Tải bản đầy đủ

Phân tích chi tiết bài ĐỒNG CHÍ

ĐỒNG CHÍ
~ Chính Hữu ~
1. Vẻ đẹp của tình đồng chí
a) Cơ sở hình thảnh nên tình đồng chí
“Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”
Hai câu thơ giới thiệu về quê hương của những người linh. Anh và tôi đều là những người
lính xuất thân từ nông dân, có lẽ vì thế mà mối quan tâm hàng đầu của họ là đất đai, giới
thiệu về mình là nói về đồng đất quê mình. Nước mặn đồng chua là vùng ven biển, đất khó
làm ăn; đất cày lên sỏi đá là vùng đồi núi trung du, đất khó canh tác. Họ đề chung cái nghèo,
đó là cơ sở đồng cảm giai cấp của những người lính.
Chính điều đó khiến họ từ mọi phương trời xa tập hợp lại trong hang ngũ quân đội cách
mạng và trở nên thân quen nhau.
Tình đồng chí còn được nảy sinh từ sự cùng chung lí tưởng, sát cánh chiền đấu vì độc lập,
tư do của tổ quốc:
“ Súng bên súng, đầu sát bên đầu”
Hình ảnh thơ có sự song đôi, gợi lên tình cảnh gắn bó của những người chung một đội
ngũ, chung lí tưởng cao cả.
Tình đồng chí, đồng đội đã nảy nở và ngày cáng gắn bó trong cuộc sống, chiến đấu biết
bao gian khổ của người lính:
“Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”

Câu thơ đầy ắp kỉ niệm và ấm áp tình thân hữu – tình tri kỉ.
Những hình ảnh thơ ở đây vừa cụ thể sinh động, vừa mang ý nghĩa khái quát gợi liên
tưởng sâu xa
Từ sự song đôi của “anh” và “tôi” trong từng dòng thơ đến sự gần gũi “anh với tôi” trong
một dòng thơ và đến thành một đôi nhưng “đôi người xa lạ” rồi mới thành “đôi tri kỉ” – đôi
bạn chí cốt, hiểu nhau sâu sắc và cao hơn nữa là “Đông chí!”. Từ rời rạc, riêng lẻ dàn nhập
thành chung, thành một, khăng khít, keo sơn, gắn bó, khó tách rời. Câu thơ thứ bảy chỉ gồm
hai chữ “Đồng chí” và một dấu chấm than tạo một nốt nhấn, như một tiếng gọi thiết tha, xúc
động, vừa như một phát hiện, một kết luận, vừa như một bản lề gắn kết hai đoạn thơ, làm
nổi rõ một tất yếu: cùng hoàn cảnh xuất thân, cùng lí tưởng thì trở thành đồng chí của nhau
và mở ra ý tiếp – đồng chí còn là như thế nào nữa.
b) Những biểu hiện cao đẹp của tình đồng chí
Đồng chí đó là sự cảm thông sâu xa những hoàn cảnh, tâm tư, nỗi niwwmf sâu kín của
nhau:
“ Ruộng nương, anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhờ người ra lính”
Ba câu thơ chỉ nói về “anh”, về bạn bởi vì họ cùng chung hoàn cảnh,c hung nỗi niềm, đó
cũng là tình tri kỉ, hiểu bạn như hiểu mình. Người lính đi ra chiến đấu bỏ lại những gì quý giá
thân thiết nhất nơi làng quê. “Mặc kệ” la quyết ra đi, mang dáng dấp trượng phu, nhưng vần
nặng lòng gắn bó với quê hương. Hình ảnh “gian nhà không “ đầy gợi cảm, vừa gợi cái nghèo
nàn xơ xác, vừa gợi cái trống trải trong lòng người ở lại khi người đàn ông đi ra trận. Để cả cơ
nghiệp của mình hoang trống đẻ ra đi, đó là một sự hi sinh. Hiểu rõ lòng nhau và hiểu cả nỗi
niềm của ngươi thân nhau nơi hậu phương là tình tri kỉ. “ Giếng nước gốc đa nhớ người ra
lính” là một cách nói tế nhị và giáu sức gợi cảm, vừa là nhân hóa, vừa là hoán dụ. Câu thơ nói
quê hương nhớ người lính mà thực ra là người lính nhớ nhà. Nỗi nhớ hai chiều nên càng da


diết. Chỉ nói ai khác nhớ, đó cũng là cách tự vượt lên mình, nén tình riieeng vì sự nghiệp
chung.
Gắn bào với nhau trong đời thường, người lính càng gắn bó với nhau trong chiến đấu.
Chia sẻ mọi tâm tư nỗi niềm để cùng nhau chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời
người lính biết bao gian khổ:
“Anh với tôi…nắm lấy bàn tay”
Những người lình cùng chịu bệnh tật- những cơn sốt rét rừng ghê gớm. Cùng thiếu, cùng
rách. Đây là hoàn cảnh chung của bộ đội ta những nă đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Họ
nhìn thấu và thương nhau từ những chi tiết nhỏ của đời sống, những cặp thơ song đôi, đối
ứng nhau góp phần diễn tả sự sẻ chia, giống nhau trong mọi cảnh ngộ của người lính. Chữ
“anh” và “tôi” đến đây lại cùng xuất hiện, để cùng gánh vác sẻ chia, không ai dành cho mình
sự ưu ái hơn. Tình đồng chí cho họ sức mạnh để vượt lên buốt giá – “miệng cười buốt giá”

