lý vận hành cao (Bộ Xây dựng, 2012).
1.3.3 Công nghệ không đốt, thân thiện với môi trường
Hiện nay, có hai loại công nghệ thân thiện với môi trường chủ yếu được lựa
chọn thay thế các lò đốt CTRYT là công nghệ khử khuẩn bằng nhiệt ẩm và công
nghệ có sử dụng lò vi sóng.
Công nghệ khử khuẩn bằng nhiệt ẩm: bản chất là tạo ra môi trường hơi nước
nóng với áp suất cao để khử khuẩn CTRYT. Công nghệ này thường phải sử dụng
thêm hóa chất để đảm bảo hiệu quả khử tiệt khuẩn ổn định, do đó làm tăng chi phí
vận hành của hệ thống.
Công nghệ sử dụng vi sóng: bao gồm sử dụng vi sóng thuần túy trong điều
kiện áp suất bình thường và sử dụng vi sóng kết hợp hơi nước bão hòa trong điều
kiện nhiệt độ áp suất cao.
Loại sử dụng vi sóng thuần túy trong điều kiện bình thường là tạo điều kiện
khử tiệt khuẩn ở nhiệt độ khoảng 100 oC với áp suất không khí thông thường. Do
vậy, hệ thống vận hành đơn giản hơn nhưng tốn thời gian xử lý cho mỗi mẻ đồng
thời hiệu quả chỉ đạt 99,9% (Đặng Kim Chi và cs, 2011).
17


Loại công nghệ sử dụng vi sóng kết hợp hơi nước bão hòa: có tác dụng phá
hủy cấu trúc tế bào và tiêu diệt tất cả các loại mầm bệnh. Nhờ đó sau khi xử lý, chất
thải lây nhiễm trở thành chất thải thông thường mà không tạo ra khói bụi, không xả
ra nước thải cũng như không sử dụng hóa chất để tiệt trùng nên hoàn toàn thân thiện
với môi trường (Nguyễn Thị Kim Thái, 2011).
1.3.4 Phương pháp trơ hóa ( cố định và đóng rắn)
Bản chất của quá trình xử lý là chất thải nguy hại được trộn với phụ gia hoặc
bê tông để đóng rắn chất thải nhằm không cho các thành phần ô nhiễm lan truyền ra
ngoài. Các chất phụ gia vô cơ thường dùng là: vôi, xi măng porand, bentonic,
pizzolan, thạch cao, silicat. Các chất phụ gia hữu cơ: epoxy, polyester, nhựa asphalt,
polyolefin, ure formaldehit.
Theo Quy chế quản lý CTRYT ban hành kèm theo Thông tư liên tịch
58/2015/TTLT-BYT-BTNMT- Thông tư quy định về quản lý chất thải y tế và
Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT tỷ lệ các chất pha trộn. Sau khi tạo thành một khối
đồng chất dưới dạng cục thì đem đi chôn.
1.3.5. Phương pháp chôn lấp an toàn
Chỉ áp dụng tạm thời đối với các cơ sở y tế các tỉnh, miền núi và trung du có
cơ sở xử lý CTRYT nguy hại đạt tiêu chuẩn tại địa phương. Hố chôn lấp phải đáp
ứng các yêu cầu: có hàng rào vây quanh, cách xa giếng nước, xa nhà tối thiểu 100m,
đáy hồ cách mức nước bề mặt tối thiểu 1,5m, miệng hố nhô cao và che tạm thời để
tránh nước mưa, mỗi lần chôn chất thải phải đổ trên mặt hố lớp đất dày từ 10 –
25cm và lớp đất trên cùng dày 0,5m. Không chôn chất thải lây nhiễm lẫn với chất
thải thông thường. Chất thải lây nhiễm phải được khử khuẩn trước khi chôn lấp (Bộ
Y tế, 2014).
4 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đến môi trường và sức khỏe của cộng

động
1.4.1 Ảnh hưởng của chất thải y tế tới môi trường
Chất thải y tế có thể tác động xấu tới tất cả các khía cạnh của môi trường,
đặc biệt là môi trường đất, nước, không khí. Mặt khác, xử lý CTYT không đúng
phương pháp có thể gây ra vấn đề lãng phí tài nguyên thiên nhiên
Đối với môi trường đất

-

18


+ Quản lý CTYT không đúng quy trình và việc tiêu hủy CTYT tại các bãi
chôn lấp không tuân thủ các quy định sẽ dẫn đến sự phát tán các vi sinh vật gây
bệnh, hóa chất độc hại,… gây ô nhiễm đất và làm cho việc tái sử dụng bãi chôn lấp
gặp khó khăn.
Đối với môi trường không khí :

