Tải bản đầy đủ

SKKN kinh nghiệm giúp học sinh giải toán có văn dạng bài toán về ít hơn lớp 2d trường tiểu học lộc ninh

BẢNG TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Tên đề tài: “Kinh nghiệm giúp học sinh giải toán có văn dạng Bài toán về ít
hơn lớp 2D trường Tiểu học Lộc Ninh”.
1. Lý do chọn đề tài:
Hiện nay, việc đào tạo thế hệ trẻ cho tương lai đủ năng lực và phẩm chất để phục
vụ cho đất nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập là một việc làm rất quan trọng và
cần thiết. Vì thế, việc hình thành nhân cách và phát triển tư duy, kĩ năng, năng lực...
của trẻ là việc làm thường xuyên mà Đảng và Nhà nước giao cho Ngành Giáo dục.
Trong đó bậc Tiểu học là bậc học quan trọng nhất, bậc học hình thành cho trẻ kĩ năng
tư duy, tính toán, nhạy bén, hình thành nhân cách...
Chính vì lẽ đó, đòi hỏi người giáo viên chúng ta phải đổi mới phương pháp và có
sự đầu tư thật tốt nhằm nâng cao chất lượng dạy và học các môn nói chung cũng như
môn Toán nói riêng. Đặc biệt cần lưu ý đến cách dạy giải Toán có lời văn ở lớp 2.
Toán có lời văn khó là phải chỉ ra các mối quan hệ, các yếu tố chứa trong bài toán và
nêu ra phép tính thích hợp để tìm ra đáp số bài toán. Do vậy tôi xác định việc dạy
“Giải Toán có lời văn” ở lớp 2 là một dạng toán rất quan trọng và cần thiết. Nên tôi
chọn đề tài : “Kinh nghiệm giúp học sinh giải toán có văn dạng Bài toán về ít hơn
lớp 2D trường Tiểu học Lộc Ninh”.
2. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu:
Một số giải pháp dạy toán có lời văn về dạng bài toán “Ít hơn” lớp 2D trường
Tiểu học Lộc Ninh, huyện Dương Minh Châu.

Phương pháp đọc tài liệu, phương pháp thu thập thông tin, phương pháp điều tra,
phương pháp đối chiếu.
3. Các giải pháp:
Đọc kĩ đề và hiểu đề, phân tích và tóm tắt đề toán, hướng dẫn học sinh đặt câu
lời giải và xác định đơn vị, hướng dẫn cách làm bài và trình bày bài giải, rèn kĩ năng
giải toán, ôn luyện kĩ năng, kĩ xảo làm bài tập.
4. Hiệu quả:
Giúp các em thực hiện tốt giải toán có lời văn dạng toán về “Ít hơn”
5. Phạm vi áp dụng:
Đề tài này không chỉ vận dụng tại đơn vị mà còn vận dụng cho các đơn vị bạn
trong toàn huyện.
Lộc Ninh, ngày 12 tháng 3 năm
2015
Người thực hiện

Võ Thị Vi Hương

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài:

1


Hiện nay, việc đào tạo thế hệ trẻ cho tương lai đủ năng lực và phẩm chất
để phục vụ cho đất nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập là một việc làm rất
quan trọng và cần thiết. Vì thế, việc hình thành nhân cách và phát triển tư duy,
kĩ năng, năng lực... của trẻ là việc làm thường xuyên mà Đảng và Nhà nước giao
cho Ngành Giáo dục. Trong đó bậc Tiểu học là bậc học quan trọng nhất, bậc học
hình thành cho trẻ kĩ năng tư duy, tính toán, nhạy bén, hình thành nhân cách...
Ở bậc Tiểu học, cùng với các môn học khác, môn Toán có vị trí rất quan
trọng. Toán là công cụ rất cần thiết để học các môn học khác và để nhận thức
thế giới xung quanh. Môn Toán giúp cho học sinh phát triển trí thông minh, tư
duy độc lập, linh hoạt sáng tạo trong việc hình thành và rèn luyện nề nếp phong
cách, tác phong làm việc, góp phần giáo dục ý chí và những đức tính tốt như:
Cần cù, nhẫn nại, ý thức vượt khó .
Trong quá trình dạy toán, việc dạy giải toán có lời văn có vị trí đặc biệt
quan trọng và chiếm khoảng thời gian tương đối lớn trong nhiều tiết học. Mỗi
bài toán có lời văn thường là một tình huống có vấn đề cần giải quyết.
Chính vì lẽ đó, đòi hỏi người giáo viên chúng ta phải đổi mới phương pháp
và có sự đầu tư thật tốt nhằm nâng cao chất lượng dạy và học các môn nói chung

