Tải bản đầy đủ

Đặc điểm và vai trò của trí thức Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX

MỞ ĐẦU
Dân tộc Việt Nam là dân tộc có truyền thống văn hiến. Một trong những yếu
tố làm nên văn hiến là trí tuệ, học thức và vai trò của những trí thức, những bậc
hiền tài ở mọi thời kỳ, thời đại phát triển của lịch sử dân tộc. Ở Việt Nam xuyên
suốt lịch sử dân tộc có sự nhất quán trong nhận định vị trí, vai trò của trí thức đối
với đất nước. Từ xa xưa ông cha ta đã xếp trí thức ở vị trí hàng đầu “nhất sĩ, nhì
nông”, “sĩ- nông- công- thương”. Năm 1442, Thân Nhân Trung đã viết: “Hiền tài là
nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, nguyên khí suy thì
thế nước hèn và càng xuống thấp”. Hiền tài là sự kết tụ tinh hoa của đất trời, của
khí thiêng sông núi, của truyền thống dân tộc. Người xưa đã nói: "Địa linh sinh
nhân kiệt". Hiền tài có vai trò quan trọng đối với sự hưng vong của đất nước.
Quang Trung – Nguyễn Huệ đã từng nói: “Dựng nước lấy việc học làm đầu. Muốn
thịnh trị lấy nhân tài làm gốc”…
Ở Việt Nam trong suốt 10 thế kỷ (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX), trong số hàng
vạn tú tài, cử nhân và gần 3000 nhà khoa bảng có nhiều người xuất thân từ tầng lớp
bình dân mà vươn lên thành những sĩ phu đại diện cho trí tuệ của dân tộc có nhiều
cống hiến cho sự phát triển của đất nước. Họ luôn gắn bó với nhân dân, có mặt
cùng với dân tộc, cùng với nhân dân ngay từ những ngày đầu dựng nước và giữ
nước. Trí thức Việt Nam luôn có tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc sâu đậm,
luôn luôn gắn bó với sự nghiệp giữ gìn nền độc lập của quốc gia, sự thống nhất đất
nước. Bằng tri thức của mình, nhiều trí thức đã góp phần xây dựng nền văn hóa của

dân tộc, phòng chống thiên tai, phát triển sản xuất phục vụ đời sống nhân dân. Lịch
sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã ghi nhận tên tuổi của nhiều nhà
trí thức có những đóng góp to lớn gắn liền với chặng đuờng phát triển của dân tộc.
Dân tộc Việt Nam trải qua biết bao cuộc chiến tranh ngoại xâm, nhiều người
đã phải hi sinh và ngã xuống. Để có được một đất nước hòa bình và phát triển như
1


ngày hôm nay, không chỉ nhờ sức mạnh đoàn kết, ý chí kiên cường của người dân
Việt Nam, mà trong đó còn có sự đóng góp không nhỏ của những con người tài
giỏi, hết lòng vì dân, vì nước. Chuyển động của mỗi đất nước phụ thuộc lớn vào trí
tuệ và bản lĩnh của tầng lớp trí thức. Để hướng tới một nền kinh tế phát triển, một
xã hội dân chủ, văn minh và tích lũy được những giá trị tốt đẹp cho cuộc sống thì
việc đào tạo, sử dụng nhân tài cho việc chấn hưng đất nước cần được coi là một
trong những nhân tố tích cực nhất.
Nhận thức đuợc vai trò to lớn của tầng lớp trí thức trong lịch sử dân tộc ngay
từ những ngày đầu dựng nước và giữ nước, đặc biệt là trong thời kỳ quốc gia phong
kiến độc lập từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX, em chọn đề tài “Đặc điểm và vai trò của
trí thức Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX” làm đề tài tiểu luận môn học Lịch
sử Việt Nam chuyên đề.

2


CHƯƠNG I: SỰ HÌNH THÀNH, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ
TRÍ THỨC VIỆT NAM TỪ THẾ KÝ X ĐẾN THẾ KỶ XIX
1. Sự hình thành và phát triển của đội ngũ trí thức trong thời kỳ quốc gia
phong kiến độc lập (thế kỷ X-thế kỷ XIX)
Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đã chấm dứt ách thống trị kéo dài hơn 1000
năm của phong kiến phương Bắc, các triều đại phong kiến Đại Việt hết sức quan
tâm đến việc xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức của dân tộc.
1.1. Thời Đinh, Lý, Trần (thế kỷ thứ X-thế kỷ XV)
 Thời nhà Đinh (968 – 980)
Sau khi dành được độc lập, triều Đinh chăm lo củng cố chính quyền và đào
tạo nhân tài cho đất nước. Thời kỳ này xuất hiện một số trí thức: Thiền sư Đỗ Pháp
Thuận; Ngô Chân Lưu( đứng đầu Phật giáo); Đặng Huyền Quang…
 Thời Lý (1009 - 1225)
Những người trí thức đầu tiên của nước ta phần nhiều là nhà sư. Họ không
dừng lại ở cương vị một người tu hành mà tham gia vào những hoạt động nội trị
trong đó có hoạt động giáo dục chủ yếu là giáo dục Phật Học bằng chữ Phạm và

chữ Hán. Giáo dục nho học chỉ mới bắt đầu. Năm 1070 Nhà Lý cho xây dựng Văn
Miếu tới năm 1075 mở khoa thi đầu tiên để chọn nhân tài cho đất nước, các kỳ thi
nho học xen lẫn với các kỳ thi tam giáo (nho giáo, đạo giáo và đạo phật). Tầng lớp
trí thức xuất hiện đảm nhận các chức vụ của bộ máy chính quyền. Điển hình là sư
Vạn Hạnh; Lý Đạo Hành; Tô Hiến Thành.
 Thời Trần (1226 – 1400)
Giáo dục nho học tiếp tục phát triển ngày một quy củ hơn. Các vua Trần đều
quan tâm đến việc mở trường lớp, tổ chức các kỳ thi để tuyển chọn người hiền tài.
Năm 1247, nhà Trần mở khoa thi Tiến Sỹ và đạt danh hiệu Tam Khôi dành cho 3
người đỗ đầu trong kỳ thi Đinh là Trang Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa. Ngoài
3