và ấm áp giữa buốt giá “ thương nhau tay nắm lấy bàn tay”, nắm lấy đôi bàn tay nhau để ấm
đôi bàn chân, để vượt lên gian khổ. Những bàn tay như biết nói. Họ găn bó với nhau để them
sức mạnh niềm tin, hướng tới lí tưởng cao đẹp. Và đo là tình gắn bó sâu dày suốt trường kì
kháng chiến.
c) Biểu hiện cao đẹp nhất của tình đồng chí
Nhiệm vụ chủ yếu của những những người lình là đánh giặc, vì vậy tình đồng chí cao đẹp
nhất là tình gắn bó thiêng liêng nơi tuyến đầu chống giặc, nơi sự sống và cái chết kề nhau
trong tích tắc. Tình đồng chí đã được tôi luyện trong thử thách gian lao và đây là thử thách
lớn nhất:
“Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.”
Ba câu thơ như dựng lên bức tượng đài sừng sững về tình đồng chí – trong hoàn cảnh
khắc nghiệt, đêm, rừng hoang, sương muối, những người kính đứng cạnh bên nhau chờ giặc
tới – tạo nên tư thế thành đồng vách sắt trước quân thù, làm mờ đi cái gian khổ, ác liệt của
cuộc chiến đấu. Hình ảnh họ tượng hình lại trong chi tiết bất ngờ độc đáo: “đầu súng trăng
treo”. Câu thơ không trực tiếp nói về những ngươi đồng chí mà vẫn thể hiện tình đồng chí.
Rất thực mà cũng rất lãng mạn.
Trăng trôi trên nền trời, nhìn lên, trăng như treo đầu ngọn súng. Hình ảnh này có nguồn gốc
thực tế. Trăng trôi trên nền trời, đến thời điểm nào đó, nhìn trăng lên, trăng như treo trên
đầu ngọn súng. Nhịp 2/2 gợi sự song đôi và như gợi sự bát ngát lơ lửng chứ không cột chặt.
Súng và trăng là một cặp đồng chí, tô đậm vẻ đẹo cảu cặp đồng chí kia. Tình dồng chí khiến
người lình vẫn bình thản và lãng mạn bên thềm cuộc chiến đấu, khiến họ thấy cuộc đời vẫn
đẹp đẽ, thơ mộng ngay giữa nguy hiểm gian lao, khiến họ có sức mạnh trong tư thế, sự đằm
thắm trong tâm hồn tình cảm. Hình ảnh thơ ở đây giàu sức khái quát, gựi nhiều liên tưởng .
Súng: hình ảnh của chiến tranh khói lửa; trăng: hình ảnh của thiên nhiên trong mát, cuộc
sống thanh bình. Sự hòa hợp giữa súng và trăng vừa toát lên vẻ đẹp tâm hồn người lính và
tình đòng chí của họ, vừa nói lên ý nghĩa cao đẹp của cuộc chiến đấu. Người lính cầm súng là
để bảo vệ đọc lập, tự do, hòa bình và hạnh phúc . Súng và trăng, thực và mộng, cứng rắn và
dịu hiền, chất thi sĩ và chiến sĩ, chất chiến đấu và chất trữ tình,…Đó là các mặt bổ sung cho
nhau của người chiến sĩ cách mạng. Xa hơn, có thể xem là biểu tượng của thơ ca cách mạng
kháng chiến, nền thơ kết hợp chất hiện thực và cảm hứng lãng mạn.
2. Hình ảnh người lính cách mạng trong bài thơ
Qua bài thơ về tình đồng chí hiện lên vẻ đẹp bình dị mà cao cả của người lính cách mạng,
anh vệ quốc quân năm xưa. Bài thơ này là bức chân dung đẹp về người lính cụ Hồ.


Đó là những người lính xuất thân từ nông dân, ra đi từ những miền quê nghèo khó trên khắp
mọi miền đất nước. Họ đã gác lại những gì quý giá, thân thiết nhất nơi làng quê để ra đi chiến
đấu nhưng vẫn nặng lòng gắn bó với làng quê thân yêu.
Họ đã trải qua những gian lao thiếu thốn tột cùng, những cơn sốt run người, trang phục
phong phanh giữa mùa đông buốt giá. Nhưng gian lao, thiếu thốn càng làm sang lên nụ cười
của họ
Đẹp nhất ở họ là tình đồng chí, đồng đội keo sơn thắm thiết. tình đồng chí sưởi ấm lòng
người chiến sĩ, tiếp cho họ sức mạnh , vượt lên tất cả, chiến đấu và chiến thắng. Hình ảnh
người lính và tình đồng chí của họ kết tinh và tỏa sáng trong đoạn cuối bài thơ. Tình đồng chí
xuất phát từ tình yêu nước và là cội nguồn của chiến thắng, kết tinh những tình cảm cao đẹp ,
làm nên vẻ đẹp tâm hồn người chiến sĩ. Đó cũng là truyền thống tốt đẹp của quân đội ta.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×