Tải bản đầy đủ

SKKN giải pháp nâng cao hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp 1a trường tiểu học bến củi

BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Tên đề tài: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp 1A
trường Tiểu học Bến Củi.
Họ và tên: Ngô Thị Mộng Tuyết
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Bến Củi, xã Bến Củi, huyện Dương
Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
1. Lí do chọn đề tài:
Qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy và chủ nhiệm lớp Một, tôi nhận thấy
việc rèn nền nếp học tập song song với việc rèn năng lực và phẩm chất cho học
sinh sẽ mang lại hiệu quả giảng dạy cao nhất, vừa làm nền tảng cho những năm
học sau. Tìm giải pháp thực hiện tốt công việc này là trách nhiệm mà bản thân
tôi cần thực hiện. Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác
chủ nhiệm lớp 1A trường Tiểu học Bến Củi”.
2. Đối tượng nghiên cứu:
- Giải pháp giúp học sinh lớp 1A học tập và rèn luyện tốt.
- Học sinh lớp 1A trường Tiểu học Bến Củi.
3. Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu tài liệu: Tham khảo các tài liệu liên quan đến công tác chủ
nhiệm lớp.
- Điều tra: dự giờ, đàm thoại, kiểm tra.
4. Phạm vi nghiên cứu:

- Nhiệm vụ giáo viên chủ nhiệm lớp.
- Thời gian từ đầu năm học cho đến cuối học kỳ I năm học 2014-2015.
5. Đề tài đưa ra giải pháp mới:
- Các hình thức, phương pháp dạy học, các giải pháp rèn luyện phù hợp
với tâm sinh lí của học sinh, làm cho tiết học sinh động nhằm tạo hứng thú học
tập của các em. Từ việc rèn nền nếp học tập tốt, trau dồi cho học sinh kiến thức
bài học, tôi còn chú ý đến việc giáo dục thẩm mĩ, giáo dục tình cảm, phát triển
tư duy cho học sinh.
- Luôn chú ý đến chuẩn mực của người giáo viên trên lớp, là tấm gương
cho học sinh noi theo, kết hợp với phụ huynh để có biện pháp giảng dạy phù hợp
với từng đối tượng học sinh.
6. Hiệu quả áp dụng:
Đề tài được vận dụng có hiệu quả, nền nếp lớp được ổn định, chất lượng
học tập và rèn luyện của học sinh được nâng cao dần.
7. Phạm vi áp dụng:
Đề tài đang được áp dụng cho học sinh khối 1 trường Tiểu học Bến Củi
và đề tài có thể áp dụng cho các trường trong toàn huyện.
Bến Củi, ngày tháng năm 2015
Người thực hiện

Ngô Thị Mộng Tuyết
1


I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài:
Để theo kịp những xu thế đổi mới giáo dục của thời kì công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, mỗi người phải được học tập và giáo dục ngay ở bậc học đầu tiên.
Giáo dục tiểu học có một vị trí hết sức đặc biệt trong việc đặt nền móng phát
triển các năng lực của con người Việt Nam thời kì công nghiệp hoá, hiện đại
hoá. Luật Giáo dục ghi rõ: “Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành
những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ,
thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ
sở”. Học sinh là chủ thể của hoạt động học, là nhân vật trung tâm, là mục tiêu
giáo dục, nhưng sự thành bại của học sinh tiểu học lại tuỳ thuộc vào hoạt động
dạy của giáo viên, người giữ vai trò có tính quyết định sự thành bại của giáo dục
nhất là giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp. Giáo viên hiểu được trẻ em đối
với gia đình và xã hội “Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai” như Bác Hồ nói:
Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan.

Giúp trẻ thực hiện tốt theo lời Bác nói thì đó là công việc của giáo viên
chủ nhiệm lớp. Học sinh lớp Một là học sinh lớp đầu cấp của bậc tiểu học, với
đặc điểm tâm lí đang phát triển và dần hoàn thiện. Trẻ chuyển từ hoạt động vui
chơi đến hoạt động học tập (hoạt động chủ đạo). Các em chưa quen với môi
trường có những điều mới lạ của lớp học, nơi có những quy định mà trẻ chưa
quen. Các em bước đầu làm quen với môi trường học tập mới, mọi cái đối với
các em còn nhiều mới lạ và bỡ ngỡ; từ môi trường, nội dung, hình thức lẫn
phương pháp học tập. Để các em học tập tốt, rèn luyện tốt và tham gia các hoạt
động của nhà trường đề ra, đó là nhiệm vụ của người giáo viên chủ nhiệm lớp.
Giáo viên chủ nhiệm phải là người góp phần phát triển năng lực của con người
Việt Nam trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chính vì thế, bản thân tôi
giảng dạy và làm công tác chủ nhiệm lớp 1A, tôi cần phải xây dựng, ổn định nền
nếp lớp, rèn các em một số kĩ năng cơ bản, để học sinh không chỉ hoàn thành
các kiến thức, kĩ năng cơ bản ở các môn học mà các em phải đạt về năng lực và
phẩm chất.
Vì vậy, tôi lựa chọn, tìm hiểu, nghiên cứu đề tài: “Giải pháp nâng cao
hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp 1A trường Tiểu học Bến Củi”.
2. Mục đích nghiên cứu:
Với vai trò, trách nhiệm của một giáo viên trực tiếp giảng dạy và chủ
nhiệm lớp, nghiên cứu đề tài này giúp tôi hiểu hơn về tâm lí của các em. Từ đó,
có hình thức, phương pháp dạy học, giải pháp rèn luyện các em để các em học
tập tốt và có năng lực, phẩm chất tốt.
3. Đối tượng nghiên cứu:
- Giải pháp giúp học sinh lớp 1A học tập và rèn luyện tốt.
- Học sinh lớp 1A trường Tiểu học Bến Củi.
4. Phạm vi nghiên cứu:
- Nhiệm vụ giáo viên chủ nhiệm lớp.
2


- Thời gian từ đầu năm học cho đến cuối học kỳ I năm học 2014-2015.
5. Phương pháp nghiên cứu:
5.1. Nghiên cứu tài liệu:
Tham khảo các tài liệu liên quan đến công tác chủ nhiệm lớp.
5.2. Điều tra:
- Dự giờ: Dự giờ các lớp, để thấy được cách thức xây dựng và ổn định
nền nếp lớp của giáo viên, từ đó rút kinh nghiệm cho bản thân tìm ra giải pháp
tốt nhất, khả thi nhất trong công tác giảng dạy và giáo dục học sinh lớp mình đạt
hiệu quả.
- Đàm thoại: Trao đổi với giáo viên trong trường để tìm hiểu, thảo luận,
tìm ra giải pháp hay nhất, nhằm giảng dạy và giáo dục học sinh diễn ra nhẹ
nhàng, thoải mái có chất lượng.
- Kiểm tra: Qua kiểm tra năm học này, giáo viên chú trọng thực hiện giải
pháp rèn nền nếp lớp và giáo dục học sinh tốt thì việc học tập của học sinh có
tiến bộ.
6. Giả thuyết khoa học:
Hiện nay, công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên lớp 1 còn nhiều hạn chế
dẫn đến hiệu quả giáo dục học sinh chưa cao như: học sinh còn nói chuyện, làm
việc riêng trong giờ học, chưa chuẩn bị đầy đủ đồ dùng học tập, chưa chấp hành
tốt nội quy trường, lớp,… Vì vậy, nếu giải pháp nâng cao hiệu quả công tác chủ
nhiệm lớp được áp dụng thì sẽ nâng cao chất lượng giảng dạy và giáo dục học
sinh trong nhà trường và góp phần phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh.

