Tải bản đầy đủ

SKKN biện pháp giúp học sinh lớp 3b trường tiểu học phước hội học tốt giải toán có lời văn

BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Tên đề tài: “Biện pháp giúp học sinh lớp 3B trường Tiểu học Phước
Hội học tốt giải toán có lời văn”.
Người thực hiện: Nguyễn Thị Sen
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Phước Hội
1. Lý do chọn đề tài:
Trong những năm qua khi dạy môn Toán nhất là toán có lời văn, tôi nhận
thấy một số tồn tại cần phải khắc phục:
- Giáo viên còn gặp khó khăn trong giảng dạy.
- Học sinh chưa đọc kỹ đề toán từ đó các em chưa xác định được yêu cầu
của đề toán, chưa nhận dạng được dạng toán.
- Chưa biết cách giải một bài toán có văn.
2. Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp giúp học sinh lớp 3B trường Tiểu học Phước Hội học tốt giải
toán có lời văn.
3. Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan.
- Nghiên cứu tài liệu giảng dạy của môn Toán lớp 3.
- Rút kinh nghiệm qua các bài làm của học sinh.
- Dự giờ đồng nghiệp.
- So sánh đối chiếu kết quả.

4. Đề tài đưa ra giải pháp mới:
- Sử dụng bằng nhiều hình thức học tập, vận dụng đổi mới phương pháp
học tập tạo cho tiết học hứng thú, sôi nổi, hiệu quả.
- Rèn luyện các thao tác tư duy sáng tạo để các em chủ động tích cực
trong học tập.
- Học sinh tự tìm hiểu được và giải được bài toán có văn.
5. Hiệu quả áp dụng:
Giúp học sinh biết suy nghĩ tìm ra cách giải hợp lý bài toán có văn một
cách có hiệu quả. Từ đó chất lượng lớp ngày càng được nâng cao.
6. Phạm vi áp dụng:
Sáng kiến kinh nghiệm được áp dụng trong phạm vi trường Tiểu học
Phước Hội và một số trường trong huyện có cùng điều kiện.
Dương Minh Châu, ngày 16 tháng 3 năm 2015
Người thực hiện

Nguyễn Thị Sen

1


I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Toán học là một hệ thống kiến thức cơ bản và những phương pháp nhận thức
rất cần thiết cho đời sống. Những kiến thức và kỹ năng cơ bản mà toán học cung cấp
là một công cụ cần thiết để học các môn khác và giúp hoạt động có hiệu quả trong
thực tiễn. Do vậy ở trường tiểu học, môn Toán chiếm một vị trí rất quan trọng, nó có
khả năng phát triển tư duy lôgic. Bồi dưỡng và phát triển trí tuệ cần thiết để nhận thức
thế giới như: trừu tượng hóa, khái quát hóa, phân tích, tổng hợp, so sánh, dự đoán,
chứng minh và bác bỏ…Nó có tác dụng lớn trong việc hình thành và rèn luyện học
sinh.
Nói đến toán có lời văn ta nghĩ ngay đến đầu bài và lời giải của nó. Toán có lời
văn được xem như cầu nối giữa kiến thức toán học trong nhà trường và ứng dụng kiến
thức toán trong đời sống xã hội. Thông qua dạy toán có lời văn rèn tư duy lôgic, cách
diễn đạt của học sinh. Muốn vậy người giáo viên khi lên lớp phải thể hiện rõ vai trò
của nình, giúp các em phân biệt đúng sai, biết chọn cách làm nhanh nhất và trình bày
khoa học nhất.
Trên cơ sở đó việc vận dụng các phương pháp dạy học toán phần có lời văn
giữ một vai trò hết sức quan trọng trong việc học tập. Nó không những cung cấp cho
giáo viên những tiềm năng dạy học mà còn rèn cho học sinh có kỹ năng tính toán,
nâng cao tư duy trừu tượng, năng lực khái quát hóa cho học sinh.

Nhưng thực tế, qua nhiều năm giảng dạy lớp 3, tôi nhận thấy học sinh lớp mình
chủ nhiệm chất lượng môn Toán chưa cao nhất là phần giải toán có lời văn, mà
nguyên nhân là do các em đọc đề chưa kĩ, thậm chí không hiểu yêu cầu của đề toán
cho biết gì? hỏi gì?... Vậy làm thế nào để học sinh nắm được yêu cầu đề toán và trình
bày bài giải đúng. Đó chính là lý do tôi chọn đề tài: “Biện pháp giúp học sinh lớp
3B trường Tiểu học Phước Hội học tốt giải toán có lời văn” là một điều rất cần
thiết cho học sinh nói riêng và nâng cao chất lượng môn Toán nói chung nhằm giải
quyết những vấn đề nói trên.
2. Mục đích nghiên cứu:
Đề tài này nhằm nâng cao chất lượng dạy - học môn Toán với các mục đích
sau:
- Vai trò của giáo viên trong việc dạy học môn Toán.
- Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh giải toán sai nhiều.
- Một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn đúng.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Các biện pháp giúp học sinh lớp 3B trường Tiểu học Phước hội học tốt giải
toán có lời văn.
4. Phạm vi nghiên cứu:
Với đề tài này tôi chỉ tập trung nghiên cứu phần giải toán có lời văn ở lớp 3B
trường Tiểu học Phước Hội.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, tôi đã sử dụng những phương pháp
sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Tôi đã đọc, nghiên cứu nội dung, chương trình môn Toán. Đặc biệt quan tâm
các bài toán có văn. Đồng thời nghiên cứu sách giáo khoa cũng như sách giáo viên
2


môn Toán và vở bài tập Toán 3; Đọc và tìm hiểu kĩ những yêu cầu cơ bản về kiến
thức, kĩ năng, giáo dục thái độ thẫm mĩ.
Ngoài ra tìm hiểu và đọc các tài liệu có liên quan giúp tôi có những cơ sở lý
luận, những biện pháp cơ bản việc rèn luyện học sinh giải đúng toán có văn.
Đây là phương pháp quan trọng, giúp cho người nghiên cứu có cơ sở lý luận
chung để phân tích đề tài.
5.2 Phương pháp điều tra:
Tìm hiểu phương pháp dạy học môn Toán ở các lớp trong khối 3 thuộc trường
Tiểu học Phước Hội đồng thời điều tra thực trạng của học sinh qua hình thức kiểm tra,
giáo viên thấy được sự sai sót của các em để có hướng khắc phục.
5.3 Phương pháp thực nghiệm:
Nhằm kiểm chứng khả năng ứng dụng của đề tài vào thực tiễn và tính khả thi
của đề tài.
5.4 Phương pháp so sánh đối chiếu kết quả:
Sau khi thực hiện những nội dung của đề tài tôi đối chiếu so sánh kết quả theo
từng giai đoạn của năm học nhằm thống kê những ưu, khuyết điểm trong quá trình
tiếp nhận kiến thức của học sinh làm cơ sở cho việc khắc phục những thiếu sót và
nghiên cứu tiếp nội dung đề tài.
6. Giả thuyết khoa học:
Toán là môn học đòi hỏi nâng cao năng lực tư duy và kĩ năng tính toán, suy
luận, thực hành. Đặc biệt đối với phần giải toán có văn là cầu nối giữa toán học với
đời sống thực tiễn, nơi vận dụng các phép tính và số đã được học qua. Chất lượng
môn Toán sẽ được nâng cao nếu tôi tìm ra biện pháp rèn kỹ năng giải toán nghĩa là
cùng nhau tìm ra các phương pháp dạy học phù hợp để học sinh tự mình tìm ra cách
giải phù hợp hơn, từ đó tự lĩnh hội kiến thức nhanh chóng, chắc chắn. Và giúp học
sinh làm các dạng toán chính xác, đạt kết quả cao. Nếu đề tài nghiên cứu thành công
và áp dụng vào thực tế sẽ mang lại hiệu quả cao trong việc dạy môn Toán lớp 3 phần
giải toán có văn.

