Tải bản đầy đủ

Góp phần vào hành trình tìm về dòng tộc phan bá lương, 194 trang

TỈNH QUẢNG NAM
HUYỆN ĐIỆN BÀN – XÃ ĐIỆN QUANG

TỘC PHAN BẢO AN

PHAN BÁ LƯƠNG (2/16)

Góp phần vào HÀNH TRÌNH TÌM VỀ DÒNG TỘC

1


MỤC LỤC
1.-Về Ngài Nghệ An trại chủ tước Quan nội hầu

trang 5

2.-Về gốc tích dòng tộc

trang 7


3.-Về niên bểu Phan tộc

trang 9, 53

4.-Về năm sinh và năm mất của Ông Phan Chính Nghị

trang 11

5.-Về lại bộ viên ngoại Phan Khảm và Quản cẩn tướng

trang 17

quân tả các môn sứ viên ngoại Phan Đa Lôi
6.-Về việc vào nam

trang 17

7.-Về đất Điện Bàn trong lịch sử

trang 24

8.-Về tam kiết hữu

trang 26

9.-Về đối chiếu vơi các giả thuyết vào nam khác

trang 26

10.-Về Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân Cẩm y vệ

trang 28

Đô chỉ huy sứ Địch nghĩa bá Phan Nhơn Bàn
11.-Về ấm phong

trang 32

12.-Về Cai tổng Sùng lương bá Phan Văn Bài


trang 33

13.-Về tướng thần Phan Phước Hề và Thượng tướng quân

trang 34

tướng thần lão nhiêu quan Nghĩa lý tử Phan Long Lân
14.-Về các danh nhân Phan tộc

trang 35

15.-Về Khuyến nông quan Phan Văn Hàn, tổ phái nhì

trang 54

16.-Về Đặc tiến thượng tướng quân Cẩm y vệ Đô chỉ huy

trang 55

sứ chưởng vệ sự Chưởng kỳ Toàn đức hầu Phan Văn Du
và Đặc tiến thượng tướng quân Cẩm y vệ Đô chỉ huy sứ
ty Cai đội Liêm trực hầu Phan Văn Huyền

17.-Về Nhiêu học kiêm tri hương sự Phan Văn Kiết

trang 57

18.-Về các Quốc thủ Phan Văn Nghi, Phan Đức Trọng,

trang 58

Phan Đức Điều, Phan Đức Thành
19.-Về Ngũ đồn trung quân Thư ký Phan Ngọc Thức,

trang 59

các Chi trưởng Phan Văn Nhiều, Phan Văn Cân
20.-Về câu viết “Nhị bách dư niên” của ông Phan Khắc Nhu

trang 61

trong Phổ hệ nguyên tự năm 1857
21.-Linh phù tôn thần

trang 65

22.-Án sát

trang 68

23.-Anh danh Giáo dưỡng

trang 71

24.-Ấm sinh

trang 72

25.-Ấm thụ

trang 74

26.-Ấm tử

trang 81
Góp phần vào HÀNH TRÌNH TÌM VỀ DÒNG TỘC

2


27.-Bá hộ

trang 81

28.-Biện

trang 82

29.-Cai đội

trang 83

30.-Cai tổng

trang 87

31.-Cẩm y vệ

trang 92

32.-Chánh đội trưởng

trang 94

33.-Cử nhân

trang 94

34.-Cửu phẩm

trang 106

35.-Chuyên biện

trang 130

36.-Dịch mục

trang 130

37.-Đô úy

trang 132

38.-Đô chỉ huy sứ

trang 132

39.-Đội trưởng và Chánh đội trưởng

trang 134

40.-Đội lệ

trang 136

41.-Giáo thọ (Giáo thụ)

trang 137

42.-Hàn lâm viện

trang 136

43.-Khuyến nông quan

trang 140

44.-Khóa sinh

trang 142

45.-Kinh binh thư lại

trang 144

46.-Lãnh binh

trang 144

47.-Lục sự

trang 145

48.-Nhiêu học

trang 147

49.-Ngũ đồn quân trung thư ký

trang 147

50.-Ngũ tước

trang 149

51.-Nội các

trang 151

52.-Phẩm trật

trang 153

53.-Phó quản cơ

trang 155

54.-Quốc thủ

trang 155

55.-Quan viên phụ

trang 155

56.-Quan viên tử

trang 157

57.-Quản cơ

trang 161

58.-Sắc tứ thọ dân

trang 161

59.-Tham tá

trang 162

60.-Thí sinh

trang 163

61.-Thư lại

trang 164

62.-Thứ đội trưởng

trang 165

63.-Thừa phái

trang 166
Góp phần vào HÀNH TRÌNH TÌM VỀ DÒNG TỘC

3


64.-Tri huyện

trang 167

65.-Tri phủ

trang 173

66.-Trùm

trang 175

67.-Tú tài

trang 176

68.-Tướng thần

trang 178

69.-Xã trưởng hay Lý trưởng

trang 179

70.-Y sanh

trang 185

Góp phần vào HÀNH TRÌNH TÌM VỀ DÒNG TỘC

4


BÀI 1
Tôi sinh năm Canh dần 1950, là cháu đời 16 thuộc phái nhì tộc Phan Bảo An. Từ những
năm 1971-1972 tôi đã được đọc Phổ hệ Phan nhì xuất bản tại Saigòn mùa thu năm Tân hợi 1971
và với tuổi trẻ lúc bấy giờ, tôi chỉ thấy thích thú khi được biết thêm một số người tưởng chừng
xa lạ mà bỗng chốc trở thành thân thương vì cùng dòng tộc. Rồi thời gian trôi đi, khi nhà thờ tộc
Phan được thành lập tại Thành phố Hồ Chí Minh, được tham dự những ngày giỗ Tổ tiên, được
gặp các bậc ông bà, chú bác, anh chị em Phan tộc 5 phái, trong tôi những nỗi niềm bắt đầu phát
sinh và ngày càng thêm lớn: chẵng lẽ một dòng tộc đã phát triển 18, 19 đời, trong đó có những
người đã đạt được những thành tựu nhất định, đã được lưu danh vào sử sách mà lại chỉ còn đơn
giản là những cái tên, nơi chôn cất và những ngày giỗ... bất động thôi ư, tiền nhân dòng tộc đã
sống và phát triển ra sao trong tiến trình lịch sử của đất nước, còn gốc tích xã Ao Giản, huyện
Nghi Xuân, phủ Đức Quang, thừa tuyên Nghệ An v.v...và v.v...
May thay, đầu năm 1995, tôi được xem Phổ hệ Phan tộc do Ban Tục biên lập năm 1994
đã giải quyết được phần nào tâm tư, nỗi niềm đã có, nhưng càng đọc tôi lại càng thấy còn
những vấn đề lớn cần tìm hiểu, bổ sung... - một việc làm đòi hỏi phải tốn nhiều công sức của
nhiều người mới có thể thực hiện được - nhằm làm sáng tỏ công sức của tiền nhân đối với đất
nước và đối với dòng tộc.
Sử sách đất nước ta đã thất lạc hoặc mất mát nhiều qua những cơn binh lửa, nhưng với
những gì còn sót lại, các nhà viết sử đã tái hiện được lịch sử, nhờ vậy ngày nay chúng ta mới
biết được quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc, mới biết được Hùng Vương, Hai Bà
Trưng, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung... và biết bao nhân vật
lịch sử khác, và cùng với họ, tên tuổi của những nhà viết sử như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên, Phan
Phù Tiên, Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú... đã trở thành bất tử. Tất nhiên các nhà viết sử đã gặp
không ít khó khăn trong công việc của mình, nhưng bằng tấm lòng thành cùng tinh thần trách
nhiệm lớn lao đối với đất nước, với dân tộc, và nhất là đối với hậu thế, họ đã làm và đã thành
công. Niềm tự hào Việt Nam qua mấy ngàn năm lịch sử có được một phần là nhờ ở công sức của
họ vậy.
Cũng giống như lịch sử đất nước, cũng bằng tinh thần trách nhiệm và tấm lòng thành đối
với tổ tiên và con cháu đời sau mà các Ông Phan Phước Hề (4/4), Phan Long Lân (5/4), Phan
Văn Du (5/6), Phan Văn Điện (5/6), Phan Văn Nghi (1/9) Phan Kim Huống (5/9), Phan Văn Sỹ
(1/10), Phan Khắc Nhu (2/11), Phan Trân (2/12), Phan Thúc Luyện (2/12), Phan Nghiện (2/12),
Phan Văn Thoại (1/13), Phan Mạch (2/13), Phan Xuân Cáo (2/13), Phan Quý Thuyên (2/13),
Phan Niên (3/13), Phan Sô (4/13), Phan Du (3/13), Phan Văn Mua (5/13), Phan Thanh (1/14),
Phan Văn Đợi (1/14), Phan Lượng (1/14), Phan Tui (1/14), Phan Bá Mạo (2/14), Phan Thóa
(2/14), Phan Huy Tùng (2/14), Phan Xuân Huy (2/14), Phan Đức Mỹ (3/14), Phan On (5/14),
Góp phần vào HÀNH TRÌNH TÌM VỀ DÒNG TỘC