-

+ Chất thải y tế từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều có thể gây ra
tác động xấu tới môi trường không khí. Bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi
dung môi, hóa chất,... phát sinh trong các khâu phân loại - thu gom - vận chuyển,
CTYT có thể phát tán vào không khí. Trong khâu xử lý, đặc biệt là với các lò đốt
CTYT quy mô nhỏ, không có thiết bị xử lý khí thải có thể phát sinh ra các chất khí
độc hại như sau:
+ Ô nhiễm bụi: khi nhiệt độ đốt không đủ hoặc không tuân thủ đúng quy
trình vận hành, lượng chất thải nạp vào lò quá lớn sẽ làm phát tán bụi, khói đen và
các chất độc hại;
+ Các khí axit: Do trong CTYT có thể có chất thải làm bằng nhựa PVC,
hoặc chất thải dược phẩm khi đốt có nguy cơ tạo ra hơi axit, đặc biệt là HCl và
SO2;
+ Dioxin và Furan: Trong quá trình đốt cháy chất thải có thành phần
halogen (Cl, Br, F) ở nhiệt độ thấp có thể hình thành dioxin và furan là những chất
rất độc dù ở nồng độ nhỏ.
+ Kim loại nặng: đối với những kim loại nặng dễ bay hơi như thủy ngân có
thể phát sinh từ các lò đốt CTYT nếu trong quá trình phân loại không tốt. Ngoài ra,
một số phương pháp xử lý khác như chôn lấp có thể phát sinh các chất gây ô nhiễm
cho môi trường không khí như: CH4, H2S,..
Đối với môi trường nước:

-

+ Tác động của CTYT đối với các nguồn nước có thể so sánh với nước thải
sinh hoạt. Tuy nhiên, nước thải từ các cơ sở y tế còn có thể chứa Salmonella,
Coliform, Tụ cầu, Liên cầu, Trực khuẩn Gram âm đa kháng, các hóa chất độc hại,
chất hữu cơ, kim loại nặng. Do đó, nếu không được xử lý triệt để trước khi xả thải
vào nguồn nước tiếp nhận, đặc biệt đối với nguồn tiếp nhận được sử dụng cho sinh
19


hoạt, trồng trọt, chăn nuôi, sẽ có nguy cơ gây ra một số bệnh như: tiêu chảy, lỵ, tả,
thương hàn, viêm gan A,… cho những người sử dụng các nguồn nước này.
1.4.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đối với cộng đồng.
Ngày nay, các bệnh viện được cho là môi trường có nguy cơ rủi ro cho sức
khỏe con người. CTYT có thể gây ra nhiều tác động xấu tới sức khỏe con người
như: lây bệnh qua đường máu cho nhân viên y tế, đặc biệt là sự cố thương tích do
chất thải sắc nhọn. Dạng phơi nhiễm nghề nghiệp phổ biến nhất qua đường máu của
nhân viên y tế trong quá trình thực hiện quản lý chất thải là bị thương do các kim
tiêm lây nhiễm.
- Ảnh hưởng của chất thải sắc nhọn: Chất thải sắc nhọn được coi là loại chất
thải nguy hiểm, có nguy cơ gây tổn thưởng kép tới sức khỏe con người nghĩa là vừa
gây chấn thương do vết cắt, vết đâm và thông qua vết chấn thương để gây bệnh
truyền nhiễm nếu trong chất thải có các mầm bệnh viêm gan B (HBV), viêm gan C
(HCV) và virus HIV,..
- Ảnh hưởng của chất thải lây nhiễm: CTYT lây nhiễm cơ thể chứa các vi
sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như: tụ cầu, HIV, viêm gan B,… chúng có thể xâm
nhập vào cơ thể người thông qua các hình thức: qua da: (vết trầy xước, vết đâm
xuyên hoặc vết cắt trên da); qua các niêm mạc (màng nhầy); qua đường hô hấp (do
xông, hít phải); qua đường tiêu hóa (do nuốt hoặc ăn phải). Việc quản lý CTYT lây
nhiễm không đúng cách còn có thể là nguyên nhân lây nhiễm bệnh cho con người
thông qua môi trường trong BV. Chẳng hạn một số người có khả năng bị lây nhiễm
các bệnh mà họ không mắc phải trước khi đến BV, nhưng khi đến và làm việc trong
BV sau một thời gian bị mắc bệnh hoặc đem mầm bệnh đến nơi họ ở.
- Ảnh hưởng của chất thải hóa học và dược phẩm: Mặc dù chiếm tỉ lệ nhỏ,
nhưng chất thải hóa học và dược phẩm có thể gây ra các nhiễm độc cấp tính, mãn
tính, chấn thương và bỏng,... Hóa chất độc hại và dược phẩm ở các dạng dung dịch,
sương mù, hơi,… có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường da, hô hấp và tiêu hóa,...
gây bỏng, tổn thương da, mắt, màng nhầy đường hô hấp và các cơ quan trong cơ thể
như: gan, thận,… Một số ví dụ về ảnh hưởng của chất thải hóa học và dược phẩm:
+ Thủy ngân là một chất độc hại trong CTYT. Thủy ngân có mặt trong một
số thiết bị y tế, nhất là các thiết bị chẩn đoán như: nhiệt kế thủy ngân, huyết áp kế
20