3


II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận:
Nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và giáo dục học sinh, ngành Giáo
dục và Đào tạo đã ban hành nhiều công văn chỉ đạo:
- Quyết định số 16/2006/QĐ - BGD&ĐT ngày 05 tháng 05 năm 2006 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục ban hành hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức kĩ năng
các môn học.
- Công văn số 5842/BGD&ĐT hướng dẫn thực hiện điều chỉnh nội dung
dạy học các môn học cấp Tiểu học.
- Thông tư 30/2014/TT - BGD&ĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 do Bộ
trưởng Bộ Giáo dục ban hành quy định đánh giá học sinh Tiểu học.
- Điều lệ trường Tiểu học.
Văn kiện Hội Nghị Trung ương lần IV khóa VII của Đảng Cộng Sản Việt
Nam có viết: “Đào tạo nên những con người có kiến thức văn hóa, khoa học, có
kĩ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo và có kĩ thuật, giàu lòng yêu
nước, yêu Chủ nghĩa xã hội, nhân ái, sống lành mạnh đáp ứng yêu cầu phát triển
của đất nước”. Để có một thế hệ trẻ phát triển toàn diện như thế thì mỗi con
người đều được học tập. Ở bậc học tiểu học, các môn học được đan xen nhau, hỗ
trợ nhau nhằm thực hiện tốt mục đích, yêu cầu của Ngành giáo dục. Theo
chương trình đổi mới toàn diện giáo dục hiện nay, nhiệm vụ của giáo viên chủ
nhiệm là rất quan trọng. Nhiệm vụ của người giáo viên chủ nhiệm lớp là phải
thực hiện nhằm thay mặt Hiệu trưởng quản lí quá trình giáo dục toàn diện một
lớp học, người giáo viên chủ nhiệm phải làm tất cả những công việc để phối hợp
và tổ chức tốt việc khai thác tiềm năng trong và ngoài nhà trường nhằm thực
hiện mục tiêu giáo dục toàn diện học sinh một lớp học (Tài liệu bồi dưỡng
thường xuyên). Vì thế, giáo viên chủ nhiệm lớp không những trang bị cho các
em kiến thức các môn học mà còn bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ
năng sống, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú trong học tập và
tham gia các hoạt động của các em. Giáo viên chủ nhiệm lớp cần tạo môi trường
học tập thân thiện, kích thích học sinh ham học, phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của học sinh. Do đó, giáo viên chủ nhiệm lớp phải tìm hiểu về
những đặc điểm nhân cách và đặc điểm quá trình nhận thức của học sinh.
2. Cơ sở thực tiễn:
Qua tìm hiểu thực tế giảng dạy và công tác chủ nhiệm lớp, tôi nhận thấy
giáo viên và học sinh còn những điểm hạn chế ảnh hưởng không nhỏ đến chất
lượng giảng dạy và giáo dục học sinh:
- Bước vào lớp Một, trẻ phải thực hiện một hoạt động có ý thức mới mẻ
như đến lớp các em phải ngồi nghe giảng bài, phải đọc bài, cô giáo kiểm tra bài,
các em làm theo các yêu cầu của giáo viên... Những thay đổi này làm cho một số
em trong giờ học thường rụt rè (không dám nói, nói lí nhí, không dám nói to,...),
thường cảm thấy bỡ ngỡ chưa thích nghi được; sự chú ý thường không chủ định,
thường hướng về cái mới lạ, hấp dẫn, chú ý không bền vững, sự chú ý của các
em thường bị phân tán, khả năng tập trung chú ý chưa cao.
- Sự chuẩn bị sách vở, đồ dùng học tập không đầy đủ trong tiết học đã ảnh
4


hưởng đến việc học của các em.
- Chưa tích cực tham gia các hoạt động vệ sinh trường lớp, chăm sóc cây
kiểng, các phong trào của Đội đề ra như: nuôi heo đất, kế hoạch nhỏ, hũ gạo tình
thương, tặng sách truyện,...
- Giáo viên chưa quan tâm nhiều về việc rèn nền nếp của các em trong
học tập; chưa nhắc nhở, khuyến khích các em tham gia các hoạt động của trường
của Đội.
Từ những khó khăn trên, bản thân tôi không ngừng tìm tòi, học hỏi những
kinh nghiệm từ tài liệu, bạn bè đồng nghiệp. Đồng thời đúc rút những kinh
nghiệm của bản thân để vận dụng vào việc giảng dạy và giáo dục cho phù hợp
từng đối tượng học sinh. Từ đó giúp học sinh tích cực, chủ động học tập và rèn
luyện, nhằm nâng cao chất lượng qua mỗi tiết học. Bên cạnh đó, tôi thường
xuyên gặp gỡ, trao đổi với phụ huynh nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các em
học tập và tham gia các hoạt động trong nhà trường.
3. Nội dung vấn đề:
3.1. Vấn đề đặt ra:
Nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp là thay mặt Hiệu trưởng quản lí
quá trình giáo dục toàn diện một lớp học. Xây dựng, ổn định nền nếp lớp học và
giúp các em tích cực tham gia các hoạt động là công việc giáo dục học sinh của
giáo viên chủ nhiệm lớp. Nhiệm vụ quan trọng của nó là rèn học sinh có thói
quen, kĩ năng hỗ trợ tốt cho việc học tập. Muốn vậy, giáo viên cần trang bị cho
mình những kiến thức về tâm lí, giáo dục học lứa tuổi Tiểu học.
Trong quá trình làm công tác chủ nhiệm, giáo viên dễ gặp các tình huống
sư phạm phong phú, muôn hình, muôn vẻ đòi hỏi sự nhanh trí, linh hoạt, giải
quyết vấn đề phù hợp với từng đối tượng học sinh, từng hoàn cảnh, mới hy vọng
đạt hiệu quả trong giáo dục.
Cùng một tình huống sư phạm, nhưng có thể có nhiều cách xử lí khác
nhau. Điều đó phụ thuộc vào từng đối tượng, từng hoàn cảnh cụ thể cũng như
từng chủ thể giải quyết nó. Có câu tục nhữ nói: “Một người kém mà được dạy
dỗ thành đạt hơn một người thông minh bị bỏ rơi.” (Tục ngữ Tây Ban Nha)
Những trường hợp thường gặp trên lớp: học sinh đi học muộn, ăn quà vặt
trong lớp; nói chuyện, làm việc riêng; nói leo ngắt lời nói của cô, của bạn; chưa
biết lắng nghe, chuyện gì cũng mách với cô,… Nề nếp như thế thì không thể tiếp
thu tốt bài học.
Từ những khó khăn trên, bản thân tôi có các giải pháp để các em đi vào
nền nếp.
3.2. Giải pháp chứng minh vấn đề cần giải quyết:
3.2.1. Xây dựng, ổn định và rèn nền nếp học sinh:
Muốn quản lí lớp học, giáo viên chủ nhiệm lớp phải phân loại đặc điểm
học sinh lớp chủ nhiệm để có cơ sở giáo dục. Việc phân loại học sinh cần dựa
trên hai cơ sở để phân loại:
- Dựa trên mục tiêu giáo dục:
Giáo viên xác định những biện pháp dạy học, giáo dục phù hợp với mỗi
học sinh và tổ chức để tất cả học sinh đạt tới mục tiêu giáo dục Tiểu học. Ví dụ:
trong lớp có 6/34 em có kĩ năng đọc còn kém thì cần tăng cường cho các em đó
5