3


II. NỘI DUNG

1. Cơ sở lý luận
1.1 Các văn bản chỉ đạo của Ngành
- Thực hiện Chỉ thị số 14/2001/CT-TTg, ngày 11 tháng 6 năm 2001 của Thủ
tướng Chính phủ ban hành về việc đổi mới nội dung Chương trình giáo dục phổ
thông.
- Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT, ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ Giáo
dục và Đào tạo ban hành Chương trình giáo dục phổ thông - cấp Tiểu học, trong đó có
Chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở tiểu học.
- Công văn số 9832/2006/BGDĐT-GDTH của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày
01 tháng 9 năm 2006 về Hướng dẫn thực hiện chương trình các môn học lớp 1, 2, 3,
4, 5.
- Công văn số 5842/2011/BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 01 tháng
9 năm 2011, về việc Hướng dẫn thực hiện điều chỉnh nội dung dạy học các môn học
cấp Tiểu học.
- Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 28 tháng
08 năm 2014 về việc ban hành Quy định đánh giá học sinh Tiểu học.
1.2 Các quan niệm khác về giáo dục
Tâm lý học thực sự cũng là một cơ sở của phương pháp dạy học Toán. Nếu dạy
học mà không nắm được khả năng nhận thức cũng như các đặc điểm tâm lý của học
sinh thì dạy học sẽ không đạt được hiệu quả cao, vì khả năng nhận thức của học sinh
Tiểu học đang hình thành và phát triển theo từng giai đoạn có quy luật riêng. Nên hơn
ai hết, người thầy cần phải tìm hiểu và nắm được đặc điểm tâm sinh lý của mỗi em.
Có như vậy dạy học mới có hiệu quả cao.
Vậy làm thế nào để giúp các em học tốt môn Toán nói chung và học tốt giải
toán có lời văn nói riêng? Là giáo viên chúng ta làm sao tổ chức tiết học sao cho nhẹ
nhàng, thoải mái nhưng có hiệu quả cao. Giáo viên cần vận dụng phương pháp dạy
học “Lấy học sinh làm trung tâm”, hướng dẫn các em tự giải quyết vấn đề để chiếm
lĩnh tri thức. Ngoài ra, giáo viên luôn giáo dục để các em thấy được tầm quan trọng
của học Toán là giúp các em biết tính toán trong cuộc sống và học tốt môn Toán ở các
lớp tiếp theo.
Học sinh lớp 3 tư duy các em đa số là tư duy trực quan cụ thể. Do vậy khi
giảng dạy giáo viên cần nêu rõ những vấn đề trọng tâm của nội dung bài, tránh đặt
câu hỏi gợi mở quá nhiều, nhằm giúp các em có sự phát triển tư duy để mở rộng thêm
kiến thức được nâng cao hơn phù hợp với lứa tuổi và tâm sinh lý của các em.
Phương pháp dạy toán có lời văn là một trong những phương pháp dạy toán
quan trọng nhất ở bậc tiểu học nhất là những chương trình toán. Vì thế việc vận dụng
biện pháp giải toán có lời văn nhằm giúp cho các em đạt kết quả cao trong học tập.
Qua đó vừa bồi dưỡng cho học sinh các hoạt động tư duy được phát triển, giúp các em
có những kiến thức trong việc giải toán có lời văn để đạt được chất lượng trong việc
học tập cũng như giảng dạy của giáo viên.

4


2. Cơ sở thực tiễn:
2.1 Thực tiễn vấn đề cần nghiên cứu:
Ta thấy rằng, giải toán ở tiểu học trước hết là giúp các em luyện tập, vận dụng
kiến thức, các thao tác vận hành vào thực tiễn. Qua đó, từng bước giúp học sinh phát
triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận lôgic. Thông qua giải toán mà
các em rèn luyện được phong cách của người lao động mới: làm việc có ý thức, có kế
hoạch, sáng tạo và hăng say, miệt mài trong công việc.
Đa số các em lớp 3 rất ngại giải các bài toán có văn, nhiều em giải toán có văn
sai. Qua nghiên cứu, tìm hiểu, nhìn chung các em không thực hiện được bài toán giải
có lời văn do những nguyên nhân cơ bản sau:
2.1.1 Về phía giáo viên:
- Giáo viên chưa có phương pháp dạy học thích hợp cũng như chưa đưa ra biện
pháp cụ thể để giúp đỡ học sinh trong việc giải toán;
- Chưa chịu khó rèn luyện kĩ năng giải toán cho học sinh;
- Chưa phát huy tính tích cực của học sinh, thầy làm hết mọi việc cho trò, trò
thụ động trong tiết học toán, chưa cho nhiều bài tập để học sinh thực hành;
- Hướng dẫn, phân tích đề toán qua loa.
2.1.2 Về phía học sinh:
Do các em không đọc kỹ đề, không hiểu nội dung bài toán, có một số em chậm
vì thế khi đọc đề bài các em không hiểu yêu cầu của đề; không xác định được dạng
toán; không biết phân tích, thiết lập mối quan hệ giữa các dữ kiện; không biết đặt lời
giải ứng với từng phép tính; chưa chủ động trong việc học, các em chỉ làm việc khi
giáo viên yêu cầu; không chuẩn bị bài trước khi đến lớp; còn ỷ lại giáo viên, ít luyện
tập.
Bên cạnh đó, cũng do một phần lớn là các em chưa nhận thức được tầm quan
trọng của việc học hành.
Ngoài ra, gia đình cũng chưa quan tâm đến việc học của con em mình, luôn
giao phó cho nhà trường, chưa tạo điều kiện để phối hợp với giáo viên giúp các em
học tốt hơn; có nhiều gia đình đi làm ăn xa gửi con cho ông bà chăm sóc. Do ông bà
đã già nên không quán xuyến được việc học hành của các cháu.
2.2 Sự cần thiết của đề tài:
Từ thực tiễn trên, tôi quyết định lựa chọn phải tìm ra những phương pháp và
hình thức tổ chức phù hợp với nội dung kiến thức, đặc điểm tâm sinh lí học sinh, điều
kiện thực tại nhằm góp phần tìm ra biện pháp tốt nhất để nâng cao chất lượng giảng
dạy môn Toán lớp 3 nói chung và giúp học sinh học tốt giải toán có lời văn nói riêng.
Đó là điều hết sức cần thiết.
3. Nội dung vấn đề:
3.1 Vấn đề đặt ra:
Toán là một môn học có vai trò vô cùng quan trọng ở bậc tiểu học, giải các bài
toán có văn là sự vận động tổng hợp ở các điểm cao của tri thức, kỹ năng về toán với
kiến thức cuộc sống. Các bài toán có văn mà học sinh tiểu học được giải là những nội
dung chứa đựng những vấn đề trong cuộc sống hết sức phong phú và có cấu trúc đa
dạng, từ những dạng khác nhau của cùng phép tính (+, -, x, :) đến những dạng kết hợp
5