Quốc Tử Giám, năm 1253 nhà Trần còn lập thêm Quốc Học Viện ở kinh đô Thăng
Long.
Năm 1281 lập nhà học ở Phủ Thiên Trường (Nam Định ngày nay). Trong
thời gian này xuất hiện nhiều nhà khoa bảng tiêu biểu cho đỉnh cao trí tuệ của dân
tộc là 9 Trạng Nguyên:
- Nguyễn Quan Quang. Quê xã Tam Sơn, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Đỗ
Trạng nguyên năm 1246 thời Vua Trần Thái Tông.
- Nguyễn Hiền. Quê xã Nam Thắng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Đỗ
Trạng nguyên năm 1247 đời Vua Trần Thái Tông. Lúc đó ông mới 13 tuổi.
- Trần Quốc Lặc. Quê xã Minh Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Đỗ
trạng nguyên năm 1256 đời Vua Trần Thái Tông.
- Trương Xán. Quê xã Hoàng Bồ, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Đỗ
trạng nguyên năm 1256 đời Vua Trần Thái Tông.
- Trần Cố. Quê xã Ngô Quyền, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Đỗ
trạng nguyên năm 1266 đời Vua Trần Thái Tông.
- Bạch Liêu. Quê làng Yên Xá, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Đỗ trạng
nguyên năm 1266 đời Vua Trần Thái Tông.
- Đào Tiêu. Quê xã Phủ Lý, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Đỗ trạng
nguyên năm 1275 đời Vua Trần Thánh Tông.
- Mạc Đĩnh Chi. Quê làng Lũng Đống, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Đỗ
trạng nguyên năm 1304 đời vua Trần Anh Tông.
- Đào Sư Tích. Quê Thị trấn Cổ Lễ, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Đỗ
trạng nguyên Năm 1374 đời vua Trần Duệ Tông.
Ngoài ra cũng cần phải kể đến một số trí thức nổi tiếng như: Trần Hưng Đạo;
Trần Thánh Tông; Lê Văn Hưu; Trương Hán Siêu; Chu Văn An; Nguyễn Trãi (Đỗ
Thái Học Sinh thời nhà Trần); Lê Văn Thịnh (quê Bắc Ninh). Nguyễn Trung Ngạn,

4


Phạm Sư Mạnh, Lê Quát, Nguyễn Thuyên, Nguyễn Phi Khanh, Hồ Quý Ly, Hồ
Nguyên Trừng.
1.2. Từ thời Lê đến thời Nguyễn(thế kỷ XV – thế kỷ XIX)
 Thời Lê Sơ (1427 – 1526)
Sau hơn 20 năm bị gián đoạn do chiến tranh xâm lược của nhà Minh, sau khi
giành được độc lập, dưới triều các vua Lê, một thời kỳ mới của lịch sử dân tộc đã
được mở ra, thời kỳ nước Đại Việt phát triển hưng thịnh vào bậc nhất trong lịch sử.
Nền văn hóa dân tộc phát triển nhanh chóng và đạt được những thành tựu rực rỡ,
giáo dục Nho học phát triển mạnh, việc thi cử đi vào nền nếp. Nhà Lê đã liên tục tổ
chức nhiều kỳ thi nhằm tuyển chọn đội ngũ quan lại đảm nhận các chức vụ các cấp.
Nhà Vua cho mở rộng Quốc Tử Giám, lập thêm nhiều phòng học, láy thêm học trò
định lại cách thi cử, ban hành luật lệ thi hương. Nhà Lê đặt lễ xướng danh, lễ vinh
quy, khắc tên những người đỗ đạt vào bia đá. Tính riêng 38 năm dưới triều Vua Lê
Thánh Tông, nhà nước đã mở 12 khoa thi Hội, lấy 501 tiến sỹ trong đó có 20 trạng
nguyên. Đây là giai đoạn cực thịnh của giá dục, thi cử thời phong kiến.
- Nguyễn Trực. Quê xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Nội. Đỗ trạng
nguyên năm 1442 đời Vua Lê Thái Tông.
- Nguyên Nghiêu Tư. Quê xã Phù Lương, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Đỗ
trạng nguyên năm 1448 đời Vua Lê Nhân Tông.
- Lương Thế Vinh. Quê xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Đỗ
trạng nguyên năm 1463, đời Vua Lê Thánh Tông. Tác giả Bộ Đại hành toán pháp
(2 quyển).
- Vũ Kiệt. Quê xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. Đỗ trạng
nguyên năm 1472 đời vua Lê Thánh Tông.
- Vũ Tuấn Chiêu. Quê xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Đỗ trạng
nguyên năm 1475 đời Vua Lê Thánh Tông, lúc đó ông 50 tuổi.