cũng như môn Toán nói riêng. Đặc biệt cần lưu ý đến cách dạy giải Toán có lời
văn ở lớp 2. Toán có lời văn khó là phải chỉ ra các mối quan hệ, các yếu tố chứa
trong bài toán và nêu ra phép tính thích hợp để tìm ra đáp số bài toán. Do vậy,
tôi xác định việc dạy “Giải Toán có lời văn” ở lớp 2 là một dạng toán rất quan
trọng và cần thiết. Nên tôi chọn đề tài :
“Kinh nghiệm giúp học sinh giải toán có văn dạng Bài toán về ít hơn,
lớp 2D trường Tiểu học Lộc Ninh”.
2. Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm ra cơ sở lí luận định hướng và đưa
ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giải toán có lời văn về dạng bài toán “Ít
hơn” lớp 2D trường Tiểu học Lộc Ninh, huyện Dương Minh Châu.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Một số giải pháp dạy toán có lời văn về dạng bài toán “Ít hơn” lớp 2D
trường Tiểu học Lộc Ninh, huyện Dương Minh Châu.
4. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài này tôi chỉ nghiên cứu trong phạm vi lớp 2D trường Tiểu học Lộc
Ninh, huyện Dương Minh Châu.
5. Phương pháp nghiên cứu:
5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Phương pháp này giúp chúng tôi tìm được cơ sở lí luận có liên quan
đến đề tài qua các tài liệu:
- Giáo trình phương pháp dạy học môn toán lớp 2.
- Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở Tiểu
học.
- Tài liệu Bồi dưỡng giáo viên dạy các môn học ở lớp 2 - tập 1.
- Phương pháp dạy học các môn học ở lớp 2 - tập 1.
- Sách giáo viên Toán lớp 2.
- Sách giáo khoa Toán lớp 2.

2


- Một số vấn đề cơ bản của chương trình Tiểu học mới.
5.2. Phương pháp thu thập thông tin:
Dự giờ, trao đổi với đồng nghiệp trong và ngoài đơn vị các vấn đề có
liên quan đến phương pháp dạy toán có lời văn về dạng bài toán “Ít hơn”.
5.3. Phương pháp điều tra:
Điều tra nắm được số lượng học sinh hạn chế về giải toán có lời văn.
Đặc biệt về dạng toán “Ít hơn” và nguyên nhân thực hiện không tốt khi giải dạng
toán này.
5.4. Phương pháp đối chiếu:
Thống kê đối chiếu kết quả trước và sau khi thực hiện đề tài.
6. Giả thuyết khoa học:
Việc giải toán có lời văn lớp 2 học sinh còn bỡ ngỡ. Một số học sinh chưa
xác định được đề toán, chưa nắm chắc cách giải, trình bày bài giải chưa đúng.
Nếu giáo viên có phương pháp dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh, gần gũi
học sinh, giúp học sinh biết phân tích đề toán, xác định cái cần tìm… thì các em
sẽ đạt được kết quả cao trong việc giải các bài toán có lời văn nói chung hay
dạng toán “Ít hơn” nói riêng.

II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận:

3


Đặc điểm tâm sinh lý học sinh lớp Hai là dễ nhớ nhưng mau quên, sự tập
trung chú ý trong giờ học toán chưa cao, trí nhớ chưa bền vững thích học nhưng
chóng chán. Vì vậy giáo viên phải làm thế nào để khắc sâu kiến thức cho học
sinh và tạo ra không khí sẵn sàng học tập, chủ động tích cực trong việc tiếp thu
kiến thức. Trí nhớ trực quan hình tượng được phát triển hơn trí nhớ từ ngữ, khái
quát, lôgic. Các em nhớ và khắc sâu chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể
nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những lời giải thích dài dòng. Học sinh
lớp 2 (ở đầu năm học) có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp
lại nhiều lần, có khi chưa hiểu những mối liên hệ ý nghĩa của tài liệu học tập đó
mà vẫn có thể học thuộc. Cho nên, cũng dễ hiểu các em thường học thuộc lòng
tài liệu học tập theo đúng từng câu, từng chữ và không sắp xếp lại, không diễn
đạt bằng lời lẽ của mình.
Vì thế, việc truyền thụ kiến thức của giáo viên đến đối tượng học sinh giúp
học sinh lĩnh hội và khắc sâu kiến thức là một việc làm quan trọng và không dễ
thực hiện. Giáo viên phải tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm từ các đồng nghiệp tìm ra
những phương pháp phù hợp với từng đối tượng, phải thật sự gần gũi, động
viên, giúp đỡ, tin tưởng vào các em, không buông trôi, thả lỏng hay để các em tự
mài mò… Có như thế thì các em mới lĩnh hội và khắc sâu các kiến thức đã được
học.
Bên cạnh đó, nhằm quán triệt các Chỉ thị và Nghị quyết của Đại hội Đảng
cộng sản Việt Nam về Giáo dục và Đào tạo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
trong tình hình mới. Đảm bảo tốt cuộc vận động: “Nói không với tiêu cực trong
thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục; Nói không với vi phạm đạo đức nhà
giáo và tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp”; thực hiện xây dựng phong trào
“Trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
Vì thế, Bộ Giáo dục Ban hành nhiều văn bản chỉ đạo cho các trường tiểu
học thực hiện, gồm các văn bản sau:
Công văn 896/BGD&ĐT – GDTH ngày 13 tháng 02 năm 2006 của Bộ
Giáo dục và Đào tạo, về việc hướng dẫn điều chỉnh việc dạy và học cho học sinh
Tiểu học;
Quyết định số 16/2006/QĐ – BGD&ĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, về việc Ban hành Chương trình giáo dục phổ
thông;
Thông tư 30/2014/TT - BGD & ĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo về việc Ban hành quy định đánh giá học sinh
Tiểu học;
Từ những nhận định trên, một lần nữa đã khẳng định: Việc giúp các em
lĩnh hội và khắc sâu những kiến thức là nhiệm vụ quan trọng của giáo viên, góp
phần giúp học sinh hoàn thành chương trình lớp học. Đó là mục tiêu mà Ngành
Giáo dục đã đề ra.
2. Cơ sở thực tiễn:
Trong năm qua, thực trạng học sinh lớp 2 khi giải toán có lời văn, đặc biệt
dạng toán về “Ít hơn” còn nhiều vấn đề cần quan tâm và giúp đỡ. Qua khảo sát