của hai hay nhiều phép tính. Nhưng thực tế cho thấy các em chưa tích cực chủ động
sáng tạo trong học tập, có nhiều nguyên nhân dẫn đến điều đó. Trong đó có thể kể đến
một số nguyên nhân như:
- Học sinh không đọc kỹ đề toán; không xác định được dạng toán; không phân
biệt được các dữ liệu đã cho và yếu tố phải tìm; Giáo viên chưa mạnh dạn trong khi
giao việc cho học sinh.
- Khi tìm ra cách thức giúp học sinh có kỹ năng phân tích đề bài, tóm tắt được
bài toán, biết cách đặt lời giải và ghi phép tính tương ứng. Điều đó có nghĩa tôi đã tìm
ra phương pháp giúp học sinh giải quyết vấn đề nan giải mà tôi đang tìm cách khắc
phục, giúp học sinh giải tốt các bài toán có văn nhanh gọn và chính xác.
3.2 Giải pháp chứng minh vấn đề được giải quyết:
Để giúp học sinh học tốt phần giải toán có lời văn tôi thực hiện bằng những
biện pháp sau:
3.2.1 Vai trò của giáo viên trong việc dạy môn toán:
Việc nâng cao chất lượng học tập nói chung hay rèn luyện cho học sinh học tốt
môn Toán nói riêng, tất cả vấn đề quan trọng, cấp thiết cần phải thực hiện nhanh
chóng và hiệu quả. Do đó, giáo viên phải tìm cách hiểu hoàn cảnh, đặc điểm tâm, sinh
lý, điều kiện sống để nắm vững đối tượng học sinh đối với các biện pháp sau:
+ Nghiên cứu hồ sơ của học sinh (sơ yếu lý lịch, học bạ, biên bản bàn giao
lớp...).
+ Nghiên cứu sản phẩm học tập và hoạt động của học sinh (những bài kiểm tra,
sản phẩm lao động).
+ Trao đổi trò chuyện thân mật trực tiếp với học sinh giúp các em không còn
sợ sệt khi phát biểu. Qua đó, giáo viên biết thêm ưu, khuyết điểm của các em, tạo điều
kiện cho các em học tập tốt hơn.
+ Thăm gia đình học sinh và trò chuyện với phụ huynh để hiểu rõ hoàn cảnh,
để có biện pháp giáo dục phù hợp.
Nhờ các biện pháp đa dạng đó, giáo viên có thể thu thập một khối lượng thông
tin lớn về thực tế học sinh lớp mình. Sau đó, giáo viên nghiên cứu phân tích, xử lý
những thông tin đó bằng nhiều hình thức khác nhau để nhận xét, đánh giá để hiểu bản
chất học sinh của mình. Cần ghi chép, theo dõi tiến trình phát triển của các em dưới
dạng nhật ký.
3.2.2 Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh giải toán sai:
Chúng ta khẳng định vai trò của việc giải quyết các bài toán có văn trong toán
học nói riêng cũng như trong chương trình học phổ thông nói chung là hết sức to lớn
và là cầu nối giữa toán học và đời sống thực tế. Qua nghiên cứu chương trình Toán 3,
tôi thấy giải toán có văn thường ở hai dạng cơ bản:
a) Các bài toán đơn: Là các bài toán giải bằng một phép tính.
b) Các bài toán hợp: Là các bài toán giải bằng hai phép tính trở lên.
Trong quá trình giảng dạy cũng như việc tham khảo các bài kiểm tra của một
số năm học gần đây và trong tuần lễ ôn tập đầu tiên, tôi đã đi sát từng học sinh để
đánh giá đúng tình hình học toán của các em. Đa số học sinh trong lớp bị hổng kiến
thức về cộng, trừ có nhớ. Còn đối với toán có văn thì chỉ vài em biết tóm tắt bài toán,
thực hiện hoàn toàn đúng lời giải, phép tính, đáp số còn lại các em không tự tóm tắt
được các bài toán đã học và đặt lời giải chưa chính xác; trình bày bài toán chưa khoa
học dẫn đến kết quả học tập chưa cao, còn nhiều hạn chế.

6


Trên đây là những nguyên nhân chung dẫn đến việc học sinh giải toán có văn
sai. Đối với lớp tôi phụ trách thì việc học sinh giải toán có văn sai do những nguyên
nhân cụ thể sau:
+ Do học sinh chưa đọc kỹ đề, cứ như kiểu máy móc thấy "nhiều hơn" là làm
phép tính cộng chính vì thế dẫn đến giải toán sai.
Ví dụ 1: Bài tập 3 (phần b) SGK/12.
Lớp 3A có 19 bạn nữ và 16 bạn nam. Hỏi số bạn nữ nhiều hơn số bạn nam là
bao nhiêu?
Nhiều em có lời giải như sau:
Số bạn nữ nhiều hơn số bạn nam là:
19 + 16 = 35 (bạn)
Đáp số: 35 bạn
+ Do học sinh không xác định được cách giải và câu trả lời của dạng toán giải
có dư.
Ví dụ 2: Bài tập 1/SGK/118
Người ta lắp bánh xe vào ô tô, mỗi ô tô cần phải lắp 4 bánh xe. Hỏi có 1250
bánh xe thì lắp được bao nhiêu ô tô như thế và còn thừa mấy bánh xe?
- Nhiều học sinh có lời giải như sau:
Có 1250 bánh xe thì lắp được nhiều nhất bao nhiêu ô tô và dư mấy bánh xe là:
1250 : 4 = 312 (dư 2)
Đáp số: 312 dư 2
+ Do học sinh không biết rút về một đơn vị là đơn vị nào.
Ví dụ 3: Bài tập 3/SGK/129
Trong vườn ươm, người ta đã ươm 2032 cây giống trên 4 lô đất, các lô đều có
số cây như nhau. Hỏi mỗi lô đất có bao nhiêu cây giống?
Nhiều em có lời giải như sau:
Mỗi lô đất có số cây là:
2032 : 4 = 508 (cây)
Mỗi lô đất có số cây là:
508 x 4 = 2032 (cây)
Đáp số: 2032 cây
+ Do học sinh không nắm được quy tắc tính chu vi, diện tích hình chữ nhật và
hình vuông.
Ví dụ 4: Bài tập 2/SGK/156.
Hình chữ nhật ABCD có chiều rộng bằng 3 cm, chiều dài gấp đôi chiều rộng.
Tính chu vi và diện tích của hình chữ nhật đó?
- Nhiều học sinh có bài giải như sau:
Chiều dài hình chữ nhật là:
3 x 2 = 6 (cm)
Chu vi hình chữ nhật là:
(3 + 6) x 2 = 18 (cm)
Diện tích hình chữ nhật là:
18 x 6 = 108 (cm)
Đáp số: 18cm; 108 cm