5


- Phạm Đôn Lễ. Quê xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Đỗ trạng
nguyên năm 1481 đời Vua Lê Thánh Tông.
- Nguyễn Quang Bật. Quê huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Đỗ trạng nguyên
năm 1484 đời Vua Lê Thánh Tông.
- Trần Sùng Dĩnh. Quê xã An Lân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Đỗ
trạng nguyên năm 1487 đời Vua Lê Thánh Tông. Lúc đó ông 23 tuổi.
- Vũ Duệ. Quê xã Trình Xá, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Đỗ trạng
nguyên năm 1490 đời Vua Lê Thánh Tông.
- Vũ Dương. Quê xã An Châu, huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương. Đỗ trạng
nguyên năm 1493 đời Vua Lê Thánh Tông. Lúc đó ông 22 tuổi.
- Nghiêm Viên. Quê xã Bồng Chi, Quế Võ, Bắc Ninh. Đỗ trạng nguyên năm
1496 đời Vua Lê Thánh Tông.
- Đỗ Lý Khiêm, xã Song Lãng, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Đỗ trạng
nguyên năm 1499 đời Vua Lê Hiền Tông.
- Lê Ích Mộc. Quê xã Quảng Thanh, Thủy Nguyên, Hải Phòng. Đỗ trạng
nguyên năm 1502 đời Vua Lê Hiền Tông.
- Lê Nại. Quê xã Mộ Trạch, Cẩm Bình, Hải Dương. Đỗ trạng nguyên năm
1505 đời Vua Lê Uy Mục.
- Nguyễn Giản Thanh. Quê xã Hương Mặc, Từ Sơn, Bắc Ninh. Đỗ trạng
nguyên năm 1508 đời Vua Lê Uy Mục.
- Hoàng Nghĩa Phú. Quê xã Đa Sĩ, huyện Thanh Oai, Hà Nội. Đỗ trạng
nguyên năm 1511 đời Vua Lê Tương Dực.
- Nguyễn Đức Lương. Quê xã Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, Hà Nội. Đỗ
trạng nguyên năm 1514 đời Vua Lê Tương Dực.
- Ngô Miễn Thiệu. Quê xã Tam Sơn, Từ Sơn, Bắc Ninh. Đỗ trạng nguyên
năm 1518 đời Vua Lê Chiêu Tông. Lúc đó ông 20 tuổi.

6


- Hoàng Văn Tán. Quê xã Đài Xuân, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Đỗ
trạng nguyên năm 1523 đời Vua Lê Cung Đế.
- Trần Tất Văn. Quê xã Thái Sơn, huyện An Lão, Hải Phòng. Đỗ trạng
nguyên năm 1526 đời vua Lê Cung Hoàng.
Ngoài ra còn có một số trí thức: Nguyễn Trãi, Phan Phù Tiên, Nguyễn Trực
(đỗ trạng nguyên), Ngỗ Sĩ Liên (người Hà Đông), Lê Thánh Tông, Vũ Hữu (đỗ
Hoàng Giáp), Nguyễn Như Đỗ (đỗ Bảng Nhãn), Lương Như Hộc (đỗ Thám Hoa).
Trần Ích Phát (Quê Chính Linh- Hải Dương) ông là thầy giáo có ba học trò đỗ
trạng nguyên.
 Dưới Triều Mạc (1527 – 1592)
Nền giáo dục Nho học vẫn tiếp tục phát triển. Tính từ khóa Ký Sửu năm thứ
3 Minh Đức (năm 1529) đến khoa Nhâm Thìn năm thứ XV Hồng Ninh (năm 1592),
triều Mạc đã tổ chức được 21 khoa thi lấy đỗ 484 tiến sĩ trong đó có 11 trạng
nguyên. Nhiều người đã trở thành danh nhân đóng góp xây dựng nền văn hóa dân
tộc như các trạng nguyên:
- Đỗ Tông. Quê xã Long Hưng, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Đỗ trạng
nguyên năm 1529 đời Vua Mạc Thái Tổ. Lúc đó ông 26 tuổi.
- Nguyễn Thiến, quê xã Dân Hòa, huyện Thanh Oai, Hà Nội, đỗ trạng
nguyên năm 1532 đời Vua Mạc Đăng Doanh.
- Nguyễn Bỉnh Khiêm, quê xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ
trạng nguyên năm 1535 đời Vua Mạc Đăn Doanh.
- Giáp Hải, quê xã Dĩnh Trị, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Đỗ trạng
nguyên năm 1538 đời Vua Mạc Thái Tông.
- Nguyễn Kỳ, quê làng Bình Dân, huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên. Đỗ
trạng nguyên năm 1541 đời Vua Mạc Phúc Hải.
- Dương Phúc Tư, quê xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Đỗ
trạng nguyên năm 1547 đời vua Mạc Phúc Nguyên.
7