4


tình hình chung của học sinh lớp 2D và toàn khối Hai trường Tiểu học Lộc
Ninh, huyện Dương Minh Châu thì tình hình giải toán có lời văn của học sinh có
những tồn tại sau:
2.1. Nguyên nhân:
2.1.1. Về phía giáo viên :
Một số giáo viên chưa chú trọng đến việc nghiên cứu nội dung bài
dạy nên việc vận dụng phương pháp còn lúng túng, chưa phát huy tính tích cực,
chủ động của học sinh. Một số giáo viên hướng dẫn giải toán có lời văn chưa rõ
ràng làm cho bài toán trở nên phức tạp, học sinh khó hiểu.
Một nguyên nhân cơ bản mà hầu hết giáo viên đều mắc phải đó là chưa
dám thoát ly sách giáo khoa, sách giáo viên mà còn rập khuôn, máy móc.
Do giáo viên chưa thật sự quan tâm đến việc nghiên cứu nội dung bài và
phương pháp giảng dạy một cách chu đáo, nhiệt tình và sáng tạo.
Giáo viên chưa khuyến khích và giúp đỡ một cách hợp lý và kịp thời các
nhóm, các đối tượng học sinh trong quá trình học.
Giáo viên ít quan tâm đến học sinh, chưa phân chia đối tượng học sinh,
chưa thường xuyên liên lạc với phụ huynh.
2.1.2. Về phía học sinh :
Trình độ học sinh trong lớp không đồng đều.
Học sinh đọc đề chưa trôi chảy, chưa hiểu đề toán.
Học sinh không biết tóm tắt, không biết phân tích đề, không biết yêu
cầu của đề là gì.
Một số học sinh chưa hiểu được cách ghi lời giải, ghi chưa đúng đơn
vị.
Một số học sinh khi nói đến giải toán còn lo sợ, không tự tin khi làm
bài hoặc một số em làm được phép tính nhưng đặt lời giải chưa chính xác.
Thường học sinh giải đề toán theo kiểu học thuộc lòng, máy móc, rập
khuôn, chưa khoa học.
2.1.3. Về phía phụ huynh học sinh:
Phần lớn học sinh lớp 2D là con gia đình nông dân, phụ huynh rất bận
rộn công việc nên chưa quan tâm đến việc học của con em mình, các em chủ yếu
chỉ được học ở trường, chưa có ý thức tự học ở nhà dẫn đến việc học của các em
còn chậm.
Một số gia đình còn khoán trắng việc dạy học con mình cho nhà
trường và giáo viên chủ nhiệm. Không bao giờ kiểm tra việc học của con ở
trường.
2.2. Sự cần thiết của đề tài:
Giải toán có lời văn là một phần quan trọng trong suốt quá trình học toán
của học sinh Tiểu học. Nó giúp cho học sinh phát triển tư duy, óc sáng tạo, tính
cẩn thận, tính kiên trì vượt khó, tính chính xác và có thói quen làm việc có khoa
học. Thông qua việc giải toán, học sinh có thể rèn luyện khả năng áp dụng toán
đã học vào cuộc sống.
3. Nội dung vấn đề:
3.1. Vấn đề đặt ra.