7


3.2.3 Một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán có văn đúng:
Với những nguyên nhân dẫn đến việc giải toán có lời văn sai của học sinh mà
tôi đã trình bày ở trên. Đây là một số biện pháp nhằm khắc phục tình trạng học sinh
giải toán sai và rèn kĩ năng giải toán cho học sinh.
3.2.3.1 Chuẩn bị cho việc giải toán:
Để giúp học sinh giải toán có lời văn thành thạo, tôi luôn luôn chú ý rèn luyện
kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho các học sinh trong các giờ học Tiếng Việt, bởi vì học
sinh đọc thông, viết thạo là yếu tố đòn bẫy giúp học sinh hiểu rõ đề và tìm cách giải
toán một cách thành thạo.
Qua thực tế giảng dạy tôi thấy khả năng suy luận của học sinh còn kém. các em
chưa có kĩ năng phân tích - tổng hợp trước một đề toán; khả năng chuyển bài toán hợp
về bài toán đơn còn yếu. Khi giải toán các em chưa tập hợp được kiến thức, nhiều em
còn lúng túng. Điều đáng chú ý ở đây là cách đặt lời giải cho phép tính, rất nhiều em
chưa biết cách đặt lời giải hoặc lời giải chưa hợp lí do các em chưa được luyện tập
nhiều trong giờ học toán.
Như vậy nguyên nhân cơ bản dẫn đến các em không làm được bài là: Năng lực
tư duy của các em phát triển không đồng đều, khả năng suy luận còn rất hạn chế. Hiểu
được các thiếu sót đó của các em, ở những tiết toán có bài toán có văn tôi thường
dành nhiều thời gian hơn để hướng dẫn kĩ giúp các em ghi nhớ và hình thành kĩ năng.
Ví dụ 1: Bài tập 2/SGK/50
Thùng thứ nhất đựng 18l dầu, thùng thứ hai đựng nhiều hơn thùng thứ nhất 6l
dầu. Hỏi cả hai thùng đựng bao nhiêu lít dầu?
- Yêu cầu học sinh nêu bằng lời để tóm tắt bài toán:
Thùng thứ nhất có: 18l (biết rồi)
Thùng thứ hai có: nhiều hơn 6l (chưa biết)
Hỏi cả hai thùng đựng:....lít dầu?
- Tiếp theo tôi hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng:
Thùng thứ nhất:
Thùng thứ hai:
- Sau khi hướng dẫn học sinh tóm tắt được bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng, tôi
tiếp tục hướng dẫn học sinh tìm lời giải như sau:
+ Nhìn vào sơ đồ ta thấy muốn tìm số lít dầu cả hai thùng trước hết ta phải biết
gì? (biết số lít dầu ở mỗi thùng). Vậy thùng thứ nhất biết chưa? (biết rồi 18 lít), thùng
thứ hai biết chưa? (chưa biết). Vậy ta đi tìm số lít dầu thùng thứ hai:18 + 6 = 24 (lít).
+ Khi biết thùng thứ nhất có 18 lít, biết thùng thứ hai có 24 lít rồi thì ta biết
tổng số lít dầu cả hai thùng dễ dàng.
+ Yêu cầu học sinh nêu miệng lời giải:
Số lít dầu thùng thứ hai đựng là:
18 + 6 = 24 (lít)
+ Yêu cầu học sinh nêu miệng tiếp lời giải và phép tính thứ hai:
Số lít dầu cả hai thùng đựng là:
18 + 24 = 42 (lít).

8


Tuy nhiên ở phép tính thứ hai, tôi thấy một số em thực hiện tìm số lít dầu cả
hai thùng bằng cách lấy 24 + 6 = 30 (lít).
Đối với những em này, tôi nhận thấy các em có khả năng tư duy chưa tốt, còn
chưa nắm vững yêu cầu bài toán. Đây là những trường hợp nằm trong nhóm đối tượng
học sinh chưa hoàn thành. Tôi phải hướng dẫn các em hiểu rõ bằng câu hỏi gợi mở:
Muốn tìm số lít dầu cả hai thùng ta phải làm gì? để các em nêu được: Lấy số lít
dầu thùng thứ nhất cộng số lít dầu thùng thứ hai và giúp cho các em thấy được số lít
dầu thùng thứ nhất là 18 lít và số lít dầu thùng thứ hai là 24 lít.
Ở dạng bài này, tôi cho học sinh luyện nêu miệng đề toán và tập tóm tắt đề
toán bằng sơ đồ đoạn thẳng nhiều lần để các em ghi nhớ một bài toán.
3.2.3.2 Quy trình giải toán có lời văn:
Trên cơ sở nắm một cách chắc chắn các đối tượng học sinh lớp mình, nắm
được cấu trúc chương trình các bài toán có lới văn tôi lựa chọn hính thức, phương
pháp dạy học cho phù hợp. Quy trình dạy học giải toán có lời văn chia ra làm các
bước sau:
Bước 1: Đọc kĩ đề toán
Là một công việc có ý nghĩa hết sức quan trọng, các em có đọc kĩ đề mới nắm
bắt được các dữ kiện của bài toán, nếu đọc qua loa sẽ hiểu nhầm, hiểu sai về mối quan
hệ giữa các giữ kiện của bài toán thì sẽ gây khó khăn cho bước tiếp theo. Gạch dưới
một số thuật ngữ toán quan trọng có trong đề bài. Chẳng hạn: "kém 2 lần", "hơn 2 đơn
vị", "gấp 3 lần", "bằng một phần ba"...
Ở bước này tôi luôn gọi những em giải toán chưa tốt đọc đề bài nhiều lần và
nhấn mạnh ở những dữ kiện của bài toán và giúp cho học sinh hiểu một số thuật ngữ
của bài toán.
Bước 2: Tóm tắt bài toán
Đây là dạng diễn đạt ngắn gọn đề toán, tóm tắt đúng sẽ giúp học sinh có cách
giải dễ dàng hơn, thuận lợi hơn. Nhìn vào tóm tắt là định ra các bước giải bài toán.
- Có 4 cách tóm tắt bài toán:
+ Cách 1: Dưới dạng câu ngắn
+ Cách 2: Dưới dạng sơ đồ đoạn thẳng
+ Cách 3: Dưới dạng hình vẽ
+ Cách 4: Tóm tắt bằng kí hiệu
Tùy vào dạng toán mà tôi hướng dẫn cho các em cách tóm tắt phù hợp. Khi
tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng hoặc hình vẽ cần đảm bảo tính cân đối, chính xác.
Ở những dạng toán học sinh mới gặp lần đầu, giáo viên có thể làm mẫu tóm
tắt. Sau đó nên gợi ý, hướng dẫn học sinh tự mình tóm tắt đề toán.
Sau khi tóm tắt xong giáo viên cho học sinh nhắc lại ngắn gọn đề toán (bằng
tóm tắt) mà không cần nhắc lại nguyên văn.
Bước 3: Phân tích đề toán để tìm cách giải
Bước phân tích đề toán để tìm ra cách giải là bước quan trọng nhất trong quá
trình giải một bài toán của học sinh, đồng thời cũng là bước khó khăn nhất đối với các
em. Vì vậy khi giải một bài toán tôi thường xuyên rèn luyện, hướng dẫn các em phân
tích từng bước một cách rõ ràng, chính xác thông qua hệ thống câu hỏi, câu trả lời
ngắn gọn, dễ hiểu, dần dần các em sẽ quen dần và sẽ biết phân tích bài toán trong khi
giải một cách đúng đắn và nhanh chóng.

