Tải bản đầy đủ

ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ DUY TÔN GIÁO ĐẾN LỐI SỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT NAM, NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRƯỚC YÊU CẦU ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
----------***----------

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2011
MÃ SỐ: B.11 - 01

ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ DUY TÔN GIÁO ĐẾN LỐI SỐNG
CỦA NGƯỜI VIỆT NAM, NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRƯỚC
YÊU CẦU ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ.

Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Phùng Thị An Na
Thư ký đề tài: TS. Đỗ Lan Hiền

9099

HÀ NỘI - 2011



DANH SÁCH CÁC CỘNG TÁC VIÊN
THAM GIA ĐỀ TÀI

1. PGS,TS. Hoàng Minh Đô
2. CN. Phạm Thanh Hằng
3. TS. Đỗ Lan Hiền
4. TS. Hoàng Thị Lan
5. ThS. Phùng Thị An Na
6. PGS,TS. Ngô Hữu Thảo
7. ThS. Phạm Thị Thuận


MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU...………………………………………………………………1
PHẦN NỘI DUNG.……………………………………………………………16
Chương I: Khái niệm tư duy tôn giáo và lối sống
1.1. Khái niệm tư duy, tư duy tôn giáo và lối sống....……………………16
1.2. Mối quan hệ giữa tư duy tôn giáo và lối sống....................................32
Chương II: Ảnh hưởng của tư duy tôn giáo đến lối sống của người Việt
2.1. Ảnh hưởng đến cách ứng xử của con người với giới tự nhiên...........40
2.2. Ảnh hưởng đến cách thức lao động sản xuất, kinh doanh..................52
2.3. Ảnh hưởng đến hoạt động tư tưởng....................................................63
2.4. Ảnh hưởng đến cách ứng xử của con người trong quan hệ
giao tiếp xã hội..................................................................................73
Chương III: Một số vấn đề đặt ra, giải pháp trong việc xây dựng lối sống
mới của người Việt hiện nay đáp ứng yêu cầu đổi mới và
hội nhập quốc tế
3.1. Một số vấn đề đặt ra............................................................................92
3.1.1. Khắc phục những tác động tiêu cực của tư duy tôn giáo đến lối sống
của người Việt.....................................................................................94
3.1.2. Phát huy giá trị tích cực của tư duy tôn giáo trong việc hình thành
lối sống mới của người Việt hiện nay................................................102
3.2. Một số nhóm giải pháp.....................................................................113
3.3. Một số kiến nghị...............................................................................127
PHẦN KẾT LUẬN...........................................................................................141
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................144


PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Xã hội cũng như mỗi con người khi tồn tại (sống) là phải có sự dẫn
dắt của tư duy, kể cả xã hội đó còn nguyên sơ, con người đó là người bình
dân hay nhà triết học. Tư duy có ảnh hưởng, tác động, đồng hành cùng con
người và xã hội trong suốt cuộc đời hay trong suốt quá trình phát triển của
nó. Lúc này, tư duy đóng vai trò như kim chỉ nam dẫn dắt con người sống
đúng như một “con người”, còn xã hội dựa vào đó mà tìm kiếm cách thức
tồn tại và phát triển. Điều đó cũng có nghĩa là, lối sống của con người là sự
“phô diễn” tâm trí, tư duy của họ, hay con người suy nghĩ ra làm sao, tư
duy như thế nào thì họ sẽ hành động thế ấy1. Như vậy, cần phải chú ý đến
nhân tố chủ quan: tâm lý, tinh thần, tư duy của con người trong việc hình
thành nên cách ứng xử của họ trên tất cả mọi hoạt động (hoạt động sản
xuất, kinh doanh, hoạt động tư tưởng, văn hoá, chính trị...), trong đó tôn
giáo cũng là một phạm trù ý thức, tư duy, tinh thần có những ảnh hưởng
không nhỏ đến sự hình thành lối sống của người Việt.
Bắt đầu từ sau Đại hội VI (1986), chúng ta thường nhắc đến cụm từ
“đổi mới tư duy” - xem đó là bước đột phá tạo nên cục diện phát triển mới
cho đất nước, bởi trên cơ sở đổi mới tư duy, chúng ta sẽ tìm thấy những
phương cách hành động mới để phát triển xã hội hơn hẳn về chất so với
trước đây. Trong cuộc “cách mạng” về tư duy đó, chúng ta thường đặc biệt
đề cao sự đổi mới của tư duy kinh tế, tư duy chính trị vì xem đấy là những
nền tảng cơ bản cho sự phát triển của xã hội, không mấy quan tâm đến tư
duy tôn giáo, bởi cho đó là loại tư duy tư biện về tất cả những gì thoát ra
1

Ngoài ra, lối sống của con người còn chịu sự chi phối bởi môi trường tự nhiên,

xã hội, lịch sử, kinh tế, chính trị mà họ sống ở trong đó, tạo nên những đặc thù riêng,
tính cách riêng khiến người Việt Nam ngày xưa khác người Việt Nam hiện nay và khác
với người Nhật, người Pháp, người Mỹ...
1


khỏi khoa học và sự rõ ràng, đó là loại tư duy siêu hình, ảo tưởng và sai
lầm... Song, chính tư duy tôn giáo ấy đã chi phối và ảnh hưởng rất nhiều đến
ứng xử của con người trên mọi mặt của đời sống xã hội mà nếu không quan
tâm nghiên cứu, chúng ta sẽ khó có thể hiểu được vì sao nhiều giải pháp về
kinh tế để nâng cao đời sống vật chất cho đồng bào (đặc biệt là những vùng2
chịu ảnh hưởng nặng nề bởi những tập tục, tín ngưỡng, tôn giáo) lại không
thu được kết quả như mong đợi.
Thêm nữa, dân tộc Việt Nam trong mấy nghìn năm lịch sử luôn bị chi
phối và chịu ảnh hưởng bởi nhiều lý thuyết, tư tưởng, tôn giáo khác nhau.
Tùy từng thời kỳ lịch sử, các lý thuyết, tôn giáo đó “bám” theo nhu cầu của
xã hội và sự lựa chọn có ý thức của giai cấp cầm quyền mà vươn lên vị trí
chủ đạo, song các lý thuyết và các tôn giáo khác vẫn cùng đồng thời tác
động, chi phối đời sống xã hội trên mọi mặt và trong mọi tầng lớp nhân dân.
Tình hình đó đúng với cả thời đại ngày nay, khi chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh đóng vai trò chủ đạo thì các lý thuyết, các tôn giáo khác
vẫn có những tác động nhất định đến đời sống xã hội. Thậm chí, nó còn tác
động ngay cả đối với học thuyết chủ đạo, nó được bảo lưu, “nằm trong ta”
như một phần thân thể không dễ dàng thay đổi được, khiến chúng ta khó
thích nghi với những hoàn cảnh, điều kiện, cơ hội mới; nó trở thành một lực
cản, một sự níu kéo khiến chúng ta thêm khó khăn trên con đường công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
Hơn nữa, những năm gần đây, các đề tài khoa học xã hội và nhân
văn đã đặt ra nhiều hướng nghiên cứu liên quan đến các vấn đề về “Lối
sống" của người Việt Nam hay vấn đề “Tư duy và đổi mới tư duy" - xem đó
như một nội dung cấp bách, một tiền đề, một động lực tinh thần thúc đẩy sự
đổi mới về chất của xã hội. Trong đó, cũng có những hướng nghiên cứu
2