thủy ngân,... và một số nguồn khác như khi bóng đèn huỳnh quang, compact sử
dụng bị vỡ.
+ Chất khử trùng được dùng với số lượng lớn trong BV, chúng thường có
tính ăn mòn và có thể kết hợp thành các hợp chất có độc tính cao hơn
+ Dư lượng các hóa chất sử dụng tại các phòng xét nghiệm khi thải vào hệ
thống thoát nước có thể ảnh hưởng tới hoạt động của hệ thống xử lý nước thải bằng
phương pháp sinh học hoặc các hệ sinh thái tự nhiên của các nguồn nước tiếp nhận
+ Tương tự như vậy đối với dư lượng dược phẩm trong các chất thải có chứa
dược phẩm. Dư lượng dược phẩm thải có thể bao gồm: các loại kháng sinh, các
thuốc khác nếu không được xử lý khi thải vào các nguồn nước tiếp nhận sẽ gây ảnh
hưởng đến môi trường sống và các loài thủy sinh trong các nguồn nước tiếp nhận.
Ảnh hưởng của chất gây độc tế bào: Chất gây độc tế bào có thể xâm nhập vào cơ

-

thể con người bằng các con đường: hô hấp khi hít phải, qua da, qua đường tiêu hóa;
hoặc tiếp xúc với chất thải dính thuốc gây độc tế bào; hoặc tiếp xúc với các chất tiết
ra từ người bệnh đang được điều trị bằng hóa trị liệu. Một số chất gây độc tế bào có
thể gây hại trực tiếp tại nơi tiếp xúc, đặc biệt là da và mắt, một số triệu chứng
thường gặp là: chóng mặt, buồn nôn, nhức đầu và viêm da.
- Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ: Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ tùy
thuộc vào loại phóng xạ, cường độ và thời gian tiếp xúc. Trong BV, các chất phóng
xạ thường có chu kỳ bán rã ngắn (kéo dài từ vài giờ, vài ngày cho đến vài tuần).
Các triệu chứng hay gặp là đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn và nôn nhiều bất
thường,… ở mức độ nghiêm trọng hơn có thể gây ung thư và các vấn đề về di
truyền.
5 Hiện trạng phát sinh và công tác quản lý của Việt Nam nói chung và

Thành phố Nam Định nói riêng.
1.5.1. Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế ở Việt Nam
- Theo thống kê của Cục Quản lý môi trường y tế Bộ Y tế cho thấy
- Năm 2005, tổng lượng chất thải rắn y tế phát sinh là 300 tấn/ngày trong đó
40 tấn là chất thải rắn nguy hại.

21


- Năm 2011, cả nước có 1047 bệnh viện, 1200 cơ sở y tế, trung bình mỗi
ngày thải ra 350 tấn chất thải rắn y tế trong đó 40,5 tấn là chất thải rắn y tế nguy
hại.
- Năm 2012 cả nước có 13.640 cơ sở y tế các loại. Mỗi ngày các cơ sở này
thải ra môi trường 450 tấn chất thải rắn trong đó có khoảng 42 tấn chất thải rắn y tế
nguy hại.
* Chất thải rắn y tế ngày càng gia tăng trong đó có thành phần nguy hại
cũng tăng lên, nguyên nhân do:
- Số lượng cơ sở y tế và số giường bệnh tăng.
- Thực hành y học hiện đại với nhiều phương pháp chuẩn đoán và điều trị
mới, tăng cường sử dụng các sản phẩm dùng một lần.
- Dân số tăng, người dân được tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ y tế.
- Hầu hết các chất thải rắn y tế là các chất thải độc hại và mang tính đặc thù,
nếu không được phân loại cẩn thận trước khi xả chung với các loại chất thải sinh
hoạt sẽ gây ra những nguy hại đáng kể cho môi trường và sức khỏe cộng đồng.
- Các nguồn xả chất lây lan độc hại chủ yếu là các khu vực xét nghiệm, khu
phẫu thuật, bào chế được.
- Khối lượng chất thải rắn phát sinh không chỉ thay đổi theo từng khu vực địa
lý mà còn phụ thuộc vào các yếu tố như số giường bệnh, bệnh viện chuyên khoa
hay đa khoa, các thủ thuật chuyên môn được thực hiện tại bệnh viện, số lượng vật
tư tiêu hao được sử dụng, số lượng bệnh nhân khám chữa bệnh, tỉ lệ bệnh nhân điều
trị nội trú và ngoại trú, phương pháp khám điều trị và chăm sóc của nhân viên y tế,
số lượng người nhà được phép đén thăm bệnh nhân…