5


Muốn học sinh hiểu và có thể giải được các bài toán có lời văn thì điều
quan trọng đầu tiên là giáo viên phải nắm chắc nội dung chương trình cũng như
đặc trưng yêu cầu của mảng kiến thức này và phải nắm được đặc điểm tâm sinh
lí, trình độ nhận thức, khả năng tiếp thu của mỗi đối tượng học sinh. Đồng thời,
phải chuẩn bị cho mình một hệ thống kiến thức lôgic, phong phú sát với nội
dung bài học và phải xác định thật chính xác các dạng toán để hướng dẫn cho
học sinh dễ hiểu, dễ nhớ, giúp học sinh tìm ra cách giải đúng nhất, hợp lí nhất.
Không nên giảng dạy một cách rập khuôn, máy móc, mà cần tạo điều kiện
để tất cả mọi đối tượng học sinh đều được làm việc theo đúng khả năng của
mình. Có như vậy các em mới tự tin và có sự phấn đấu hơn ở các bài học tiếp
theo.
Từ thực trạng trên, tôi thấy: muốn nâng cao chất lượng việc giải toán có lời
văn, giáo viên phải giúp học sinh tìm hiểu đề toán, tóm tắt đề toán. Giáo viên
nghiên cứu kĩ từng loại bài để có phương pháp phù hợp.
Điều quan trọng là phải giúp cho các em xác định được dạng toán, từ đó
học sinh mới giải được bài toán.
Do đặc điểm của học sinh Tiểu học, các em còn nhỏ nên trong giờ học
giáo viên thường phải vận dụng linh hoạt các phương pháp trực quan, vấn đáp,
thực hành… nhằm tạo cho học sinh hứng thú và say mê học toán, tạo không khí
lớp học nhẹ nhàng,.
3.2. Giải pháp:
Để nâng cao hiệu quả của việc giải toán có lời văn, bản thân tôi đã thực
hiện những giải pháp sau:
3.2.1. Đọc kĩ đề và hiểu đề:
Rèn cho học sinh có thói quen đọc kĩ đề là việc làm rất quan trọng, từ
đó học sinh mới nắm được nội dung bài toán, hiểu rõ một số từ khóa quan trọng:
nhiều hơn, ít hơn.. và xác định được đâu là cái đã cho, đâu là cái phải tìm. Từ đó
các em biết bài toán đó thuộc dạng toán nào hay bài toán đó tương tự bài toán
nào đã giải rồi. Để hiểu được nội dung bài toán, yêu cầu học sinh tự đọc, tri giác
nhận biết đề toán.
Để tập cho các em có thói quen đọc kĩ đề và hiểu đề, trước khi giải toán tôi
thường gọi 2, 3 học sinh đọc to đề cho cả lớp cùng nghe. Hoặc cho cả lớp đọc
thầm rồi tôi hỏi lại các dữ kiện của đề toán để kiểm tra xem các em có đọc kĩ đề
không và hiểu được đề chưa. Muốn giải được bài toán học sinh nào cũng phải
xác định được hai bộ phận đó và mối quan hệ giữa chúng, cho nên giáo viên cần
phải hướng dẫn, gợi ý để học sinh chú ý vào các từ, cụm từ quan trọng của đề
toán.
Ví dụ:
Lớp 2A có 15 học sinh gái, số học sinh trai ít hơn số học sinh gái 3 bạn.
Hỏi lớp 2A có bao nhiêu số học sinh trai? Bài toán yêu cầu tìm số học sinh trai,
ta biết số học sinh trai ít hơn số học sinh gái là 3 bạn, mà số học sinh gái lớp 2A
là 15, vậy để tìm số học sinh trai ta lấy: 15 - 3 = 12 (bạn trai)
Sau khi học sinh đọc đề, phân tích bài toán và xác định đây là dạng toán ít
hơn. Học sinh tiến hành giải bài toán.

6


Bên cạnh đó, giáo viên còn chú tâm giúp đỡ các em hạn chế kĩ năng đọc
qua các tiết tăng và các tiết ngoại khóa nhằm giúp em tiến bộ hơn về kĩ năng
đọc. Đa phần các em ở đầu năm lớp 2 đọc vẫn còn chậm nên dẫn đến kết quả
không cao ở giải toán có lời văn, thậm chí các em không thực hiện được bài
toán.
3.2.2. Phân tích và tóm tắt đề toán
Giáo viên tổ chức cho các em cùng nhau phân tích đề. Gọi một học sinh
có kĩ năng vượt trội điều khiển cả lớp tìm hiểu đề. Người điều khiển đặt câu hỏi:
“Bài toán cho biết gì?”, “Bài toán hỏi gì?” sau mỗi câu hỏi gọi một bạn trả lời,
cả lớp nhận xét. Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh phân tích dưới dạng tiếp
sức, một học sinh hỏi “Bài toán cho biết gì?” gọi bạn trả lời, nếu bạn trả lời đúng
thì được quyền đặt tiếp câu hỏi. Sau đó giáo viên chốt lại.
Trong bước phân tích đề toán này, giáo viên không thể thực hiện qua loa,
có lệ, mà chính giáo viên sẽ làm trọng tài nghe các em phân tích đề toán, gợi ý
cho các em biết tìm tòi, khám phá, chiếm lĩnh và vận dụng đúng yêu cầu bài
toán và giáo viên phải biết kết hợp vận dụng đúng mức, đúng lúc, đúng chỗ các
phương pháp, phát huy tối đa mặt mạnh của từng phương pháp, giúp học sinh
đạt kết quả cao và tự mình chiếm lĩnh kiến thức mới.
Tuy nhiên, giáo viên không nên nóng vội, mà phải qua quá trình rèn luyện
lâu dài cho học sinh.
Tóm tắt đề toán chính là cơ sở để giải toán cho nên giáo viên cần hướng
dẫn học sinh tóm tắt đề toán một cách khoa học, có thể bằng sơ đồ hoặc ngôn
ngữ ngắn gọn. Thông qua đó thiết lập mối quan hệ cái đã cho và cái phải tìm.
Tóm tắt được đề toán tức là các em hiểu được đề toán.
Hướng dẫn học sinh tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng, giáo viên cần lưu ý
thứ tự thực hiện thao tác nhằm giúp học sinh dễ dàng khi tìm một yếu tố chưa
biết nào đó của đề toán.
Ví dụ:
Hàng trên có 7 quả cam. Hàng dưới có ít hơn hàng trên 2 quả. Hỏi hàng
dưới có mấy quả cam ?
* Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng:
7 quả
Hàng trên:
2 quả
Hàng dưới:
? quả
Qua tóm tắt học sinh sẽ nhận thấy được 2 quả là số quả hàng trên nhiều
hơn số quả hàng dưới. Các em sẽ xác định được dạng toán gì? Sau đó các em
tiến hành giải.
Ngoài ra, ta có thể hướng dẫn học sinh dùng ngôn ngữ ngắn gọn để tóm
tắt. Khi tóm tắt cần phải ngắn gọn, dễ hiểu.