5


Phan Tiết (5/14),... và còn rất nhiều Ông nữa đã bỏ nhiều công sức làm nên, trùng tu Phổ hệ để
con cháu đời sau hiểu biết được mà có tự hào về dòng tộc. Công ơn của các Ông, con cháu đời
sau sẽ mãi mãi ghi nhớ.
Đầu năm 1996, với lòng thành kính đối với Tổ tiên, tôi đã viết bài 1 "Góp phần vào HÀNH
TRÌNH TÌM VỀ DÒNG TỘC" tìm hiểu bước đầu về Ngài Thuỷ tổ Nhơn Bàn và gởi Tộc. Thật cảm
động là sau khi bài viết được gởi đi, tôi đã nhận được nhiều lời động viên, góp ý, trong đó có hai
lá thư của các Ông Phan Sô (4/13) và Phan Đức Mỹ (3/14). Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả
những lời động viên, còn những góp ý sẽ là kinh nghiệm giúp tôi khi viết tiếp những bài sau, và
cũng vì vậy, sau khi thu thập thêm sử liệu, tôi quyết định gộp cả bài 1 (đã viết) và bài 2 (sắp
viết) vào thành bài viết này. Nói như vậy không có nghĩa là bài viết này đã là hoàn chỉnh nhất,
mà tôi nghĩ đây cũng chỉ là bước khởi đầu, cũng còn cần phải nghiên cứu, bổ sung thêm.
Trước khi đi vào những vấn đề tìm hiểu chính của bài viết này, xin nêu lên một số cơ sở,
đó là:
1.-Tôi chỉ như một người ghi chép sử liệu để kể lại cho mọi người trong Tộc cùng biết, vì
vậy bài viết có hình thức dẫn chứng sử liệu là chính, qua đó, người đọc có thể so sánh, đối
chiếu, rút ra được nhiều vấn đề mà có khi bài viết này cũng không đề cập đến. Sử liệu làm dẫn
chứng cũng do nhiều sử gia viết nên có khi cùng một vấn đề mà hai hay nhiều sử liệu nói khác
nhau, nếu tôi đã có đọc qua những sử liệu khác nhau này, tôi sẽ ghi chú ở bên dưới trang viết.
2.-Những vấn đề được nêu trong bài viết chỉ là những tham khảo và mang tính chất đề
nghị. Việc sử dụng bài viết như một sử liệu của Tộc sẽ do Tộc quyết định theo ý kiến chung,
nhất là ý kiến của những Ông lớn tuổi, lớn thế thứ, đức cao vọng trọng.
3.-Việc sử dụng các đại danh từ Ngài và Ông cũng cần được xác định vì nếu không sẽ
gặp nhiều rắc rối và đôi khi sẽ trở thành thiếu khiêm tốn đối với các bậc tiền nhân, dù người viết
không cố ý. Trong bài viết này, tôi sẽ sử dụng từ Ngài cho Ngài Nghệ An Trại chủ và Ngài Thuỷ
tổ Nhơn Bàn cùng hai đời trên của Ngài Thuỷ tổ, còn đối với những trường hợp khác sẽ sử dụng
từ Ông. Sở dĩ như vậy là vì Ngài Nghệ An Trại chủ là người khai sáng toàn tộc Phan của chúng
ta, còn Ngài Thuỷ tổ Nhơn Bàn là người khai sáng tộc Phan Bảo An, và theo lễ nghi thì được tôn
vinh hai đời nên tôi cũng sử dụng từ Ngài đối với Ngài Đa Lư và Ngài Nhơn Huyện. Xin hiểu cho
rằng, đối với tôi, dù là Ngài hay Ông cũng đều được tôn kính.
4.-Các Phổ hệ và Hệ phổ nếu viết cho đầy đủ thì rất dài dòng nên sẽ sử dụng cách viết
tắt, thí dụ thay vì phải viết Hệ phổ Phan Xá do Ông Phan Chính Nghị viết năm 1525-1527 thì sẽ
được viết tắt là Hệ phổ 1525 mà người đọc vẫn có thể hiểu được ý nghĩa. Tương tự như vậy,
Phổ hệ trùng tu lần một do Ông Phan Văn Du sai người em là Phan Văn Điện viết năm 1634 sẽ
được viết tắt là Phổ hệ 1634, Phổ hệ Phan Cả do Ban Tục biên lập năm 1994 sẽ được viết tắt là
Phổ hệ 1994, Phổ hệ Phan Phái nhì lập tại Saigòn mùa thu Tân hợi 1971 sẽ được viết tắt là Phổ
hệ II-1971 (xin lưu ý rằng vì đây là Phổ hệ của phái nên có thêm một chữ số La mã đứng trước
năm thành lập) ... và các trường hợp khác (nếu có) cũng vậy, sẽ áp dụng các viết tắt cho gọn và
Góp phần vào HÀNH TRÌNH TÌM VỀ DÒNG TỘC

6


không trùng lấp.
5.-Việc chú thích sử liệu sẽ được ghi bằng ký hiệu ( ) cộng với số thứ tự, thí dụ (1), (2),
(3) và sẽ được nêu tại cuối từng trang viết.
Bên cạnh những thuận lợi, tôi cũng còn gặp nhiều trở ngại trong công việc, đó là chưa có
đủ thời gian để đọc được nhiều sử liệu hơn, đó là nguồn sử liệu có phần hạn chế, có những sử
liệu mà ngày trước các tác giả đã sử dụng làm tư liệu nay không biết ở đâu mà tìm, đó là tôi
chưa được nghe những Ông lớn tuổi kể chuyện, hoặc đi thực tế tại quê nhà, đó là tôi không
được tiếp cận - mà có tiếp cận được thì cũng không đủ sức học - để đọc các Phổ hệ đời trước
ghi bằng chữ Hán mà tôi nghĩ là rất quan trọng, đóng góp rất nhiều cho việc tìm hiểu lịch sử
dòng tộc. Vì vậy, tôi mong mọi người trong Tộc bổ sung thêm những gì còn thiếu sót, chưa đúng
để lịch sử dòng tộc thêm sống động hơn, chính xác hơn và con cháu đời sau càng tự hào hơn
với quá khứ.
Từ những suy nghĩ nêu trên, bài viết này nêu ra một số vấn đề đã tìm hiểu như sau:
1.-VỀ NGÀI NGHỆ AN TRẠI CHỦ, TƯỚC QUAN NỘI HẦU:
Khi đọc Phổ hệ 1994, có lẻ không chỉ riêng tôi mà còn nhiều người đã hiểu chữ Trại theo
ý nghĩa đời nay, theo đó Trại là lãnh thổ của một người chủ với một diện tích đất đai độ vài ba
héc-ta trở lên. Trên lãnh thổ đó chủ yếu là khai thác nông nghiệp như chăn nuôi, trồng trọt (trại
chăn nuôi heo, trại gà, trại bò, trại bông vãi...) và như vậy Trại đơn thuần chỉ là một đơn vị kinh
tế tư nhân, không có liên quan đến hệ thống chính quyền Nhà nước. Từ suy nghĩ này, một câu
hỏi đã được đặt ra là tại sao cả một vùng đất rộng lớn mang tên Nghệ An lại chỉ là một Trại với
một trong những Trại chủ là Ngài Phan tướng công tước Quan nội hầu? Tước này ra sao vào thời
bấy giờ ?
Sách Đại nam nhất thống chí (1) ghi về tỉnh Nghệ An như sau: "...Xưa là đất Việt Thường,
đời Tần thuộc Tượng Quận, đời Hán thuộc Cửu Chân, đời Ngô chia quận Cửu Chân mà đặt quận
Cửu Đức, đời Tuỳ Khai Hoàng đặt châu Hoan, Đại Nghiệp đổi là quận Nhật Nam, đời Đường đặt
3 châu Hoan, Diễn, và Đường Lâm. Nước ta đời Đinh, Lê là châu Hoan, đời Lý năm Thuận Thiên
1 lấy châu Hoan làm Trại, năm Thông Thụy 3 đổi là châu Nghệ An (tên Nghệ An bắt đầu từ
đây). Đời Trần năm Nguyên Phong 6 lại gọi là Trại, năm Long Khánh 3 đổi châu Diễn làm lộ
Diễn Châu, châu Hoan làm lộ Nghệ An nam, Nghệ An trung, Nghệ An bắc, cũng gọi là phủ Nghệ
An, sau đổi là trấn (chưa rõ đời nào)....".
Sách Đại Việt sử ký toàn thư (2) thì ghi như sau:
+Trang 192 tập 1: "...Canh tuất năm Thuận Thiên 1 (1010) đổi 10 đạo làm 24 lộ, châu