Vùng đồng bào Khmer ở Nam bộ, vùng người Thái ở Tây Bắc nói riêng và các

vùng dân tộc thiểu số khác, v.v…
2


tiếp cận vấn đề: đặc điểm tư duy và lối sống của người Việt, làm cơ sở
khoa học cho việc xây dựng con người Việt Nam hôm nay đáp ứng yêu cầu
của sự nghiệp Đổi mới và Hội nhập quốc tế... Tuy nhiên, các hướng nghiên
cứu nói trên khi tiếp cận vấn đề mối quan hệ giữa tư duy và lối sống của
người Việt, thường ít chú ý đến một mảng vấn đề - Ảnh hưởng của tư duy
tôn giáo đến lối sống của người Việt, vì cho rằng, nói đến phát triển, nói đến
xây dựng con người mới, lối sống mới là nói đến những yếu tố vật chất, kinh
tế, khoa học, kỹ thuật, hiện đại, văn minh... còn tôn giáo bị xem là cái thuộc
phạm trù tinh thần, phi vật chất, không khoa học, lạc hậu, mê tín, hủ bại...
mà quên mất rằng, bản thân tôn giáo cũng là một hình thái đặc thù của ý
thức xã hội, của văn hoá, có thể kìm hãm hay thúc đẩy sự phát triển của kinh
tế và chi phối cuộc sống của con người.
Do vậy, hình thành bức tranh về sự ảnh hưởng của tư duy tôn giáo
đối với lối sống của người Việt, phân tích những kết cấu, tác động của
chúng đối với xã hội hiện nay: cái nào được, cái nào chưa được, yếu tố
nào không còn tương thích, rồi đưa ra những giải pháp và kiến nghị phù
hợp, góp phần thúc đẩy sự nghiệp “Đổi mới và Hội nhập quốc tế” của
Việt Nam đi đến thắng lợi là một việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
cấp bách, đúng như C.Mác đã từng nói: cần phải căng tầm mắt đại bàng
của tư duy để suy xét và hành động một khi tình thế đã thay đổi, bằng
không, tất sẽ trở thành lạc lõng, tụt hậu, thậm chí bị loại trừ.
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Ảnh hưởng của tư
duy tôn giáo đến lối sống của người Việt Nam, những vấn đề đặt ra
trước yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế” làm đề tài nghiên cứu cấp
Bộ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Như chúng tôi đã đề cập, những năm gần đây, các đề tài khoa học xã
hội và nhân văn đã đặt ra nhiều hướng nghiên cứu liên quan đến các vấn đề
3


về “Lối sống", “Tư duy và đổi mới tư duy". Song, các công trình nghiên
cứu nêu trên tiếp cận đề tài về Lối sống và Tư duy một cách riêng rẽ, độc
lập, chưa có đề tài nào đi vào tìm hiểu mối tương tác giữa tư duy và lối
sống của người Việt, đặc biệt là tư duy tôn giáo.
Tuy nhiên, các hướng nghiên cứu đó giúp chúng tôi có nhiều tài liệu
để tham khảo hai mảng vấn đề là Tư duy và Lối sống. Dưới đây chúng tôi
xin tổng thuật những công trình khoa học tiêu biểu liên quan hoặc trực tiếp
bàn về hai vấn đề nêu trên.
Thứ nhất, nhóm đề tài nghiên cứu vấn đề Tư duy:
Một số công trình điển hình của các học giả nước ngoài nghiên
cứu về bản chất và quá trình hình thành của tư duy, cũng như vai trò của
nó đối với hiện thực như: Tư duy là tồn tại: 6 sắc thái tư duy của Edward
de Bono (Malta) do Tuấn Anh dịch; Tư duy tích cực, của Trish
Summerfield, Frederic Labarthe, Anthony Strano (Anh); Làm chủ tư duy
thay đổi vận mệnh: Khơi dậy sức mạnh tiềm tàng trong bạn để hiện thực
hoá mọi ước mơ, của Adam Khoo, Stuart Tan (Singapore), do Trần Đăng
Khoa, Uông Xuân Vy dịch; Sơ đồ tư duy (The mind map book) của Tony
Buzan, Barry Buzan (Anh)...
Trong các công trình nêu trên, các tác giả đã phân tích khái niệm “Tư
duy” với nhiều ý nghĩa khác nhau: Một là, xem tư duy như một hoạt động
tâm lý, trình độ nhận thức của con người thì phân loại thành: tư duy khoa
học, tư duy kinh nghiệm; Hai là, khi nói tư duy như một hoạt động trí óc về
một lĩnh vực cụ thể nào đó thì phân chia thành: tư duy kinh tế, tư duy chính
trị, tư duy nghệ thuật, tư duy tôn giáo... Ba là, khi nói đến tính chất của tư
duy chịu sự ảnh hưởng của điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội thì gọi là tư
duy tiểu nông, tư duy công nghiệp, tư duy tư bản chủ nghĩa, tư duy xã hội
chủ nghĩa v.v...