7


* Tóm tắt bằng lời văn:
Hàng trên có: 7 quả cam
Hàng dưới có ít hơn hàng trên: 2 quả
Hàng dưới có : …quả ?
Giáo viên cho học sinh đọc kĩ đề. Chỉ định một em học sinh đặt câu hỏi:
“Bài toán cho biết gì?” gọi bạn trả lời (Bài toán cho biết: Hàng trên có 7 quả
cam, hàng dưới có ít hơn hang trên 2 quả). Bạn trả lời đúng được quyền đặt câu
hỏi tiếp “Bài toán hỏi gì?” gọi bạn trả lời (Bài toán hỏi hàng dưới có bao nhiêu
quả cam) giáo viên nhận xét bổ sung. Học sinh xác định đây là dạng toán ít hơn.
Như vậy các em có thể tóm tắt bài toán bằng nhiều cách, bằng lời hay sơ
đồ đoạn thẳng để dễ dàng làm toán và giải toán đúng.
Đọc đề phân tích đề là một khâu rất quan trọng của bài toán có lời văn.
Tình trạng phổ biến hiện nay trong phần lớn học sinh là đọc đề không kĩ, chưa
chịu phân tích đề nên dẫn đến làm bài bị sai sót nhiều.
Yêu cầu học sinh đọc đề nhiều lần, phân tích mối quan hệ giữa dữ kiện đã
biết và dữ kiện chưa biết để giải đúng, bằng cách phân tích đề theo hướng tổng
hợp... Và trong bài soạn cũng như trong mỗi tiết học giáo viên dạy theo từng
nhóm học sinh, nêu câu hỏi phù hợp với từng nhóm đối tượng.
3.2.3. Hướng dẫn học sinh đặt câu lời giải và xác định đơn vị
Điều quan trọng trong giải toán có văn là lời giải, nhiều học sinh còn đặt
lời giải chưa chính xác, các em còn viết chưa đúng đơn vị.
Vì thế, việc giáo viên hướng dẫn học sinh đặt được lời giải tương đối chính
xác thì đòi hỏi giáo viên phải hướng dẫn học sinh dựa vào đâu để đặt lời giải của
bài toán được chính xác, đó là yếu tố quan trọng nhất. Giáo viên kiên trì để học
sinh tự diễn đạt câu trả lời bằng lời, sau đó viết câu lời giải. Lúc đầu học sinh có
lúng túng giáo viên nên chấp nhận các diễn đạt tuy có "vụn về" nhưng đúng ý là
được, cái khó nhất của bài giải toán có lời văn ở lớp 2 chính là trình bày câu lời
giải, do đó giáo viên tập cho học sinh diễn đạt câu lời giải theo nhiều cách khác
nhau, không vội vàng mà làm thay cho học sinh. Tôi hướng dẫn học sinh diễn
đạt câu lời giải bằng các cách sau:
Ví dụ:
Lớp 2A có 15 học sinh gái, số học sinh trai ít hơn số học sinh gái 3 bạn.
Hỏi lớp 2A có bao nhiêu số học sinh trai?
Cách 1: Dựa vào câu hỏi của bài toán bỏ bớt từ "Hỏi" ở đầu câu và "Bao
nhiêu học sinh trai" ở cuối câu rồi thêm từ "Là" để có câu lời giải: "Lớp 2A có
là". (đối với học sinh chậm kĩ năng)
Cách 2: Dựa vào câu hỏi của bài toán bỏ từ "Hỏi" và thay từ "Bao nhiêu"
bằng từ "Số" rồi thêm từ "Là" vào cuối câu, để có câu lời giải: "Lớp 2A có số
học sinh trai là".
Cách 3: Cũng như trên dựa vào các câu hỏi của bài toán đưa từ "Học sinh
trai" ở cuối câu hỏi lên đầu thay thế cho từ "Hỏi" và thêm từ "Số" ở đầu câu, bỏ
từ "Bao nhiêu", rồi thêm từ "Là" ở cuối câu để có: "Số học sinh trai lớp 2A có
là".
Tôi vẫn khuyến khích học sinh trình bày câu lời giải đầy đủ và hoàn chỉnh
như cách 2 và cách 3. Sau đó cho học sinh chậm kĩ năng nhắc lại. Từ đó khắc