( 1) Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, Phạm Trọng Điềm phiên dịch, Đào Duy
Anh hiệu đính, Nhà xuất bản Khoa học xã hội 1969. T ỉnh Nghệ An, trang 102.
( 2)Đại Việt sử ký toàn th ư của Ngô Sĩ Liên, Cao Huy Giu dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, chú giải và khảo
chứng. Nhà xuất bản Khoa học xã hội 1967.
Góp phần vào HÀNH TRÌNH TÌM VỀ DÒNG TỘC

7


Hoan, châu Ái làm trại..."
+Trang 26 tập 2: "...Bính thìn 1365, mùa xuân tháng 2, mở khoa thi chọn học trò, lấy
Trần Quốc Lặc đỗ Kinh trạng nguyên, Trương Xáng đổ Trại trạng nguyên, Chu Hinh đỗ Bảng
nhãn, Trần Uyên đỗ Thám hoa lang, lấy đỗ Thái học sinh 43 người ( kinh 42 người, trại 01
người) cho xuất thân theo thứ bậc khác nhau. Khi mới dựng nước, số người thi đỗ chưa chia ra
kinh, trại, đỗ đầu gọi là Trạng nguyên, đến đây chia Thanh Hóa, Nghệ An làm trại cho nên có
kinh, trại khác nhau...."
+Trang 131 tập 2: "...Đinh sửu 1337 lấy Nguyễn Trung Ngạn làm An phủ sứ Nghệ An
kiêm Quốc sử viện giám tu quốc sử, hành Khoái Châu lộ Tào vận sứ..."
+Trang 256 tập 2: "...các trại có trại chủ..."
Sách Lịch triều hiến chương loại chí (3) ghi: "...Thời nhà Lý ban tước, lấy tước vương,
tước công đứng đầu các thân (thân tộc của vua), huân (người có công lớn) như Thái Tổ phong
anh làm Vũ uy vương, chú làm Vũ đạo vương, Lý Thường Kiệt được tặng tước Việt quốc công,
Tô Hiến Thành được phong tước vương. Ngoài ra thì được phong tước hầu (như Đào Cam Mộc
được phong Tín nghĩa hầu). Lại có những bực Đại liêu ban, Nội thượng chế, và Minh tự để gia
thưởng cho người có công. Thời nhà Trần thì người Tôn Thất được phong tước vương (cũng có
người là cựu thần được phong tước vương như Trần Tá Chu được phong Hưng nhân vương),
còn phong cho các quan văn võ thì có các bực như Quốc công, Thượng hầu, Quan nội hầu,
Quan phục hầu, Khai huyện bá, Nội minh tự, và Thượng phẩm..."
Qua những phần được liệt kê thuộc 3 cuốn sách nói trên cho thấy :
a-Trại đích thực là một đơn vị hành chánh như các lộ, châu ở trung châu miền Bắc, tuy
mức độ phát triển về mọi mặt của trại có thể chưa bằng được với lộ, châu. Lịch sử cho thấy có
hai thời kỳ phần đất Nghệ An được gọi là Trại, đó là:
*Từ năm Thuận Thiên 1 (1010) đời vua Lý Thái Tổ kéo dài đến năm Thông Thụy
3 (1036) đời vua Lý Thái Tông, cộng 27 năm, thời kỳ này phần đất Nghệ An có tên gọi chính
thức là Trại Hoan.
*Từ năm Nguyên Phong 6 (1256) đời vua Trần Thái Tông kéo dài đến năm Long
Khánh 3 (1374) đời vua Trần Duệ Tông, cộng 119 năm (theo sách Đại nam nhất thống chí),
hoặc chỉ kéo dài đến năm Khai Hựu 9 (1337) đời vua Trần Hiến Tông, cộng 82 năm (theo sách
Đại việt sử ký toàn thư, vì sách này tuy không xác định năm chấm dứt tên gọi Trại, nhưng bằng
vào việc năm 1337 cử Nguyễn Trung Ngạn làm An phủ sứ Nghệ An đã gián tiếp xác nhận rằng
tên gọi Trại đã chấm dứt từ trước hoặc chí ít là cũng vào năm 1337 đó), thời kỳ này phần đất
Nghệ An có tên gọi là Trại Nghệ An.

( 3) Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Viện Sử học phiên dịch và chú giải, Nhà xuất
bản Sử học 1992. Quan ch ức chí trang 529.
Góp phần vào HÀNH TRÌNH TÌM VỀ DÒNG TỘC

8


b-Một khi đã được xem là một đơn vị hành chánh thì lẽ đương nhiên triều đình phải cử
quan lại đến cai trị mà người đứng đầu đơn vị hành chánh này là Trại chủ, trong đó có Ngài
Phan tướng công của dòng tộc ta.
c-Ngài Phan tướng công làm Trại chủ Nghệ An dưới thời Trần vì dưới thời này mới có
danh xưng Trại Nghệ An và tước vị Quan nội hầu.
d-Căn cứ vào năm sinh của Ông Phan Chính Nghị là năm 1476 (xem giải thích năm sinh
này ở phần sau) mà tính lên 10 đời (vì Ông Phan Chính Nghị là cháu 10 đời của Ngài Nghệ An
Trại chủ), mỗi đời tính bình quân là 20 năm thì có thể thấy Ngài Nghệ An Trại chủ sống và làm
quan trong khoảng các đời vua Trần Anh Tông (1293-1314), Trần Minh Tông (1314-1329), Trần
Hiến Tông (1329-1341), và điều này là phù hợp với sử liệu và Phổ hệ 1994.
2.- VỀ GỐC TÍCH DÒNG TỘC:
Các Phổ hệ tộc Phan Bảo an đều ghi nhận gốc tích của Tộc ta là: "Dĩ tiền Nghệ An thừa
tuyên, Đức Quang phủ, Nghi Xuân huyện, Ao Giản xã" (4).
Thế nhưng chính Phổ hệ 1994 lại ghi: "...Ông tổ chúng ta là thủ lãnh ở xã Đa, huyện
Thiên Lộc, làm quan đời nhà Trần đến chức Nghệ An Trại chủ...(5).
Vậy thì đích thực gốc tích tộc Phan là ở đâu? Xã Ao Giản huyện Nghi Xuân hay xã Đa
huyện Thiên Lộc? Hay xã Ao Giản và xã Đa chỉ là một mà có hai tên gọi khác nhau là do cách
phân chia địa giới và đặt tên của chính quyền ngày trước?
Sách Lịch triều hiến chương loại chí (6) ghi: "...Phủ Đức Quang có 6 huyện là Thiên Lộc,
La Sơn, Chân Phúc, Thanh Chương, Hương Sơn, Nghi Xuân. Phủ ở giữa trấn Nghệ An, phía tây
gần Ai Lao, phía đông giáp biển lớn. Huyện Thiên Lộc, huyện Nghi Xuân đất gần bãi biển, bờ cỏi
cùng liền nhau, lấy núi Hồng Lĩnh làm giới hạn...".
Sách Đại nam nhất thống chí (7) ghi: "...Huyện Nghi Xuân đông tây cách nhau 30 dặm,
nam bắc cách nhau 20 dặm, phía đông đến biển 7 dặm, phía tây đến địa giới huyện La Sơn 26
dặm, phía nam đến núi Hồng Lĩnh giáp địa giới huyện Can Lộc 11 dặm, phía bắc đến địa giới
huyện Chân Lộc 1 dặm, xưa là đất huyện Hàm Hoan, thời thuộc Minh là huyện Nha Nghi, đời Lê
đặt tên hiện nay, nay vẫn theo như thế ..." và " ...Huyện Can Lộc đông tây cách nhau 49 dặm,
nam bắc cách nhau 5 dặm, phía đông đến địa giới huyện Thạch Hà 25 dặm, phía bắc đến huyện
Nghi Xuân 1 dặm, xưa là huyện Hà Hoàng, thời thuộc Minh là huyện Phi Lộc, đời Lê Quang
Thuận đổi là huyện Thiên Lộc, bản triều vẫn theo như thế, năm Tự Đức thứ 15 đổi tên hiện
nay...".