- Trần Văn Bảo, quê xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, trinh Nam Định. Đỗ
trạng nguyên năm 1550 đời Vua Mạc Thúc Nguyên. Lúc đó ông 27 tuổi.
- Nguyễn Lương Thái, quê xã Bình Ngô, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Đỗ trạng nguyên năm 1553 đời Vua Mạc Tuyên Tông.
- Phạm Trấn, quê xã Phạm Tuấn, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Đỗ trạng
nguyên năm 1556 đời Vua Mạc Thúc Nguyên.
- Phạm Duy Quyết, quê xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Đỗ
trạng nguyên năm 1562 đời Vua Mạc Mẫu Hợp.
- Vũ Giới, quê xã Phú Lương, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Đỗ trạng
nguyên năm 1577 đời Vua Mạc Mẫu Hợp.
Thời nhà Mạc còn có một số trí thức nổi tiến như: Lại Mẫn, Đặng Vô Canh,
Mạc Đôn Nhượng, Mạc Ngọc Liễn…
 Thời Lê Trung Hưng (1595 – 1789)
Từ giữa thế kỷ XVI xã hội Việt Nam diễn ra những cuộc chiến tranh dành
quyền lực kéo dài giữa các triều đại Lê và Mạc, Trình và Nguyễn đã ảnh hưởng rất
lớn đến sự phát triển của đội ngũ trí thức Nho học. Ở Đàng trong, các chúa Nguyễn
lo mở mang bờ cõi, tổ chức khai hoang. Vì vậy việc giáo dục thi cử ở Đàng trong
hầu như không được chú ý. Mãi đến những năm 1674, 1695 mới mở một vài khoa
thi chủ yếu tuyển chọn những quan lại làm việc hành chính số người đi học và đi
thi rất ít. Tuy nhiên cũng có nhiều trí thức điển hình như : các trạng nguyên:
Đinh Phùng, Nguyễn Trường Tộ; Thù Khoa Huân; Nguyễn Thông; Tống
Duy Tân. Lê Quý Đôn, Ngô Thi Sĩ, Bùi Hữu Ích, Hồ Sỹ Đống, Ngô Thì Nhậm…
2. Đặc điểm, vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX
Trí thức Việt Nam luôn có tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc sâu đậm, có
vai trò quan trọng từ những ngày đầu dựng nước và giữ nước. Vai trò của đội ngũ
tri thức được thể hiện trong từng đặc điểm của đội ngũ ấy. Xem xét quá trình hình

8


thành đội ngũ tri thức Việt Nam trong thời kỳ quốc gia phong kiến độc lập (từ thế
kỷ X đến thế kỷ XIX) có thể thấy được những đặc điểm sau:
2.1. Nguồn gốc xuất thân của trí thức Việt Nam thời phong kiến rất đa dạng
Nguồn gốc xuất thân của trí thức Việt Nam thời phong kiến rất đa dạng gồm
tăng lữ, quan lại và tầng lớp bình dân.
Ở Việt Nam trong suốt 10 thế kỷ (1075-1919) trong số hàng vạn tú tài, cử
nhân và gần 3000 nhà khoa bảng có nhiều người xuất thân từ tầng lớp bình dân mà
vươn lên thành những sĩ phu đại diện cho trí tuệ của dân tộc có nhiều cống hiến cho
sự phát triển của đất nước.
2.2. Trí thức Việt Nam có tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc rất sâu đậm
Trí thức Việt Nam luôn luôn gắn bó với sự nghiệp giữ gìn nền độc lập của
quốc gia, sự thống nhất đất nước. Tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc của trí thức
được thể hiện:
- Họ luôn gắn bó với nhân dân, có mặt cùng với dân tộc, cùng với nhân dân
ngay từ những ngày đầu dựng nước và giữ nước. Bằng tri thức của mình, nhiều trí
thức đã góp phần xây dựng nền văn hóa của dân tộc, phòng chống thiên tai, phát
triển sản xuất phục vụ đời sống nhân dân.
- Họ giữ vai trò quan trọng trong cuộc chiến đấu vì sự nghiệp bảo vệ đất
nước, chống kẻ thù xâm lược, tham gia một cách tích cực vào các cuộc khởi nghĩa
của quần chúng nhân dân.
- Tinh thần dân tộc của trí thức nho học Việt Nam còn được thể hiện: tuy tiếp
thu văn hóa Hán, tiếp thu nho giáo, nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa của dân
tộc mình. Toàn bộ các tác phẩm văn học chữ Hán của trí thức thời phong kiến đã
khẳng định nền độc lập dân tộc, động viên khích lệ lòng yêu nước và ý trí chống
xâm lược và xây dựng lòng tự tôn dân tộc.
2.3. Trí thức Việt Nam đóng vai trò to lớn đối với sự hưng thịnh hay suy vong
của đất nước.
9


Sự hưng thịnh của mỗi quốc gia phụ thuộc rất lớn vào vai trò và thái độ của
giới trí thức đối với XH. Trong nội dung bài ký đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất
năm 1442, Thân Nhân Trung đã viết: "Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí
thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao. Nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống
thấp".
Từ chỗ nhận thức như vậy, các nhà nước phong kiến đã thi hành nhiều chính
sách đào tạo sử dụng trí thức vào quản lý XH, xây dựng đất nước, phát triển văn
hóa. Cụ thể là, mở nhiều trường lớp khuyến khích học tập coi trọng tuyển chọn
hiền tài thông qua thi cử. Có chính sách trọng thưởng, đãi ngộ sử dụng đối với
những người đỗ đạt có nhiều cống hiến cho đất nước. Trí thức có mặt trên tất cả
lĩnh vực của đời sống XH như chính trị, kinh tế, văn hóa hay nghệ thuật. Họ thực
sự là lực lượng đóng góp xây dựng nền văn hiến vẻ vang lâu đời của dân tộc ta.
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã ghi nhận tên tuổi
của nhiều nhà trí thức có những đóng góp to lớn gắn liền với chặng đuờng phát
triển của dân tộc. Tiêu biểu:
- Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, nhà quân sự và chính trị thiên tài của
dân tộc ta, đồng thời là một trí thức có học thức uyên thâm thông suốt cổ kim, ông
đã tổng kết những cuộc chiến tranh giữ nước của dân tộc ta trong suốt nhiều thế kỷ
trở về trước, từ đó rút ra những quy luật của những cuộc chiến tranh giữ nước.
- Nguyễn Trãi, Nhà trí thức kiệt xuất của nước Đại Việt nửa đầu thế kỷ thứ
XV, ông không những tinh thông toàn bộ kiến thức đương thời mà còn hiểu biết
sâu rộng về đời sống xã hội trong nước, ngoài nước, thấu suốt những đau khổ và
nguyện vọng của nhân dân; nắm được chỗ mạnh chỗ yếu của kẻ địch. Từ đó, ông
đã có những cống hiến quan trọng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc xây dựng đất
nước.
- Lê Quý Đôn: là nhà bác học lớn, đã sáng tác và để lại cho đời sau 40 tác
phẩm đồ sộ gồm hàng trăm quyển sách về triết học, sử học, dân tộc học, địa lý,
10