được rèn đọc nhiều hơn các em khác. Có một số em chưa biết chia sẻ với bạn bè
thì cần tạo ra tình huống, tạo ra những hoạt động, đưa các em vào tình huống có
vấn đề để tạo ra xúc cảm, tạo ra cơ hội rèn luyện kĩ năng biết chia sẻ.
- Dựa trên nguyên nhân của hành vi với các hiện tượng ở học sinh:
Mỗi hiện tượng có rất nhiều nguyên nhân, giáo viên chủ nhiệm phải tìm
hiểu đúng nguyên nhân thì mới có biện pháp tác động phù hợp. Chẳng hạn học
sinh đi học muộn, nghỉ học… Vì vậy, việc phối hợp với phụ huynh là rất cần
thiết.
a) Phối hợp với phụ huynh học sinh:
Gia đình là môi trường giáo dục trẻ đầu tiên và hữu hiệu nhất. Vì thế,
ngay từ đầu năm học, giáo viên họp phụ huynh học sinh triển khai về nội quy
của học sinh để phụ huynh nắm bắt được đưa con em đi học đều, đúng giờ, nhắc
nhở các bậc phụ huynh mua sắm đầy đủ sách giáo khoa, nếu gia đình học sinh
gặp khó khăn về kinh tế hoặc thuộc diện gia đình nghèo địa phương, nghèo
trung ương, giáo viên liên hệ với thư viện nhà trường cho các em mượn sách. Vì
các em không có sách thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình học tập. Giáo
viên thường xuyên tiếp xúc với phụ huynh khi phụ huynh đưa đón con em đến
trường, có thể tìm hiểu và nắm bắt thông tin về các em. Song song đó, giáo viên
cần đến nhà thăm hỏi để nắm được hoàn cảnh gia đình, cá tính, thói quen của
học sinh. Giáo viên phối hợp với phụ huynh học sinh có phương pháp giáo dục
tốt nhất. Giáo viên yêu cầu phụ huynh phải thường xuyên quan tâm đến việc học
tập của con em mình, dành thời gian hướng dẫn trẻ học bài. Sự quan tâm của
phụ huynh đối với việc học của các em là rất quan trọng. Từ khả năng thực
hành, luyện tập, thái độ học tập của các em mà giáo viên có hình thức giảng dạy
và giáo dục phù hợp với từng đối tượng học sinh.
b) Chuẩn bị tâm thế để các em vào lớp 1:
Ngay từ khi nhận lớp đầu năm, giáo viên hướng dẫn trẻ tâm thế để học:
- Chào thầy cô khi thầy cô bước vào lớp:
Vào lớp 1 là môi trường học tập mới của trẻ, trước hết giáo viên hướng
dẫn các em phải biết chào thầy cô khi thầy cô bước vào lớp:
Ví dụ: Khi cô bước vào lớp, lớp trưởng hô to “Các bạn nghiêm”. Cả lớp
phải đứng dậy ở tư thế đứng nghiêm và nói: “Chúng em chào cô ạ !” (nếu đang
làm việc gì đó cũng ngưng lại, không nói chuyện riêng). Khi nghe hiệu lệnh của
cô: “Cô chào các em, các em ngồi xuống”. Cả lớp thôi chào và ngồi xuống
nghiêm túc. Cho lớp thực hành chào nhiều lần như thế để các em quen dần và
trở thành thói quen.
Nếu khi giáo viên bước vào lớp, cả lớp đều chào cô nhưng duy nhất có
một em không đứng dậy, em cứ bình thản ngồi tại chỗ. Trước tình huống đó,
giáo viên cần xuống tận nơi em đó ngồi và hỏi lí do. Sau đó, nhắc nhở em lần
sau cần thực hiện tốt.
- Cách đưa tay khi muốn phát biểu ý kiến: Khi học sinh muốn phát biểu ý
kiến, giáo viên hướng dẫn các em: đưa tay bằng tay trái, khuỷu tay đặt xuống
bàn, thầy cô gọi đến tên mình thì được phép đứng lên trình bày ý kiến, chữ đầu
câu phải có “thưa cô” hoặc “thưa thầy” và nói trọn câu.
Ví dụ: Giáo viên hỏi: Em là học sinh lớp mấy ?
6