( 4) Phổ hệ 1994 trang 16, Phổ hệ II-1971 trang 5.
( 5) Phổ hệ 1994 trang 21.
( 6) Sách đã dẫn - Dư địa chí trang 63.
( 7)Sách đã dẫn - Tỉnh Nghệ An trang 110.
Góp phần vào HÀNH TRÌNH TÌM VỀ DÒNG TỘC

9


Sách Khởi nghĩa Lam sơn (8) ghi: "...Phủ Nghệ An thời thuộc Minh là miền nam tỉnh Nghệ
Tĩnh ngày nay; trừ Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn là đất châu Quỳ thuộc phủ Thanh Hóa; và
Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành là đất phủ Diễn Châu. Phủ Nghệ An gồm 8 huyện và 4 châu:
*8 huyện là Nha Nghi (là miền huyện Nghi Xuân), Phi Lộc (là miền huyện Can Lộc), Cổ
Đổ (là miền huyện Hương Sơn), Thổ Hoàng (là miền huyện Hương Khê), Chi La (là miền huyện
Đức Thọ), Chân Phúc (là miền huyện Nghi Lộc ), Thổ Du (là miền huyện Thanh Chương và một
phần huyện Anh Sơn).
*4 châu là châu Nam Tỉnh (gồm 4 huyện: Hà Hoàng là miền huyện Thạch Hà, Bàn Thạch
là miền huyện Thạch Hà, Hà Hoa là miền huyện Kỳ Anh, Kỳ La là miền huyện Cẩm Xuyên), châu
Hoan (gồm 4 huyện: Thạch Đường là miền bắc huyện Nam Đàn, Sa Nam là miền nam huyện
Nam Đàn, Đông Ngạn là miền huyện Anh Sơn, Lộ Bình là miền huyện Hưng Nguyên), châu Trà
Long (là miền huyện Tương Dương, Con Cuông), và châu Ngọc Ma (là miền thượng lưu sông
Ngàn Phố, Ngàn Sâu trở lên phía tây)...".
Sách Pháp chế sử (9) ghi: "...Vua Trần Thái Tông chia nước làm 12 lộ. Các lộ chia thành
phủ và châu, địa phương nào ở miền đồng bằng mà dân cư là người Việt gọi là phủ, còn địa
phương nào ở miền núi có lẫn dân tộc thiểu số với người Việt thì gọi là châu. Phủ cũng như châu
đều chia thành xã...Cách tổ chức này được giữ nguyên dưới các đời vua kế nghiệp Trần Thái
Tông, cho mãi đến năm thứ 10 đời vua Trần Thuận Tông (1398) nhà vua giáng chiếu lập thêm
một phân hạt hành chánh nữa đặt tên là huyện. Theo tổ chức mới này, nước ta hồi đó chia ra lộ
(sau đổi tên gọi là trấn), lộ chia thành phủ, phủ chia thành châu, châu chia thành huyện....".
Qua ghi chép của các sử liệu trên cho thấy:
1.Đơn vị hành chánh địa phương có tên gọi là huyện chỉ bắt đầu có từ đời vua Trần
Thuận Tông - năm 1398 - trở về sau, còn trước đó nước ta không có đơn vị hành chánh này.
2.Huyện Can Lộc ngày nay, xưa có tên gọi là huyện Hà Hoàng, từ 1407 đến 1468 là
huyện Phi Lộc, từ 1469 đến 1862 là huyện Thiên Lộc và từ 1863 đến nay là huyện Can Lộc.
3.Huyện Nghi Xuân ngày nay, xưa có tên gọi là huyện Hàm Hoan, từ 1407 đến 1468 là
huyện Nha Nghi, từ 1469 đến nay là huyện Nghi Xuân.
4.Ranh giới giữa hai huyện Can Lộc và Nghi Xuân là núi Hồng Lĩnh 99 ngọn (10). Đây là
một trong những ranh giới thiên nhiên mà từ xưa đến nay con người vẫn thường sử dụng để
( 8) Khởi nghĩa Lam Sơn của Phan Huy Lê và Phan Đại Doãn, Nhà xuất bản KHXH 1977, trang 236.
( 9) Pháp chế sử của Vũ Quốc Thông, chư ơng trình cử nhân Luật khoa năm thứ nhất, tủ sách Đại học
Sài Gòn 1968, trang 149.
(

10

)Đại nam nhất thống chí, sđd, tỉnh Nghệ An trang 132: Núi Hồng Lĩnh ở giữa hai huyện Can Lộc và

Nghi Xuân, mạch núi từ Trà Sơn kéo đến, hình thế hùng vĩ rất đẹp, tương truyền có 99 ngọn, trong ấy có
ngọn Am, ngọn Lậm, ngọn Sư Tử, ngọn Đông Dương (Hương Tích), ngọn Hồ Trung, ngọn Thiên Tượng.
Năm Minh Mạng thứ 7 khắc tượng vào Anh đ ỉnh, năm Thiệu Trị thứ 3, khi b ắc tuần, nhà vua làm thơ vịnh
có khắc vào bia.
Góp phần vào HÀNH TRÌNH TÌM VỀ DÒNG TỘC

10


phân chia lãnh thổ. Có thể qua nhiều thời kỳ huyện Can Lộc và huyện Nghi Xuân có địa giới khác
nhau, hoặc rộng hơn hoặc hẹp hơn, nhưng cũng chỉ có thể phát triển về các hướng khác, còn
hướng ranh giới thiên nhiên này thì không thể vượt qua được để có thể sát nhập hoặc chồng lấp
một phần lãnh thổ lên nhau, do đó có thể nói từ thời xa xưa hai huyện này vẫn là hai huyện
riêng biệt ở sát nhau.
5.Sách Đại Nam nhất thống chí ghi huyện Can Lộc xưa là huyện Hà Hoàng, còn huyện
Nghi Xuân xưa là huyện Hàm Hoan, vậy có thể đây là tên gọi huyện vào đời vua Trần Thuận
Tông (1398) như đã nói ở trên?
6.Sách Nghệ An ký (11) nói về Ông Phan Chính Nghị cũng ghi rằng gia phả nhà Ông ghi
tổ tiên ở xã Đa Hoạch, huyện Thiên Lộc, đến đời Ông Huy Tài do lấy con gái của Ông Phan Như
Lê - người làng Phan Xá, huyện Nghi Xuân - nên mới làm nhà ở Phan Xá và tiếp tục ở từ đó cho
đến nay.
Nhưng từ những nhận định như trên lại phát sinh ra câu hỏi là thế thì tại sao các Phổ hệ
từ trước đến nay vẫn ghi là xã Ao Giản, huyện Nghi Xuân? Theo tôi, cách giải thích có thể là sau
đời Ngài Nghệ An Trại chủ, cũng không rõ được là đến đời Ông nào, có một số Ông đã di chuyển
đến huyện Nghi Xuân, còn một số Ông vẫn còn ở lại huyện Can Lộc. Xem Phổ hệ 1994 ở phần
ghi nhận Tông đồ thì có thể thấy rõ điều này vì từ Ông Khảm, Ông Thiên hiện nay con cháu vẫn
còn ở huyện Nghi Xuân tại các xã Xuân Viên, Xuân Mỹ, Xuân Giang, Cổ Đạm, còn ba Ông là Ông
Thiên, Ông Quế, Ông Thu thì không có ghi nhận Tông đồ, vậy phải chăng ba Ông vẫn còn ở lại
tại huyện Can Lộc? Sách Nghệ An ký cũng không nói rõ Ông Huy Tài đã từ đâu chuyển đến làng
Phan Xá, cho nên có thể nói các đời trước Ông Huy Tài đã chuyển đến ở đâu đó trong huyện
Nghi Xuân, rồi sau đến Ông Huy Tài mới chuyển đến làng Phan Xá. Riêng đối với Ông Đa Lôi,
việc Hệ phổ 1525 còn ghi nhận Ông và Ngài Đa Lư cũng là điều khẳng định Ông đã đi vào huyện
Nghi Xuân, rồi sau đó từ Ngài Nhơn Huyện mới chuyển vào nam lập thành tộc Phan Bảo An hiện
nay.
Tôi cũng biết rằng trong lá thư của tộc Phan Phan Xá gởi cho tộc Phan Bảo An - được
đính kèm trong Phổ hệ 1994 - đã xác nhận không tìm thấy hậu duệ của Ngài Nghệ An Trại chủ ở
tại huyện Can Lộc, đây là điều dễ hiểu vì đã hơn 500 năm không liên hệ, đất nước lại trải qua
nhiều cuộc chiến tranh, nhưng cũng không phải vì việc không tìm được hậu duệ này mà không
ghi nhận quê tổ của tộc Phan Bảo An vẫn là xã Đa huyện Thiên Lộc, nay là huyện Can
Lộc tỉnh Hà Tĩnh.
3.- VỀ NIÊN BIỂU PHAN TỘC:
Do nhiều lý do khách quan, các Phổ hệ Phan tộc đã không ghi nhận được năm sinh, năm
mất của các bậc tiền nhân, vì vậy việc tìm hiểu niên biểu Phan tộc, theo tôi là nên được làm
(