8


sâu và nhấn mạnh cho học sinh hiểu muốn tìm được câu lời giải đúng với yêu
cầu của bài toán phải dựa vào cái cần tìm (đây cũng chính là câu hỏi của bài
toán).
Ngoài ra, giáo viên cần giúp đỡ học sinh xác định được đơn vị của bài
toán, đây cũng là vấn đề rất quan trọng trong giải toán có lời văn mà giáo viên
cần lưu ý và hướng dẫn học sinh nhận biết được đơn vị khi giải toán.
3.2.4. Hướng dẫn cách làm bài và trình bày bài giải
Đối với dạng toán có lời văn giáo viên nên nêu vấn đề, gợi ý để các em
tìm hiểu vấn đề, đọc kĩ đề toán, nhận dạng toán để tìm ra cách giải đúng.
Từ tư duy đúng các em tìm được lời giải, phép tính, cách ghi tên đơn vị và
ghi đáp số đúng. Bước này tuy đơn giản vẫn tương đối khó với học sinh của lớp.
Lời văn ngắn gọn, chính xác, đúng nội dung bài để trả lời theo thứ tự : Lời giải –
phép tính – đáp số.
Phép tính trong bài giải toán có lời văn không ghi tên đơn vị trong phép
tính, nên đặt tên đơn vị trong ngoặc đơn
Tóm tắt đề toán đúng sẽ giúp các em biết cách trình bày bài giải và thực
hiện phép tính đúng. Câu lời giải viết trước, phép tính viết sau kèm theo đơn vị
và cuối cùng là đáp số.
Học sinh nắm được các bước giải toán giáo viên cần cho các em thực hành
giải bài tập để rèn luyện kỹ năng giải toán, nhằm đánh giá việc chiếm lĩnh kiến
thức mới. Đối với học sinh tiếp thu bài chậm giáo viên cần cho các em làm thêm
các bài tập cùng dạng để các em nắm vững rồi nâng dần lên, còn học sinh có kĩ
năng vượt trội ngoài những bài tập khó ở Sách giáo khoa, giáo viên nên sưu tầm
thêm các bài tập nâng cao cho các em giải nhằm kích thích khả năng tư duy của
học sinh từ đó giúp các em hứng thú học toán.
Trong quá trình giải toán, giáo viên là người hướng dẫn, học sinh tự chiếm
lĩnh, tự giải quyết vấn đề. Giáo viên cần lưu ý học sinh cách ghi lời giải và phép
tính, lời giải phải đầy đủ chính xác. Giáo viên phải sửa sai kịp thời để kích thích
học sinh, giúp học sinh hưng phấn hơn trong giải toán. Giáo viên nên gọi nhiều
em nêu lời giải sau đó giáo viên chọn lời giải hay nhất để sửa cho các em.
3.2.5. Tổ chức rèn kĩ năng giải toán.
Sau khi học sinh đã nắm được cách giải toán (có kĩ năng giải toán), để
củng cố và khắc sâu những kĩ năng ấy, giáo viên tổ chức cho học sinh rèn kĩ
năng giải toán . Rèn kĩ năng giải toán nghĩa là học sinh vận dụng kĩ năng vào
giải các dạng bài toán có lời văn khác nhau.
Tùy theo thực tế của lớp học, giáo viên có thể rèn kĩ năng từng bước hoặc
tất cả các bước giải toán. Đối với học sinh có kĩ năng vượt trội thì giáo viên tổ
chức cho các em rèn kĩ năng tất cả các bước giải toán, còn đối với học sinh
chậm kĩ năng thì giáo viên rèn cho các em từng bước để các em có thể thực hiện
được.
Ví dụ:
Rèn kĩ năng tìm hiểu nội dung bài toán bằng các thao tác:
+ Đọc bài toán (đọc to, đọc nhỏ, đọc bằng mắt, đọc thầm).

9


+ Tìm hiểu một số từ, thuật ngữ quan trọng để hiểu nội dung, nắm bắt bài
toán cho biết gì, bài toán yêu cầu phải tìm cái gì? Giáo viên giao nhiệm vụ cho
học sinh tìm hiểu nội dung của các bài toán cụ thể ở sách giáo khoa.
3.2.6. Ôn luyện kĩ năng, kĩ xảo làm bài tập bằng nhiều hình thức.
Để củng cố kiến thức và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo giải bài toán cho học
sinh, giáo viên thường xuyên tạo cho học sinh có điều kiện được ôn tập, tái hiện
kiến thức, rèn luyện kĩ năng qua các tiết ôn tập bằng các hình thức: hái hoa kiến
thức, trò chơi (Rung chuông vàng; Đi tìm ẩn số; Ô cửa bí mật; Ai nhanh hơn…)
tạo hứng thú cho học sinh học tập.
Ở các tiết học bồi dưỡng, phụ đạo giáo viên cần tìm và hướng dẫn cho học
sinh giải nhiều dạng toán khác nhau phù hợp với từng đối tượng học sinh.
Đối với học sinh có kĩ năng vượt trội cần yêu cầu các em tìm nhiều câu lời
giải khác nhau cho cùng một bài toán, tạo tâm lí thoải mái, không gò ép giúp các
em hứng thú hơn trong học tập.
Qua giải pháp này giúp học sinh nhận ra kiến thức mới học trong các dạng
bài tập khác nhau, giúp học sinh tự thực hành luyện tập theo khả năng của mình.
Bên cạnh đó học sinh có thể hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau để cùng tiến bộ.
*Một số vấn đề cần lưu ý khi thực hiện thành công các giải pháp trên:
+ Về phía giáo viên:
Trong quá trình giảng dạy giáo viên phải nắm được tâm tư tình cảm của
từng đối tượng học sinh, theo dõi thường xuyên cụ thể kết quả học tập (trên lớp,
làm bài tập …) để phân loại đối tượng học sinh. Đối với học sinh chậm các kĩ
năng cần có kế hoạch giúp đỡ cụ thể, giao các bài tập nhằm khích lệ, động viên
các em đều được học và học có hiệu quả.
Tổ chức đôi bạn cùng tiến, học nhóm, phụ đạo theo nhóm, có phương pháp
lấp lỗ hổng kiến thức và rèn kỹ năng cho từng em.
Tập trung nâng cao chất lượng dạy Toán có lời văn ở lớp 2, giáo viên cần
chú ý các vấn đề sau :
+ Điều đầu tiên mỗi giáo viên phải nắm thật chắc nội dung chương trình
sách giáo khoa.
+Trong khi soạn bài giáo viên cần phải nghiên cứu kỹ nội dung bài, tìm ra
những biện pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với từng loại toán và
từng đối tượng học sinh trong lớp để cho tiết dạy trở nên nhẹ nhàng hơn, tự
nhiên và hiệu quả hơn.
Giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học, phải học hỏi đồng nghiệp
qua dự giờ cũng như nghiên cứu sách báo để nâng cao tay nghề, sử dụng phối
kết hợp nhiều phương pháp dạy học phù hợp với từng dạng bài.
Dựa vào đặc thù tâm lý học sinh mau chán và tùy theo yêu cầu nội dung
từng bài, giáo viên luôn thay đổi không khí tiết học bằng những phương pháp,
hình thức tổ chức khác nhau cho tiết học sôi nổi, tạo ra sự hỗ trợ giúp đỡ lẫn
nhau giữa các đối tượng học sinh như: làm việc độc lập từng cá nhân trên bảng
con, chơi tiếp sức giữa các tổ trên bảng lớn của lớp, thi đua làm nhanh giữa các
nhóm ở bảng học nhóm,cho học sinh độc lập suy nghĩ làm bài vào vở có sự trợ
giúp của giáo viên đối với học sinh chậm kĩ năng.