4


Ngoài ra, các học giả, các nhà khoa học trong nước cũng nghiên cứu
về vấn đề Tư duy với các công trình như: Đổi mới tư duy kinh tế của
Khổng Doãn Hợi, Vũ Hữu Ngoạn, Đào Xuân Sâm; Bàn về đổi mới tư duy,
của Đào Duy Tùng; Đổi mới tư duy lý luận và công tác xây dựng Đảng, của
Hoàng Tùng; Từ tư duy truyền thống đến tư tưởng Hồ Chí Minh, Hoàng
Tùng; Góp phần tìm hiểu đặc sắc tư duy triết học Hồ Chí Minh, của Hồ
Kiếm Việt; Tư duy lý luận và tổng kết thực tiễn, của Hồ Bá Thâm; Tư duy
lý luận với sự nghiệp đổi mới, của Trần Nhâm; Sức mạnh của tư duy: Lôgíc
vận động của khái niệm trong tư duy lý luận, của Nguyễn Thanh Tân; Quá
trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ năm 1986 đến nay, của Tô Huy
Rứa, Hoàng Chí Bảo, Trần Khắc Việt (chủ biên)...
Nhìn chung, các công trình trên cũng đã đánh giá cao vai trò của tư
duy trong việc định hướng hoạt động thực tiễn cho con người và coi việc
“đổi mới tư duy” (đặc biệt là tư duy kinh tế và chính trị) là một trong
những động lực tinh thần thúc đẩy sự thay đổi về “chất” cho xã hội. Tuy
nhiên, chưa có công trình chuyên sâu nào đi vào nghiên cứu về vấn đề Tư
duy tôn giáo và mối tương tác của nó đối với lối sống của con người nói
chung và người Việt Nam nói riêng, cũng như những ảnh hưởng (tiêu cực
và tích cực của nó) đối với lối sống của người Việt.
Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu về Lối sống:
Trước đây, các tác phẩm tiêu biểu nghiên cứu về lối sống chủ yếu
của các học giả Liên Xô (cũ) như: Bàn về khái niệm lối sống (của N.I.Belô-va); Lối sống Xã hội chủ nghĩa (của X.Vít-nhi-ốp-xki); Lối sống Xô Viết
hôm nay và ngày mai (của V.I.Đô-bru-ni-na)...
Theo các học giả nêu trên, con người ta luôn phải tồn tại trong một
cộng đồng người, một nước, một khu vực nhất định, nên con người buộc
phải tuân thủ những quy tắc nhất định, những quy tắc này được thừa nhận
và trở thành thói quen - đó là lối sống cá nhân. Có những quy tắc được thừa
5


nhận rộng rãi trong nội bộ một cộng đồng nào đó - đó là lối sống cộng đồng.
Theo đó, lối sống là một thói quen có định hướng, là phương cách thể hiện
nền văn hoá, đặc trưng văn hoá của một con người hay một cộng đồng. Lối
sống có quan hệ chặt chẽ với phương thức sản xuất của mỗi thời đại.
Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những người đầu
tiên quan tâm đến việc xây dựng lối sống mới. Dưới bút danh Tân Sinh,
Người viết tác phẩm Đời sống mới, dưới bút danh XYZ, Người viết Sửa đổi
lề lối làm việc. Trong hai cuốn sách trên, Hồ Chí Minh đã đề cập đến những
tinh thần cơ bản của lối sống mới có văn hóa và nhấn mạnh tầm quan trọng
của việc xây dựng lối sống mới: “Trong lúc kháng chiến, chúng ta đồng thời
phải kiến quốc. Thực hành đời sống mới là một điều cần kíp cho công cuộc
cứu quốc và kiến quốc”3.
Ngay từ Đại hội Đảng lần thứ IV, xây dựng “nếp sống mới có văn
hóa” đã được Đảng ta đề ra như một nhiệm vụ quan trọng: “... vận động
một cách kiên trì và sâu rộng để tạo ra nếp sống mới có văn hóa trong xã
hội: đưa cái đẹp vào đời sống hàng ngày, vào lao động sản xuất”4. Đến Đại
hội V, khái niệm lối sống mới lần đầu tiên được sử dụng: “... cuộc đấu
tranh giữa hai con đường, giữa cái mới và cái cũ, tiên tiến với lạc hậu, tiến
bộ với phản động trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng và lối sống đang diễn ra
hàng ngày rất phức tạp”5. Từ Đại hội VI - đại hội mở ra thời kỳ đổi mới
đến các Đại hội sau này, Đảng ta ngày càng khẳng định vai trò của việc xây
dựng đời sống văn hóa mới, coi đó là nhiệm vụ trọng tâm và lâu dài.

3

Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.99.

4

Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần

thứ IV, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1977, tr.125.
5

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Tập 1,

Nxb Sự thật, Hà Nội, 1981, tr.91-92.
6


Nhìn chung, việc nghiên cứu vấn đề xây dựng lối sống mới được đặt
ra ngày một cấp thiết hơn. Các công trình nghiên cứu trong nước về “Lối
sống” vô cùng phong phú, với nhiều cách tiếp cận khác nhau:
1. Các công trình nghiên cứu Lối sống như là một cách ứng xử trong
quan hệ giao tiếp xã hội thể hiện trên phong tục/tập quán, nhân cách, đạo
đức, như: Nếp sống - phong tục Tây Nguyên, Kỷ yếu hội thảo; Một số vấn
đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội, Huỳnh Khái Vinh (chủ biên);
Phong cách ăn Việt Nam, Từ Giấy; Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Tết Lễ - Hội hè; Phong tục Việt Nam, của Toan Ánh; Một trăm điều nên biết về
phong tục Việt Nam, Tân Việt; Học ăn, học nói, học gói, học mở, Hoàng
Liên (biên soạn), Vuông tròn đạo làm người, Trần Đình Tuấn (biên soạn);
Nghi lễ thờ cúng truyền thống của người Việt tại nhà và chùa, đình, đền,
miếu, phủ, Hồ Đức Thọ (biên soạn); Phong tục làng xóm Việt Nam: Đất lề
quê thói, của Nhất Thanh, Vũ Văn Khiếu; Người Việt - phẩm chất và thói
hư tật xấu, do Dương Trung Quốc, Nguyễn Vũ Thoại, Trần Thanh (tuyển
soạn); Hà Nội văn hoá và phong tục, của Lý Khắc Cung, Thanh Hào...
2. Nghiên cứu lối sống trong mối quan hệ với các điều kiện chính trị
- xã hội, kinh tế khác nhau như: Nếp sống và đạo đức dưới chế độ xã hội
chủ nghĩa; Thế nào là lối sống xã hội chủ nghĩa, Thanh Lê (chủ biên); Về
lối sống mới của chúng ta, Phong Châu, Nguyễn Trọng Thụ; Bàn về lối
sống và nếp sống xã hội chủ nghĩa, Trần Độ (chủ biên); Lối sống trong đời
sống đô thị hiện nay, Lê Như Hoa (chủ biên); Vấn đề lối sống và xây dựng
lối sống đô thị ở Việt Nam, Đặng Quang Thành, Chế Anh; Lối sống xã hội
chủ nghĩa và xu thế toàn cầu hoá, Thanh Lê (chủ biên); Đạo đức, lối sống
và đời sống văn hóa thủ đô trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, Nguyễn Viết Chức (chủ biên)...