Học sinh trả lời: Thưa cô, em là học sinh lớp 1.
Giáo viên yêu cầu cả lớp lưu ý: Khi bạn phát biểu ý kiến phải biết lắng
nghe, rồi nhận xét câu trả lời của bạn, nếu câu trả lời của bạn chưa đúng hoặc
câu trả lời chưa hoàn chỉnh thì bổ sung hay trả lời lại câu hỏi, không ngồi nói
chuyện riêng, làm ồn, biết tập trung chú ý. Tránh trường hợp, giáo viên nêu câu
hỏi, các em không đưa tay mà ngồi dưới lớp trả lời, nói leo theo.
- Cách ngồi học: Hướng dẫn các em phải ngồi ngay ngắn, cổ và đầu
thẳng, không đặt hai chân lên ghế.
- Cách ngồi viết: Khi ngồi viết lưng thẳng, không tựa ngực vào bàn,
khoảng cách từ mắt đến vở khoảng 30cm đến 35cm, mắt không nhìn sát vào
trang vở.
- Cách cầm bút: Cầm bút bằng ba ngón tay, ngón tay giữa ở phía dưới,
ngón trỏ ở trên và ngón cái giữ bút ở phía ngoài sao cho ngón tay cái thẳng với
cánh tay, bàn tay để nghiêng trên trang vở, cổ tay thẳng thoải mái, bút nghiêng
về phía cánh tay khoảng 45 độ so với mặt giấy và song song mép dọc của trang
vở.
Trong mỗi giờ học, giáo viên nhắc nhở thường xuyên các em về tư thế
ngồi học, ngồi viết, cách cầm bút và quan sát từng em để uốn nắn kịp thời.
Nhưng không ép học sinh vào khuôn khổ quá cứng nhắc (ví dụ: học sinh ngồi
học đều phải khoanh tay trên bàn).
Ngoài ra, giáo viên nhắc nhở các em về việc giữ gìn sách vở và đồ dùng
học tập, cách lấy đồ dùng trong giờ học nhanh nhẹn, sắp xếp gọn gàng trên bàn
học không gây tiếng động. Giáo viên có thể cho học sinh lấy sách, vở, bảng theo
kí hiệu quy định. Ví dụ: Bảng con kí hiệu là B, sách giáo khoa kí hiệu là S, vở
kí hiệu là V,…
- Xây dựng tập thể lớp thành một tập thể tự giáo dục: Vào đầu năm học
mới, giáo viên chủ nhiệm cùng cả lớp tiến hành bầu cán sự của lớp: lớp trưởng,
lớp phó, các tổ trưởng, các tổ phó. Ở lớp 1, các em thiếu kinh nghiệm sống
nhưng lại có nhu cầu được chia sẻ, giàu cảm xúc,… Vì vậy, chọn đội ngũ tự
quản chọn những em cởi mở, biết nhường nhịn, biết lắng nghe, biết quan tâm
giúp đỡ bạn bè, biết thuyết phục bạn bè… làm đội ngũ tự quản lớp.
c) Triển khai nội quy:
Vào đầu năm học mới, giáo viên nêu những nội quy, quy định trong nhà
trường, lớp học và nhắc nhở thường xuyên trong tiết sinh hoạt lớp, yêu cầu các
em phải thực hiện tốt các điều sau:
Điều 1: Đi học đều, đúng giờ, nghỉ học phải xin phép, thuộc và làm bài
đầy đủ trước khi đến lớp.
Điều 2: Giữ trật tự trong giờ học, hăng hái phát biểu ý kiến, không quay
cóp bài khi làm bài kểm tra, không nhắc bài cho bạn, không chép bài của bạn.
Điều 3: Tham gia đầy đủ và làm tốt nhiệm vụ trực nhật, hằng ngày làm vệ
sinh trường lớp, chăm sóc cây kiểng theo khu vực được phân công, có ý thức
bảo vệ của công như bàn ghế, cây kiểng, không vẽ bậy lên tường, bàn ghế,...
Điều 4: Tập trung đúng hiệu lệnh trống, xếp hàng ngay ngắn, trật tự mỗi
buổi sinh hoạt, tập thể dục, ra vào lớp đúng vị trí.

7


Điều 5: Luôn giữ gìn thân thể, áo quần sạch sẽ, đi tiêu, đi tiểu và bỏ rác
đúng nơi quy định.
Điều 6: Tham gia đầy đủ các hoạt động do Liên Đội tổ chức.
Điều 7: Kính trọng, lễ phép, vâng lời thầy giáo, cô giáo, nhân viên nhà
trường và người lớn tuổi.
Điều 8: Đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ bạn bè; không nói tục, chửi thề,
không bắt nạt, đánh bạn; không lấy cắp của bạn; nhặt của rơi phải báo cho nhà
trường, thầy cô để trả lại cho người mất.
Điều 9: Sử dụng xe đạp đi đến trường phải xếp xe đúng nơi quy định,
ngay ngắn, không chạy xe trong sân trường; không ra khỏi cổng trường cũng
như qua đường khi chưa có sự cho phép của giáo viên; ra về phải trật tự không
tụ tập trước cổng trường, nếu chờ người thân đến rước phải đứng tránh lối đi ra
vào cổng trường.
Điều 10: Học sinh phải thực hiện 9 điều trên, học sinh vi phạm sẽ bị trừ
điểm thi đua và là tiêu chí để đánh giá phẩm chất học sinh theo quy định tại
Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ
GD-ĐT.
d) Rèn chuyên cần trong học tập:
Giáo viên điểm danh sỉ số học sinh hằng ngày, theo dõi sự chuyên cần của
học sinh trong học tập và sự quan tâm của gia đình đối với việc học của con em
ở trường. Quản lí sỉ số học sinh còn góp phần theo dõi sự phát triển thể chất, sức
khoẻ của học sinh.
Ví dụ: Những em mắt kém cần bố trí ngồi bàn trên, những em cao lớn
nên ngồi bàn dưới, ngồi đầu ngoài của bàn.
Vào đầu tuần, cuối tuần, tiết sinh hoạt lớp nhắc nhở học sinh đi học đều
và đúng giờ, không tự ý bỏ học, khi nghỉ học ba mẹ phải xin phép với giáo viên,
không đi học muộn giờ, thức dậy sớm để kịp ăn sáng, đi đến trường tham gia vệ
sinh lớp cùng với các bạn.
Ví dụ: Có trường hợp học sinh đi học muộn giờ. Hôm nay, giáo viên đã
vào lớp được 5 phút em Hoàn mới đến. Với tình huống trên, giáo viên vẫn cho
em vào lớp và nhẹ nhàng nhắc nhở em lần sau phải đi học đúng giờ. Sau đó, liên
hệ với gia đình em để tìm hiểu nguyên nhân, từ đó tìm cách giúp đỡ em khắc
phục.
đ) Rèn tập trung, chú ý vào giờ học:
Trong giờ học, các em thường xuyên vi phạm các lỗi sau:
* Ăn quà vặt:
Trong giờ học, các em đem bánh ra ăn. Giáo viên nhắc nhở các em không
nên ăn trong giờ học, chỉ được ăn vào giờ ra chơi, nếu có trường hợp ăn vụn
trong giờ học, giáo viên cất thức ăn vào tủ, giờ ra chơi phát ra cho em đó.
* Nói chuyện, làm việc riêng và đùa nghịch:
Việc nói chuyện, làm việc riêng và đùa nghịch trong giờ học thường phổ
biến trong các lớp học nhất là học sinh lớp Một.
Ví dụ: Trong giờ học, khi cô đang giảng bài, ở dưới lớp một số em nói
chuyện riêng, cô giáo đã nhắc một, hai lần nhưng tình trạng đó vẫn như vậy. Lúc
này, giáo viên dừng giảng bài và gọi học sinh đang nói chuyện nhắc lại ý cô vừa
8