22


Bảng 1.3- Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện năm 2014

Khoa

Tổng lượng chất thải phát

Tổng lượng chất thải y tế

sinh (Kg/giường.ngày)
Bệnh viện
Bệnh
Bệnh

nguy hại (Kg/giường.ngày)
Bệnh viên Bệnh Bệnh

trung ương viện tỉnh
Hồi sức cấp cứu
Nội
Nhi
Ngoại
Sản
Mắt/Tai,
mũi,
họng
Cận lâm sàng

viện

trung ương

viện

viện

0.3
0.04
0.04
0.26
0.21

tỉnh
0.31
0.03
0.05
0.21
0.22

huyện
0.18
0.02
0.02
0.17
0.17

0.1

0.08

1.08
0.64
0.5
1.01
0.82

1.27
0.47
0.41
0.87
0.95

huyện
1
0.45
0.45
0.73
0.74

0.66

0.68

0.34

0.12

0.11

0.1

0.08

0.03

0.03
0.03
(Nguồn Bộ y tế 2014)
1.5.1 Lượng chất thải phát sinh trong các bệnh viện (đơn vị kg/giường.ngày)
Loại bệnh viện
Bệnh viện đa khoa trung ương
Bệnh viện chuyên khoa trung ương
Bệnh viện đa khoa tỉnh
Bệnh viện chuyên khoa tỉnh
Bệnh viện huyện, nghành

Năm 2009
0.35
0.23 – 0.29
0.29
0.17 – 0.29
0.17 – 0.22

Năm 2014
0.42
0.28 – 0.35
0.35
0.21 – 0.35
1.21 – 0.28
(Nguồn Bộ y tế 2014)
1.5.2 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế trên địa bàn thành phố Nam Định
- Số lần khám bệnh trung bình: 44099 lần/tháng. Trung bình 97 lần/BV/ngày
- Số bệnh nhân điều trị trung bình :2027 /tháng. Trung bình 45 lần/BV/ngày
- Số ca phẫu thuật trung bình : 774 ca/ tháng. Trung bình 2 ca/BV/ngày
- Việc khám bệnh tại các phòng bệnh diễn ra nhanh chóng trong phạm vi từ 1
giờ cho đến một buổi, bệnh nhân được hập viện, chuyển viện hoặc được kê đơn,
mua thuốc và về trừ trường hợp nằm lưu lại theo dõi tại Phòng khám, nhưng cũng
chỉ trong phạm vi 24 – 48 giờ. Lưu lượng người tại phòng khám tùy thuộc loại hình
bệnh viên, đông nhất là bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Đinh (120000 lần / năm) , bệnh
viện đa khoa Sài Gòn – Nam Định 97000 lần/ năm, Bệnh viện lao- bệnh phổi 30000
lần / năm cho các chuyên khoa.
- Công tác điều trị tại các bệnh viện cũng tùy thuộc loại hình bệnh viện, lưu
lượng bệnh nhân đông, điều trị dài ngày vẫn là bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định
23


trung bình 480 bệnh nhân/ ngày..Số ngày điều trị trung bình từ 10 đến 15 ngày,
bệnh viện lao-bệnh phổi thời gian điều trị dài hơn khoảng 60 ngày.
- Mỗi bệnh nhân nằm điều trị thường được 1 người nhà phục vụ, như vậy lưu
lượng người tại bệnh viện 2 người/ số lượt khám bệnh. Với tình hình tập trung cao
tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định, bệnh viện đa khoa Sài Gòn – Nam Định, bệnh
viện Lao – bệnh phổi như vậy phần nào làm ảnh hưởng đến chất lượng khám chữa
bệnh của các bệnh viện.
- Chất thải bệnh viện có khối lượng không đáng kể so với toàn bộ khối lượng
chất thải đô thị ( chỉ chiếm khoảng 2 % khối lượng chất thải thu gom hàng ngày).
Tuy nhiên chất thải bệnh viện phần lớn là chất thải nguy hại có khả năng gây ô
nhiễm môi trường là rất lớn đó là do đặc thù phát sinh của chất thải y tế. Chất thải y
tế xuất phát tứ các nguồn sau:
+ Từ hoạt động chuyên môn khám chữa bệnh.
+ Do hoạt động của bệnh nhân, thân nhân bệnh nhân và các nhân viên y tế
+ Từ các hoạt động chung của toàn bệnh viện.
Bảng 1.4 Thành phần chất thải bệnh viện trên địa bàn thành phố
STT