7


3. Xem xét lối sống trong mối tương quan với văn hoá như: Bàn về
văn hiến Việt Nam, của Vũ Khiêu; Văn hoá và lối sống hành trang vào thế
kỷ 21, của Thanh Lê...
4. Các công trình đề cập đến vấn đề xây dựng lối sống mới ở Việt
Nam hiện nay như: Về lối sống tiểu nông trong xã hội đô thị của Đặng
Cảnh Khanh; Phân tầng xã hội và phân tầng về mặt văn hóa - lối sống đô
thị ở nước ta hiện nay, Lương Hồng Quang; Bản sắc dân tộc trong lối
sống hiện đại, Lê Như Hoa; Môi trường văn hoá với việc xây dựng lối
sống và con người Việt Nam, Nguyễn Hồng Hà; Lối sống dân tộc - hiện
đại, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, của Đỗ Huy; Kế thừa và phát huy
các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc trong việc xây dựng lối sống ở
Việt Nam hiện nay, Võ Văn Thắng, Luận án tiến sĩ Triết học; Mấy vấn đề
về lối sống và xây dựng lối sống trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Phạm Bá Lượng, Luận văn thạc sĩ
Triết học; Đô thị ở nước ta và một vài quan điểm xác định chính sách văn
hoá trong quá trình đô thị hóa lối sống trong đời sống đô thị hiện nay, Đỗ
Huy, Tạp chí Triết học, Số 6 (1999); Xã hội học lối sống và vấn đề xây
dựng lối sống trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
Nguyễn Chí Dũng, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, Số 5 (2000); Lối sống mới
của người Việt Nam, Lê Lâm Ứng, Báo Quân đội nhân dân, ngày
26/1/2001; Nhận diện một số tác nhân làm chuyển biến lối sống người Hà
Nội trong nửa thế kỷ vừa qua, Đỗ Huy, Tạp chí Xã hội học, Số 1 (2005);
Một số khía cạnh về lối sống cư dân đồng bằng sông Cửu Long, Lương
Thanh Tân, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, Số 4 (2005); Ảnh hưởng của nền
kinh tế thị trường đến việc xây dựng lối sống ở nước ta hiện nay, Võ Văn
Thắng, Tạp chí Cộng sản, Số 10 (2006)...

8


5. Những nghiên cứu, trao đổi trong các buổi tọa đàm khoa học về
lối sống6 đô thị trong thời gian gần đây với các học giả như Trịnh Duy
Luân, Trần Ngọc Thêm, Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang.... Theo các học
giả, lối sống bị quy định bởi các quan hệ xã hội, bản chất của lối sống
chính là đặc trưng hoạt động sống của khách thể mang lối sống đó. Đặc
trưng của hoạt động sống lại phụ thuộc vào các mối quan hệ liên kết. Trong
khi phân tích về lối sống đô thị với những đặc trưng sinh thái xã hội và
kinh tế xã hội của môi trường đô thị đem lại, Trịnh Duy Luân nhấn mạnh
đến kiểu lối sống quá độ, hay lối sống chuyển thể. Tác giả Trịnh Duy Luân
cũng nhấn mạnh rằng khó có thể đề cập đến một lối sống cho toàn bộ dân
cư đô thị nói chung bởi xã hội đô thị bao gồm rất nhiều nhóm xã hội khác
nhau. Hơn nữa, các khuôn mẫu hành vi, các ứng xử còn chưa ổn định, còn
đang được sàng lọc. Tác giả Trịnh Duy Luân còn tập trung xem xét những
yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành lối sống đô thị, như sự thay đổi của cơ
cấu dân cư, sự phân hóa giàu - nghèo trong xã hội đô thị và sự chuyển đổi
của các định hướng giá trị của các nhóm xã hội khác nhau, những yếu tố
này đã tạo nên một diện mạo luôn biến động của lối sống đô thị.
Nếu như các nghiên cứu về lối sống đô thị đem lại một bức tranh đa
đạng về đời sống đô thị thì các nghiên cứu về lối sống nông thôn cũng tập
trung vào xem xét những thay đổi trong đời sống xã hội nông thôn qua từng
thời kỳ lịch sử. Nó thể hiện qua tất cả các hoạt động văn hóa - kinh tế - xã
hội của xã hội nông thôn như lễ hội, tang ma, cưới xin, giỗ chạp, tín
ngưỡng,… Việc nhận diện lối sống nông thôn trong bối cảnh xã hội hiện
nay cũng đã được đặc biệt chú ý. Nghiên cứu lĩnh vực này ở Việt Nam
trong những năm gần đây có các tác giả Trần Ngọc Thêm, Tô Duy Hợp,

6

Tọa đàm khoa học triển khai đề tài cấp Nhà nước: Đặc điểm tư duy và lối

sống của người Việt... do PGS,TS. Nguyễn Ngọc Hà (Viện Triết học, Viện KHXH
VN) làm chủ nhiệm.
9


Lương Hồng Quang. Trong các nghiên cứu của mình, các tác giả đã phần
nào đề cập đến các khía cạnh của đời sống văn hoá, lối sống ở nông thôn,
đồng thời cũng chỉ ra những thay đổi trong hệ thống giá trị và chuẩn mực
lối sống thể hiện qua sự kiện văn hoá lớn như hôn nhân, tang chế, phong
tục tập quán ở khu vực nông thôn. Ngoài ra một số tác giả khác đã ít nhiều
bàn luận đến vấn đề lối sống ở xã hội Việt Nam trong mỗi thời kỳ. Các
nghiên cứu đã tập trung mô tả và lý giải những động thái biến đổi của lối
sống ở nông thôn, cũng như đô thị. Đặc biệt là lối sống đô thị đã được
nhiều công trình nghiên cứu quan tâm, bởi chính những chuyển biến trong
lối sống của xã hội đô thị như là bằng chứng cụ thể của sự thay đổi lối sống
của một khu vực xã hội đặc thù - khu vực đô thị. Một số nghiên cứu cố
gắng so sánh những thay đổi của lối sống đô thị ngày nay với lối sống
truyền thống, lối sống vốn gắn nhiều hơn với đời sống cộng đồng làng - xã,
và so sánh với lối sống đô thị của những thập niên của thế kỷ trước. Trong
các nghiên cứu này người ta đã chỉ ra những thay đổi, những chuyển biến
của lối sống đô thị trong bối cảnh của một xã hội đang chuyển đổi.
Nếu như trước thời kỳ đổi mới, các nghiên cứu tập trung vào thảo luận
vấn đề lối sống xã hội chủ nghĩa, thì hiện nay, vấn đề lối sống được nhìn
trong lát cắt của một xã hội đang chuyển đổi, đang diễn ra những bước quá
độ. Các nghiên cứu tập trung nhiều hơn đến những khuôn mẫu ứng xử, mô
hình ứng xử, phong cách tiêu dùng, phong cách giải trí, phong cách hưởng
thụ, những quan hệ xã hội mới xuất hiện như là kết quả tất yếu của quá trình
chuyển đổi. Những thay đổi này xuất hiện ở cả nông thôn và đô thị. Những
thay đổi của lối sống có lẽ trở nên rõ ràng hơn khi chúng ta chú ý tới các khu
công nghiệp và khu đô thị mới, nơi vừa hình thành các cơ sở sản xuất mới
với các quan hệ kinh tế mới, vừa hình thành các quan hệ xã hội mới và
đương nhiên là lối sống mới. Một lối sống được xem xét trong bối cảnh của
sự di cư từ những con người đến từ nông thôn ra nhập vào các khu công
nghiệp và của đời sống xã hội tại các khu công nghiệp - đô thị.
10


Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây đã góp phần đem lại
những hiểu biết nhất định về sự thay đổi của lối sống con người Việt Nam
ở mỗi khu vực xã hội như nông thôn, đô thị. Tuy nhiên, các nghiên cứu này
chưa làm rõ sự khác biệt về lối sống của mỗi nhóm xã hội, chưa chỉ rõ
được những nguyên nhân tạo ra những chuyển biến về mặt lối sống, chưa
chỉ rõ những chuyển biến về lối sống truyền thống của con người Việt Nam
trong điều kiện ngày nay, chưa chú ý thích đáng đến những yêu cầu đặt ra
về lối sống con người Việt Nam do quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế
đòi hỏi. Do đó, chưa thể có hệ thống giải pháp đồng bộ để nâng cao năng
lực tư duy và xây dựng lối sống lành mạnh định hướng xã hội chủ nghĩa
một cách bền vững.
Thứ ba, nhóm các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa
tôn giáo và lối sống:
Trong mấy thập kỷ trở lại đây, diễn biến tôn giáo ngày càng trở nên
phức tạp, hiện tượng cuồng tín tôn giáo và sự xuất hiện của nhiều dạng tín
ngưỡng, giáo phái mới đã khiến cho các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý,
các nhà lãnh đạo chính trị thực sự gặp nhiều trở ngại trong cách giải quyết
vấn đề tôn giáo. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học của các học giả trong
và ngoài nước cũng đã bắt đầu đặt vấn đề nghiên cứu mối tương tác, sự ảnh
hưởng của tôn giáo đối với hành vi, lối sống của con người cũng như những
tác động của nó đối với các vấn đề chính trị - xã hội, điển hình là cuốn Nền
đạo đức Tin Lành và tinh thần của chủ nghĩa Tư bản của Max Weber - một
nhà xã hội học, triết học người Đức. Trong tác phẩm này, Max Weber đã
nhấn mạnh đến vai trò của tôn giáo trong sự hình thành các nền văn minh,
đặc biệt là đạo Tin lành đã có vai trò quan trọng trong sự ra đời của tư duy
duy lý phương Tây. Theo Max Weber, phải chú ý đến nhân tố chủ quan, yếu
tố tâm lý con người trong việc hình thành nên cách ứng xử của họ (kể cả ứng
xử kinh tế). Không nên nhìn các hiện tượng xã hội như hiện tượng vật lý bởi

11


các sự kiện xã hội luôn hình thành từ bên trong, do con người tự xây dựng và
thông qua con người nó mới hiện hữu (con người vừa là chủ thể vừa là hệ
quả của một hoạt động xã hội). Nói chung, theo Max Weber, cần phải xem
xét ứng xử của con người (kể cả hoạt động kinh tế) trong khuôn khổ nhân
sinh quan, thế giới quan của họ, trong đó, tôn giáo cũng là một nhân sinh
quan, một thế giới quan ấy.
Một số các công trình nghiên cứu của các học giả trong nước cũng đã
đặt vấn đề nghiên cứu về sự ảnh hưởng của một số tôn giáo cụ thể như Phật
giáo, Công giáo... đến đời sống xã hội Việt Nam như cuốn Về vai trò của
Nho giáo, Phật giáo trong xã hội của Phan Đại Doãn; Sự ảnh hưởng của các
hệ tư tưởng và tôn giáo đến con người Việt Nam hiện nay, của Nguyễn Tài
Thư (chủ biên); Ảnh hưởng của Phật giáo ở Việt Nam của Hà Văn Tấn, Tạp
chí Xã hội học, Số 4/1989; Ảnh hưởng của tôn giáo đến đạo đức, lối sống
của các cộng đồng dân cư tỉnh Kiên Giang của Vũ Đình Quân, Tạp chí Giáo
dục lý luận, Số 11/2005; Ảnh hưởng của Phật giáo tới đặc điểm lối sống ở
thành phố Hồ Chí Minh của Thân Ngọc Anh, Tạp chí Khoa học xã hội, Số
6/2006; Ảnh hưởng của Phật giáo đến quan niệm đạo đức, nhân cách của
người Việt của Hoàng Minh Đô, Tạp chí KHXH vùng Trung Nam bộ, Số
7/2009; Ảnh hưởng của đạo đức Công giáo đến đời sống gia đình giáo dân ở
tỉnh Yên Bái (Luận văn Thạc sĩ tôn giáo của Phạm Trung Hiếu, 2001)...
Trong các công trình nêu trên, các tác giả cũng đã đề cập đến mối
quan hệ và sự ảnh hưởng của một tôn giáo cụ thể như Phật giáo hay Công
giáo đến một lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội của người Việt chúng ta
như: quan niệm đạo đức, nhân cách, tính cách, nếp ăn ở... Các công trình
trên chưa đi sâu phân tích một cách toàn diện sự tác động và ảnh hưởng của
tôn giáo (đặc biệt là tư duy tôn giáo) đến lối sống của người Việt (trên mọi
khía cạnh như: Lao động sản xuất, kinh doanh; Hoạt động tư tưởng; Ứng xử
với thiên nhiên; Quan hệ người - người; Hành vi đạo đức...).