giảng. Dù em đó có nói được hay không, giáo viên vẫn nhắc nhở chung cả lớp
giữ trật tự và chú ý nghe cô giảng và tiếp tục giảng bài.
Có trường hợp, giáo viên đang đọc mẫu bài tập đọc, phát hiện 2 em Linh
và Nghĩa đang nói chuyện riêng. Giáo viên nhìn về phía 2 em tỏ ý nhắc nhở và
tiếp tục đọc bài. Hai em đó cố tình không hiểu ý cô. Cô dừng đọc và gọi 1 trong
2 em đứng lên.
- Linh ? Tại sao em nói chuyện riêng trong giờ học ?
- Thưa cô ! em có nói chuyện đâu ? Em nhắc bạn đừng nói chuyện riêng
đấy chứ !
- Nếu đúng là em Linh nhắc bạn không nói chuyện nữa thì cô khen em có
ý thức tốt. Nhưng bạn thường không thể nói chuyện một mình được.
Sau đó, giáo viên nhắc nhở 2 em không nói chuyện riêng chú ý vào bài và
cuối buổi học gặp cô để không làm ảnh hưởng đến giờ học cả lớp.
Có em giờ học môn này lại mang môn khác ra làm:
+ Hà là một học sinh không những học khá mà giỏi về môn vẽ. Một lần
trong tiết học môn Tiếng việt, em đã lấy giấy ra vẽ tranh và khi em đặt lên bàn
ngắm nghía thì cô giáo phát hiện. Ở tình huống trên, giáo viên xuống chỗ em Hà
ngồi, khen em vẽ đẹp, nhưng đồng thời vẫn nhẹ nhàng nhắc nhở em giờ nào việc
nấy và em hứa với cô sẽ không tái phạm lần nữa.
+ Trong khi giảng bài, giáo viên phát hiện một em đang say sưa xem
quyển truyện. Tình huống đó, giáo viên yêu cầu em đó đưa quyển truyện và
nhắc nhở em chú ý vào bài học, sau đó giữ quyển truyện và tiếp tục giảng bài.
Cuối buổi học gặp riêng và góp ý em đó.
Các em hay đùa nghịch lấy đồ dùng học tập của bạn giấu đi. Vào giờ học,
có một em lấy bút của Lan giấu đi. Khi viết bài, Lan không có bút. Em Lan thưa
với cô có bạn nào đã giấu bút của em. Cô giáo hỏi cả lớp ai giấu bút của bạn Lan
nhưng không em nào nhận cả. Với tình huống trên, giáo viên hỏi em nào có dư
bút thì cho bạn Lan mượn. Sau đó, giao cho cán bộ lớp tìm hiểu và báo cáo với
cô sau, để khỏi ảnh hưởng thời gian học tập của cả lớp.
Có trường hợp các em hay chọc ghẹo bạn: Cô đang viết bài trên bảng. Ở
dưới lớp có một em nam kéo tóc bạn nữ. Bạn nữ đó kêu lên và cả lớp quay về
phía hai học sinh đó. Trước tình huống đó, Giáo viên yêu cầu cả lớp ổn định, trật
tự để tiếp tục bài học và riêng hai em đó cuối buổi gặp cô.
* Giờ học không tập trung:
Trong giờ học, có em hay gục đầu xuống bàn, không chú ý giáo viên
giảng bài trên lớp.
Với tình huống đó, giáo viên đi xuống chỗ học sinh hỏi thăm để tìm hiểu
nguyên nhân và sau đó có biện pháp giúp đỡ thích hợp (nếu em bị bệnh đưa
xuống phòng y tế và gọi điện báo cho người nhà, nếu em buồn ngủ cho em ra
ngoài rửa mặt cho tỉnh táo) và nhắc nhở em chú ý vào bài học.
Trong lớp học cũng có trường hợp học sinh học rất kém và trong lúc nào
cũng buồn. Mỗi lần cô hỏi, em chỉ nói: “Em không học được” hoặc “Em không
làm được”.
Ở tình trạng đó, giáo viên trực tiếp đến nhà em đó để tìm hiểu nguyên
nhân do sức khoẻ hay do hoàn cảnh nhà em. Sau đó, cô cùng một số em học giỏi
9


trong lớp giúp đỡ riêng em, theo dõi và động viên từng sự tiến bộ nhỏ của em.
Trong lớp có em ngồi đầu bàn ngay cửa ra vào không chú ý vào bài học
hay nhìn ra ngoài sân trường. Giáo viên nhắc nhở nhưng em vẫn tái phạm, giáo
viên cần đổi chỗ ngồi cho em đó.
Bình thường trong những giờ dạy của cô, học sinh rất hăng hái phát biểu ý
kiến. Nhưng giờ học hôm nay có đoàn kiểm tra về dự giờ, mặc dù cô đã dặn dò
và chuẩn bị cho các em rất chu đáo. Vậy mà khi cô đặt câu hỏi, cả lớp không có
ai giơ tay, kể cả câu hỏi dễ nhất.
Trước tình huống đó, giáo viên nên giải thích luôn và sau giờ học cô gặp
cả lớp để tìm nguyên nhân. Từ đó rút kinh nghiệm trong phương pháp sư phạm
của mình.
Bên cạnh đó, có em chậm chạp không nhanh nhẹn, giáo viên cần hướng
dẫn riêng, có thể ban đầu em chưa làm kịp, giáo viên động viên, khen ngợi nếu
thấy em đó có chút tiến bộ. Có em rất thích phát biểu ý kiến. Ví dụ: Trong giờ
học, khi giáo viên đặt câu hỏi sẽ có nhiều học sinh đưa tay phát biểu ý kiến,
nhưng có em đưa tay nhiều lần nhưng không được gọi, có em có vẻ không vui,
nhiều khi còn bực tức. Cô giáo đã nhận ra điều đó. Gặp phải trường hợp trên,
giáo viên đặt câu hỏi khác và gọi em trả lời. Nếu em trả lời đúng thì cần khen
ngợi nhưng vẫn góp ý với em phải bình tĩnh, chờ đợi. Nếu em trả lời chưa đúng,
phân tích chỗ chưa đúng câu trả lời của em, đồng thời nhắc nhở em cần suy nghĩ
kỹ, không nên nôn nóng, phải biết chờ đợi.
Để xây dựng, ổn định và rèn nền nếp học tập học sinh lớp 1, giáo viên cần
nắm được những đặc điểm nhân cách của các em. Các em có tính hiếu động, hay
bướng bỉnh bất thường, thích ăn thì ăn, thích nói thì nói, hay phát biểu linh tinh
trong giờ học,… Trẻ dễ xúc cảm, xúc động, tình cảm của trẻ gắn liền với hành
động. Tình cảm tích cực không chỉ kích thích trẻ nhận thức mà còn thúc đẩy trẻ
hoạt động. Nhu cầu nhận thức giúp trẻ khắc phục khó khăn để tự chiếm lĩnh tri
thức. Cung cấp kiến thức cho học sinh phải chính xác, khoa học, đơn giản, dễ
hiểu, những kĩ năng, thói quen, hành vi giáo dục trẻ phải chuẩn xác. Chẳng hạn,
khi học môn Tiếng việt phải dạy trẻ phát âm đúng về âm, vần ngay từ đầu. Cũng
như vậy, phải hướng dẫn trẻ rèn luyện những hành vi, thói quen đúng mục tiêu
giáo dục nhân cách, giáo dục rèn luyện cho trẻ hiểu đúng, làm đúng những quy
định chung của truyền thống đạo lí, biết tôn trọng nguyên tắc sống và quy định
của pháp luật là nền tảng hình thành các năng lực sau này. Giáo dục trẻ theo
đúng mục tiêu giáo dục tiểu học phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí là nền móng
vững chắc cho sự phát triển nhân cách sau này.
Ngoài ra, giáo viên cần tìm hiểu đặc điểm của quá trình nhận thức của học
sinh lớp 1 về:
- Tri giác:
Tri giác của học sinh lớp 1 ít đi sâu vào chi tiết và tính không chủ động,
thường gắn với hoạt động thực tiễn với sự vật, Tri giác sự vật nghĩa là phải làm
cái gì đó với sự vật: cầm, nắm, sờ, mó sự vật ấy. Những gì phù hợp với nhu cầu
của học sinh, những gì các em thường gặp trong cuộc sống và gắn với cuộc sống
của chúng. Những gì giáo viên chỉ dẫn thì mới được các em tri giác. Vì thế,
trong giáo dục nên vận dụng các điều sau đây: Trăm nghe không bằng một thấy,
10