kinh tế, pháp luật, tôn giáo, giáo dục, văn học nghệ thuật. Gần 200 loại lúa mà ông
miêu tả tỉ mỉ trong Vân Đại Loại Ngữ và Phủ Biên. Tạp Lục, với những lời khuyên
đối với nhà nông, thể hiện nhiệt tình, sự thông cảm sâu sắc đối với nhân dân với
nguyện vọng góp công sức của mình vào sự phát triển nông nghiệp của đất nước.
Vài trò của trí thức thời phong kiến còn thể hiện ở phẩm chất đạo đức, tinh
thần trách nhiệm đối với công việc, sẵn sàng vì nghĩa lớn mà không sợ nguy hiểm
liên lụy đến bản thân đó là trường hợp của Chu Văn An thời nhà Trần, của Nguyễn
Bỉnh Khiêm thời Mạc đề dâng sớ chém bọn gian thần, khi không được chấp nhận
đã kiên quyết cáo quan biểu thị sự phản đối đối với triều đình. Trường hợp Nguyễn
Trường Tộ đề xuất một số cải cách để đổi mới XH Việt Nam vào giữa thế kỷ XIX.
2.4. Cơ cấu đội ngũ trí thức có sự phân hóa
Về cơ cấu đội ngũ trí thức: Do sự phân công lao động của xã hội, người trí
thức Việt Nam đứng ở vị trí hàng đầu trong sinh hoạt tinh thần, trong đời sống văn
hóa và tư tưởng của nhân dân. Vì vậy, giới trí thức cũng sớm có sự phân hóa thành
hai loại: trí thức nắm quyền và trí thức không nắm quyền.
Loại 1: Là trí thức nắm quyền: Đó là những ông quan học hành đỗ đạt, có
chức, có quyền, có bổng lộc, có nhiệm vụ trị dân, là chỗ dựa của nhà nước phong
kiến, có uy tín lớn trong xã hội và có nhiều quyền lợi về mặt chiếm dụng ruộng đất
cũng như về mặt bổng lộc, họ xa cách đối với đời sống nhân dân. Khi giai cấp
phong kiến đã trở thành phản động thì tần lớp trí thức này thỏa hiệp với bọn xâm
lược, phản bội Tổ quốc như trường hợp Trần Ích Tắc, Hoàng Cao Khải, Tôn Thọ
Tường…
Loại 2: Là những nhà nho sống trong làng, trong xã cùng bà con, họ hàng
được trọng đại vì "biết chữ" nhưng không có quyền hành và đời sống thường cũng
kham khổ, loại trí thức này được gọi là trí thức gắn bó với nhân dân, họ được đào
tạo dưới mái trường nho học và cũng đã từng tiến thân bằng con đường khoa cử.
Họ đem trí tuệ và năng lực phục vụ nhân dân và tiếp thu được từ phí nhân dân
11


những tình cảm trong sáng và phẩm chất cao đẹp. Đức tính của họ là thanh liêm,
hết sức làm việc cho dân. Khi sống với dân thì họ dạy học, làm thuốc. Khi đất nước
bị xâm lược thì họ cùng với nhân dân chiến đấu. Họ cũng là lực lượng giữ gìn phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc.
2.5. Những hạn chế của đội ngũ trí thức
Về mặt đào tạo và thi cử: Nội dung đào tạo thiên về khoa học ứng dụng. Luật
lệ thi cử thì khắt khe, khiến nhiều người có tài năng thực sự bị phạm trường quy,
không đỗ đạt được, lại có quy định con nhà ca hát, gia đình có tang không được đi
thi.
3. Nhận xét
Dân tộc Việt Nam trải qua biết bao cuộc chiến tranh ngoại xâm, nhiều người
đã phải hi sinh và ngã xuống. Để có được một đất nước hòa bình và phát triển như
ngày hôm nay, không chỉ nhờ sức mạnh đoàn kết, ý chí kiên cường của người dân
Việt Nam, mà trong đó còn có sự đóng góp không nhỏ của những con người tài
giỏi, hết lòng vì dân, vì nước. Chuyển động của mỗi đất nước phụ thuộc lớn vào trí
tuệ và bản lĩnh của tầng lớp trí thức. Để hướng tới một nền kinh tế phát triển, một
xã hội dân chủ, văn minh và tích lũy được những giá trị tốt đẹp cho cuộc sống thì
việc đào tạo, sử dụng nhân tài cho việc chấn hưng đất nước cần được coi là một
trong những nhân tố tích cực nhất.
Tầng lớp trí thức Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX luôn có tinh thần yêu
nước, tinh thần dân tộc sâu đậm, luôn luôn gắn bó với sự nghiệp giữ gìn nền độc
lập của quốc gia, sự thống nhất đất nước. Bằng tri thức của mình, nhiều trí thức đã
góp phần xây dựng nền văn hóa của dân tộc, phòng chống thiên tai, phát triển sản
xuất phục vụ đời sống nhân dân. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt
Nam đã ghi nhận tên tuổi của nhiều nhà trí thức có những đóng góp to lớn gắn liền
với chặng đuờng phát triển của dân tộc.