12


Nhìn chung, với một số lượng lớn các công trình nghiên cứu trên ba
mảng vấn đề lớn là Tư duy; Lối sống; Mối quan hệ giữa tôn giáo và lối
sống, giúp chúng tôi có nguồn tài liệu phong phú cho việc thực hiện đề tài.
Song, chưa có công trình nào đi vào phân tích ảnh hưởng của tư duy tôn
giáo đến lối sống của người Việt một cách hệ thống, đầy đủ trên các lĩnh
vực khác nhau của lối sống - đây chính là nhiệm vụ cơ bản mà chúng tôi sẽ
thực hiện trong khi triển khai đề tài.
3. Mục tiêu của đề tài
Trên cơ sở phân tích những tác động của tư duy tôn giáo đối với lối
sống của người Việt Nam, làm rõ thực trạng ảnh hưởng (tích cực và tiêu
cực) của tư duy tôn giáo tới lối sống của người Việt, từ đó đưa ra những
giải pháp và kiến nghị phù hợp góp phần xây dựng lối sống mới của người
Việt đáp ứng yêu cầu “Đổi mới và Hội nhập quốc tế” hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong phạm vi, giới hạn cho phép, đề tài chỉ đề cập đến những ảnh
hưởng của tư duy tôn giáo đến lối sống của người Việt Nam mà không đi
sâu tìm hiểu những điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội ảnh hưởng
đến sự hình thành lối sống ấy.
Đối tượng “người Việt Nam” mà đề tài đề cập đến ở đây chủ yếu là
người Kinh7, hoạt động trong các lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau (nông
dân, công nhân, trí thức, doanh nhân, học sinh...).
5. Kết cấu của đề tài
Nội dung nghiên cứu của đề tài được thể hiện trong 3 chương, 9 tiết.
6. Phương pháp nghiên cứu
7

Vì người Kinh là tộc người đông nhất chiếm 86,2% dân số cả nước, 53 tộc người

còn lại chiếm 13,8% dân số (gọi là dân tộc thiểu số).

13


- Phương pháp luận nghiên cứu:
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước ta
về công tác tư tưởng, công tác tôn giáo để nghiên cứu.
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
1. Sử dụng các phương pháp lôgíc - lịch sử, phân tích, so sánh, tổng hợp.
2. Sử dụng phương pháp nghiên cứu văn bản kết hợp với thực tiễn.
3. Phương pháp xã hội học:
Phương pháp định lượng: thông qua các biểu mẫu thống kê, báo cáo
tổng kết thực tiễn của các địa phương về lối sống.
Phương pháp định tính: tổ chức tọa đàm, trao đổi khoa học nhằm
đánh giá đúng tình hình nghiên cứu sát thực với thực tiễn.
4. Xử lý các tài liệu liên ngành có liên quan, tài liệu lưu trữ, kết quả
của các công trình nghiên cứu đã có.
5. Sử dụng phương pháp chuyên gia trong việc tổ chức triển khai
thực hiện đề tài.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lý luận:
- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm rõ khái niệm: Tư duy
tôn giáo, Lối sống.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ
giữa tư duy tôn giáo và lối sống.
- Đề tài bước đầu đưa ra những luận chứng cho việc khẳng định: Tư
duy tôn giáo đã có những tác động và ảnh hưởng không nhỏ đối với lối
sống của người Việt Nam. Và những ảnh hưởng đó có thể là những “rào

14


cản” níu kéo chúng ta bước đi những bước khó khăn trong quá trình Đổi
mới và hội nhập quốc tế.
- Đề tài góp phần xây dựng khái quát bức tranh về lối sống của người
Việt nói chung và người Việt hiện nay nói riêng, chỉ ra những nhược điểm
và ưu điểm của lối sống đó.
- Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu
về vấn đề lối sống và tư duy.
Ý nghĩa thực tiễn:
- Việc triển khai nghiên cứu đề tài góp phần chỉ ra những ảnh hưởng
tiêu cực và tích cực của tư duy tôn giáo đối với lối sống của người Việt Nam,
từ đó tìm ra những giải pháp nhằm khắc phục những mặt tiêu cực, phát huy
những mặt tích cực trong việc xây dựng lối sống mới cho người Việt đáp
ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế.
- Đề tài có thể làm tài liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng
dạy môn Tôn giáo học, Xã hội học, Văn hoá học, Triết học...
- Việc thực hiện đề tài trên là sự thể hiện và triển khai hoá chủ trương

của Đảng: coi công tác xây dựng lối sống mới cho người Việt đáp ứng yêu
cầu Đổi mới và Hội nhập quốc tế là một nhiệm vụ trọng điểm trước mắt và
lâu dài của Việt Nam. Trong Dự thảo Nghị quyết của Hội nghị lần thứ V
Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, đã nhấn mạnh: trong tám lĩnh vực
lớn thì tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa được coi là những
lĩnh vực quan trọng nhất hiện nay cần đặc biệt quan tâm...8

8

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung

ương khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.19.
15


PHẦN NỘI DUNG

Chương I
KHÁI NIỆM TƯ DUY TÔN GIÁO VÀ LỐI SỐNG
1.1. Khái niệm tư duy, tư duy tôn giáo, lối sống
1.1.1. Khái niệm tư duy:
* Tư duy là gì?
Để hiểu tư duy tôn giáo là gì, trước hết, cần phải hiểu tư duy là gì?
Có nhiều định nghĩa khác nhau về tư duy, mỗi định nghĩa phản ánh
một cách tiếp cận về vấn đề tư duy từ những mặt, những khía cạnh, tính
chất, đặc trưng khác nhau của tư duy.
Theo Từ điển Bách khoa thư Việt Nam, tư duy là sản phẩm cao nhất
của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt (bộ não người). Tư duy phản
ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, phán đoán...9
Từ góc độ triết học, định nghĩa: Tư duy là một phạm trù triết học
dùng để chỉ những hoạt động tinh thần.
Từ góc độ tâm sinh lý học, định nghĩa: Tư duy bắt nguồn từ hoạt
động tâm lý, hoạt động này gắn liền với phản xạ sinh lý là hoạt động đặc
trưng của hệ thần kinh cao cấp chỉ có ở con người, và là kết quả của quá
trình lao động sáng tạo của con người.
Nói tóm lại, tư duy thuộc phạm trù ý thức, tinh thần, thuộc loại hoạt
động trí óc chuyên “sản xuất” ra tư tưởng, tri thức.
* Bản chất và quá trình hình thành của tư duy:
Theo các định nghĩa như trên về tư duy, cho thấy, bản chất của tư
duy là một trong các đặc tính của một dạng vật chất phát triển đến một
9