11

)Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch, Nguyễn Thị Thảo dịch, Bạch Hào hiệu đính, Nhà xuất bản KHXH

1993. Xem nguyên văn ở trang 13 bài viết này về năm sinh và năm mất của Ông Phan Chánh Nghị.
Góp phần vào HÀNH TRÌNH TÌM VỀ DÒNG TỘC

11


trước để có cở sở làm căn cứ cho những suy luận sau này.
Việc tìm hiểu niên biểu Phan tộc dựa vào các điểm sau đây:
a/ Ngài Nghệ An Trại chủ làm quan đời Trần.
b/ Căn cứ vào năm sinh của Ông Phan Chính Nghị, vì đây là sử liệu duy nhất ghi nhận
được năm sinh của người trong tộc.
c/ Ông Huy Tài hệ Phan Xá làm quan đời vua Lê Thái Tổ vì như sách Lịch triều hiến
chương loại chí (12) đã ghi :"... Thời Lê sơ, Thái Tổ khởi nghĩa phong tước cho các tướng thần,
có các bực Á hầu, Thông hầu, Quan phục hầu, Trước phục hầu. Đến khi tiến đến Đông đô thì
phong tước có các bậc Thượng phẩm, Hạ phẩm, Thượng trí tự, Hạ trí tự, Minh tự, Đại liêu ban, Á
liêu ban...". Ta biết rằng vào thời Lý có tước Đại liêu ban, đến thời Trần không còn tước này,
năm 1426 khi Lê Lợi tiến đến Đông đô thì mới khôi phục lại tước Đại liêu ban, nhưng đến năm
1428 khi quân Minh rút hết về nước và Lê Lợi lên ngôi với tên hiệu là Lê Thái Tổ thì cũng không
còn tước này, mà Ông Huy Tài như gia phả đã ghi là có tước Đại liêu ban, vậy Ông phải làm
quan với tước này trong khoảng từ 1426 đến 1428.
d/ Ông Phan Nhân hệ Phan Xá làm Chuyển vận sứ huyện Phù Lưu vào năm 1435 đời vua
Lê Thái Tông (1434 -1442) vì như Đại việt sử ký toàn thư (13) đã ghi:
-Trang 100 tập 3: Ất mão 1435 lấy Chuyển vận sứ huyện Phù Lưu là Phan Nhân
làm An phủ phó sứ lộ Thiên Trường.
-Trang 147 tập 3: Mậu thìn 1448, tháng 9, cho Thượng hầu An phủ sứ Phan Nhân
làm Đồng tri thẩm hình viện sự.
-Trang 155 tập 3: Kỷ tỵ 1449, giáng Đồng tri thẩm hình viện sự Phan Nhân làm
An phủ phó sứ Lỵ Nhân lộ.
e/ Năm Quang Thuận 3 (1462) vua Lê Thánh Tông chỉ truyền cho các quan văn võ đang
tại chức, đến 65 tuổi muốn về hưu cho đầu đơn cáo tại Lại bộ, kê tâu để thi hành (14).
g/ Năm Hồng Đức 1 (1470) vua Lê Thánh Tông đặt hai vệ Kim ngô và Cẩm y (15).
h/ Năm 1634 Ông Phan Văn Du sai người em là Phan Văn Điện trùng tu Phổ hệ, lúc này
Ông đã là một cao quan với tước Toàn đức hầu.
i/ Năm 1810 Ông Phan Kim Huống trùng tu Phổ hệ.
k/ Phải căn cứ trên trực hệ.
Từ những căn cứ trên, cách tính của tôi là xem xét thời gian cách nhau của mỗi đời, bắt
đầu từ mỗi đời cách nhau 20 năm, rồi lại nâng lên hoặc lùi lại từng thời gian từ 5 đến 10 năm để

(

12

) Sách đã dẫn – Quan chức chí, trang 529.

(

13

)Sách đã dẫn , các trang 100, 147, 155 tập 3.

(

14

) Lịch triều hiến chương loại chí, sđd, Quan chức chí trang 556, và Tổ chức chính quyền trung

ương dưới triều Lê Thánh Tông của Lê Kim Ngân, tủ sách Viện khảo cổ Sài Gòn 1963, trang 154.
(

15

) Lịch triều hiến chương loại chí, sđd, Binh chế chí trang 11.
Góp phần vào HÀNH TRÌNH TÌM VỀ DÒNG TỘC

12


xem xét từng niên biểu một, qua đó tìm ra những niên biểu thích hợp nhất phù hợp với các căn
cứ nêu trên. Ta lần lượt xem xét :
A. Về năm sinh và năm mất của Ông Phan Chính Nghị:
Sách Nghệ An ký khi viết về Ông Phan Chính Nghị đã ghi: "...Ông người xã Phan Xá,
huyện Nghi Xuân. Theo Đăng khoa lục, năm 36 tuổi, Ông đổ Đồng tiến sĩ khoa Tân mùi đời Lê
Tương Dực niên hiệu Hồng Thuận (1511) làm đến Đô ngự sử, tiết nghĩa và được phong phúc
thần. Gia phả nhà Ông chép tổ tiên tại xã Đa Hoạch, huyện Thiên Lộc. Thuỷ tổ tên làng Thứ lĩnh
thời Trần, làm Trại chủ Nghệ An tước Quan nội hầu, tổ tám đời tên Quang làm chức Thư viện, tổ
bốn đời tên Hy Tái làm chức Đại toát hữu, tước Đại liêu ban, lấy con gái của Tuần kiểm sứ cửa
biển Nam giới Phan Như Lê người làng Phan Xá huyện Nghi Xuân, nhân làm nhà ở tại đây. Cố
của Ông tên Nhân làm An phủ sứ lộ Lỵ nhân, cha là Khắc Thần làm nho sinh. Khi họ Mạc cướp
ngôi, Ông bỏ quan trốn đi, bị nhà Mạc cưỡng bức về, đến xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm thì Ông
gieo mình xuống sông tự tử. Nay ở xã Phan Xá có đền thờ Ông, dân làng Bát Tràng cũng lập
đền thờ. Con cháu Ông đông đúc các đời xuất thân văn học..."
Như vậy, Ông Phan Chính Nghị sinh năm Hồng Đức 7 đời vua Lê Thánh Tông (1476), đổ
Đồng tiến sĩ năm Hồng Thuận 3 đời vua Lê Tương Dực (1511) lúc 36 tuổi.
B. Về niên biểu Phan tộc :
Từ năm sinh và năm mất của Ông Phan Chính Nghị, có thể tính ra được niên biểu Phan
tộc, ta lần lượt tính theo các trường hợp sau đây:
a-Trường hợp 1: mỗi đời cách nhau 20 năm, ta có niên biểu sau (xin hiểu là sinh vào
khoảng năm):
1.Ngài Nghệ An Trại chủ,

1296

2.Ô. Quang,

1316

3.Ô. Khảm,

1336

Ô. Đa Lôi,

1340

4.Ô. Trình,

1356

Ngài Đa Lư

1360

5.Ô. Tựu,

1376

Ngài Nhơn Huyện,

1380

6.Ô. Huy Tài

1396

Ngài Nhơn Bàn,

1400

7.Ô. Nhân,

1416

Ô. Văn Liêu,

1420

8.Ô. Trí Phụ,

1436

Ô. Văn Huyền,

1440

9.Ô. Khắc Đạn,

1456

Ô. Long Lân,

1480

10.Ô. Chính Nghị,

1476

Ô. Ích Tráng,

1480

Ô. Văn Du,

1500

11.

