Tải bản đầy đủ

SKKN kinh nghiệm giúp học sinh lớp 5b trường tiểu học phước ninh a học tốt phân môn tập làm văn thể loại văn miêu tả thông qua việc hướng dẫn tìm ý và lập dàn ý chi tiết

BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Tên đề tài: “Kinh nghiệm giúp học sinh lớp 5B trường Tiểu học Phước Ninh A
học tốt phân môn Tập làm văn thể loại văn miêu tả thông qua việc hướng dẫn tìm ý
và lập dàn ý chi tiết”.
Tác giả: Nguyễn Thanh Dũng
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Phước Ninh A - xã Phước Ninh - huyện
Dương Minh Châu - tỉnh Tây Ninh.
1. Lý do chọn đề tài:
Làm văn, viết văn là cái đích cuối cùng cao nhất của việc học tập Tiếng Việt ở
Tiểu học. Môn tập làm văn ở tiểu học có nhiệm vụ rất quan trọng là rèn kỹ năng nghe,
nói, viết. Nhưng học sinh còn lúng túng không biết lắng nghe gì? Nói gì? viết gì? Vì
vậy, dạy học cho học sinh biết quan sát tìm ý để hình thành thói quen chuẩn bị làm tốt
là một yêu cầu quan trọng khi làm văn. Trong thực tế giảng dạy, bên cạnh các em học
sinh làm bài tốt vẫn còn một số em khi làm bài còn ảnh hưởng bệnh công thức, khuôn
sáo, thiếu tính chân thực trong dạy - học văn miêu tả. Muốn quan sát tốt, học sinh cần
nắm được cách quan sát và những yêu cầu quan sát để làm văn. Đối với cả giáo viên
và học sinh đều chưa nhận thức được hết tầm quan trọng của giờ hướng dẫn học sinh
quan sát, tìm ý nên chất lượng tìm ý và lập dàn ý chi tiết thể loại văn miêu tả còn hạn
chế. Vì thế cần tìm ra giải pháp tạo điều kiện cho giáo viên sử dụng phương pháp
giảng dạy sử dụng tốt hơn, giúp học sinh tìm ý và lập dàn ý chi tiết thể loại văn miêu
tả.

2. Đối tượng - phương pháp nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: các giải pháp giúp học sinh tỉm ý và lập dàn ý chi tiết
thể loại văn miêu tả trong phân môn Tập làm văn lớp 5B trường Tiểu học Phước Ninh
A.
- Phương pháp nghiên cứu: phương pháp đọc và nghiên cứu tài liệu, phương
pháp điều tra, phương pháp quan sát, phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục.
3. Đề tài đưa ra các giải pháp:
- Rèn luyện cho học sinh kỹ năng quan sát.
- Rèn luyện cho học sinh kỹ năng tìm hiểu đề văn miêu tả.
- Hướng dẫn cho học sinh kĩ năng tìm ý và lựa chọn ý, kĩ năng lập dàn ý cho bài
văn miêu tả.
- Hướng dẫn học sinh sử dụng sơ đồ tư duy để lập dàn ý.
4. Hiệu quả áp dụng:
Sau khi được trải nghiệm, đề tài đã giúp giáo viên và học sinh có nhiều định
hướng mới mẽ hơn trong dạy và học tìm ý và lập dàn ý chi tiết thể loại văn miêu tả.
Kết quả bài kiểm tra thường xuyên, định kì tăng dần. Các em mạnh dạn, tự tin hơn
trong học tập, nắm chắc kiến thức hơn, miêu tả đối tượng trọng tâm hơn, mạnh dạn
nêu được ý nghĩ của mình trong bài viết.
.5. Phạm vi áp dụng:
Đề tài được áp dụng trong phạm vi tập thể lớp 5B, cũng như nhân rộng ra toàn
khối 4, khối 5 trường Tiểu học Phước Ninh A, năm học 2015-2016 và có thể áp dụng
với các đơn vị trường bạn có cùng điều kiện trong huyện và trong tỉnh.
Phước Ninh, ngày 10 tháng 03 năm 2015.
Người thực hiện
1


Nguyễn Thanh Dũng

I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tiểu học giữ vai trò nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Mục tiêu Giáo
dục tiểu học là nâng cao chất lượng toàn diện. Mỗi môn học ở tiểu học đều góp
phần hình thành và phát triển nhân cách của trẻ và cung cấp cho trẻ những tri thức
cần thiết. Môn Tiếng Việt có nhiệm vụ hình thành và phát triển cho học sinh các kỹ
năng sử dụng tiếng Việt như "nghe, nói, đọc, viết" để học tập và giao tiếp, góp phần
rèn luyện các thao tác tư duy. Trong chương trình tiểu học mới, môn Tiếng Việt
được chia thành nhiều phân môn, mỗi phân môn có nhiệm vụ rèn cho học sinh một
số kĩ năng nhất định.
Tập làm văn là phân môn có vị trí quan trọng trong quá trình luyện tập cho

học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt, văn hóa làm công cụ giao tiếp và tư duy.
Tập làm văn nối tiếp một cách tự nhiên những bài học khác trong môn Tiếng Việt,
là sự thể hiện các kĩ năng sản sinh văn hóa (nói, viết) và củng cố các kĩ năng tiếp
nhận văn bản (nghe, đọc) cho học sinh. Môn Tập làm văn ở tiểu học có nhiệm vụ
rất quan trọng là rèn kỹ năng nghe, nói, viết. Nhưng trong thự tế học sinh còn lúng
túng không biết nghe gì? Nói gì? Viết gì? trong tiết học phân môn Tập làm văn
phần quan sát và tìm ý. Vì vậy, dạy cho học sinh biết quan sát tìm ý để hình thành
thói quen chuẩn bị làm bài tốt là một yêu cầu quan trọng đòi hỏi giáo viên phải
quan tâm. Muốn quan sát tốt, học sinh cần nắm được cách quan sát và những yêu
cầu quan sát để lựa chọn những chi tiết sắp xếp thành ý khi làm văn. Hơn nữa, đối
với cả giáo viên và học sinh đều chưa nhận thức được hết tầm quan trọng của giờ
hướng dẫn học sinh quan sát, tìm ý, viết đoạn văn nên chất lượng tìm ý và lập dàn ý
chi tiết thể loại văn miêu tả còn hạn chế.
Vì thế, khi trình bày bài văn miệng và làm bài viết, các em không có ý để viết
câu văn, viết đoạn văn hay hoặc chọn ý không hợp lý, nội dung không chặt chẽ, bài
làm không đạt yêu cầu. Ngoài ra các em còn tả không đúng theo trình tự không
gian, thời gian. Chính vì vậy, tôi thường suy nghĩ: Làm thế nào để giúp học sinh
lớp mình phụ trách biết tìm ý, có nhiều ý hay, đặc sắc trong các bài làm văn miêu tả
ở lớp 5?
Với mong muốn đóng góp một phần kinh nghiệm của mình trong việc giáo
dục học sinh nhằm nâng cao chất lượng học sinh, đồng thời nâng cao năng lực sư
phạm cho bản thân, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu về: “Kinh nghiệm giúp
học sinh lớp 5B trường Tiểu học Phước Ninh A học tốt phân môn Tập làm văn
thể loại văn miêu tả thông qua việc hướng dẫn tìm ý và lập dàn ý chi tiết” để
nghiên cứu và thực hiện trong năm học 2014 - 2015.
2. Mục đích nghiên cứu
Tôi nghiên cứu đề tài này với mục đích: Giúp bản thân nói riêng và bạn đồng
nghiệp nói chung có phương pháp giảng dạy tốt phân môn Tập làm văn, đồng thời
giúp học sinh có kỹ năng quan sát, tìm ý cũng như lập dàn ý chi tiết để viết thành
2