9


Ví dụ: Bài tập 1/50 SGK
Anh có 15 tấm bưu ảnh, em có ít hơn anh 7 tấm bưu ảnh. Hỏi hai anh em có tất
cả bao nhiêu tấm bưu ảnh?
Ta có thể dùng phương pháp phân tích để hướng dẫn học sinh suy luận như
sau:
Bài toán hỏi gì? (hai anh em có tất cả bao nhiêu tấm bưu ảnh?)
Muốn biết hai anh em có bao nhiêu tấm bưu ảnh ta làm như thế nào? (lấy số
bưu ảnh của anh cộng với số bưu ảnh của em)
Số bưu ảnh của anh biết chưa? (biết rồi)
Số bưu ảnh của em biết chưa? (chưa biết)
Muốn tìm số bưu ảnh của em ta làm thế nào? (lấy số bưu ảnh của anh trừ đi 7)
Vậy muốn tìm số bưu ảnh của cả hai anh em ta làm như thế nào? (lấy số bưu
ảnh của anh là 15 cộng với số bưu ảnh của em là 8)
Bước 4: Tổng hợp và trình bày bài giải
Sau khi học sinh đã tìm được cách giải bài toán bằng phương pháp phân tích,
lập sơ đồ giải toán thì việc trình bày bài giải không phải là việc khó khăn lắm đối với
các em. Tuy vậy cũng cần hướng dẫn các em biết viết lời giải và trình bày bài giải
một cách khoa học, rõ ràng, chính xác và đấy đủ theo phương pháp tổng hợp, ngược
với phương pháp phân tích để tìm lời giải. Chẳng hạn đối với bài toán ở ví dụ trên
được trình bày như sau:
Bài giải
Số tấm bưu ảnh của em là:
15 - 7 = 8 (tấm)
Số tấm bưu ảnh của hai anh em là:
15 + 8 = 23 (tấm)
Đáp số: 23 tấm bưu ảnh
Ví dụ 1: Bài tập 3/SGK/80
Mẹ hái được 60 quả táo, chị hái được 35 quả táo. Số táo của cả mẹ và chị được
xếp vào 5 hộp. Hỏi mỗi hộp có bao nhiêu quả táo?
Bước 1: Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ đề bài, phân tích tách riêng từng
câu của đề bài theo hướng từ đầu đến cuối.
Bước 2: Học sinh tóm tắt ra vở có thể bằng lời văn.
Mẹ hái: 60 quả táo
Chị hái: 35 quả táo
Số táo của cả mẹ và chị xếp đều: 5 hộp
Hỏi mỗi hộp có:...quả táo?
Bước 3: Bằng câu hỏi giáo viên dẫn dắt học sinh tìm ra cách giải.
Bài toán hỏi gì? (mỗi hộp có bao nhiêu quả táo?)
Muốn biết mỗi hộp có bao nhiêu quả táo ta làm thế nào? (lấy số quả táo của mẹ
và chị hái được chia cho 5)
Số quả táo mẹ hái được biết chưa? (biết rồi)
Số quả táo chị hái được biết chưa? (biết rồi)
Muốn tìm số quả táo của mẹ và chị hái được ta làm thế nào? (lấy số quả táo
của mẹ là 60 cộng với số quả táo của chị là 35)
Vậy muốn tìm mỗi hộp có bao nhiêu quả táo ta làm như thế nào? (lấy số quả
táo của cả mẹ và chị chia cho 5)
Bước 4: Học sinh trình bày bài giải.
10


Bài giải
Số quả táo mẹ và chị hái được tất cả là:
60 + 35 = 95 (quả)
Số táo có ở mỗi hộp là:
95 : 5 = 19 (quả)
Đáp số: 19 quả táo
Ví dụ 2: Bài tập 3/SGK/90
Một cuộn vải dài 81 mét, đã bán được

1
cuộn vải. Hỏi cuộn vải còn lại bao
3

nhiêu mét?
Bước 1: Một em đọc to - lớp nhẩm thầm suy nghĩ xem bài toán cho biết gì? Bài
toán hỏi gì? gạch chân số liệu cụ thể và câu hỏi bài toán.
Bước 2: Học sinh tóm tắt ra vở có thể bằng lời văn hoặc sơ đồ đoạn thẳng.
Cách 1:
Cuộn vải dài: 81 m
Đã bán:

1
cuộn vải
3

Hỏi cuộn vải còn lại dài:...mét?
Cách 2:

đã bán ? m

còn ? m

Bước 3: Bằng câu hỏi giáo viên dẫn dắt học sinh tìm ra cách giải.
- Một cuộn vải dài mấy mét đã biết chưa? (biết rồi)
- Đã bán được một phần mấy cuộn vải? (đã bán được
- Vậy

1
cuộn vải)
3

1
cuộn vải đã bán là bao nhiêu mét biết chưa? (chưa biết)
3

- Muốn tìm số mét vải đã bán ta làm gì? (ta lấy số mét vải trong cuộn vải chia
3)
- Muốn biết cuộn vải còn lại dài mấy mét ta làm gì? (ta lấy số mét vải trong
cuộn vải trừ đi số mét vải đã bán)
- Vậy bài toán này thuộc dạng toán gì? (tìm một phần mấy của một số)

11


Bước 4: Học sinh trình bày bài giải.
Bải giải
Số mét vải đã bán được là:
81 : 3 = 27 (m)
Số mét vải còn lại là:
81 - 27 = 54 (m)
Đáp số: 54m vải
3.2.3.3 Hướng dẫn học sinh nắm các dạng toán:
* Hướng dẫn nắm dạng toán đơn:
Trước hết tôi giúp các em nắm chắc cách giải một bài toán đơn. Từ đó hướng
dẫn từng bước cho các em chuyển sang giải bài toán có văn bằng hai phép tính. Học
sinh cần nắm được cách thức thực hiện một bài toán.
- Đọc thật kĩ bài toán. Xác định các dữ liệu đã cho và phần cần tìm ghi ra nháp.
- Nhận định dạng bài toán và tự tóm tắt.
- Phân tích và tìm cách trả lời câu hỏi. Đây là lời giải của bài toán.
Đối với học sinh chưa hoàn thành, tôi hướng dẫn đặt lời giải của bài toán bằng
cách thay thế từ "bao nhiêu", "mấy", bằng từ "số" ở đầu câu, từ "là" ở cuối câu để các
em đặt đúng lời giải. Dần dần nâng lên, sửa lời văn, chọn từ dùng cho hay và phù hợp
hơn.
Ví dụ: Bài tập 1/SGK/12
Đội Một trồng được 230 cây, đội Hai trồng được nhiều hơn đội Một 90 cây.
Hỏi đội Hai trồng được bao nhiêu cây?
Bước 1: Một em đọc to - Lớp nhẩm thầm suy nghĩ xem bài toán cho biết gì?
Bài toán hỏi gì? gạch chân số liệu cụ thể và câu hỏi bài toán.
Bước 2: Học sinh tóm tắt ra vở có thể bằng lời văn hoặc sơ đồ đoạn thẳng.
Cách 1:
Đội Một trồng: 230 cây (biết rồi).
Đội Hai trồng: nhiều hơn đội Một 90 cây (chưa biết)
12


Hỏi đội Hai trồng được:...cây? (cần tìm)
Cách 2:
Đội Một:
Đội Hai:

Bước 3: Bằng câu hỏi giáo viên dẫn dắt học sinh tìm ra cách giải.
- Bài toán cho biết gì? (đội Một trồng được 230 cây)
- Đội Hai trồng được nhiều hơn đội Một bao nhiêu cây? (đội Hai trồng nhiều
hơn đội Một 90 cây)
- Đội Hai trồng được bao nhiêu cây đã biết chưa? (chưa biết)
- Vậy muốn tìm số cây đội Hai trồng được bao nhiêu cây ta làm thế nào? (ta
lấy số cây của đội Một cộng với 90)
- Bài toán này thuộc dạng toán gì? (nhiều hơn)
Bước 4: Học sinh suy nghĩ làm - 1 em làm bảng phụ - Giáo viên kết luận.
Bài giải
Số cây đội Hai trồng được là:
230 + 90 = 320 (cây)
Đáp số: 320 cây
* Hướng dẫn nắm dạng toán hợp:
Ví dụ 1: Bài 3/SGK/52
Nêu bài toán theo sơ đồ sau rồi giải bài toán đó:
Học sinh giỏi:
Học sinh khá:
Tôi cho học sinh đọc thầm, đọc miệng tóm tắt rồi nêu đề toán bằng lời theo yêu
cầu.
Học sinh: Lớp 3B có 14 bạn học sinh giỏi, số bạn học sinh khá nhiều hơn 8
bạn. Hỏi lớp 3B có tất cả bao nhiêu bạn?
Muốn biết lớp 3B có tất cả bao nhiêu bạn ta phải biết gì? (biết số bạn học sinh
khá). Vậy số bạn học sinh giỏi đã biết chưa? (biết rồi), số bạn học sinh khá đã biết
chưa? (chưa biết). Vậy muốn tìm số bạn học sinh khá ta làm gì?
Lấy số bạn học sinh giỏi là 14 cộng thêm 8.
Nên số bạn học sinh khá là: 14 + 8 = 22 (bạn)
Muốn biết lớp 3B có tất cả bao nhiêu bạn ta làm thế nào? (ta lấy số bạn học
sinh giỏi cộng với số bạn học sinh khá)
Bước 4: Học sinh làm vào vở - 1 em làm bảng phụ - giáo viên kết luận
Bài giải
Số bạn học sinh khá lớp 3B có là:
14 + 8 = 22 (bạn)
13