Niên biểu này có những điểm không phù hợp là:
-Năm 1470 khi vua Lê Thánh Tông đặt vệ Cẩm y thì Ngài Nhơn Bàn đã 70 tuổi, mà theo
luật thì đến tuổi 65 phải về trí sĩ, như vậy Ngài không thể đảm nhận chức vụ Cẩm y vệ Đô chỉ

Góp phần vào HÀNH TRÌNH TÌM VỀ DÒNG TỘC

13


huy sứ được.
-Ông Văn Du đến năm 1634 khi trùng tu Phổ hệ đã 143 tuổi, điều này khó có thể xảy ra.
b-Trường hợp 2: mỗi đời cách nhau 25 năm, ta có niên biểu:
1.Ngài Nghệ An Trại chủ,

1251

2.Ô. Quang,

1276

3.Ô. Khảm,

1301

Ô. Đa Lôi,

1305

4.Ô. Trình,

1326

Ô.Đa Lư,

1330

5.Ô. Tựu,

1351

Ngài Nhơn Huyện,

1355

6.Ô. Huy Tài,

1376

Ngài Nhơn Bàn,

1380

7.Ô. Nhân,

1401

Ô. Văn Liêu,

1405

8.Ô. Trí Phụ,

1426

Ô. Văn Huyền,

1430

9.Ô. Khắc Đạn

1451

Ô. Long Lân,

1455

10.Ô. Chính Nghị,

1476

Ô. Ích Tráng,

1480

Ô. Văn Du,

1505

11.

Niên biểu này cũng có những điểm không phù hợp tương tự như niên biểu 1 ở chỗ cả
Ngài Nhơn Bàn và Ông Văn Du đều đã quá tuổi để đảm nhận công việc, Ngài Nhơn Bàn 90 tuổi
vào năm 1470, còn Ông Văn Du 129 tuổi vào năm 1634.
c-Trường hợp 3: Mỗi đời cách nhau 20 năm đối với hệ Phan Xá, còn hệ Bảo An thì từ Ông
Đa Lôi đến Ngài Nhơn Bàn mỗi đời cách nhau 20 năm, từ Ông Văn Liêu đến Ông Văn Du mỗi đời
cách nhau 25 năm, sở dĩ phải tính kéo dài thời gian giữa các đời là vì khi vào nam phải vừa khai
hoang, vừa chiến tranh và nhất là phong tục tập quán phải thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh
hiện tại. Ta có niên biểu sau :
1.Ngài Nghệ An Trại chủ,

1296

2.Ô. Quang,

1316

3.Ô. Khảm,

1336

Ô. Đa Lôi,

1340

4.Ô. Trình,

1356

Ngài Đa Lư,

1360

5.Ô. Tựu,

1376

Ngài Nhơn Huyện,

1380

6.Ô. Huy Tài,

1396

Ngài Nhơn Bàn,

1400

7.Ô. Nhân,

1416

Ô. Văn Liêu,

1450

8.Ô. Trí Phụ,

1456

Ô. Văn Huyền,

1475

9.Ô. Khắc Đạn,

1456

Ô. Long Lân,

1475

10.Ô. Chính Nghị,

1476

Ô. Ích Tráng,

1500

Ô.Văn Du,

1525

11.

Niên biểu này cũng không phù hợp ở điểm Ngài Nhơn Bàn đã 70 tuổi vào năm 1470, và
Ông Văn Du đã 109 tuổi vào năm 1634.

Góp phần vào HÀNH TRÌNH TÌM VỀ DÒNG TỘC

14


d-Trường hợp 4: Giống như cách tính niên biểu 3, chỉ thay đổi từ Ông Văn Liêu đến Ông
Văn Du, mỗi đời cách nhau 30 năm, ta có niên biểu (từ đây về sau vì hệ Phan Xá không thay đổi
cách tính nên không viết nữa, còn nếu tính hệ Phan Xá theo 15 năm thì tôi e rằng quá trẻ để có
người nối dõi, vã lại nếu tính 15 năm thì Ngài Nghệ An Trại chủ sẽ sinh vào khoảng năm 1341,
lúc đó Nghệ An đã không còn tên gọi là Trại nữa và vì vậy Ngài cũng không làm Trại chủ Nghệ
An được).
Đời

3.

Ô. Đa Lôi,

1340

4.

Ngài Đa Lư,

1360

5.

Ngài Nhơn Huyện,

1380

6.

Ngài Nhơn Bàn,

1400

7.

Ô. Văn Liêu,

1430

8.

Ô. Văn Huyền,

1460

9.

Ô. Long Lân,

1490

10.

Ô. Ích Tráng,

1520

11.

Ô. Văn Du,

1550

Niên biểu này cho thấy có thể đúng với trường hợp của Ông Văn Du (84 tuổi vào năm
1634), nhưng vẫn không đúng với Ngài Nhơn Bàn (70 tuổi vào năm 1470).
e-Trường hợp 5: Giống như cách tính niên biểu 4, nhưng lùi năm sinh của Ngài Nhơn Bàn
lại 10 năm để thích ứng với chức vụ Cẩm y vệ Đô chỉ huy sứ (không thể lùi lại 5 năm vì như vậy
đến năm 1470 Ngài đã 65 tuổi là tuổi đã trí sĩ), ta có niên biểu:
Đời

3.

Ô. Đa Lôi,

1350

4.

Ngài Đa Lư,

1370

5.

Ngài Nhơn Huyện,

1390

6.

Ngài Nhơn Bàn,

1410

7.

Ô. Văn Liêu,

1440

8.

Ô. Văn Huyền,

1470

9.

Ô. Long Lân,

1500

10.

Ô. Ích Tráng,

1530

11.

Ô. Văn Du,

1560

Niên biểu này phù hợp với Ngài Nhơn Bàn (60 tuổi vào năm 1470) và Ông Văn Du (74
tuổi vào năm 1634), tuy khoảng thời gian chênh lệch giữa hai anh em Ông Khảm và Ông Đa Lôi
là 14 năm, theo tôi thì điều này có thể chấp nhận được.
g-Trường hợp 6: Giống như cách tính niên biểu 5, nhưng tiếp tục lùi năm sinh của Ngài
Nhơn Bàn lại 15 năm, ta có niên biểu:
Đời

3.

Ô. Đa Lôi,

1355

4.

Ngài Đa Lư,

1375

Góp phần vào HÀNH TRÌNH TÌM VỀ DÒNG TỘC

15


5.

Ngài Nhơn Huyện,

1395

6.

Ngài Nhơn Bàn,

1415

7.

Ô. Văn Liêu,

1445

8.

Ô. Văn Huyền,

1475

9.

Ô. Long Lân,

1505

10.

Ô. Ích Tráng,

1535

11.

Ô. Văn Du,

1565

Niên biểu này phù hợp với Ngài Nhơn Bàn (55 tuổi vào năm 1470) và Ông Văn Du (69
tuổi vào năm 1634), nhưng khoảng thời gian giữa hai anh em Ông Khảm và Ông Đa Lôi lại cách
nhau quá xa, đến 19 năm là không phù hợp.
Như vậy, trong 6 cách tính niên biểu như trên, chỉ có cách tính niên biểu thứ 5 là tương
đối phù hợp, tôi viết niên biểu này lại đầy đủ như sau:
1.Ngài Nghệ An Trại chủ,

1296

2.Ô. Quang,

1316

3.Ô. Khảm,

1336

Ô. Đa Lôi,

1350

4.Ô. Trình,

1356

Ngài Đa Lư,

1370

5.Ô. Tựu,

1376

Ngài Nhơn Huyện,

1390

6.Ô. Huy Tài,

1396

Ngài Nhơn Bàn,

1410

7.Ô. Nhân,

1416

Ô. Văn Liêu,

1440

8.Ô. Trí Phu,

1436

Ô. Văn Huyền,

1470

9.Ô. Khắc Đạn,

1456

Ô. Long Lân,

1500

10.Ô. Chính Nghị,

1476

Ô. Ích Tráng,

1530

Ô. Văn Du,

1560

11.

h-Trường hợp 7: Tiếp tục xem xét đến lần trùng tu Phổ hệ kế tiếp do Ông Phan Kim
Huống thực hiện vào năm 1810, cũng giống như cách tính niên biểu 6, ta có niên biểu sau đây:
6. Ngài Nhơn Bàn,

1410

7. Ô. Văn Liêu,

1440

8. Ô. Văn Huyền,

1470

9. Ô. Long Lân,

1500

10. Ô. Ich Tráng,

1530

11. Ô. Văn Du,

1560

12. Ô. Văn Linh,

1604

13. Ô. Ích Nghi,

1634

14. Ô. Kim Huống,

1664

Sở dĩ tính phần Ông Văn Linh cộng thêm 14 năm là vì Ông Văn Linh không phải là trực
hệ của Ông Văn Du, và tính theo cách tương tự giữa Ông Khảm và Ông Đa Lôi.
Góp phần vào HÀNH TRÌNH TÌM VỀ DÒNG TỘC