12


CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRI THỨC THỜI KỲ ĐỔI MỚI
1. Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã nhận thức rõ và đánh giá cao vai trò, vị trí
của đội ngũ trí thức trong cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc
xây dựng đất nước. Ngay từ những ngày đầu của chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, Người đã từng nói: "Những người trí thức tham gia cách mạng, tham gia
kháng chiến rất quý báu cho Đảng. Không có những người đó thì công việc cách
mạng khó khăn thêm nhiều”. Đảng Cộng sản Việt Nam từ trước đến nay đều luôn
nhấn mạnh quan điểm nhất quán là lấy "liên minh giai cấp công nhân với giai cấp
nông dân và tầng lớp trí thức làm nòng cốt" của cách mạng. Điều này được thể hiện
trong Chính cương, Điều lệ Đảng, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và nhiều văn kiện khác”.
Cả trước và sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Đảng, Bác Hồ đã có
chủ trương tập hợp và xây dựng đội ngũ trí thức để phục vụ kháng chiến và kiến
thiết đất nước. Nhiều trí thức Việt Nam được đào tạo ở nước ngoài, nghe theo tiếng
gọi của Đảng đã trở về nước tham gia kháng chiến, phụng sự Tổ quốc. Để có một
lực lượng trí thức đông đảo, phục vụ công cuộc kiến thiết, xây dựng đất nước sau
khi nước nhà giành được độc lập, từ những năm 50 của thế kỷ XX, hàng nghìn
thanh niên Việt Nam được Đảng ta chọn lọc đưa sang Trung Quốc, Liên Xô và các
nước xã hội chủ nghĩa đào tạo về khoa học kỹ thuật. Đảng và Bác Hồ đã sử dụng
nhiều trí thức trong bộ máy nhà nước, trên tất cả các lĩnh vực như tổ chức chính
phủ, công nghiệp, nông nghiệp, văn hoá, giáo dục... Bác Hồ quan niệm rằng, cách
tốt nhất để phục vụ lợi ích của công nông là phải đưa những người có đủ tài, đủ đức
vào bộ máy nhà nước để phụng sự lợi ích của người lao động.

13


Công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ra trước mắt chúng ta nhiều yêu
cầu, đòi hỏi, điều kiện, trong đó có yêu cầu đặc biệt quan trọng là phát triển nguồn
lực con người - yếu tố vừa giữ vai trò như động lực, phương tiện để đạt được mục
đích, vừa đồng thời là mục đích hướng tới của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức là một phần quan trọng, không thể thiếu của
yếu tố nguồn lực con người. Yêu cầu đặt ra là phải có chiến lược, quy hoạch, giải
pháp thích hợp và tập trung đủ các nguồn lực cần thiết để xây dựng đội ngũ trí thức
mạnh cả về số lượng và chất lượng; phải phát huy được những tiềm lực là tinh hoa
của đội ngũ đó; phải thông qua đội ngũ trí thức để tiếp cận nhanh chóng với tri thức
và công nghệ mới nhất của thời đại để hiện đại hóa nền kinh tế, tạo ra sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng từng bước hình thành và phát triển nền kinh tế tri
thức; phải giáo dục, rèn luyện để đội ngũ tri thức thực sự yêu nước, yêu chế độ,
nhận thức được đầy đủ trách nhiệm của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc. Đảng và Nhà nước luôn khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của đội ngũ
trí thức trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, khẳng định ý nghĩa chiến
lược của khối liên minh công nhân, nông dân và trí thức, coi đây là nền tảng của
cách mạng Việt Nam. Đảng ta luôn nhất quán trong đường lối, chính sách đối với
trí thức..
Trong thời kỳ mới, để đào tạo một lực lượng trí thức phù hợp, chúng ta cần
có định hướng phát triển cụ thể, yêu cầu mỗi một trí thức phải có khả năng thực tế;
đội ngũ trí thức cần được giao nhiệm vụ để tự trải nghiệm, khẳng định mình, thể
hiện đầy đủ trách nhiệm công dân với Tổ quốc. Ngược lại, đội ngũ trí thức phải có
nghĩa vụ hoàn thành nhiệm vụ được giao. Trong giai đoạn phát triển mới đòi hỏi
thời gian đào tạo phải được rút ngắn đồng thời phát huy khả năng tự học và tự
nghiên cứu để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn và đặt sáng tạo trong công việc
lên hàng đầu. Bên cạnh đó, đòi hỏi có những điều kiện để một nhà trí thức hiện đại
được tiếp cận với những thông tin mới, có điều kiện nhất định để phục vụ nghiên
14