trăm thấy không bằng một làm”.
Học sinh lớp 1 không tập trung chú ý lâu, các em nói chuyện riêng rất
nhiều, ngồi không yên, để có sự chú ý của các em vào giờ học trong lớp, lời nói
của giáo viên cần ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu. Ngoài ra, giáo viên phải kết hợp đồ
dùng dạy học trực quan.
- Chú ý: Các em còn nhỏ cho nên sự chú ý thường không chủ định,
thường hướng về cái mới lạ, hấp dẫn, chú ý không bền vững, chú ý các em
thường bị phân tán. Các em sẽ quên điều cô giáo dặn khi cuối buổi học. Nhiều
công trình nghiên cứu chú ý khẳng định: Học sinh tiểu học thường chỉ tập trung
và duy trì sự chú ý liên tục khoảng thời gian 30 đến 35 phút, sự chú ý của các
học sinh lớp 1 còn thấp hơn. Vì thế, giáo viên phải biết gây sự chú ý cho các em.
Để gây hứng thú trong giờ học, giáo viên cho học sinh học kết hợp trò chơi để
tiết học thêm sinh động. Trò chơi học tập trong dạy học nhằm mục đích hướng
vào việc củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng cho học sinh, đồng thời giúp học
sinh duy trì hứng thú học tập. Vì đặc điểm tâm lí của học sinh “học mà chơi,
chơi mà học”, khả năng tập trung chú ý chưa cao, ưa hoạt động, còn ham chơi
các trò chơi có tính tự do ngay trong giờ học...
Ngoài ra, đàm thoại là phương pháp phù hợp với tâm lí trẻ nhỏ, các em
thích hoạt động (ở đây là hoạt động lời nói), giúp học sinh tham gia tìm hiểu bài
một cách tự giác, chủ động. Giáo viên nắm được trình độ học sinh, lớp học sinh
động, góp phần phát triển lời nói.
Giáo viên đưa ra một hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài, cần hướng dẫn các
em bằng những câu hỏi đàm thoại dễ hiểu.
- Trí nhớ:
Lứa tuổi của các em là trí nhớ trực quan hình tượng, trí nhớ máy móc phát
triển mạnh hơn trí nhớ logic, cho nên học sinh lớp 1 có xu hướng học thuộc lòng
từng câu, từng chữ. Giáo viên phải có phương pháp không làm cho các em học
vẹt. Để rèn trí nhớ, giáo viên sử dụng phương pháp luyện tập. Luyện tập có ý
nghĩa lớn đối với sự phát triển tích cực và tính độc lập ở học sinh, giúp các em
hình thành được nhiều phẩm chất như tính kiên trì, ý thức khắc phục khó khăn.
Là phương pháp dùng chủ yếu, thường xuyên khi dạy.
Để phương pháp này không trở nên nhàm chán, giáo viên cần chú ý luyện
tập từ dễ đến khó.
Ví dụ: Khi dạy môn Tiếng việt về âm, vần thường xuyên ôn tập cho học
sinh nắm vững âm, vần; khi đọc bài chỉ bất kì chữ trong bài cho học sinh đọc rồi
sau đó cho các em đọc câu, đọc đoạn và cả bài.
Nếu trong giờ học, giáo viên đang giảng bài trên lớp và nhận thấy nhiều
học sinh ngồi một cách uể oải, mệt mỏi giáo viên cần cho lớp nghỉ giải lao, cả
lớp đứng lên hát một bài để các em thoải mái, phấn chấn hơn.
Trong giờ học, giáo viên phải có thái độ chuẩn mực khi giao tiếp với học
sinh. Ví dụ: Học sinh làm sai, có hành vi chưa đúng, giáo viên phải nhắc nhở,
không nóng vội, cần phân tích cho học sinh hiểu và giáo dục đúng lúc, kịp thời
để học sinh sửa chữa cái sai của mình. Thường xuyên tổ chức cho học sinh giúp
đỡ lẫn nhau: Em khá, giỏi giúp em chậm về kỹ năng đọc đọc bài, cho bạn mượn
đồ dùng học tập khi bạn để quên hay đồ dùng bị hỏng; luôn nhắc nhở các em
11


phải biết đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau cùng nhau học tập và rèn luyện
tiến bộ.
Vì vậy, để hình thành tốt nền nếp trong học tập cho học sinh, giáo viên
biết vận dụng những kiến thức về tâm lý học, giáo dục học và dựa vào hoàn
cảnh cụ thể. Đó là công việc cần xuyên suốt năm học của giáo viên chủ nhiệm
lớp.
3.2.2. Rèn một số kỹ năng cụ thể trong giao tiếp thể hiện ở 5 quan hệ:
Ngoài việc rèn nền nếp học sinh trong học tập, giáo viên còn rèn học sinh
một số kỹ năng trong giao tiếp vào các giờ sinh hoạt chủ nhiệm, ngoài giờ lên
lớp, trong các môn học có liên quan thể hiện ở các mối quan hệ:
- Với bản thân:
+ Sống ngăn nắp gọn gàng, sinh hoạt, học tập, vui chơi đúng giờ, sách vở,
quần áo, đồ dùng… để đúng nơi quy định.
+ Tự lập trong sinh hoạt hằng ngày (không phải nhắc nhở nhiều) như: đi
học, không quá ham chơi mà quên học tập, làm việc nhà được phân công, biết
giữ vệ sinh thân thể, nhà cửa, nơi công cộng…
+ Biết tiết kiệm của cải chung (điện, nước…)
- Với gia đình:
+ Có những hành vi thể hiện quan hệ trong gia đình: kính yêu cha mẹ, ông
bà nội ngoại, yêu thương lễ phép với anh chị, nhường nhịn em nhỏ.
+ Biết làm một số việc vừa sức, phù hợp với lứa tuổi như: dọn dẹp nhà
cửa, rửa chén, trông em bé, chăm sóc ông bà, bố mẹ, anh chị em khi ốm đau
hoặc khi cần thiết.
+ Biết tôn trọng mọi người, không làm phiền người khác.
- Với nhà trường:
+ Biết chào hỏi các thầy cô giáo trong trường.
+ Biết nghe và thực hiện những điều thầy cô dạy bảo.
+ Biết chia sẻ, giúp đỡ bạn bè và thầy cô khi cần thiết.
+ Biết hợp tác với bạn bè trong học tập và hoạt động tập thể, trong vui
chơi và cuộc sống hằng ngày.
+ Biết giữ vệ sinh cảnh quan lớp học, trường học.
- Với cộng đồng:
+ Biết chào hỏi, xưng hô phù hợp với mọi người xung quanh và ngoài xã
hội.
+ Cởi mở khi khách đến nhà.
+ Có hành vi văn hoá khi đến nhà người khác, khi nghe với nói điện thoại.
+ Sẵn lòng giúp đỡ hàng xóm, láng giềng khi cần thiết.
+ Biết giữ vệ sinh môi trường tại nơi ở.
- Với môi trường tự nhiên:
+ Có ý thức giữ gìn, bảo vệ môi trường tự nhiên.
+ Bảo vệ vật nuôi, cây trồng (không hái hoa, bẻ cành cây…).
+ Biết ngăn cản bạn bè, mọi người xung quanh khi có hành vi làm hại đến
môi trường.
* Để thực hiện tốt công tác chủ nhiệm lớp, giáo viên cần phải có:
- Trí: Không chỉ là kiến thức môn học mà giáo còn cần kiến thức nghệ
12