10


Thường xuyên đánh giá nhận xét bài của học sinh để nhận ra sự tiến bộ
của học sinh, biểu dương những học sinh đã làm tốt, khích lệ, động viên những
học sinh còn thụ động, rụt rè, chưa mạnh dạn tham gia vào giờ học.
Gặp gỡ phụ huynh học sinh, nắm bắt hoàn cảnh, tâm lý, thói quen của từng
học sinh.
+ Về phía học sinh:
Học sinh phải thực hiện đầy đủ các công việc khi giáo viên giao.
Phải có đủ sách, vở, đồ dùng học tập …
Luôn có ý thức tích cực, tự giác trong học tập.
Trước khi làm bài tập cần phải đọc kỹ đề, xác định được “cái phải tìm”,
“cái đã cho” trong mỗi bài toán, mối quan hệ giữa các đại lượng có trong bài
toán.
Học sinh tự giải các bài toán đơn điển hình thực hiện bằng phép cộng hoặc
trừ …
Biết trình bày bài giải đầy đủ gồm câu lời giải có phép tính tương ứng và
đáp số được viết đúng như quy định.
+ Về phía phụ huynh:
Luôn nhắc nhở, đôn đốc và thường xuyên kiểm tra bài làm ở nhà của học
sinh.
Phải có sự liên hệ chặt chẽ với giáo viên, tìm hiểu cách hướng dẫn học
sinh từ phía giáo viên để giúp đỡ, kèm cặp con em mình.
4. Kết quả của đề tài:
Qua một thời gian áp dụng những biện pháp giảng dạy nêu trên tại lớp 2D
trường Tiểu học Lộc Ninh, huyện Dương Minh Châu. Kết quả mà các em đạt
được cụ thể như sau:
* Bảng 1:
Thời
gian

TS
học
sinh

Đọc và hiểu đề
Đọc hiểu
được đề

Trước khi
thực hiện
đề tài.
Sau khi
thực hiện
đề tài.

Đọc và
hiểu đề còn
chậm

Phân tích đề toán

Đọc chậm
và chưa
hiểu đề

SL

Tỉ lệ
%

SL

Tỉ lệ
%

SL

Tỉ lệ
%

28

10

35,7

11

39,3

7

25,0

28

16

57,1

12

42,9

Chính
xác
Chính xác
nhưng
chậm
Tỉ lệ
Tỉ lệ
SL
SL
%
%

Chưa
chính xác

Chưa phân
tích được

SL

Tỉ lệ
%

SL

Tỉ lệ
%

10

35,7

8

28,6

6

21,4

4

14,3

14

50,0

11 39,3

3

10,7

* Bảng 2:
Tóm tắt đề toán

Đặt câu lời giải

11


Tóm tắt
đề toán tốt
SL
Trước
khi thực
hiện đề
tài.
Sau khi
thực hiện
đề tài.

Tóm tắt
đề toán
còn chậm

Chưa biết
tóm tắt đề
toán

Chính xác

Chính xác
nhưng
chưa hay

Đặt được
Nhưng tùy
theo bài

Chưa đặt
được

Tỉ lệ
SL
%

Tỉ lệ
%

SL

Tỉ lệ
%

SL

Tỉ lệ
%

SL

Tỉ lệ
%

SL

Tỉ lệ
%

SL

Tỉ lệ
%

25,0

13

46,4

6

21,4

13

46,4

4

14,3

5

17,9

10

35,7

16

57,1

2

7,2

28

8

28,6

7

28

15

53,6

13 46,4

* Bảng 3:
Thời gian

TS
học
sinh

Xác định đơn vị
Xác định
đơn vị

Trước khi
thực hiện
đề tài.
Sau
khi
thực hiện
đề tài.