cứu phù hợp, có điều kiện tranh luận những thông tin trong giới của mình và có
điều kiện trực tiếp tham gia vào các công việc trong xã hội mà khả năng của mình
có...
2. Một số giải pháp
Trong điều kiện đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với
phát triển kinh tế tri thức, hội nhập sâu vào nền kinh tế quốc tế, đội ngũ trí thức,
nhất là trí thức trẻ đang đứng trước cả thời cơ, vận hội mới, lẫn những thách thức
gay gắt. Sự đa dạng về nguồn đào tạo, nơi công tác của trí thức (ở nước ngoài,
trong nước; thuộc doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài…), là những yếu tố không chỉ tác động đến công tác đào
tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ trí thức, mà còn tác động đến xây dựng khối liên
minh công - nông - trí, v.v. Khi trí thức học tập, công tác ở nước ngoài, nhất là ở
các nước tư bản, nếu không thường xuyên tu dưỡng lập trường, tư tưởng thì khó
tránh khỏi những ảnh hưởng của hệ tư tưởng tư sản, của lối sống phương Tây. Vì
vậy, làm thế nào để đội ngũ trí thức vừa được học tập, trang bị những kiến thức
khoa học hiện đại ở nước ngoài, vừa gắn bó với dân tộc, với CNXH là vấn đề cần
tính đến.
Tình hình trên đòi hỏi chúng ta phải thực hiện đồng bộ nhiều nội dung, giải
pháp, nhằm xây dựng đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Việt Nam XHCN. Trong đó, cần tập trung giải quyết một số vấn đề cơ bản sau:
2.1. Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước đối với trí thức
trong thời kỳ mới
Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyết định đối với việc xây
dựng và phát triển đội ngũ trí thức nước ta. Hiện nay, chúng ta đang phấn đấu để
đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Vì
vậy, Đảng, Nhà nước cần có chủ trương, chính sách phù hợp với sự vận động của
thực tiễn, phù hợp với vị trí, vai trò, trách nhiệm và khả năng đóng góp của đội ngũ
15


trí thức. Nghị quyết về: "Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước" của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ bảy (khoá
X) là cơ sở để tạo ra sự thống nhất về nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các
ngành về xây dựng đội ngũ trí thức. Đồng thời, cũng là cơ sở để ban hành và tổ
chức thực hiện nghiêm túc, đồng bộ hệ thống cơ chế, chính sách đối với trí thức,
như: chính sách trọng dụng nhân tài; chính sách tạo điều kiện và giao việc làm cho
trí thức; cơ chế bảo đảm dân chủ, tự do tư tưởng, phát huy sáng tạo của trí thức;
chính sách cải thiện đời sống vật chất, tinh thần, tạo môi trường và phương tiện làm
việc cho trí thức; chính sách sử dụng trí thức đã nghỉ hưu nhưng còn sức khoẻ, còn
khả năng cống hiến; chính sách sử dụng trí thức là người Việt Nam ở nước ngoài
và trí thức là người nước ngoài đang làm việc ở Việt Nam... sao cho phù hợp với
đặc điểm, yêu cầu của từng cơ quan, tổ chức, từng lĩnh vực, ngành nghề. Trong
quân đội cũng cần có chính sách “hấp dẫn” để thu hút được nhiều thanh niên giỏi
vào phục vụ lâu dài. Trong nền kinh tế thị trường, nếu không có các chính sách phù
hợp để thu hút trí thức làm việc trong các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, thì tất yếu dẫn đến nạn “chảy máu chất xám”, thiếu nguồn nhân lực chất
lượng cao theo yêu cầu của đất nước.
Những chủ trương, chính sách trên phải thể hiện rõ tính chiến lược và lòng
tin của Đảng, Nhà nước, nhân dân đối với đội ngũ trí thức, tạo động lực cho trí thức
phát triển. Ngược lại, qua đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước và hiệu
quả thực tế của việc thực hiện các đường lối, chính sách đó cùng quá trình công tác
sẽ tạo lòng tin của trí thức đối với sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của Nhà nước,
làm cho họ phấn khởi, đóng góp được nhiều công sức, trí tuệ cho sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ tổ quốc.
2.2. Đẩy mạnh đào tạo và sử dụng hợp lý, có hiệu quả đội ngũ trí thức đáp ứng
yêu cầu của đất nước trong thời kỳ mới

16


Đào tạo, bồi dưỡng, phân bố và sử dụng đội ngũ trí thức cả về số lượng, chất
lượng và cơ cấu,… đang là vấn đề bức xúc liên quan đến nhiều lĩnh vực. Trong quá
trình đào tạo phải tạo ra được nguồn nhân lực chất lượng cao - nguồn vốn quan
trọng bậc nhất để kiến thiết đất nước và chấn hưng dân tộc. Lực lượng nòng cốt
trong đội ngũ trí thức là các nhà khoa học, nhà giáo, các văn nghệ sĩ, kỹ sư có trình
độ cao, chuyên môn sâu, tay nghề chắc ở các viện nghiên cứu, các trường đại học,
các trung tâm văn hoá, văn học, nghệ thuật, v.v. Vì vậy, khi bàn đến nâng cao chất
lượng, số lượng đội ngũ trí thức phải bắt đầu từ lĩnh vực giáo dục - đào tạo, lĩnh
vực nghiên cứu khoa học và một số lĩnh vực khác. Do đó, cần quy hoạch tổng thể
hệ thống trường đại học, cao đẳng, đào tạo nghề; quy hoạch đội ngũ trí thức trong
tổng nguồn nhân lực hiện nay phù hợp yêu cầu đẩy mạnh CNH,HĐH gắn với phát
triển kinh tế tri thức. Đồng thời, phải đổi mới toàn diện giáo dục - đào tạo cả về
chương trình, nội dung, phương thức quản lý, đánh giá chất lượng người học… bảo
đảm vừa thực hiện chủ trương đẩy mạnh “xã hội học tập”, vừa đầu tư có trọng tâm,
trọng điểm cho đào tạo nhân tài. Trong khi đất nước còn nhiều khó khăn, nên chọn
một số trường lớn để đầu tư, tránh đầu tư dàn trải. Tiếp tục chọn những học sinh
giỏi gửi đi đào tạo ở nước ngoài; đẩy mạnh thuê thầy giỏi, chuyên gia giỏi về giảng
dạy, tư vấn giáo dục - đào tạo, bồi dưỡng nhân lực bậc cao.
Cùng với đó, cần nâng cao chất lượng đội ngũ các nhà khoa học trong các
viện nghiên cứu, các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, ứng dụng, chuyển giao
công nghệ, bảo đảm có một lực lượng trí thức đủ trình độ để giải quyết các vấn đề
thực tiễn xây dựng và bảo vệ tổ quốc đặt ra, thông qua mở rộng giao lưu, hợp tác
nghiên cứu khoa học với các tổ chức, các nhà khoa học trên thế giới. Tập trung
nguồn lực xây dựng và phát triển các lĩnh vực trọng điểm, các ngành khoa học mũi
nhọn, công nghệ cao, đào tạo tài năng trẻ. Đổi mới phương thức quản lý, nội dung
nghiên cứu khoa học theo hướng thiết thực, hiệu quả, cân đối các lĩnh vực nghiên
cứu, gắn nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu dự báo. Bảo
17