đoạn văn miêu tả hay và sinh động góp phần nâng cao chất lượng dạy học phân
môn Tập làm văn nói riêng và chất lượng môn Tiếng Việt nói chung.
3. Đối tượng nghiên cứu
- Các giải pháp giúp học sinh tìm ý và lập dàn ý chi tiết thể loại văn miêu tả.
- Học sinh lớp 5B Trường Tiểu học Phước Ninh A.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Học sinh lớp 5B trường Tiểu học Phước Ninh A.
- Thời gian: Năm học 2014 - 2015.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Qua đọc và nghiên cứu tài liệu, tôi đã
chọn lọc và thu thập được một số nội dung có liên quan đến đề tài nghiên cứu.(Bao
gồm một số tài liệu như: Sách giáo khoa - Sách giáo viên Tiếng Việt 5, Giáo trình
Phương pháp dạy học Tiếng Việt 1-2, Chuyên đề-Tạp chí Giáo dục Tiểu học,...)
* Phương pháp điều tra (dự giờ, đàm thoại, kiểm tra, đối chiếu…):
- Thông qua các tiết dự giờ và trao đổi với bạn đồng nghiệp cũng như việc
theo dõi học sinh lớp 5B, tôi đã nắm bắt được tình hình học Phân môn Tập làm văn
của học sinh và hiểu được nguyên nhân các em học chưa tốt phần tìm ý và lập dàn
ý. Từ đó, tôi có cơ sở để nghiên cứu, tìm ra các giải pháp phù hợp giúp các em học
tập tốt hơn.
- Sau mỗi lần áp dụng một giải pháp mới trên lớp, tôi thường đối chiếu kết quả
học sinh đạt được ở hiện tại với kết quả lúc trước. Sau đó, tôi tiến hành chọn lọc và
phối hợp những ưu điểm giữa hai biện pháp mới và cũ để rút ra kinh nghiệm tốt
trong dạy học tìm ý và lập dàn ý chi tiết thể loại văn miêu tả.
5.3. Phương pháp quan sát: Trong quá trình dạy học, tôi đã không ngừng
quan sát trực tiếp thái độ và hứng thú học tập làm văn của các em học sinh; thường
xuyên theo dõi sự chuyển biến kết quả học tập của các em. Từ đó, tôi có cơ sở để
tiếp tục phát huy những giải pháp có hiệu quả.
5.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, tôi luôn tổng kết lại những
kinh nghiệm có hiệu quả trong việc giúp học sinh thực hiện tốt việc tìm ý và lập
dàn ý chi tiết thể loại văn miêu tả. Phương pháp này đã giúp tôi tìm hiểu được bản
chất, nguyên nhân và cách giải quyết trong quá trình nghiên cứu, tổng kết được
những kinh nghiệm, nguyên nhân thất bại hay thành công, từ đó có định hướng cụ
thể cho những lần áp dụng tiếp theo.
6. Giả thuyết khoa học:
Với những kinh nghiệm nghiên cứu được trong đề tài, tôi hy vọng sẽ đem lại
kết quả tốt, giúp các em tìm được các ý cần thiết, hay và sinh động khi làm văn.
Các em sẽ cảm thấy tự tin hơn, nhanh nhẹn hơn, thậm chí có thể yêu thích, hứng
3


thú và háo hức chờ đến giờ tập làm văn để tự mình thể hiện kĩ năng quan sát, ghi
nhận những điều quan sát được trên thực tế để từ đó mới tìm được ý cho bài văn.

4


II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
- Hiện nay, để thực hiện tốt yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học, Ngành giáo dục đang thực hiện theo tài liệu
như: Giáo dục bảo vệ môi trường (tài liệu bồi dưỡng giáo viên) theo Chỉ thị số
02/2005/CT-BGD&ĐT của Bộ giáo dục và Đào tạo ngày 31 tháng 01 năm 2005;
Công văn 896/BGD&ĐT ngày 13/02/2006 về Hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy
và học”; Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở tiểu học do
Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn theo Quyết định số 16/2006/QĐBGDĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006; tài liệu Hướng dẫn thực hiện điều chỉnh nội
dung dạy học các môn học cấp Tiểu học do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên
soạn theo Công văn số 5842/BGDĐT-VP ngày 01 tháng 9 năm 2011; Thông tư số
30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 Ban hành Quy định dánh giá học
sinh tiểu học. Áp dụng các kĩ thuật dạy học tích cực đã được tập huấn nghiệp vụ hè
cùng một số tài liệu khác giúp cho giáo viên định hướng tốt hơn, có thêm nhiều
kiến thức, chủ động hơn trong việc vận dụng nội dung, phương pháp giảng dạy,
phấn đấu đạt mục tiêu giáo dục đề ra.
- Các vấn đề liên quan đến phân môn Tập làm văn:
Miêu tả là thể loại văn dùng ngôn ngữ diễn đạt nội dung có hình ảnh và cảm
xúc làm cho người đọc, người nghe hình dung một cách rõ nét, cụ thể người, vật,
cảnh vật, sự việc… như nó vốn có trong cuộc sống. Văn miêu tả phải nêu được
những nét đặc sắc về hình dáng bên ngoài cũng như tính tình được bộc lộ qua lời
nói, cử chỉ, việc làm của một người thế nào, màu sắc, đường nét, âm thanh về hoạt
động của nhiều người trong cùng một thời gian và địa điểm nào đó.
Miêu tả là “lấy nét vẽ hay câu văn để biểu hiện các chân tướng của sự vật”.
Văn miêu tả giúp người đọc hình dung một cách cụ thể hình ảnh của sự vật thông
qua những nhận xét tinh tế, những rung động sâu sắc thể hiện cảm xúc thẩm mỹ
của người viết. Văn miêu tả mang tính thông báo thẩm mỹ, chứa đựng tình cảm của
người viết, sinh động và tạo ngôn ngữ miêu tả giàu hình ảnh.
Ở lớp 5, các loại bài tập làm văn đều gắn với các chủ điểm, văn miêu tả cũng
nằm trong cấu trúc đó. Quá trình thực hiện các kỹ năng tìm hiểu đề, quan sát, tìm ý,
viết đoạn là những cơ hội để huy động vốn từ, phong phú hoá vốn từ, tích cực hoá
vốn từ để vẽ lại được cảnh vật, con vật, đồ vật… đồng thời giúp trẻ hiểu biết được
về cuộc sống theo các chủ điểm đã học. Việc phân tích đề, phân tích dàn bài, lập
dàn ý, chia đoạn văn miêu tả góp phần phát triển khả năng phân tích, tổng hợp,
phân loại của học sinh. Tư duy hình tượng của trẻ cũng được rèn luyện nhờ vận
dụng các biện pháp so sánh, nhân hóa …. khi miêu tả.
Ngoài việc giáo dục cho học sinh có tri thức về lí thuyết văn miêu tả, kỹ năng
làm văn miêu tả, giáo viên cần quan tâm đến việc giáo dục thẫm mỹ, giáo dục thể
chất, trí tuệ, tình cảm và đạo đức cho học sinh, dần hình thành cho học sinh nhân
cách của con người Việt Nam mới.
Tất cả các môn học trong chương trình tiểu học nói chung và lớp 5 nói riêng
đều có quan hệ mật thiết, hỗ trợ cho nhau trong việc giúp học sinh thực hiện tốt
5