thuật giáo dục, về quản lí giáo dục, về các kiến thức khoa học xã hội, nhân văn
và chính trị. Phải có kiến thức thực tế, cập nhật với kiến thức mới, hiện đại. Giáo
dục đạo đức cho học sinh thông qua các hoạt động dạy học, phải biết tổ chức
cho học sinh nhận thức giá trị của cuộc sống, giúp các em phát triển toàn diện
theo mục tiêu giáo dục tiểu học.
- Tâm: Là hệ thống các giá trị nhân cách, “tâm” còn là lí tưởng nghề
nghiệp (đam mê nghề nghiệp), là phẩm chất tâm lí (ý chí, nghị lực, sự bình tĩnh,
sự kìm chế, năng động, sáng tạo), là cuộc sống tâm hồn, sống lạc quan, yêu đời,
sống mẫu mực, nhất quán giữa lời nói và việc làm, gương mẫu trong nghề
nghiệp, nghiên cứu khoa học, lối sống trong sáng, vị tha, luôn sống hướng tới
chân, thiện, mĩ…
- Tầm: Tầm là biết thiết kế toàn diện, biết xây dựng kế hoạch làm công
tác giáo dục học sinh, biết tư vấn, bồi dưỡng các loại học sinh, biết tự rèn luyện,
hoàn thiện nhân cách giáo viên chủ nhiệm để có đủ năng lực, phẩm chất, trình
độ và đam mê làm công tác giáo dục…
- Những phẩm chất của một nhà sư phạm của giáo dục tiểu học – như
người cha, mẹ:
+ Yêu thương con người - yêu thương, chăm lo tới học sinh như những
người làm cha, làm mẹ.
+ Yêu nghề
+ Khoan dung
+ Công bằng
+ Biết tự trọng, trọng danh dự
+ Sống lành mạnh, trong sáng
+ Mẫu mực trong công việc và cuộc sống
+ Cởi mở, hồn nhiên
+ Khiêm tốn, học hỏi
+ Có chí tiến thủ
+ Nỗ lực học tập, rèn luyện thường xuyên
+ Tôn trọng các giá trị văn hoá
+ v.v…
Trong suốt quá trình giảng dạy, làm công tác chủ nhiệm lớp cũng như
nghiên cứu và áp dụng đề tài, tôi đã thực hiện như sau:
Kiểm tra và phân loại đối tượng học sinh: Đây là công việc đầu tiên của
mọi giáo viên muốn đạt được kết quả cao. Khi đó, giáo viên mới nắm được trình
độ, nhận thức, tâm lí của từng học sinh mà điều chỉnh phương pháp giảng dạy và
giáo dục cho phù hợp. Bên cạnh đó, giáo viên tạo điều kiện gần gũi, trò chuyện,
gợi mở thân thiện để các em mạnh dạn, tự tin.
Mặt khác, tôi đã rà soát khả năng tiếp thu, trình độ nhận thức của mỗi học
sinh, từ đó đề ra biện pháp thực hiện cho từng đối tượng học sinh như:
- Các em chậm các kĩ năng được chuyển lên ngồi bàn đầu để giáo viên dễ
dàng theo dõi và kịp thời uốn nắn giúp đỡ các em.
- Giáo viên giao việc cho học sinh khá, giỏi kèm bạn học yếu vào đầu
buổi học để các em biết giúp đỡ bạn trong học tập và cùng nhau tiến bộ.
Sự tự tin, tích cực, hứng thú học tập là điều kiện giúp tất cả trẻ em phát
13


triển bình thường đều thành công. Để tích cực hóa hoạt động học tập của học
sinh, cần có những phương pháp dạy học phù hợp với đặc điểm tâm lí lứa tuổi
của học sinh lớp Một, phù hợp với điều kiện dạy học cụ thể.
Ngoài ra, giáo viên chủ nhiệm lớp còn giáo dục thẩm mĩ, giáo dục tình
cảm cho các em:
+ Giáo dục thẩm mĩ: là hướng các em tới cái đẹp, biết cảm nhận rung cảm
trước cái đẹp của cảnh vật; hành vi, cử chỉ đẹp của bạn... thông qua việc cho các
em tham gia các hoạt động vệ sinh lớp, chăm sóc hoa kiểng và các hoạt động do
Đội tổ chức như: Kế hoạch nhỏ, Nuôi heo đất, Hũ gạo tình thương, Tặng sách
truyện...
Ví dụ: Khi các em chăm sóc hoa kiểng, các em sẽ cảm nhận, rung cảm
trước vẽ đẹp của hoa kiểng.
+ Giáo dục tình cảm: Thông qua con đường giáo dục thẩm mĩ việc giáo
dục tình cảm sẽ đạt hiệu quả cao. Giáo dục các em tình yêu đối với cuộc sống và
con người, tình yêu gia đình, yêu bạn bè, yêu quê hương xứ sở...
Ví dụ: Khi phát động các phong trào như: Kế hoạch nhỏ, Nuôi heo đất,
Hũ gạo tình thương do Đội đề ra, giáo viên cần cho các em nhận biết: Đây là
hoạt động quyên góp dành cho các bạn nghèo, các bạn có hoàn cảnh khó khăn
trong cuộc sống, chúng ta phải biết giúp đỡ các bạn ấy. Từ đó, các em sẽ có sự
cảm thông, biết chia sẻ, giúp đỡ các bạn có hoàn cảnh khó khăn. Có những em
chưa có thái độ, hành vi thể hiện lòng hiếu thảo với cha mẹ. Nhân ngày 8/3, giáo
viên nên tìm những mẩu chuyện, những tiểu phẩm, những tấm gương của các
em trong lớp... tạo ra được những tình huống để học sinh cả lớp có cơ hội biểu
hiện những cử chỉ, hành vi đẹp đối với mẹ. Chẳng hạn: cắt dán một bông hoa,
làm thiệp... chúc mừng mẹ.
Việc đánh giá học sinh giáo viên không chỉ căn cứ vào học lực mà cần
phân theo mức độ phát triển trí tuệ (khả năng nhận biết, ghi nhớ, tập trung chú
ý...), các kĩ năng hoạt động (văn nghệ, thể dục, giao tiếp, ứng xử,...) và đánh giá
cảm xúc tình cảm qua cử chỉ, hành vi,... trước tình huống giao tiếp xã hội.
Giáo viên giáo dục học sinh bằng con đường ngắn nhất để đi đến trái tim
các em qua từng hoạt động. Giáo viên là người hướng dẫn các em trong bước đi
chập chững vào đời, không phải bằng nguyên tắc, quy tắc cứng nhắc mà bằng
những tình cảm đẹp, lành mạnh, cao thượng có sức lay động sâu xa, có sức hấp
dẫn tâm hồn trẻ thơ. Từ đó, có tác dụng vun đắp, bồi dưỡng tình cảm đạo đức
của con người mới xã hội chủ nghĩa.
4. Kết quả đề tài:
Với những giải pháp trên, tôi đã rèn học sinh từ đầu năm học cho đến cuối
học kì I. Hiện tại, học sinh ít đi học muộn giờ, chuẩn bị đầy đủ đồ dùng học tập,
lấy đồ dùng nhanh nhẹn, những giờ học có nền nếp, trật tự hơn. Các em ngồi
học đúng tư thế, ít nói chuyện riêng, không còn ăn quà bánh, mạnh dạn phát biểu
ý kiến, không nói leo, các em chú ý vào bài học hơn, không khí lớp học sinh
động, chất lượng học tập của học sinh có chuyển biến và tiết dạy đạt hiệu quả
hơn. Các em tích cực tham gia các phong trào, các hoạt động ở trường, hoạt
động sao nhi đồng. Lớp đã đạt giải nhất hoạt động tuần ở học kì I và đạt giải nhì
ở phong trào tặng sách truyện.
14