đảm quyền sở hữu trí tuệ, thực hiện thị trường hoá các phát minh, sáng chế, các
công trình nghiên cứu khoa học cả trong và ngoài nước.
2.3. Đội ngũ trí thức phải chủ động, tự giác rèn luyện, phấn đấu
Đặc trưng của trí thức là lao động sáng tạo, có chuyên môn sâu, học vấn cao,
đóng góp nhiều cho xã hội. Điều đó đòi hỏi mỗi trí thức phải không ngừng học tập,
nghiên cứu và phấn đấu không mệt mỏi. Để trở thành cán bộ đầu ngành, chuyên gia
giỏi trong nước và tầm cỡ quốc tế thì yêu cầu tự học tập, tự rèn luyện phải cao hơn,
phải “học suốt đời” bằng nhiều phương thức, học “ở mọi lúc, mọi nơi”. Nội dung
học phải toàn diện, nhưng chú trọng chuyên sâu. Trong điều kiện hội nhập quốc tế
ngày càng sâu rộng và khoa học, công nghệ phát triển mạnh mẽ, đội ngũ trí thức
phải có trình độ ngoại ngữ và tin học đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Do đó, dù làm
việc ở lĩnh vực, ngành nghề nào thì trình độ ngoại ngữ, tin học không được xem
nhẹ trong quá trình đào tạo và tự học tập của đội ngũ trí thức ngày nay.
Cùng với nâng cao trình độ, năng lực, đội ngũ trí thức phải thường xuyên rèn
luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, đạo đức nghề nghiệp, rèn luyện bản lĩnh
chính trị, bản lĩnh khoa học. Theo đó, người trí thức vừa phải tự giác học tập, nâng
cao giác ngộ về mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH của cách mạng; vừa xây dựng
lòng say mê, tâm huyết với nhiệm vụ. Bên cạnh đó, vừa phải đề cao tính khiêm tốn,
cầu thị, tính chuyên nghiệp, trung thực, dám đề xuất những ý tưởng khoa học mới,
nói thẳng, nói thật, bảo vệ chân lý; vừa phải chống tư tưởng chuyên môn đơn
thuần. Đó cũng là những phẩm chất, nhân cách của trí thức Việt Nam hiện nay.

18


KẾT LUẬN
Dân tộc Việt Nam trải qua biết bao cuộc chiến tranh ngoại xâm, nhiều người
đã phải hi sinh và ngã xuống. Để có được một đất nước hòa bình và phát triển như
ngày hôm nay, không chỉ nhờ sức mạnh đoàn kết, ý chí kiên cường của người dân
Việt Nam, mà trong đó còn có sự đóng góp không nhỏ của những con người tài
giỏi, hết lòng vì dân, vì nước.
Tầng lớp trí thức Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX luôn có tinh thần yêu
nước, tinh thần dân tộc sâu đậm, luôn luôn gắn bó với sự nghiệp giữ gìn nền độc
lập của quốc gia, sự thống nhất đất nước. Bằng tri thức của mình, nhiều trí thức đã
góp phần xây dựng nền văn hóa của dân tộc, phòng chống thiên tai, phát triển sản
xuất phục vụ đời sống nhân dân. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt
Nam đã ghi nhận tên tuổi của nhiều nhà trí thức có những đóng góp to lớn gắn liền
với chặng đuờng phát triển của dân tộc.
Trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, đội ngũ trí thức nước ta đã cùng
nhân dân chịu đựng khó khăn, gian khổ, hy sinh, có những đóng góp xứng đáng và
khẳng định vị trí của mình trong lịch sử dân tộc. Ngày nay, đội ngũ trí thức ngày
càng được bổ sung đông đảo, phần lớn trưởng thành trong xã hội mới với nhiều thế
hệ nối tiếp nhau. Họ có tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc sâu sắc, luôn
gắn bó với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Trong sự nghiệp đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay, vai trò của
đội ngũ trí thức càng quan trọng hơn bao giờ hết. Vì thế, trong giai đoạn hiện nay,
chúng ta cần quán triệt quan điểm của Đảng về đội ngũ trí thức, phát huy vai trò và
năng lực của đội ngũ này để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo nguồn
lực nội sinh, góp phần vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước và hội nhập quốc tế.

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×