mục tiêu phân môn Tập làm văn. Mặt khác, phân môn Tập làm văn cũng có tác
động trở lại rất tích cực, làm cơ sở cho các em học các môn học khác. Do đó, chúng
ta không được coi nhẹ môn học nào mà phải giúp học sinh học tốt tất cả các môn
học.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Thực trạng:
Trong chương trình phân môn Tập làm văn lớp 5, hai kiểu bài “Tả cảnh sinh
hoạt” và “Tả người” được dạy từ tuần 1 đến tuần 20, sang tuần 21 trả bài văn tả
người. Trong đó chỉ có tuần 1, tiết đầu tiên về tả cảnh sinh hoạt là: Cấu tạo của bài
văn tả cảnh; tìm hiểu đề bài, làm dàn ý. Các tiết sau tiếp theo là tiết viết đoạn văn,
rồi đến tiết làm bài viết, tiết trả bài viết.
Qua thực tiễn điều tra, dự giờ, trao đổi trực tiếp cũng như gián tiếp với giáo
viên và học sinh về việc dạy và học văn miêu tả trong năm học trước, tôi nhận thấy:
thể loại mới nên các em tìm ý rất chậm gây khó khăn cho các em vì không tìm
được ý để lập dàn bài chi tiết hoặc lập dàn bài sơ xài, chỉ có vài ý, quá ngắn, đặt
câu chưa rõ ý, câu không đủ ý. Phần học sinh cũng lúng túng vì các em phải vừa
quan sát, vừa tìm ý, học sinh ngại nói, ít phát biểu vì các em chưa có đủ văn liệu và
vốn sống để trình bày. Điều đó dẫn đến tiết học không sinh động và bài làm của các
em không đạt yêu cầu vì chưa có ý đặc sắc, chưa xoáy vào trọng tâm. Vì vậy, đòi
hỏi người giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy, có sự chuẩn bị, đầu tư cho các
tiết học Tập đọc, Kể chuyện và môn Tự nhiên – xã hội để nhờ đó hỗ trợ cho các em
vốn từ và ngữ cảnh có liên quan đến các kiểu bài văn miêu tả. Song song đó, giáo
viên phải tập cho các em có thói quen biết chuẩn bị bài, biết quan sát, biết tìm ý
trước khi ghi vào vở nháp, sử dụng biện pháp so sánh, nhân hóa vào trong văn miêu
tả và sắp xếp các ý vào dàn ý chi tiết hợp lí vì có một dàn ý tốt sẽ đảm bảo cho việc
hoàn thành một bài văn viết có chất lượng. Nhưng vào đầu năm học các em chưa có
thói quen và các kỹ năng đó khi làm bài tập làm văn. Chính vì vậy khảo sát chất
lượng của 33 học sinh lớp 5B đầu năm học 2014-2015 thu được kết quả như sau:
Bảng khảo sát kết quả của học sinh đầu năm

Lớp

5B

TSHS

33

Học sinh tìm ý, Học sinh tìm ý, lập
lập được dàn ý được dàn ý hoàn
tốt
chỉnh

Học sinh chưa tìm
được ý, lập dàn ý
chưa hoàn chỉnh

TS

TL%

TS

TL%

TS

TL%

3

9,1

18

54,5

12

36,4

Như vậy, tỷ lệ học sinh chưa tìm được ý, chưa lập được dàn ý vẫn còn khá cao.
2.2. Nguyên nhân của những tồn tại:
- Giáo viên chưa chuẩn bị chu đáo khi hướng dẫn học sinh làm bài tập:
không chịu khó nghiên cứu, tìm tòi thêm ở những tài liệu khác ngoài sách giáo
khoa.
6


- Một số giáo viên vốn từ còn hạn chế.
- Học sinh nhận xét về đoạn văn không đầy đủ
- Học sinh quan sát đối tượng định tả còn đại khái, lướt qua nên không tìm
được ý, ý nghèo nàn, bài văn không có sáng tạo.
- Học sinh không biết ghi chép những gì mà mình quan sát được một cách
rõ ràng. Khi viết các em thường lặp lại ý câu trước,…
- Học sinh thiếu sự tưởng tượng, ít cảm xúc về đối tượng miêu tả, vốn ngôn
ngữ còn quá ít ỏi.
Những nguyên nhân trên đã ảnh hưởng không tốt tới chất lượng giờ dạy,
không gây hứng thú học tập cho học sinh. Chính vì vậy tôi đã sử dụng một số biện
pháp giúp các em biết cách quan sát, tìm ý và lập dàn ý chi tiết cho bài văn miêu tả,
tìm ra giải pháp mới để việc dạy và học tập làm văn có hiệu quả hơn, nâng cao chất
lượng giảng dạy môn Tiếng Việt.
3. Nội dung vấn đề
3.1. Vấn đề đặt ra
Từ những thực trạng nêu trên, tôi cần tìm ra giải pháp giúp giáo viên vận dụng
các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học trong văn miêu tả sao cho phù hợp,
giúp cho các em học sinh có được một “phương pháp” riêng cho mình khi học văn
miêu tả, mạnh dạn, tự tin hơn khi làm bài viết, nêu bật được cảm nhận, suy nghĩ
của mình về đối tượng miêu tả và học văn miêu tả ngày một tốt hơn. Vì vậy, để
giúp học sinh có thể làm được bài văn có đủ ý, sâu sắc, tôi đã tiến hành các công
việc sau:
- Luôn nhắc nhở học sinh quan tâm tới cuộc sống xung quanh mình: ở trường,
ở lớp, ở gia đình và xã hội.
- Tập thói quen quan sát và ghi nhận: Mỗi em có một cuốn sổ tay văn học để
ghi chép những điều mới lạ mà em thấy được về người, về cảnh …hoặc sưu tầm,
ghi từ, ý hay có liên quan đến thể loại văn, kiểu bài đang học để có thêm nhiều vốn
sống thực tế và vốn từ, ý.
- Nắm tình hình bao quát và thực lực riêng của từng học sinh. Sau đó sắp xếp
chia tổ học tập vừa có học sinh học tốt, vừa có học sinh còn chậm để các em giúp
đỡ nhau tiến bộ.
3.2. Một số giải pháp cụ thể
3.2.1. Rèn luyện kĩ năng quan sát cho học sinh
Miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của người để giúp
người nghe, người đọc hình dung được các đối tượng ấy, tức là lấy câu văn để biểu
hiện các đặc tính, chân tướng sự vật, giúp người đọc như được nhìn tận mắt, sờ tận
tay vào sự vật miêu tả. Vì vậy, khi dạy văn miêu tả, tôi cần chú ý hướng dẫn học
sinh quan sát và miêu tả theo các trình tự hợp lý.
a. Tả theo trình tự không gian:

7


Quan sát toàn bộ trước rồi đến quan sát từng bộ phận, tả từ xa đến gần, từ
ngoài vào trong, từ trái qua phải,... (hoặc ngược lại). Ở lớp 4, lớp 5 trình tự này
được vận dụng khi miêu tả loài vật, đồ vật, cảnh vật,...
Ví dụ:
Tả từ ngoài vào trong: “Đền Thượng nằm chót vót trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh.
Trước đền, những khóm hải đường đâm bông rực đỏ, những cánh bướm nhiều màu
sắc bay dập dờn như đang múa quạt xoè hoa. Trong đền dòng chữ vàng Nam Quốc
Sơn Hà uy nghiêm đề ở bức hoành phi treo chính giữa.”
b. Tả theo trình tự thời gian:
Cái gì xảy ra trước (có trước) thì miêu tả trước. Cái gì xảy ra sau (có sau) thì
miêu tả sau. Trình tự này thường được vận dụng khi làm Tập làm văn miêu tả cảnh
vật hay tả cảnh sinh hoạt của người.
Ví dụ:
“Thảo quả trên rừng Đản Khao đã chín nục. Chẳng có thứ quả nào hương
thơm lại ngây ngất kì lạ đến như thế. Mới đầu xuân năm kia, những hạt thảo quả
gieo trên đất rừng qua một năm, đã lớn cao đến bụng người. Một năm sau nữa, từ
một thân lẻ, thảo quả đâm thêm hai nhánh mới. Sự sinh sôi sao mà mạnh mẽ vậy.”
c. Tả theo trình tự tâm lí:
Khi quan sát cần thấy những đặc điểm riêng, nổi bật nhất, thu hút và gây cảm
xúc mạnh nhất đến bản thân thì quan sát trước, tả trước, các bộ phận khác tả sau.
Khi miêu tả đồ vật, loài vật, tả người nên vận dụng trình tự này nhưng chỉ nên tả
những điểm đặc trưng nhất, không cần phải tả đầy đủ chi tiết như nhau của đối
tượng.
Ví dụ:
“Bà tôi ngồi cạnh tôi chải đầu. Tóc bà đen và dày kì lạ, phủ kín cả hai vai, xoã
xuống ngực, xuống đầu gối. Một tay khẽ nâng mớ tóc lên và ướm trên tay, bà đưa
một cách khó khăn chiếc lược thưa bằng gỗ vào mớ tóc dày.
Giọng bà trầm bổng, ngân nga như tiếng chuông. Nó khắc sâu vào trí nhớ tôi
dễ dàng và như những đoá hoa, cũng dịu dàng, rực rỡ, đầy nhựa sống. Khi bà mỉm
cười, hai con ngươi đen sẫm nở ra long lanh, dịu hiền khó tả,...” (Bài Bà Tôi Tiếng Việt 5- Tập 1, trang 122).
Tác giả đã quan sát và tập trung tả mái tóc, giọng nói rồi đến ánh mắt. Mái tóc
“dày kì lạ”.
Ngoài các trình tự miêu tả trên, giáo viên cần hướng dẫn và rèn luyện cho học
sinh kĩ năng sử dụng các giác quan như: thính giác, thị giác, xúc giác, vị giác,... để
quan sát, cảm nhận sự vật, hiện tượng miêu tả.
Ví dụ:
Phân tích bài “Mưa rào” (Tiếng Việt 5- Tập 1- Trang 33) ta thấy tác giả đã
quan sát bằng các giác quan như sau:
- Thị giác: Thấy những đám mây biến đổi trước cơn mưa, thấy mưa rơi.
8