Số bạn học sinh lớp 3B có tất cả là:
14 + 22 = 36 (bạn)
Đáp số: 36 bạn
Ví dụ 2: Bài tập 3/SGK/62
Đàn vịt có 48 con, trong đó có

1
số vịt đang bơi dưới ao. Hỏi trên bờ có bao
8

nhiêu con vịt?
Bước 1: Học sinh đọc đề, nhẩm thuộc, gạch chân số liệu cụ thể câu hỏi bài
toán.
Bước 2: Học sinh tóm tắt bài toán bằng lời văn hoặc sơ đồ đoạn thẳng.
Cách 1:
Có: 48 con vịt (biết rồi).
Đang bơi:

1
số vịt (chưa biết).
8

Trên bờ còn lại: .... con? (cần tìm)
Cách 2:
Có:
Bước 3: Học sinh lập kế hoạch giải bài toán theo dẫn dắt, gợi ý của giáo viên
Muốn biết số vịt trên bờ có bao nhiêu con ta phải biết gì? (số vịt đang bơi ở
dưới ao).
Muốn tìm số vịt đang bơi ở dưới ao ta phải làm thế nào? (lấy 48 chia 8).
Tìm được số vịt đang bơi, muối tìm số vịt còn lại trên bờ ta làm như thế nào?
(lấy 48 trừ đi số vịt đang bơi).
Bước 4: Học sinh suy nghĩ giải - giáo viên kết luận.
Bài giải
Số vịt đang bơi ở dưới ao là:
48 : 8 = 6 (con)
Số vịt còn lại trên bờ là:
48 - 6 = 42 (con)
Đáp số: 42 con vịt
Trên đây chỉ là một trong hai ví dụ cụ thể, tôi thấy học sinh khi giải các bài
toán này thường không biết cách trả lời và nên thực hiện bằng phép tính gì. Khi thấy
học sinh trả lời sai, giáo viên cần có câu hỏi gợi ý dẫn dắt cho học sinh hiểu rõ rồi tự
sửa lại. Còn thực hiện bằng phép tính gì thì phải dựa vào mối liên quan giữa cái đã
cho với cái cần tìm. Nội dung gì mà chưa cho biết cụ thể chỉ cho biết chung chung thì
ta đi tìm trước rồi mới đi tìm đến câu hỏi của bài toán. Trong việc đổi mới phương
pháp dạy học hiện nay, nhằm phát huy ý thức tự giác, độc lập suy nghĩ của học sinh,
theo sự hướng dẫn của giáo viên để lĩnh hội tri thức mới yêu cầu giáo viên nói ít, làm
mẫu ít nhưng phải nắm được khả năng học tập của từng học sinh để kèm cặp, giúp đỡ
những em học sinh chưa hoàn thành. Khuyến khích học sinh kịp thời dù chỉ là một
thành công nhỏ trong quá trình giải toán của các em. Giáo viên giúp các em hiểu và
rút ra được phương pháp, cách thức giải từng dạng toán cụ thể.

14


Giáo viên cần nắm chắc phương pháp bộ môn, nhằm phát huy tính tích cực,
chủ động sáng tạo của học sinh. Khi dạy xong mỗi bài, mỗi dạng toán giáo viên cần
củng cố, khắc sâu kiến thức cho từng bài theo từng dạng toán một cách khái quát.
* Đối với các bài toán có nội dung hình học:
Giáo viên yêu cầu học sinh trước tiên phải hiểu và thuộc công thức tính chu vi,
diện tích và biết vận dụng vào từng trường hợp kết hợp với vốn sống, vốn hiểu biết
của mình.
Ví dụ 1: Bài tập 3/SGK/ 88
Mỗi viên gạch hình vuông có cạnh 20cm. Tính chu vi hình chữ nhật ghép bởi 3
viên gạch như thế?
Muốn tìm được chu vi hình chữ nhật ghép bởi 3 viên gạch hình vuông cạnh
20cm, ta tìm chiều dài, chiều rộng là bao nhiêu?
Chiều rộng? (chiều rộng chính là cạnh hình vuông).
Chiều dài? (chiều dài chính là chiều dài 3 cạnh viên gạch hình vuông).
Từ đó ta tìm được chu vi hình chữ nhật.
Học sinh trình bày bài giải:
Bài giải
Chiều dài hình chữ nhật là:
20 x 3 = 60 (cm)
Chu vi hình chữ nhật là:
(60 + 20) x 2 = 160 (cm)
Đáp số: 160 cm
Ví dụ 2: Bài tập 4/SGK/89.
Tính chiều dài hình chữ nhật, biết nửa chu vi hình chữ nhật là 60m và chiều
rộng là 20m.
Bước 1: Một em đọc to - lớp nhẩm thầm suy nghĩ xem bài toán cho biết gì? Bài
toán hỏi gì? gạch chân số liệu cụ thể và câu hỏi bài toán.
Bước 2: Học sinh xem tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng trong SGK.
Bước 3: Bằng các câu hỏi giáo viên giúp học sinh tìm ra cách giải.
Nửa chu vi hình chữ nhật biết chưa? (biết rồi là 60 m)
Chiều rộng hình chữ nhật biết chưa? (biết rồi là 20 m)
Muốn tìm chiều dài hình chữ nhật ta làm sao? (ta lấy nửa chu vi trừ đi chiều
rộng).
Giáo viên giải thích: "chiều dài cộng với chiều rộng là nửa chu vi hình chữ
nhật).
Bước 4: Học sinh trình bày bài giải
Bài giải
Chiều dài hình chữ nhật là:
60 - 20 = 40 (m)
Đáp số: 40 m.
Từ tư duy đúng, các em tìm được lời giải, phép tính, cách ghi tên đơn vị và ghi
đáp số đúng.
Bước này tuy đơn giản nhưng vẫn tương đối khó với học sinh lớp 3, lời văn
ngắn gọn, chính xác đúng nội dung bài để trả lời theo thứ tự: Lời giải - phép tính - đáp
số.