Từ điển Bách khoa thư Việt Nam, Tập 4, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2005.
16


trình độ tổ chức cao - bộ óc con người. Vậy nên, cơ chế hoạt động của tư
duy dựa trên hoạt động sinh lý của bộ não với tư cách là hoạt động thần
kinh cao cấp. Mặc dù không thể tách rời não, nhưng tư duy không hoàn
toàn gắn liền với một bộ não nhất định của một con người nhất định mà
còn gắn với sự tiến hoá của xã hội, trở thành một sản phẩm có tính xã hội,
bởi trong quá trình sống, con người giao tiếp với nhau, do đó, tư duy của
từng người vừa tự biến đổi qua quá trình hoạt động của bản thân, vừa chịu
sự tác động biến đổi từ tư duy của đồng loại.
Tư duy là sản phẩm của tiến trình tiến hoá lâu dài trong quá trình lao
động sản xuất của con người. Nên, có thể nói: tư duy chính là thực tiễn đã
được “cải biến” đi trong bộ óc con người. Song, tư duy không phải là một
hiện tượng thụ động, bất biến. Nó mang "nội dung thực tiễn", thậm chí còn
là sự sáng tạo vượt trên thực tiễn. Sự sáng tạo đó là thuộc tính của tư duy
và cũng chính bởi có "sự sáng tạo” đó mà loài người ngày càng trở nên
phát triển, tiến bộ.
Tư duy xuất hiện trong quá trình sản xuất xã hội của con người,
trong quá trình đó, con người thu nhận được những thông tin, dữ liệu từ
những nhận thức cảm tính ban đầu, trải qua quá trình khái quát hoá, trừu
tượng hoá, phân tích và tổng hợp... từ đó con người rút ra những khái niệm,
phán đoán, giả thuyết, lý luận. Như vậy, kết quả của tư duy bao giờ cũng là
sự phản ánh một cách khái quát các thuộc tính, các mối liên hệ cơ bản, phổ
biến, quy luật về sự vật, nhóm sự vật (thế giới khách quan bên ngoài con
người và ngay chính bản thân con người).
Mặc dù được tạo thành từ hoạt động thực tiễn, nhưng tư duy có tính
độc lập tương đối của nó, sau khi xuất hiện, tư duy còn chịu ảnh hưởng của
toàn bộ những tri thức trước đấy, chịu sự tác động của những lý thuyết,
quan điểm cùng thời với nó. Tính độc lập đó làm cho tư duy có được tính
tích cực sáng tạo trong việc tìm kiếm tri thức mới, có khả năng dự báo,

17


nhưng cũng làm cho nó trở nên dần dần xa rời hiện thực khách quan, trở
thành lý luận thuần túy tư biện, lý luận suông.
* Phân loại tư duy:
Khi nói tư duy như một hoạt động tâm lý, trình độ nhận thức của con
người thì phân loại thành: tư duy khoa học, tư duy kinh nghiệm, tư duy
cảm tính, lý tính...
Khi nói tư duy như một hoạt động trí óc về một lĩnh vực cụ thể nào
đó (hình thức ý thức xã hội) thì phân chia thành: tư duy kinh tế, tư duy
chính trị, tư duy nghệ thuật, tư duy tôn giáo.
Khi nói đến tính chất của tư duy chịu sự ảnh hưởng của điều kiện
chính trị, kinh tế, xã hội, thì phân chia thành tư duy tiểu nông, tư duy công
nghiệp, tư duy tư bản chủ nghĩa, v.v...
Khi phân loại tư duy theo các hình thái kinh tế - xã hội: tư duy cộng
sản nguyên thủy, tư duy chiếm hữu nô lệ, tư duy phong kiến, tư duy tư bản
chủ nghĩa, tư duy xã hội chủ nghĩa…
Khi phân loại tư duy theo giai đoạn lịch sử: tư duy cổ đại, tư duy
trung đại, tư duy cận đại, tư duy hiện đại…
Khi nói đến tư duy phản ánh bản sắc, cá tính văn hóa của một quốc
gia dân tộc nào đó thì phân loại: tư duy Việt Nam, tư duy Trung Hoa, tư
duy Ấn Độ, tư duy Nga, tư duy Pháp, tư duy Mỹ…
Nói tóm lại, có rất nhiều định nghĩa, phân chia loại hình khác nhau về
tư duy. Trên cơ sở đó, đề tài sử dụng khái niệm tư duy theo nghĩa sau đây:
Tư duy là quá trình hoạt động trí óc (chuyên sản xuất ra tư tưởng, tri
thức) về một lĩnh vực cụ thể nào đó như Triết học, Văn học, Sử học, Chính
trị học, Tôn giáo..., thể hiện sự nhận thức của con người về thế giới xung
quanh và về chính bản thân mình (thế giới quan, nhân sinh quan) thông

18


qua các ý niệm, khái niệm, phán đoán, nhận định, lập luận, quan điểm, học
thuyết...10
1.1.2. Tư duy tôn giáo
* Tư duy tôn giáo là gì?
Tôn giáo, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, là một hình
thái của ý thức xã hội, nhưng xét về mặt kết cấu, tôn giáo bao gồm 5 yếu tố
cơ bản: Giáo chủ (Người khai đạo); Giáo lý (Hệ thống lý thuyết); Nghi lễ
thờ cúng; Giáo hội (Tổ chức của những người cùng chung đức tin và tổ
chức thực hiện các nghi lễ); Tín đồ. Trong 5 yếu tố đặc trưng trên, hệ thống
lý thuyết (giáo lý) thuộc phạm trù ý thức, tinh thần, tư duy. Còn 4 yếu tố
còn lại mang tính vật chất, thực thể. Chính vì vậy, tôn giáo vừa là một hình
thái đặc biệt của ý thức xã hội (tư duy, tinh thần, tư tưởng, tâm lý, tình cảm
Tôn giáo), nhưng nó đồng thời cũng là một thực thể, một tồn tại xã hội
(Chùa, đền, miếu, phủ, nhà thờ, tín đồ...).
Hệ thống giáo lý của tôn giáo thể hiện sự nhận thức của con người về
thế giới xung quanh và về chính bản thân mình (Thế giới quan, nhân sinh
quan) thông qua hệ thống các tín điều của nó.
10

Ý niệm, khái niệm, phán đoán, nhận định, quan điểm, học thuyết... là những

cấp độ khác nhau phản ánh trình độ, năng lực của tư duy.
Ý niệm: sự hiểu biết, nhận thức bước đầu về sự vật, chưa nhận thức được rõ
những thuộc tính cơ bản nhất của sự vật.
Khái niệm: là một hình thái của tư duy, phán ánh những thuộc tính cơ bản nhất
về sự vật để phân biệt sự vật này với sự vật khác.
Phán đoán: sự suy xét rút ra những nhận định từ những điều đã biết trước, phán
đoán có thể đúng có thể sai.
Học thuyết: Toàn bộ tri thức khoa học được trình bày một cách hệ thống nhằm
lý giải những vấn đề ở những lĩnh vực cụ thể.