- Xúc giác: Gió bỗng thấy mát lạnh, nhuốm hơi nước.
- Khứu giác: Biết được mùi nồng ngai ngái, xa lạ man mác của những trận
mưa đầu mùa.
- Thính giác: Nghe thấy tiếng gió thổi, tiếng mưa rơi, tiếng sấm, tiếng hót của
chào mào.
3.2.2. Rèn luyện cho học sinh kĩ năng tìm hiểu đề văn miêu tả:
Ở Tiểu học, học sinh được học tập làm văn miêu tả theo những đề bài cho
trước với những yêu cầu nhất định. Tìm hiểu đề là kĩ năng đầu tiên mà học sinh
phải tiến hành trong quá trình làm bài. Ở đây tôi đã giúp học sinh biết cách xác
định yêu cầu của đề, tránh được sự lúng túng trong quá trình triển khai bài viết, dẫn
đến viết xa đề, lạc đề.
Việc rèn luyện tốt kĩ năng tìm hiểu đề văn miêu tả cho học sinh sẽ có ảnh
hưởng đến kết quả của các kĩ năng tiếp theo. Để giúp học sinh thực sự thuần thục kĩ
năng tìm hiểu đề văn miêu tả, tôi chú ý hướng dẫn các em một số thao tác sau đây
khi tìm hiểu đề:
- Đọc kĩ đề bài, bước đầu nhận thức sơ bộ về nội dung, yêu cầu miêu tả;
- Gạch chân những từ ngữ quan trọng trong đề bài.
(Kết quả thu được sau khi thực hiện hai thao tác này giúp người viết bước
đầu nắm bao quát về đề bài, nhận biết yêu cầu có tính bắt buộc hay chỉ có tính gợi
ý - chỉ dẫn, yêu cầu nào cần tự xác nhận cho bài viết,...)
- Trả lời các câu hỏi để xác định yêu cầu của đề như: Đề bài yêu cầu viết theo
kiểu bài văn miêu tả nào? Đối tượng miêu tả của bài viết là gì? Mục đích viết bài
văn miêu tả để làm gì? Bài viết sẽ tập trung miêu tả những đặc điểm chủ yếu nào
của đối tượng? Vì sao lại tập trung tả những đối tượng đó? Bài viết hướng tới
người đọc là ai? Từ ngữ xưng hô sẽ được sử dụng trong bài viết là gì? Cần lưu ý
điểm gì khi sử dụng ngôn ngữ trong bài văn miêu tả?
Việc thực hiện các thao tác trên trong quá trình tìm hiểu đề sẽ giúp học sinh
có hiểu biết đầy đủ về đề văn miêu tả, từ đó các em có hứng thú hơn khi viết bài
văn và phát huy cao nhất khả năng sáng tạo trong bài văn.
3.2.3. Hướng dẫn học sinh tìm ý, lựa chọn ý và lập dàn ý cho bài văn miêu
tả:
Tìm ý và lập dàn ý trong làm văn nói chung và trong văn miêu tả nói riêng
là một thao tác, một bước chuẩn bị không thể thiếu, có thể nói nó có vai trò rất quan
trọng đối với học sinh đặc biệt là học sinh Tiểu học. Vì vậy, đối với học sinh lớp 5
thì dàn ý không có gì xa lạ nhưng để lập được một dàn ý chi tiết, đủ ý và theo đúng
bố cục của một bài văn miêu tả để học sinh có thể dựa vào đó viết thành một đoạn
văn hay một bài văn hay thì quả thật là rất khó.
Mọi người ai cũng hiểu rằng khi viết văn nếu bỏ đi công đoạn tìm ý và lập
dàn ý thì bài làm của các em sẽ không đi đúng theo yêu cầu khi viết bài, kiểm tra
bài văn của các em sẽ thiếu đi tính hệ thống, tính lôgic. Điều này làm cho bài văn
không đạt được như mục tiêu đã đề ra.
9


Đối với kiểu bài miêu tả, quan sát là cơ sở chủ yếu để tìm ý. Việc quan sát
có thể tiến hành ngay trên lớp hoặc tiến hành ngoài lớp trước tiết học. Muốn bảo
đảm các yêu cầu trên, các đề bài ra cho học sinh phải tính đến khả năng quan sát
của các em. Không nên ra các đề miêu tả mà học sinh không thể quan sát trực tiếp.
Khi hướng dẫn học sinh quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả, quan trọng
nhất là biết cách đặt câu hỏi kết hợp với hướng dẫn học sinh quan sát. Câu hỏi loại
này cần chỉ rõ sử dụng giác quan nào, quan sát bộ phận nào của đối tượng miêu tả.
Thông thường học sinh chỉ quen sử dụng mắt để quan sát và nhận xét, ít biết cách
dùng các giác quan khác. Đề tài miêu tả phong phú, tôi chú ý đặt câu hỏi yêu cầu
học sinh tập sử dụng mắt, mũi, tai, tay, da,…để thu thập nhiều nhận xét khác nhau
giúp cho việc miêu tả sinh động, mới mẻ.
Sau khi học sinh đã quan sát đối tượng miêu tả ở nhà, công việc của giáo
viên là đặt câu hỏi gợi ý để học sinh hồi tưởng lại những gì đã quan sát được.
Khi học sinh đã quan sát và tìm đủ ý rồi, giáo viên hướng dẫn các em lập
dàn ý bài văn. Dàn ý phải đủ 3 phần:
+ Phần mở bài: Giới thiệu bao quát về vấn đề định tả.
+ Phần thân bài:
. Tả bao quát
. Tả chi tiết.
. Đôi nét tiêu biểu, nổi bật.
+ Kết bài: Nêu nhận xét hoặc cảm nghĩ của người viết.
Chú ý: Khi lập dàn ý cần cân đối câu từ. Câu không quá dài hay quá
ngắn, mỗi câu cần làm nổi rõ một trọng tâm của bài. Các ý cần chặt chẽ, lôgíc với
nhau...
Ví dụ: Khi dạy tiết 1 về “Tả cảnh sinh hoạt”. Tiết đầu tiên cũng là tìm hiểu đề,
lập dàn ý của bài văn tả cảnh sinh hoạt.
Đề bài: Tả cảnh nhộn nhịp của sân trường trong giờ ra chơi.
Để chuẩn bị cho tiết này, trước đó, giáo viên đã hướng dẫn cho các em cách
quan sát và ghi nhận ý vào vở nháp. Các em quan sát theo thời gian như:
+ Cảnh sân trường trước giờ ra chơi (ngồi trong lớp nghe, cảm nhận);
+ Cảnh sân trường bắt đầu có tiếng trống và khi học sinh đã ùa ra sân (chọn vị
trí quan sát ở ngoài sân);
+ Cảnh các hoạt động vui chơi diễn ra: Khung cảnh nhộn nhịp chung, hoạt
động sôi nổi của từng nhóm, hoạt động riêng lẻ của vài cá nhân;
+ Cảnh sân trường khi có tiếng trống báo hiệu hết giờ;
Giờ học chính thức, giáo viên hướng dẫn các em tìm hiểu đề, xác định thể
loại, kiểu bài, nội dung và trọng tâm của đề. Sau đó, các nhóm, cá nhân sẽ nêu lên
các ý đã quan sát ghi được, tập thể lớp nhận xét, góp ý bổ sung và các em sẽ lập
dàn bài chi tiết dựa vào dàn bài chung về tả cảnh sinh hoạt.
10


DÀN BÀI CHUNG
I . MỞ BÀI
- Giới thiệu cảnh vật.
• Ở đâu?
• Lúc nào?
II. THÂN BÀI
a) Tả cảnh bao quát
- Sân trường trước giờ học
- Khi có tiếng trống
- Khi học sinh ùa ra cửa lớp, ra
sân.
- Cảnh tập thể dục giữa giờ.

DÀN BÀI CHI TIẾT
(Học sinh có thể ghi ý hoặc viết thành
câu)
- Giờ ra chơi.
• Diễn ra ở sân trường em.
• Vào lúc (tám giờ rưỡi sáng, ba
giờ chiều, sau hai tiết học).
(Học sinh chọn ý để ghi)
- Bầu trời, cây lá.
- Vắng lặng chỉ có tiếng giảng bài.
- Tiếng ồn nổi lên từ các lớp.
- Vui mừng ùa ra như (đàn chim sổ
lồng, bầy ong vỡ tổ…)
- Hàng hàng thẳng tắp, nghe theo hiệu
lệnh của còi của giáo viên Thể dục.

b) Quang cảnh giờ chơi - Sân trường ồn ào náo nhiệt.
(trọng tâm)
- Số đông học sinh ùa xuống căn tin
- Các hoạt động vui chơi diễn mua quà bánh.
ra.
- Nhóm các bạn nam (đá cầu, rượt
+ Từng nhóm chơi
đuổi, chọi nai, bắn bi).
Chú ý tìm từ nêu bật được các - Nhóm các bạn nữ (nhảy dây, chơi u,
nét về hình dáng, cử chỉ hoạt động cò cò…)
của các bạn khi chơi, từ gợi tả hình
ảnh màu sắc, âm thanh…xen tả - Nhóm các em lớp một, hai (xếp hàng
rồng rắn, trốn tìm, rượt bắt…)
cảnh để làm nền).
- Một số bạn ngồi ở băng ghế đá trò
chuyện, bàn tán rôm rả.
+ Vài cá nhân tiêu biểu.