Xác định
đơn vị
nhưng vẫn
còn sai
Tỉ lệ
SL
%

SL

Tỉ lệ
%

28

16

57,1

8

28,6

28

23

82,1

5

17,9

Trình bày cách giải

Chưa xác
định được
đơn vị

Chính xác,
đẹp

Chính xác
nhựng chậm

Chưa chính xác

SL

Tỉ lệ
%

SL

Tỉ lệ
%

SL

Tỉ lệ
%

SL

Tỉ lệ %

4

14,3

13

46,4

7

25,0

8

28,6

17

60,7

11

39,3

5. Phạm vi áp dụng:
Để giúp học sinh thực hiện đạt hiệu quả cao trong giải toán có lời văn nói
chung hay dạng toán về “Ít hơn” nói riêng thì đòi hỏi giáo viên phải có phương
pháp dạy phù hợp với từng đối tượng, phải có nhiều hình thức dạy học phong
phú.
Đặc biệt phải gần gũi, tin tưởng và giao việc cho mọi đối tượng học sinh,
từ đó các em cảm thấy tự tin hơn và giúp các em hoàn thành các nhiệm vụ của
giáo viên đề ra. Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
Ngoài ra, giáo viên thường gặp gỡ, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm với các
đồng nghiệp về các phương pháp dạy toán có lời văn, qua đó đúc kết được
những phương pháp hay, phù hợp để áp dụng thực tế vào lớp mình.
Hơn thế nữa, muốn nâng cao chất lượng giải toán có lời văn nói riêng hay
môn Toán nói chung, đòi hỏi giáo viên phải thật sự yêu nghề, mến trẻ, phải thật
sự coi trọng công tác đào tạo thế hệ trẻ là việc làm cần thiết và quan trọng mà
Đảng và Nhà nước đã giao cho Ngành Giáo dục.
Tóm lại, với những giải pháp nêu trên, lớp 2D trường Tiểu học Lộc Ninh,
huyện Dương Minh Châu đã thực hiện thành công, góp phần nâng cao chất
lượng giải toán có lời văn. Từ đó, mang lại niềm tin cho các em giúp các em
luôn có niềm vui khi đến trường

12


III. KẾT LUẬN
Muốn thực hiện tốt và có hiệu giải toán có lời văn nói chung hay dạng toán
về “Ít hơn” thì đòi hỏi mỗi giáo viên cần nắm vững nội dung chương trình, cấu

13


trúc SGK về “Giải toán có lời văn” ở lớp 2 để xác định được trong mỗi tiết học
phải dạy cho học sinh cái gì, dạy như thế nào ?
Dạy “Giải toán có lời văn” cho học sinh lớp 2 không thể nóng vội mà phải
hết sức bình tĩnh, nhẹ nhàng, tỉ mỉ, nhưng cũng rất cương quyết để hình thành
cho học sinh một phương pháp tư duy học tập, đó là tư duy khoa học, tư duy
sáng tạo, tư duy lôgic. Rèn cho học sinh đức tính chịu khó cẩn thận trong “Giải
toán có lời văn” nói riêng và học môn toán nói chung.
Quá trình sử dụng đồ dùng trực quan phải linh động và phù hợp với mỗi
bài dạy, giúp các em lĩnh hội kiến thức mới một cách dễ dàng, hứng thú hơn
trong mỗi tiết học.
Thường xuyên tổ chức đánh giá và giám sát học sinh. Luôn quan tâm đến
từng đối tượng học sinh và đầu tư giúp đỡ cho học sinh chậm kĩ năng.
Cần tuyên dương, khen thưởng kịp thời, đúng lúc.
Giáo viên phải có lòng yêu nghề, mến trẻ, học hỏi để nâng cao tay nghề
Phối hợp với phụ huynh học sinh tạo điều kiện cho học sinh học tập, đôn
đốc việc thực hiện kế hoạch học tập ở trường cũng như ở nhà.
Học sinh phải có đầy đủ đồ dùng học tập, có ý thức tích cực tự giác trong
học tập.
Người thực hiện

Võ Thị Vi Hương

TÀI LIỆU THAM KHẢO

14


1. Giáo trình phương pháp dạy học môn toán lớp 2 - (Nhà xuất bản giáo
dục).
2. HD thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở Tiểu học (NXBGD).
3. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy các môn học ở lớp 2 - tập 1(NXBGD).
4. Phương pháp dạy học các môn học ở lớp 2 - tập 1 - (NXBGD).
5. Sách giáo viên Toán lớp 2 - (Nhà xuất bản giáo dục).
6. Sách giáo khoa Toán lớp 2 - (NXBGD).

MỤC LỤC
Trang

15


I. ĐẶT VẤN ĐỀ:.................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài..............................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu........................................................................................1
3. Đối tượng nghiên cứu ......................................................................................1
4. Phạm vi nghiên cứu .........................................................................................1
5.Phương pháp nghiên cứu.…………………….……………………………..1-2
6. Giả thuyết khoa học .........................................................................................2
II. NỘI DUNG:...................................................................................................3
1. Cơ sớ lý luận của đề tài ...................................................................................3
2. Cơ sở thực tiễn của đề tài ……………………….…………………… ……4-5
3. Nội dung vấn đề …………………………………………………………..5-10
4. Kết quả đề tài ……………………………………………………………10-11
5. Phạm vi áp dụng …………………………….…………………………...11-12
III. KẾT LUẬN ................................................................................................13

NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
1. Nhận xét của HĐKH trường Tiểu học Lộc Ninh:
Nhận xét:................................................................................................................

16


................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
Xếp loại:......................
TM. HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
CHỦ TỊCH

2. Nhận xét của HĐKH Phòng Giáo dục và Đào tạo Dương Minh Châu:
Nhận xét:.................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
Xếp loại:......................
TM. HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
CHỦ TỊCH

3. Nhận xét của HĐKH Sở Giáo dục và Đào tạo:
Nhận xét:.................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
Xếp loại:......................
TM. HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
CHỦ TỊCH

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×