Thành phần rác thải bệnh viện

Tỷ lệ (%)

1

Giấy các loại

3.0

2

Kim loại vỏ hộp

0.7

3

Thủy tinh,ống tim,chai lọ thuốc,bơm kim tiêm,nhựa

3.2

4

Bông bang,bột bó gãy chân

8.8

5

Chai,túi nhựa các loại

10.1

6

Bệnh phẩm

0.6

7

Rác hữu cơ

52.57

8

Đất đá và các vật rắn khác

21.03

Tổng số 100 %
Nguồn: đề cương dự án “ nâng cao năng lực thu gom và xử lý chất thải y tế
tại thành phố Nam Định ”
- Bơm kim tiêm là loại chất thải khó phân hủy cần được xử lý, hầu hết các
bệnh viện đều không có hệ thống xử lý, từ năm 2002 lò đốt chất thải y tế mới được
xây dựng tại bệnh viện trung tâm tỉnh Nam Định dã phần nào giải quyết được vấn
24


đề chất thải rắn của bệnh viện trên địa bàn thành phố. Tuy nhiên, lò đốt này mới chỉ
xử lý được từ 5 trong số các bệnh viện trong toàn thành phố.
- Cùng với sự phát triển đô thị và nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân
ngày càng gia tăng lên tới 2.5 đến 3,0 % mà lượng gia tăng chủ yếu lại thuộc các
nhóm A,B,C,D,F chiếm tới 50% đến 55% lượng rác thải bệnh viện hàng ngày.
- Hiện nay chất thải các bệnh viện trên địa bàn thành phố được phân loại và
các chất thải nhóm E được ký hợp đồng vận chuyển và xử lý với cong ty môi
trường, các nhóm còn lại
- Chất thải bệnh viện phát sinh mỗi ngày, nếu tính theo khối lượng chất thải
trên mỗi giường bệnh theo báo cáo nghiên cứu khả thi của Bộ Y Tế năm 2014 khối
lượng chất thải y tế mỗi năm tại các bệnh viện của thành phố như sau:
1.260 * 0.56 kg = 705,6 kg/ngày, tương đương 257.544 kg/năm
1.5.3 Thực trạng quản lý chất thải rắn từ hoạt động của bệnh viện tại Việt
Nam
- Theo thống kê của Bộ y tế, có 95,6% số bệnh viện thực hiện phân loại chất
thải rắn y tế, trong đó có 91,1% bệnh viện sử dụng dụng cụ tách riêng vật sắc nhọn.
Những năm qua, công tác quản lý chất thải bệnh viện còn một số bất cập.
Mốt số bệnh viện việc phân loại chất thải rắn y tế chưa đúng quy định như phân loại
nhầm chất thải rắn sinh hoạt đưa vào chất thải rắn y tế nguy hại gây tốn kém cho
việc xử lý. Mặc dù, các bệnh viện này đã tổ chức tập huấn, hướng dẫn cho cán bộ,
nhưng việc kiểm tra chưa thường xuyên. Một số bệnh viện chưa có phương tiện thu
gom và phân loại rác thích hợp để giảm thiểu chi phí, nhân viên thu gom rác chưa
có kiến thức cơ bản để phân loại rác, chưa nhận thức đúng nguy cơ của chất thải
bệnh viện.
- Phương tiện thu gom như túi, thùng đựng chất thải còn thiếu, chưa đồng bộ
và chưa đạt tiêu chuẩn. 63,6% bệnh viện sử dụng túi nhựa PE hoặc PP đựng rác
nhưng chỉ có 29% sử dụng túi có thành dáy đúng quy chế. Phương tiện vận chuyển
chất thải thiếu, đặc biệt là các xe chuyên dụng. Các cơ sở y tế của Hải Phòng, Hà
Nội, Huế, Đà Nẵng, TP Hồ CHí Minh hầu hết sử dụng thùng nhựa có bánh xe, xe
tay. Vận chuyển chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường từ bệnh viện, cơ
sở y tế đến nơi xử lý, chôn lấp hầu hết do Công ty môi trường đô thị đảm nhiệm.
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×