- Vài bạn gái ngắm các bồn hoa vừa
trò chuyện râm ran.
- Có bạn xem sách hoặc viết bài ở lớp.
- Nghe tiếng trống, học sinh chạy về
lớp.
- Sân trường yên ắng.

c) Cảnh kết thúc giờ chơi.

- Ánh nắng, cành lá cây, gió…..
- Giúp vui chơi thoải mái, tiếp thu bài
tốt.
11


III. KẾT LUẬN. Cảm nghĩ.
- Ích lợi giờ chơi.
- Tình cảm.

- Giờ chơi mang lại tinh thần sảng
khoái sau 2 tiết học, giúp em hết mệt
mỏi bắt đầu tiết học mới.
- Những trò chơi thời thơ ấu sẽ mãi là
những kĩ niệm khó quên.

Tuy nhiên, sau tiết học này thì học sinh phải viết đoạn văn nên các em diễn đạt
ý chưa suôn sẻ, chưa dùng được nhiều từ gợi tả, gợi cảm. Vì thế, những tiết luyện
tập tả cảnh và viết đoạn văn ở các đề bài sau và trong các giờ bồi dưỡng (buổi
chiều) giáo viên hướng dẫn cho học sinh nắm thêm như:
- Cho học sinh liên hệ đến các bài tập đọc “Quang cảnh làng mạc ngày mùa”,
“Kì diệu rừng xanh”, “Đất Cà Mau”, “Mùa thảo quả”, “Trồng rừng ngập mặn”.
Qua đó, tôi phân tích giới thiệu cho các em thấy được cách sử dụng từ ngữ, gợi tả,
gợi cảm, các biện pháp nghệ thuật như: nhân hóa, so sánh, điệp từ (điệp ngữ) hoặc
đảo ngữ để làm nổi bật cảnh và hoạt động của người.
* Đến tuần 12, tiết 23 bắt đầu qua tả người: tìm hiểu đề - lập dàn ý của bài văn
tả người, tôi hướng dẫn cụ thể từng bước sau khi đã giảng cho học sinh biết được
nét đặc trưng của kiểu văn tả người.
- Tìm hiểu đề: (theo cách hướng dẫn ở sách giáo viên).
- Hướng dẫn làm dàn bài chi tiết dựa vào dàn bài chung.
Ví dụ: Đề bài “Tả hình dáng và tính tình cô giáo (thầy giáo) đã dạy em
trong những năm học trước mà em nhớ nhất”.
Để học sinh chuẩn bị được tốt, lập được nhiều ý, tôi phân công và giao việc cụ
thể cho từng nhóm. Sau đó, tôi hướng dẫn cách làm việc, nắm được đề bài, quan sát
tìm ý ghi nhận. Khi giáo viên hướng dẫn để các em nêu ý lên, các bạn sẽ nhận xét
rồi sắp xếp ý đưa vào dàn bài chi tiết theo bảng sau (có thể ghi bằng từ ngữ ngắn
gọn hoặc bằng câu văn cụ thể).
DÀN BÀI CHUNG

DÀN BÀI CHI TIẾT

I. MỞ BÀI: Giới thiệu
- Cô giáo cũ (thầy giáo cũ) em nhớ nhất là - Cô (thầy)…..
ai?
- Đã dạy em năm lớp mấy?

- Dạy em năm lớp …, năm học….

II. THÂN BÀI:
1. Hình dáng:
a/ Tả bao quát
- Tuổi tác.

- Khoảng (độ) chừng ….tuổi

- Tầm vóc.

- Cân đối, thon thả, mảnh mai, cao
12


- Dáng điệu.

cao.

- Cách ăn mặc (có liên quan, phù hợp - Khoan thai (duyên dáng, chững
với nghề nghiệp).
chạc, nghiêm nghị)
b/ Tả chi tiết (Chỉ chọn những nét đặc - Trang phục áo dài (thướt tha…)
sắc, đáng chú ý để phân biệt rõ người được hoặc quần tây, áo sơ mi (chỉnh tề).
tả).
(Học sinh nêu sau khi đã quan sát
- Khuôn mặt.
nhớ lại và chọn từ thích hợp để
ghi, giáo viên sẽ bổ sung từ cho
các em).
- Mái tóc.
- Trái xoan (tròn, vuông, chữ điền,
khả ái, hồng hào, đầy đặn…)
- Mắt, mũi, miệng:

- Mượt mà (đen mượt xõa xuống
ngang vai, kẹp gọn gàng, uốn
ngắn, hớt ngắn…)
- Mắt đen láy (long lanh, sáng tinh
anh, dịu hiền…)
- Mũi cao (thấp, to, dọc dừa…)
- Miệng nhỏ (rộng, xinh xinh, đôi
môi hồng tươi…)

- Thân hình – tay chân.

- Tròn, (mập mạp, gầy gầy, đầy
đặn, nở nang, mỏng manh…)

- Răng.

- Đều đặn (trắng …)
- Hiền (trung thực, nghiêm
nghị…)

2. Tính tình (được thể hiện cụ thể qua lời
- Hiền dịu (thể hiện qua lời nói
nói,cử chỉ, thói quen, việc làm).
nhỏ nhẹ, không bao giờ lớn
tiếng…) hoặc nghiêm khắc (ít
cười, lời nói dứt khoác…)
- Tận tụy, siêng năng, hết lòng vì
học sinh (thể hiện qua việc làm
giảng dạy nhiệt tình, quan tâm tới
từng đối tượng học sinh, luôn
nhắc nhở uốn nắn, động viên tinh
thần học tập, góp ý sửa bài …)
III. KẾT LUẬN: cảm nghĩ về người được
tả (cần tả được 2 ý)
- Tình cảm.

- Yêu quý (biết ơn, kính trọng…)

- Hành động.