15


Cần lưu ý: Phép tính trong giải bài toán có lời văn không ghi tên đơn vị đó là
phép tính trên số nên đặt tên đơn vị trong ngoặc đơn để giải thích mục đích thực hiện
phép tính.
Tương ứng với những dạng toán khác.
* Dạng toán hai phép tính có hai tên đơn vị khác nhau:
Ví dụ: Bài 5/SGK/83
Người ta xếp 800 cái bánh vào các hộp, mỗi hộp 4 cái. Sau đó xếp các hộp vào
thùng, mỗi thùng 5 hộp. Hỏi có bao nhiêu thùng bánh?
Trước tiên phải hướng dẫn học sinh tóm tắt đề bài:
Tóm tắt:
Xếp: 800 cái bánh vào các hộp
Mỗi hộp: 4 cái
Mỗi thùng: 5 hộp
Hỏi có:...thùng bánh?
+ Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn chính xác:
Bài giải
Số hộp bánh có là:
800 : 4 = 200 (hộp)
Số thùng bánh có là:
200 : 5 = 40 (thùng)
Đáp số: 40 thùng
Lưu ý: Đây là bài toán hợp, tên đơn vị của hai phép tính khác nhau. Phép tính
trên có đơn vị đại lượng 1. Phép tính dưới có tên đơn vị của đại lượng 2 (Đại lượng
phải đi tìm chính là đáp số bài toán).
* Dạng toán có nhiều cách giải:
Tìm cách giải đúng là chưa đủ, giáo viên cần phải giúp học sinh tìm hiểu nhiều
cách giải. Từ đó chọn cách giải hợp lý, ngắn gọn nhất, phát huy trí lực học sinh, tạo
điều kiện cho tư duy toán phát triển.
Ví dụ: Bài 3/SGK/74
Trong Hội khỏe Phù Đổng, đội tuyển của một tỉnh đã giành được 8 huy
chương vàng, số huy chương bạc giành được gấp 3 lần số huy chương vàng. Hỏi đội
tuyển đó đã giành được tất cả bao nhiêu huy chương?
Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ đề bài và tóm tắt bằng vẽ sơ đồ (nếu vẽ
được) để tìm ra cách giải đúng và nhiều cách khác:
Tóm tắt:
Số huy chương vàng:
Số huy chương bạc:
Cách 1:

Bài giải
Số huy chương bạc là:
8 x 3 = 24 (tấm)
Tổng số huy chương là:
8 + 24 = 32 (tấm)
Đáp số: 32 tấm huy chương

Cách 2:
16


Giáo viên cho học sinh nhìn vào sơ đồ và hướng dẫn: Nếu coi số huy chương
vàng là 1 phần thì số huy chương bạc là 3 phần như thế. Mỗi phần đều là 8 huy
chương.
Sau đó cho học sinh tự giải:
Bài giải
Tổng số phần bằng nhau là:
1 + 3 = 4 (phần)
Tổng số huy chương là:
8 x 4 = 32 (tấm)
Đáp số: 32 tấm huy chương
Để thực hiện được nhiều cách giải, tôi phải yêu cầu các em thật chú ý đến các
yêu cầu của đề, hiểu kĩ đề, tên đơn vị của mỗi phép tính; phải gợi ý dần dần, từng
bước để các em suy nghĩ tìm ra cách giải. Động viên kịp thời những em có ý tưởng,
cách giải hay. Phân tích, điều chỉnh lại những cách giải không phù hợp.
3.2.3.4 Rèn luyện kĩ năng tính toán, tránh nhầm lẫn khi tính toán:
Trong thực tế nhiều em học sinh tiếp thu hiểu đề nhanh và biết cách giải đúng,
tuy nhiên lại hay tính sai, dẫn đến không đúng đáp số. Vì vậy tôi luôn nhắc nhở học
sinh khi làm bài phải tính toán thật cẩn thận, không chủ quan; phần trình bày phải
khoa học, rõ ràng. Nếu là các phép tính cộng, trừ, nhân, chia nằm trong bảng, phải
học thuộc lòng để vận dụng nhanh. Nếu ở ngoài bảng các em phải thận trọng đặt phép
tính theo cột dọc, làm ngoài giấy nháp, kiểm tra kết quả, nếu tự tin là đúng mới chép
vào vở.
Bên cạnh đó tôi rèn luyện kĩ năng tính nhẩm từ đơn giản đến phức tạp để giúp
các em thực hiện nhanh hơn trong quá trình giải toán, đồng thời trang bị thêm một số
kinh nghiệm trong việc kiểm tra lại kết quả sau khi hoàn thành bài toán. Điều này sẽ
giúp các em hạn chế sai sót trong quá trình làm bài và cũng là điều kiện để rèn luyện
kĩ năng tính toán, tính cách cẩn thận cho học sinh.
4. Kết quả đề tài:
Kết quả đạt được trong thời gian áp dụng đề tài.
TSHS
32
32
32
32
32
32
32

Kiến thức
HS đọc kĩ bài toán
HS biết tóm tắt bài toán
HS biết xác định dạng toán
HS biết phân tích dữ liệu đã cho và
yếu tố phải tìm
HS biết giải bài toán
Kết quả được nâng cao

Đầu năm học
SL
TL
25/32 78,1%
25/32 78,1%
27/32 84,4%
27/32 84,4%

Cuối học kì I
SL
TL
30/32 93,8%
30/32 93,8%
31/32 96,9%
30/32 93,8%

24/32
/

28/32
30/32

75%
/

87,5%
93,8%

Qua nghiên cứu, kết quả cuối cùng rất khả quan. Đó không chỉ là kết quả của
những con số mà là trong cả một quá trình phấn đấu quyết tâm chịu khó, kiên trì, rèn
luyện của học sinh và giáo viên.
Kết quả kiểm tra của các vòng cho thấy chất lượng môn Toán tiến bộ rõ rệt. Cụ
thể, vào đầu năm kết quả khảo sát chất lượng thấp do kĩ năng giải toán của các em
chưa nhuần nhuyễn, các em làm bài còn sai nhiều nên kết quả chưa cao. Sau khi áp
dụng phương pháp mới và hình thức dạy học trên vào tiết dạy "giải toán có lời văn” là
17


giáo viên trực tiếp đứng lớp tôi nhận thấy chất lượng học sinh tiến bộ hơn nhiều, các
em có hứng thú trong học tập hơn, không còn cảm giác sợ khi học môn Toán.
Ngoài ra, kĩ năng giải toán của các em cũng nhanh hơn, trình bày bài giải đúng,
đẹp và chất lượng cuối học kì I cũng đạt kết quả cao.
5. Phạm vi áp dụng:
Sáng kiến kinh nghiệm được áp dụng trong phạm vi trường Tiểu học Phước
Hội và một số trường trong huyện có cùng điều kiện.