19


Hệ thống giáo lý của một tôn giáo nào đấy phản ánh những quan
niệm, quan điểm về thế giới, vũ trụ và con người dưới nhãn quan của tôn
giáo ấy (Tôn giáo quan).
Do đó, kết quả của tư duy tôn giáo là những tri thức được thể hiện
trong các giáo lí, hệ thống thần học. Nói một cách khác, thông qua hệ thống
giáo lý, tín điều của các tôn giáo, chúng ta có thể hiểu được tôn giáo quan
của nó, hiểu được tư duy tôn giáo, hiểu được tư duy của con người về các
vấn đề thuộc lĩnh vực tôn giáo (về thế giới các thánh thần, về thiên đường,
địa ngục và cuộc sống sau khi chết...).
Tuy nhiên, tư duy tôn giáo không chỉ thể hiện qua hệ thống tín điều,
giáo lý mà còn thể hiện qua tình cảm, xúc cảm, tâm lý tôn giáo của con
người. Song, trong phạm vi giới hạn cho phép của đề tài, chúng tôi sử dụng
khái niệm tư duy tôn giáo theo nghĩa là những quan niệm, quan điểm về thế
giới, vũ trụ và con người dưới nhãn quan của tôn giáo.
* Đặc điểm của tư duy tôn giáo:
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư duy tôn giáo là loại tư
duy tư biện về tất cả những gì thoát ra khỏi khoa học và hiện thực, tức là đối
tượng của tư duy tôn giáo là thế giới siêu nhiên, thế giới không hiện hữu,
không tồn tại thực. Tôn giáo chỉ bàn đến thiên đường, địa ngục, linh hồn...
Tư duy tôn giáo cũng thuộc loại tư duy siêu hình, ảo tưởng và sai
lầm, nói như Ph.Ăngghen: Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản
ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người những lực lượng ở bên ngoài chi
phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực
lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế11. Tức là,
chính bản thân con người, trong quá trình nhận thức của mình, với một
11

Ph.Ăngghen, Chống Đuy Rinh, trong C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Tập

20, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.437.
20


năng lực tư duy trừu tượng, đã sáng tạo ra thánh thần theo hình ảnh và sự
mong ước của chính mình, và rồi họ lại gán cho thánh thần những sức
mạnh siêu nhiên, và nghiêng mình trước sản phẩm của chính mình, khiến
cho thế giới thánh thần trở thành một thế giới xa lạ không thuộc về con
người nữa. Cái mà con người cho là thượng đế thì đó chính là tinh thần, là
tư duy, là ý thức, là tâm hồn, là trái tim của họ. Ý thức (tư duy) về thượng
đế là sự tự ý thức (tự tư duy) của con người, sự nhận thức về thượng đế là
sự nhận thức của con người về thế giới và về chính bản thân mình mà thôi,
đúng như C.Mác đã viết: tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con
người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã lại để mất bản thân mình một
lần nữa12. Tôn giáo là sự tự ý thức đã bị “tha hóa”13 của con người.
Tư duy tôn giáo cũng chịu ảnh hưởng, tác động bởi các quan điểm, lý
thuyết, học thuyết cùng tồn tại đồng thời với nó và trước nó. Mặt khác, tư duy
tôn giáo cũng có logic phát triển nội tại riêng của nó, đó là sự phản ánh đặc
thù, logic khách quan theo cách hiểu riêng của mỗi loại hình tôn giáo, gắn với
mỗi con người, mỗi một thời đại lịch sử khác nhau. Tính “độc lập” đó của tư
duy tôn giáo, khiến cho nhiều nhà Tôn giáo học và Thần học đi đến kết luận
sai lầm rằng, tư duy khoa học và tư duy tôn giáo đều có chung một mục đích
là tái hiện lại hiện thực, nhưng khác nhau ở chỗ theo cách riêng của mình. Và,
12

C.Mác, Lời nói đầu của tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền

của Hêghen, trong C.Mác và Ph.Ănghen, Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 1995, tr.569.
13

Khái niệm tha hóa mà C.Mác sử dụng ở đây, hiểu theo nghĩa triết học là: một

tồn tại khác đáng ra thuộc tôi, nhưng rồi lại như thuộc về một thực thể khác, trở nên xa
lạ và quay trở lại thống trị tôi. Trong tôn giáo, tình hình đúng như vậy, thánh thần hay
thượng đế chẳng qua cũng chỉ là sản phẩm của sự tưởng tượng bởi đầu óc và trái tim
con người, nhưng rồi con người đã không nhận ra sản phẩm của chính mình, đã quỳ lạy
ngay xuống dưới sản phẩm của chính mình để cầu xin những gì mà mình bất lực trong
thế giới thực tại này, khiến cho thánh thần trở nên xa lạ, thuộc về một thế giới khác và
quay trở lại thống trị con người, con người trở nên lệ thuộc và nô lệ cho thánh thần.
21


thế giới được phân chia thành hai loại, một là thế giới vật lý hữu hình hay vô
hình, hai là thế giới của tâm linh, tâm cảm - đây là loại thế giới mà tư duy duy
lý và tư duy kinh nghiệm không bao giờ đạt tới được, nó vượt ra khỏi tầm với
của giác tính, và con người chỉ có thể học được cách nhận thức thế giới đó,
hiểu được thế giới đó nhờ bàn tay giúp đỡ của Thượng đế... Nên, có thể tồn tại
đồng thời hai loại chân lý với hai phương pháp nhận thức riêng biệt, một của
khoa học duy lý, một của tôn giáo.
Song, thượng đế là ai, được sinh ra từ đâu, tồn tại như thế nào, là
những câu hỏi mà trong các lý thuyết tôn giáo không trả lời được bằng lý
tính, bằng tư duy logíc, mà bằng đức tin, mà đã là đức tin, theo tôn giáo, lại
không cần phải phân tích, mổ xẻ, không được nghi ngờ hay chất vấn.
Như thế, coi như không trả lời gì cả.
Xét cho đến cùng, kết quả của tư duy tôn giáo hay tư duy khoa học
đều phải cho kết quả là những tri thức, hiểu biết về vũ trụ và về chính bản
thân con người. Những tri thức đó, muốn được xem là chân lý thì phải
được thực tiễn kiểm tra, kiểm nghiệm tính đúng đắn của nó.
Nói tóm lại, tư duy tôn giáo thuộc loại tư duy tư biện về tất cả những
gì thoát ra khỏi mọi sự rõ ràng, đó là loại tư duy siêu hình, ảo tưởng và sai
lầm của con người, nó cũng là sự nhận thức sai lầm, sự tự ý thức đã bị “tha
hóa” của con người.
1.1.3. Khái niệm Lối sống:
* Lối sống là gì?
Lối sống được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào
lĩnh vực nghiên cứu của các chuyên ngành khác nhau: Xã hội học, Đạo đức
học, Giáo dục học, Văn hóa học, Chính trị học, Triết học...
Từ góc độ triết học, C.Mác và Ph.Ăngghen đã định nghĩa lối sống là
những hoạt động sống, những “hoạt động thực sự có tính người của những
22


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×