- Cố gắng học (nhớ lời dạy, thực
hiện tốt) để đền đáp công ơn.
13


Qua những đề bài như: tả bạn, tả bà, tả em bé,... các em đã biết cách làm như
thế và hướng dẫn các em vào đầu giờ (hoặc giờ chơi) thảo luận, trao đổi ý rồi mỗi
em sẽ tự lập dàn bài chi tiết của mình vào vở chuẩn bị.
- Trong thời gian này, giáo viên cũng cần theo dõi sự làm việc của các nhóm,
xem qua sự chuẩn bị của một số em, bổ sung, sửa chữa. Giờ dạy bồi dưỡng giáo
viên sẽ cho các em liên hệ đến một số bài tập đọc tả người như: “Những người bạn
tốt”, “Buôn Chư Lênh đón cô giáo”, “Thầy thuốc như mẹ hiền”,“Ngu Công xã
Trịnh Tường”, làm một số bài tập để mở rộng vốn từ, biết diễn đạt ý bằng câu văn
có hình ảnh bằng cách làm quen với một số biện pháp tu từ như: so sánh, nhân hóa
có liên quan tới tả người.
Để các em học sinh có thể vận dụng được cách viết hay có sử dụng được các
biện pháp trên, tôi cho các em tập làm các dạng bài tập nhỏ (viết đoạn văn).
- Tập viết câu văn gợi tả, gợi cảm.
- Tập viết câu có sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hóa.
- Tập diễn đạt ý gọn, chính xác, sinh động.
- Tập phân tích thành dàn bài chi tiết.
3.2.4. Hướng dẫn học sinh sử dụng sơ đồ tư duy để lập dàn ý:
* Sơ đồ tư duy là một phương tiện trực quan có ưu điểm trong việc sản sinh,
hình dung cũng như cấu trúc và phân loại các ý tưởng. Trong dạy học, nó giúp học
sinh liên kết và gợi nhớ lại những kinh nghiệm đã có, làm cho ý tưởng của các em
thêm phần phong phú, sáng tạo.
* Cách vẽ sơ đồ tư duy trong dạy học văn miêu tả:
a) Chuẩn bị:
- Vật dụng: Tờ giấy trắng kích thước phù hợp (có thể chọn giấy A4)
- Xác định yêu cầu của đề, các từ chìa khóa để làm chủ đề cho sơ đồ.
- Tập hợp ý, tranh ảnh liên quan đến chủ đề.
b) Tiến hành:
- Mô tả chủ đề của sơ đồ bằng một từ, một cụm từ ngắn gọn hoặc có thể mô tả
chủ đề bằng hình ảnh và đặt ảnh ở vị trí phù hợp sao cho nổi bật về màu sắc, kích
thước, ...
- Đặt và trả lời câu hỏi liên quan đến chủ đề. Giáo viên có thể hỗ trợ cho học
sinh bước này bằng cách xây dựng hệ thống câu hỏi gợi ý, tránh tình trạng học sinh
nêu các ý chung chung, không nổi bật đặc trưng đối tượng miêu tả.
- Từ chủ đề, vẽ nhánh chính và gắn từ, cụm từ khóa lên nhánh.
- Từ nhánh chính, mở ra các nhánh phụ với kích thước nhỏ hơn. Gắn kết các ý
bằng cách đánh dấu mũi tên hoặc đánh số thứ tự trước sau. Chú ý, những nhánh
14


chính và nhánh phụ nên vẽ thành các đường cong để tạo sự "mềm mại" cho sơ đồ
đường cong.
c) Hoàn thiện:
- Bổ sung hình ảnh, màu sắc cần thiết.
- Kiểm tra lại những từ khóa.
- Kiểm tra lại tổng thể sơ đồ xem có cân đối và hợp lý chưa.
d) Thể hiện: Từ Sơ đồ tư duy đã hoàn thành, học sinh phải:
- Diễn đạt ý bằng lời nói.
- Diễn đạt ý bằng cách viết câu, đoạn, bài.
* Một số lưu ý khi hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ tư duy:
- Để đảm bảo yêu cầu trọng tâm miêu tả, màu sắc và kích thước của các nhánh
phải thể hiện được điểm nhấn các trọng tâm miêu tả, thể hiện được sự liên kết giữa
các ý.
- Để kích thích những liên tưởng thú vị, giáo viên cần xây dựng hệ thống câu
hỏi nhằm khắc phục rào cản tư duy. Hướng dẫn học sinh dùng biện pháp so sánh,
nhân hóa trong quá trình liên tưởng, diễn đạt.
Ví dụ: Dùng sơ đồ tư duy để lập dàn ý bài văn tả cảnh một buổi sáng trên
cánh đồng.
Học sinh cụ thể hóa bằng các từ chìa khóa (tùy thuộc vào cách miêu tả các em
chọn mà có thể có các từ chìa khóa theo trình tự thời gian hay từng phần của cảnh).
Giáo viên đưa ra một số câu hỏi gợi ý như:
+ Em định miêu tả cảnh gì? Vào thời điểm nào?
+ Em chọn cách miêu tả theo trình tự thời gian hay từng phần của cảnh?
+ Em dùng những giác quan nào để quan sát cảnh được tả? Em chọn lọc
những hình ảnh, chi tiết nào?
+ Mỗi hình ảnh, chi tiết mà em quan sát được có thể miêu tả bằng những từ
ngữ nào?
+ Những hình ảnh, chi tiết của cảnh gợi cho em những liên tưởng, tưởng
tượng gì?

15


Hình 1: Ứng dụng Sơ đồ tư duy lập dàn ý cho bài văn miêu tả cánh đồng
vào buổi sáng
16


4. Tự đánh giá kết quả thực hiện đề tài
Qua áp dụng đề tài, tôi nhận thấy giáo viên tích cực hơn trong công tác giảng
dạy, đầu tư có trọng tâm các nội dung kiến thức, kỹ năng cần rèn luyện cho học
sinh khi học văn miêu tả; linh động vận dụng được nhiều phương pháp, hình thức
tổ chức học tập phát huy được vốn kiến thức hiện có của học sinh, bồi dưỡng giúp
các em nắm chắc trình tự miêu tả, biết cách tìm ý, chọn lọc ý cho bài văn của mình.
Các em mạnh dạn, tự tin hơn trong học tập, nắm chắc kiến thức hơn, miêu tả đối
tượng trọng tâm hơn, mạnh dạn nêu được ý nghĩ của mình trong bài viết.
Tôi đã ghi nhận lại kết quả các kỹ năng đạt được của học sinh trong từng giai
đoạn theo bảng thống kê như sau:

Lớp TSHS Thời điểm

Học sinh tìm
ý, lập được
dàn ý tốt

Học sinh chưa
Học sinh tìm ý,
tìm được ý, lập
lập được dàn ý
dàn ý chưa hoàn
hoàn chỉnh
chỉnh

TS

TL%

TS

TL%

TS

TL%

5B

33

Đầu năm

3

9,1

18

54,5

12

36,4

5B

33

CHKI

6

18,2

23

69,7

4

12,1

Kết quả ở bảng thống kê cho thấy đề tài tôi nghiên cứu đã có được kết quả
tương đối khả quan. Tôi tin rằng nếu tiếp tục áp dụng giải pháp đã đề ra thì chất
lượng phân môn Tập làm văn nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung của học sinh
lớp 5B ở cuối năm sẽ cao hơn nữa.
5. Phạm vi áp dụng
Đề tài được áp dụng trong phạm vi tập thể lớp 5B, cũng như nhân rộng ra toàn
khối 4, khối 5 trường Tiểu học Phước Ninh A, năm học 2015-2016 và có thể áp
dụng với các đơn vị trường bạn có cùng điều kiện trong huyện và trong tỉnh.