18


III. KẾT LUẬN
1. Bài học kinh nghiệm:
Như chúng ta đã biết: Dạy học là một nghề sáng tạo, người giáo viên khi đứng
trên bục giảng luôn gặp những vấn đề và tình huống phong phú nên đòi hỏi người
giáo viên phải có cách xử lí, cách giải quyết sáng tạo. Trong phạm vi môn Toán Tiểu
học có nhiều câu hỏi về nội dung được đặt ra từ thực tế trên lớp. Chính từ những vấn
đề đó mà đòi hỏi người giáo viên phải tìm lời giải đáp, tìm tòi cách tổ chức xây dựng
niềm tin, sự say mê ham học toán cho học sinh để đáp ứng yêu cầu giảng dạy, nhằm
nâng cao chất lượng trong dạy học. Để có một giờ dạy nhẹ nhàng, chất lượng và hiệu
quả hơn là một yêu cầu cấp thiết và đầy khó khăn.
Do vậy người giáo viên cần phấn đấu nhiều: phải đủ tự tin, am hiểu đầy đủ nội
dung, kiến thức, kĩ năng cần truyền thụ từng tiết dạy, tổ chức được hoạt động của thầy
và trò một cách hợp lí, khoa học, biết cách khuyến khích tư duy độc lập; phát huy hết
năng lực tiềm tàng của mỗi học sinh, khả năng ứng xử sư phạm tốt; tạo không khí
thân mật giữa thầy và trò trong tiết học, làm cho học sinh hứng thú, vui vẻ, hăng hái
học tập, tạo ra sự say mê đối với môn học.
Để thực hiện tốt theo phương pháp này tôi đã luôn có ý thức học hỏi vả trau
dồi kiến thức để đáp ứng với yêu cầu ngày một đổi mới của xã hội. Muốn thế tôi dành
nhiều thời gian để nghiên cứu, sưu tầm, tìm tòi trong các tài liệu có liên quan việc
nghiên cứu đề tài.
Là giáo viên tôi nhận thấy được nhiệm vụ của mình không kém phần quan
trọng là phải dìu dắt những mầm non cho tương lai, cho đất nước. Trong nhà trường
tiểu học ở lứa tuổi này các em cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và
xã hội đặc biệt là giáo viên trực tiếp giảng dạy trên lớp, giáo viên là chỗ dựa vững
chắc cho các em học tập. Vì thế tôi đã nghiên cứu để truyền đạt lại những kiến thức
cơ bản về toán học nói riêng và về các phân môn khác nói chung, nhằm để nâng cao
chất lượng học tập cho các em.
Áp dụng các biện pháp trong dạy học môn Toán đã đem lại cho các em những
tư duy, sự say mê tính toán gây được hứng thú học tập trong việc giải toán để các em
áp dụng kiến thức đó vào thực tiễn cuộc sống và là nền tảng cho các em ở cấp học
trên.
2. Hướng phổ biến, áp dụng đề tài:
Nếu đề tài được Hội đồng khoa học công nhận thì đề tài sẽ được phổ biến, áp
dụng cho tất cả giáo viên trong trường cũng như một số trường trong huyện có cùng
điều kiện.
3. Hướng nghiên cứu tiếp đề tài:
Nếu có điều kiện, tôi sẽ nghiên cứu tiếp theo đề tài "Biện pháp giúp học sinh
lớp 3B trường Tiểu Phước Hội học tốt dạng toán có lời văn "sâu rộng hơn nhằm áp
dụng trong phạm vi lớn hơn và hiệu quả cao hơn.
Trên đây là những kinh nghiệm, biện pháp mà tôi đã thực hiện trong thực tế.
Rất mong được sự đóng góp chân tình của quý đống nghiệp để đề tài áp dụng cho học
sinh có hiệu quả cao hơn.

19


KẾ HOẠCH DẠY HỌC MỘT TIẾT TOÁN LỚP 3
Môn: Toán (Tuần 11)
Bài: Giải bài toán bằng hai phép tính (tiếp theo)
I. MỤC TIÊU
- Bước đầu biết giải và trình bày bài giải bài toán bằng hai phép tính.
- Rèn kĩ năng trình bày bài giải cho học sinh.
- Giáo dục học sinh tính cẩn thận, chính xác khi làm bài.
II. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC
III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
* Hoạt động 1: Giới thiệu bài toán.
Mục tiêu: Biết giải và trình bày bài giải bài toán bằng hai phép tính.
Bài toán: Một cửa hàng ngày thứ bảy bán được 6 xe đạp, ngày chủ nhật bán
được số xe đạp gấp đôi số xe đạp trên. Hỏi cả hai ngày cửa hàng đó đã bán được bao
nhiêu xe đạp?
- Giáo viên treo bảng phụ ghi bài toán. Một số em nêu yêu cầu.
- Sau đó giáo viên cho học sinh phân tích đề toán.
- Giáo viên giúp học sinh giải và trình bày bài giải. Một em đọc bài giải. (như
SGK/51).
Giáo viên chốt ý.
* Hoạt động 2: Thực hành
Mục tiêu: Bước đầu biết giải và trình bày bài toán bằng hai phép tính.
Bài 1: Làm việc cả lớp.
- Học sinh nêu yêu cầu và phân tích đề toán.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh tóm tắt và giải bài toán vào vở. Một em làm
bài vào bảng phụ.
- Lớp nhận xét. Giáo viên chốt ý
Bài 2: Làm việc cá nhân
- Học sinh nêu yêu cầu và phân tích đề toán.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh tóm tắt và giải bài toán vào vở.
- Mời một em lên trình bày bài giải.
- Giáo viên nhận xét một số tập - chốt ý.
Bài 3: Làm việc nhóm đôi. (Học sinh chỉ tìm hiểu dòng 1)
- Giáo viên chia nhóm và cho các nhóm thảo luận (3 phút).
- Đại diện các nhóm lên trình bày kết quả.
- Giáo viên nhận xét, tuyên dương, chốt ý.
* Hoạt động nối tiếp:
- Giáo viên liên hệ giáo dục.
- Nhận xét tiết học.
- Dặn dò, chuẩn bị.

20


IV. CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. SGK môn Toán lớp 3 - Bộ Giáo dục và Đào tạo.
2. SGV môn Toán lớp 3 - Bộ Giáo dục và Đào tạo.
3. Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức kĩ năng các môn học ở Tiểu học 3.
Nhà xuất bản Giáo dục.
4. Hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học các môn học cấp Tiểu học. Nhà
xuất bản Giáo dục.
5. Các chuyên đề giáo dục.
6. Giáo trình "Phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học".
Tác giả: Nguyễn Trọng Chiến & Nguyễn Thị Thoa.
Đại học Sư phạm Huế - 5/2007

21


V. MỤC LỤC
Trang
I. MỞ ĐẦU................................................................................................................... 2
1. Lý do chọn đề tài:................................................................................................................2
2. Mục đích nghiên cứu:..........................................................................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu:........................................................................................................2
4. Phạm vi nghiên cứu:............................................................................................................2
5. Phương pháp nghiên cứu:...................................................................................................2
5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:.................................................................................2
5.2 Phương pháp điều tra:...................................................................................................3
5.3 Phương pháp thực nghiệm:...........................................................................................3
5.4 Phương pháp so sánh đối chiếu kết quả:.......................................................................3
6. Giả thuyết khoa học:...........................................................................................................3

II. NỘI DUNG.............................................................................................................. 4
1. Cơ sở lý luận.......................................................................................................................4
1.1 Các văn bản chỉ đạo của Ngành....................................................................................4
1.2 Các quan niệm khác về giáo dục...................................................................................4
2. Cơ sở thực tiễn:...................................................................................................................5
2.1 Thực tiễn vấn đề cần nghiên cứu:.................................................................................5
2.2 Sự cần thiết của đề tài:..................................................................................................5
3. Nội dung vấn đề:.................................................................................................................5
3.1 Vấn đề đặt ra:................................................................................................................5
3.2 Giải pháp chứng minh vấn đề được giải quyết:............................................................6
4. Kết quả đề tài:...................................................................................................................17
5. Phạm vi áp dụng:...............................................................................................................18

III. KẾT LUẬN..........................................................................................................19
1. Bài học kinh nghiệm:........................................................................................................19
2. Hướng phổ biến, áp dụng đề tài:.......................................................................................19
3. Hướng nghiên cứu tiếp đề tài:...........................................................................................19

IV. CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................21

22


Ý KIẾN NHẬN XÉT VÁ ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
--------۩-------1 - Cấp cơ sở:
- Nhận xét:............................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
- Xếp loại:.............................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
2 - Cấp huyện ( ngành):
- Nhận xét:............................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
- Xếp loại:.............................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
3 - Cấp Tỉnh:
- Nhận xét:............................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
- Xếp loại:.............................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................

23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×