Sau đây là bảng so sánh kết quả trước và sau khi thực hiện đề tài:
BẢNG SO SÁNH KẾT QUẢ
TRƯỚC VÀ SAU KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Học kì I
Các tiêu chí
Năm học 2013-2014
(Chưa áp dụng)
Số
Tỉ lệ
lượng
Quên đồ dùng,
5/24
20.8
sách vở
Thường xuyên đi
4/24
16.7
học muộn
Ăn quà vặt
2/24
8.3
Nói chuyện, làm
việc riêng
Học không tập
trung chú ý
Nhút nhát, chậm
chạp
Không tham gia
các hoạt động,
phong trào

6/24

25.0

4/24

16.7

5/24

20.8

4/24

16.7

Học kì I
Năm học 2014-2015 Tăng, giảm
(Đã áp dụng)
Số
Tỉ lệ
Số
Tỉ lệ
lượng
lượng
2/34
5.9
Giảm 14.9
3
1/34
2.9
Giảm 13.8
3
0/34
Giảm 8.3
2
3/34
8.8
Giảm 16.2
3
2/34
5.9
Giảm 10.8
2
1/34
2.9
Giảm 17.9
4
0/34
Giảm 16.7
4

Trong quá trình công tác và thực hiện đề tài, tôi thường xuyên theo dõi,
bổ sung, thay đổi kịp thời các giải pháp để công tác giảng dạy và chủ nhiệm lớp
của mình ngày càng hoàn thiện hơn.
5. Phạm vi áp dụng:
Đề tài đang được áp dụng cho học sinh khối 1 trường Tiểu học Bến Củi và
đề tài có thể áp dụng cho các trường trong toàn huyện.

15


III. KẾT LUẬN
1. Bài học kinh nghiệm:
Qua thực nghiệm đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác chủ nhiệm
lớp 1A trường Tiểu học Bến Củi”, bản thân tôi đã rút ra được những kinh
nghiệm như sau:
- Giáo viên phải nắm được từng đối tượng học sinh ngay từ đầu năm học.
Sinh hoạt học sinh các nội quy, quy định của trường, của lớp và yêu cầu học
sinh thực hiện tốt, thường xuyên rèn luyện thói quen nề nếp trong học tập, sinh
hoạt và hành vi ứng xử cho học sinh có theo dõi, kiểm tra, nhắc nhở thường
xuyên.
- Nghiêm khắc nhắc nhở học sinh những việc nên và không nên làm.
- Có nhiều hình thức, phương pháp giảng dạy cho tiết học sinh động, học
sinh dễ hiểu, dễ tiếp thu bài.
- Đánh giá mang tính động viên, tuyên dương kịp thời để tạo hứng thú
cho các em trong quá trình học tập và rèn luyện.
- Quan tâm, giúp đỡ những em có hoàn cảnh khó khăn.
- Giáo viên chủ nhiệm lớp thật sự là người tổ chức, hướng dẫn học sinh
tự học, tự rèn luyện, không chỉ giúp các em giỏi về tri thức mà còn rèn các em
có năng lực và phẩm chất đạo đức tốt.
- Trong việc giáo dục học sinh, chỉ cần một lời khuyên, hỏi thăm, một đề
nghị, một lời mong muốn, một cử chỉ âu yếm, quan tâm,… có thể là một tác
động thúc đẩy học sinh rèn luyện.
Bằng sự yêu thương của người giáo viên đối với học sinh cộng với tấm
lòng yêu nghề và niềm tin về sự nghiệp Giáo dục ngày càng đổi mới, tôi luôn
quyết tâm hoàn thành tốt công tác chủ nhiệm và công tác giảng dạy của mình.
2. Hướng phổ biến, áp dụng đề tài:
Đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp 1A trường
Tiểu học Bến Củi” bản thân tôi vận dụng từ đầu năm học cho đến học kì I đã có
kết quả khả thi, được áp dụng trong trường Tiểu học Bến Củi và đề tài có thể áp
dụng cho các trường trong toàn huyện. Kết quả này đã động viên, khích lệ tôi
không ngừng cố gắng, tìm tòi, sáng tạo hoàn chỉnh đề tài cũng như trong việc
giảng dạy và giáo dục học sinh ngày càng tốt hơn.
Bến Củi, ngày tháng năm 2015
Người thực hiện

Ngô Thị Mộng Tuyết

16


IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Sách tâm lí học lứa tuổi tiểu học
- Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên mô đun 34 về Công tác chủ nhiệm lớp của
Bộ giáo dục và đào tạo
- Sách “Sự thông minh trong ứng xử sư phạm” (Nhà xuất bản thanh niên)
- Điều lệ trường Tiểu học của Bộ giáo dục và đào tạo

17


V. MỤC LỤC

aâb

I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Lí do chọn đề tài............................................................................. Trang 01
2. Mục đích nghiên cứu.......................................................................Trang 01
3. Đối tượng nghiên cứu..................................................................... Trang 01
4. Phạm vi nghiên cứu.........................................................................Trang 01
5. Phương pháp nghiên cứu..................................................................Trang 02
6. Giả thuyết khoa học......................................................................... Trang 02
II. NỘI DUNG:
1. Cơ sở lí luận của đề tài.................................................................... Trang 03
2. Cơ sở thực tiễn của đề tài.................................................................Trang 03
3. Nội dung vấn đề...............................................................................Trang 04
4. Kết quả đề tài................................................................................... Trang 13
III. KẾT LUẬN: ....................................................................................Trang 15
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................Trang 16

18


19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×