17


III. KẾT LUẬN
Sau thời gian thực hiện, giúp đỡ học sinh, tôi nhận được kết quả như sau: Đối
với phân môn Tập làm văn, học sinh có nhiều tiến bộ, vận dụng nhiều từ gợi tả
miêu tả phù hợp, bài văn thêm sinh động hơn. Các em biết sử dụng những hình ảnh
để so sánh, nhân hóa, dùng từ phù hợp với ngữ cảnh để diễn đạt bài văn, ý tả cũng
được mở rộng, đặt câu trọn ý.
1. Bài học kinh nghiệm
Để dạy và học tìm ý là lập dàn ý chi tiết thể loại văn miêu tả được tốt hơn,
sau khi nghiên cứu đề tài này tôi đúc kết được một số bài học như sau:
- Giáo viên cần có đầu tư cho công tác soạn giảng, thiết kế kế hoạch dạy học
phù hợp với mục tiêu, chuẩn Kiến thức - Kỹ năng và thực tế tình hình lớp.
- Cần giúp cho học sinh nắm thật chắc các dạng bài miêu tả, rèn cho học sinh
nắm chắc yêu cầu của đề bài, nội dung trọng tâm và mục đích miêu tả; biết cách
tìm ý, sắp xếp ý, phát triển ý theo kết quả mình quan sát được.
- Giáo viên phải nắm vững được nét đặc trưng của từng kiểu bài.
- Giáo viên phải mở rộng vốn sống và vốn từ cho học sinh để các em có đủ
văn liệu sử dụng.
- Giáo dục học sinh biết quan tâm hơn đối với cuộc sống và sự vật diễn ra
xung quanh, biết quan sát để từ đó phát hiện được nhiều cái mới, bài làm có ý
phong phú hơn.
- Hình thành cho học sinh được thói quen tốt, biết chuẩn bị bài tốt, biết cách
dùng từ và viết câu có hình ảnh hơn, sinh động hơn.
Tuy nhiên, phạm vi đề tài cũng còn trải rộng vì trong văn miêu tả thật là đa
dạng. Điều này đòi hỏi giáo viên phải nỗ lực nhiều hơn, nghiên cứu nhiều hơn. Mặt
khác, người giáo viên phải có sự say mê văn học, chịu khó đọc nhiều tài liệu, tìm
tòi, học hỏi, tìm hiểu để có thể nắm bắt kịp thời, dự trù các tình huống mà học sinh
quan sát và nêu lên để nhận xét, bổ sung, uốn nắn, hoặc sửa chữa, tuyên dương kịp
thời.
2. Hướng phổ biến áp dụng đề tài
Tôi đã áp dụng bước đầu có hiệu quả đối với lớp 5B. Từ những kết quả đó, tôi
sẽ giới thiệu đến những đồng nghiệp trong khối cùng áp dụng và tiếp tục nghiên
cứu vào những năm tiếp theo và đưa thêm vào những biện pháp phù hợp với địa
phương, với khả năng tiếp thu bài của từng đối tượng học sinh. Làm sao để học
sinh đạt kết quả cao hơn nữa khi thực hiện bài văn miêu tả theo yêu cầu.
3. Hướng nghiên cứu tiếp đề tài
Từ những kinh nghiệm và kết quả đạt được trong đề tài này, tôi sẽ tiếp tục
nghiên cứu chuyên sâu cho công tác bồi dưỡng học sinh có thành tích nổi bật trong
thời gian tới.

18


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Tiếng Việt 5 - Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên) - Nhà xuất
bản Giáo dục.
2. Sách giáo viên Tiếng Việt 5 - Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên) - Nhà xuất
bản Giáo dục.
3. Phương pháp dạy các môn học ở lớp 5 (Tập 2) - Vụ Giáo dục Tiểu học Nhà xuất bản Giáo dục.
4. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy các môn học lớp 5 - Vụ Giáo dục Tiểu học
- Nhà xuất bản Giáo dục.
5. Tài liệu Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở tiểu
học - Nhà xuất bản Giáo dục.
6. Tài liệu Hướng dẫn thực hiện điều chỉnh nội dung dạy học các môn học cấp
Tiểu học - Vụ Giáo dục Tiểu học - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
7. Sách thiết kế bài giảng Tiếng Việt 5 - Phan Thị Thu Hà (Chủ biên) - Nhà
xuất bản Hà Nội.
8. Giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt 2 – Nhà xuất bản Đại học Sư
phạm.
9. Giáo trình phương pháp dạy học Tiếng Việt 1 - Lê Phương Nga - Nhà xuất
bản Giáo dục.
10. Giáo trình phương pháp dạy học Tiếng Việt 1 - Lê Phương Nga, Nguyễn
Trí - Nhà xuất bản Giáo dục.
11. Chuyên đề Giáo dục Tiểu học - Tập 18, năm 2006 - Vụ Giáo dục Tiểu học
- Nhà xuất bản Giáo dục.
12. Chuyên đề Giáo dục Tiểu học - Tập 18, năm 2006 - Vụ Giáo dục Tiểu học
- Nhà xuất bản Giáo dục.
13. Tạp chí Giáo dục Tiểu học - Số 4, năm 2013 - Nhà xuất bản Giáo dục.

19


MỤC LỤC
Trang
I. MỞ ĐẦU.................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài.......................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu.................................................................................. 1
3. Đối tượng nghiên cứu................................................................................. 2
4. Phạm vi nghiên cứu.................................................................................... 2
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................2
6. Giả thuyết khoa học................................................................................... 2
II. NỘI DUNG............................................................................................... 3
1. Cơ sở lý luận.............................................................................................. 3
2. Cơ sở thực tiễn........................................................................................... 4
3. Nội dung vấn đề......................................................................................... 5
3.1. Vấn đề đặt ra........................................................................................... 5
3.2. Một số giải pháp cụ thể...........................................................................5
4. Tự đánh giá kết quả thực hiện..................................................................15
5. Phạm vi áp dụng....................................................................................... 15
III. KẾT LUẬN........................................................................................... 16
1. Bài học kinh nghiệm................................................................................16
3. Hướng phổ biến áp dụng đề tài.................................................................16
3. Hướng nghiên cứu tiếp đề tài...................................................................16
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................ 17
MỤC LỤC................................................................................................... 18

20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×