16


Niên biểu này không phù hợp với Ông Kim Huống vì vào năm 1810 Ông đã 146 tuổi.
i-Trường hợp 8: Giống như cách tính 7 nhưng mỗi đời cách nhau 35 năm, ta có niên
biểu:
6. Ngài Nhơn Bàn,

1410

7. Ô. Văn Liêu,

1445

8. Ô. Văn Huyền,

1480

9. Ô. Long Lân,

1515

10. Ô. Ích Tráng,

1550

11. Ô. Văn Du,

1585

12. Ô. Văn Linh,

1634

13. Ô. Ích Nghi,

1669

14. Ô. Kim Huống,

1704

Niên biểu này phù hợp với Ông Văn Du (49 tuổi vào năm 1634) nhưng lại không phù hợp
với Ông Kim Huống (106 tuổi vào năm 1810).
k-Trường hơp 9 : Giống như cách tính 8 nhưng mỗi đời cách nhau 40 năm, ta có niên
biểu:
6. Ngài Nhơn Bàn,

1410

7. Ô. Văn Liêu,

1450

8. Ô. Văn Huyền,

1490

9. Ô. Long Lân,

1530

10. Ô. Ích Tráng,

1570

11. Ô. Văn Du,

1610

12. Ô. Văn Linh,

1664

13. Ô. Ích Nghi,

1704

14. Ô. Kim Huống,

1744

Niên biểu này không phù hợp với Ông Văn Du (24 tuổi vào năm 1634) tuy có thể phù
hợp với Ông Kim Huống (66 tuổi vào năm 1810).
l-Trường hợp 10: Như vậy ta phải chấp nhận cách tính 8 cho trường hợp của Ông Văn
Du, và sẽ thay đổi từ Ông Văn Linh đến Ông Kim Huống, mỗi đời cách nhau 40 năm, ta có niên
biểu:
11.Ô. Văn Du,

1585

12.Ô. Văn Linh,

1639

13.Ô. Ích Nghi,

1679

14.Ô. Kim Huống,

1719

Niên biểu này không phù hợp ở chỗ vào năm 1810 Ông Kim Huống đã 91 tuổi.
m-Trường hợp 11: Giống như cách tính 10 nhưng mỗi đời các nhau 45 năm, ta có niên
biểu:
Góp phần vào HÀNH TRÌNH TÌM VỀ DÒNG TỘC

17


11.Ô. Văn Du,

1585

12.Ô. Văn Linh,

1644

13.Ô. Ích Nghi,

1689

14.Ô. Kim Huống,

1734

Như vậy vào năm 1810, Ông Kim Huống được 76 tuổi.
Tôi tạm dừng ở cách tính này vì nếu tính mỗi đời cách nhau 50 năm thì xa quá và khó có
thể xảy ra vào thời bấy giờ.
Và qua trình bày các cách tính niên biểu nêu trên, ta có một niên biểu có thể châp nhận
được , đó là :
1.Ngài Nghệ An Trại chủ,

1296

2.Ô. Quang,

1316

3.Ô. Khảm,

1336

Ô. Đa Lôi

1350

4.Ô. Trình,

1356

Ngài Đa Lư,

1370

5.Ô. Tựu,

1376

Ngài Nhơn Huyện,

1390

6.Ô. Huy Tài,

1396

Ngài Nhơn Bàn,

1410

7.Ô. Nhân,

1416

Ô. Văn Liêu,

1445

8.Ô. Trí Phu,

1436

Ô. Văn Huyền,

1480

9.Ô. Khắc Đạn,

1456

Ô. Long Lân,

1515

10.Ô. Chính Nghị,

1476

Ô. Ích Tráng,

1550

11.

Ô. Văn Du,

1585

12.

Ô. Văn Linh,

1664

13.

Ô. Ích Nghi,

1689

14.

Ô. Kim Huống,

1734

Niên biểu được chấp nhận này có những điểm phù hợp sau đây:
-Ngài Nghệ An Trại chủ sinh khoảng năm 1296 đời vua Trần Anh Tông (1293-1314), đến
năm 1337 khi chấm dứt tên gọi Trại Nghệ An thì Ngài đã khoảng 42 tuổi, một cái tuổi có thể làm
Trại chủ Nghệ An được.
-Ông Huy Tài sinh khoảng năm 1396, đến năm 1426 khi Lê Lợi tiến vào Đông đô phong
tước cho các tướng thần thì Ông khoảng 31 tuổi.
-Ông Nhân sinh khoảng năm 1416, năm 1435 khi từ Chuyển vận sứ huyện Phù Lưu
chuyển lên làm An phủ phó sứ lộ Thiên Trường thì Ông đã được khoảng 20 tuổi. Có thể nói Ông
còn trẻ nhưng ta biết rằng cha của Ông là Ông Huy Tài vào năm 1426 đã giữ chức Đại liêu ban,
là một công thần tham gia kháng chiến chống Minh thì ta có thể hiểu và chấp nhận được việc
Ông là Chuyển vận sứ rồi An phủ phó sứ vào khoảng năm 20 tuổi.
-Ngài Nhơn Bàn sinh khoảng năm 1410, vào năm 1470 Ngài được khoảng 61 tuổi đủ để
đảm nhận chức vụ Cẩm y vệ Đô chỉ huy sứ và được phong tước Địch nghĩa bá.

Góp phần vào HÀNH TRÌNH TÌM VỀ DÒNG TỘC

18


-Ông Văn Du sinh khoảng năm 1585, vậy vào năm 1634 lúc trùng tu Phổ hệ Ông đã
khoảng 49 tuổi, đủ để đạt chức vị Toàn đức hầu.
Ở đây cũng xin mở ngoặc nói thêm rằng, nếu có người hỏi tôi tại sao lại cho rằng Ông
Phan Nhân ghi trong Đại việt sử ký toàn thư chính là Ông Nhân của hệ Phan xá thì tôi cũng đành
phải xin người hỏi chấp nhận vì ngoại trừ chức vụ An phủ sứ (hoặc An phủ sứ phó sứ) lộ Lỵ
Nhân là một điểm chung thì tôi chỉ còn lại một sự linh cảm mà thôi.
4.- VỀ LẠI BỘ VIÊN NGOẠI PHAN KHẢM VÀ QUẢN CẨN TƯỚNG QUÂN TẢ CÁC MÔN SỨ
VIÊN NGOẠI PHAN ĐA LÔI:
Sách Lịch triều hiến chương loại chí (16) ghi: "...Chức Viên ngoại bắt đầu từ đời Lý,
thường dùng chức quan sung sứ bộ đi sứ (như năm Thuận Thiên 1 sai Viên ngoại lang là bọn
Lương Văn sang Tống, năm thứ 2 lại sai Viên ngoại lang Lý Văn Nghĩa sang Tống, năm thứ 3 lại
sai Viên ngoại lang là bọn Ngô Nhương sang Tống). Đến đời vua Thần Tông lại đặt chức Viên
ngoại lang ở Thượng thư sảnh, dự bàn chính sự, danh vị cũng trọng, quan trong quan ngoài
thường gia thêm chức ấy (như nội thị là bọn Phí Công Tín, Hàn Quốc Bảo cũng gia chức Viên
ngoại lang, coi việc phủ Thanh Hoá là bọn Phạm Tín, Dương Chưởng cũng gia chức Viên ngoại
lang). Nhà Trần theo đặt chức ấy, chức sự cũng thuộc về Trung Thư. Nhà Lê lúc mới dựng nước
bắt đầu đặt chức Viên ngoại lang ở 6 bộ (lấy bọn Nguyễn Tôn Vỹ 6 người làm chức ấy). Đến đời
Hồng Đức định lại quan chế, đặt phẩm trật Viên ngoại lang vào hàng tòng lục. Thời trung hưng
về sau noi theo không đổi, nhưng chức danh hơi thấp, chỉ để trao cho những người tạp lưu
trúng trường thôi...".
Xem như vậy thì thấy rằng chỉ đến đời Lê trung hưng thì chức Viên ngoại lang mới có
chức vị hơi thấp, còn trước đó đều là chức vọng trọng, giữ việc ngoại giao đại diện cho đất nước
trong việc giao dịch với nước ngoài (thời Lý), hoặc giữ việc đề nghị các việc lên vua và vâng
tuyên mệnh lệnh (thời Trần) (17), những công việc đòi hỏi người đảm đương chức vụ phải là
người có tài, được nhà vua tin cẩn. Cả hai Ông Phan Khảm và Phan Đa Lôi đều sống và làm
quan thời Trần khoảng các đời vua Trần Hiến Tông (1329-1341), Trần Dụ Tông (1341-1369),
Trần Nghệ Tông (1370-1372), Trần Duệ Tông (1372-1377)... nên chức Viên ngoại lang của hai
Ông cũng là trọng.
Sở dĩ tôi ghi lại đây chức vụ Viên ngoại lang là vì tôi nghĩ có thể có người cho rằng đây là
một chức thấp, điều này sẽ làm giảm mất uy tín và công sức của hai Ông đối với đất nước và đối
với dòng tộc.
5.- VỀ VIỆC VÀO NAM:

(

16

(

17

) Sách đã dẫn, Quan chức chí trang 480.
) Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, tập 3 trang 256: Trung thư sảnh có Trung thư lệnh, Thị lang, Tả hữu gián nghị

đại phu, Tả hữu chính ngôn, Tả hữu tham nghị … giữ việc đề nghị các việc lên vua và vâng tuyên mệnh lệnh.
Góp phần vào HÀNH TRÌNH TÌM VỀ DÒNG TỘC

19


Như phần niên biểu đã ghi nhận, đất nước ta bị đô hộ bởi nhà Minh vào lúc Ngài Thuỷ tổ
Nhơn Bàn chào đời, nên tôi nghĩ đầu tiên là phải tìm hiểu tình hình chung thời bấy giờ, sau đó
mới đề cập đến việc vào nam.
A- Đất nước ta thời thuộc Minh và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn :
a/ Nhà Minh với chính sách đô hộ tàn bạo (18):
Năm 1407 sau khi bắt được cha con Hồ Quý Ly, nhà Minh đã thực sự bắt đầu cuộc đô
hộ nước ta kéo dài 20 năm. Âm mưu của nhà Minh là không những chiếm nước ta làm thuộc
quốc mà còn muốn thực hiện dã tâm đồng hóa, vĩnh viễn xóa bỏ nước ta, sát nhập hẳn vào lãnh
thổ nhà Minh bằng việc đổi nước ta thành quận Giao Chỉ, coi như một địa phương của quốc gia
phong kiến nhà Minh, đặt quan cai trị, lập ra nhiều cơ quan thu thuế nhằm mục đích vơ vét tài
nguyên, của cải của nước ta, thiết lập các tổ chức văn hóa, tôn giáo xuống tận châu huyện để
ràng buộc lòng người (19). Chính sách tàn bạo của nhà Minh đã được Nguyễn Trãi nêu rõ trong
Bình ngô đại cáo:
Thui dân đen trên lò bạo ngược
Vùi con đỏ dưới hố tai ương
Lừa chúng dối trời, kế dỡ đủ muôn nghìn khóe
Động binh gây hấn, ác chứa gần hai mươi năm
Đủ điều bại hoại nghĩa nhân, chẳng còn trời đất
Hết cách vét vơ thuế má, nhẵn sạch núi đầm
Lên núi đào vàng, xông lam chướng để phá rừng đãi cát
Ra khơi mò ngọc, vấp giao long mà lặn biển dòng dây
Nhiễu dân bẫy đặt bắt hươu đen
Hại vật lưới đăng lùng trả biếc
Dù thảo mộc côn trùng cũng không thỏa sống
Đến khốn cùng quan quả cũng chẵng yên thân
Rút máu mủ sinh linh, lũ kiệt hiệt miệng văng nhờn béo
Đủ công trình thổ mộc, chỗ công tư nhà cửa nguy nga

(

18

(

19

) Tóm lược sách Khởi nghĩa Lam Sơn, sđd.

) Dã tâm cai trị bằng văn hóa và tư tưởng của nhà Minh của Hồ Bạch Thảo, www.talawas.com-

Tư tưởng lịch sử 3/2007. Các tổ chức này có thể tóm tắt như sau:
-Nho học: 12 ty tại phủ, 19 ty tại châu, 62 ty tại huyện
-Âm dương học: 6 ty tại phủ, 14 ty tại châu, 26 ty tại huyện
-Phật học: 3 ty Tăng cang tại phủ, 14 ty Tăng chính tại châu, 56 ty Tăng hội tại huyện
-Đạo học: 6 Đạo kỷ tại phủ, 15 Đạo chính tại châu, 37 Đạo hội tại huyện
qua đó cho thấy các tổ chức này xen kẻ chằng chịt trong các địa phương như chân bạch tuột, dân ta lâm
vào cảnh “lọt sàng xuống nia”, cuối cùng cũng bị một trong những tổ chức này khống chế.
Góp phần vào HÀNH TRÌNH TÌM VỀ DÒNG TỘC

20


Chốn hương thôn sưu dịch nặng nề
Trong làng xóm cửi canh bỏ phế...
Tội ác đó:
Tát khô nước Đông hải, không rữa sạch tanh hôi
Chẻ hết trúc Nam sơn, khó ghi đầy tội ác
Do đó:
Thần nhân đều căm giận
Trời đất lẽ nào dung tha
Vì vậy, những cuộc khởi nghĩa giành độc lập đã liên tục nổ ra như các cuộc khởi nghĩa
của Phạm Chấn, Phạm Tất Đại, Trần Nguyên Thôi, Trần Ngỗi (Giản định đế), Trần Quý Khoán
(Trùng quang đế), Nguyễn Sư Cối, Đồng Mặc, Phạm Tuân, Hoàng Thiêm Hữu, Nông Văn Lịch,
Nguyễn Liễu, Trần Quý Tảm, Nguyễn Trinh, Nguyễn Chích, Phan Liêu, Lộ Văn Luật,

Phạm

Ngọc, Lê Ngã... nhưng rồi trước sức mạnh của quân Minh, tất cả những cuộc khởi nghĩa hoặc
thất bại hoặc gia nhập hàng ngũ nghĩa quân Lam Sơn.
b/ Khởi nghĩa Lam Sơn (20):
Vào một buổi sáng đầu tháng 2 năm Bính thân 1416, Lê Lợi cùng 18 người bạn thân tín
nhất làm lễ tế cáo trời đất, kết nghĩa anh em quyết tâm đánh giặc cứu nước tại làng Lũng Nhai
(tức Lũng Mi, tên nôm là làng Mé thuộc xã Ngọc Phụng, huyện Thường Xuân), rồi đến ngày 2
tháng giêng năm Mậu tuất (tức ngày 7/02/1418) trong không khí ngày Tết Nguyên đán cổ
truyền của dân tộc, Lê Lợi và toàn thể nghĩa quân dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn. Lê Lợi tự xưng
là Bình Định vương, truyền hịch đi các nơi kêu gọi nhân dân nỗi dậy giết giặc cứu nước.
Buổi đầu khởi nghĩa gặp nhiều khó khăn, có lúc tuyệt lương phải tìm măng tre, nứa và
các thứ cây, củ có thể ăn được sống qua ngày, Lê Lợi bị quân Minh quật cả mồ mã tổ tiên, vợ và
con đều bị giặc bắt...Nhưng bằng tấm lòng yêu nước và biết chọn lối đánh thích hợp, thế lực của
nghĩa quân Lam Sơn ngày càng lớn mạnh.
Năm 1424, với kế hoạch chuyển hướng chiến lược vào nam, nghĩa quân bất ngờ đột kích
thành Đa Căng (xã Thọ Nguyên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá), hạ thành Trà Long (tương
ứng với đất huyện Tương Dương, Con Cuông, tỉnh Nghệ An), rồi tiếp đó là các chiến thắng Khả
Lưu (Vĩnh Sơn, Anh Sơn, Nghệ An), và Bồ Ải (có lẽ thuộc Đức Sơn, Anh Sơn, Nghệ An) đã làm
cho quân địch bị tổn thất nặng, chỉ còn cố thủ trong thành Nghệ An. Nhân đó nghĩa quân đã giải
phóng toàn bộ các châu huyện ở Nghệ An, xây dựng căn cứ địa ở Đỗ Gia rồi chuyển ra thành
Lục Niên, rồi một mặt đưa một bộ phận nghĩa quân tiến ra Bắc giải phóng Diễn Châu, Thanh
Hoá, và mặt khác một bộ phận nghĩa quân tiến vào nam giải phóng Tân Bình, Thuận Hoá, tạo
nên những bước trưởng thành vượt bực của nghĩa quân trong hai năm 1424 - 1425. Tại những
châu huyện được giải phóng, nhân dân vô cùng phấn khởi đem hết nhiệt tình ra đón tiếp và ủng
(

20

) Tóm lược sách Khởi nghĩa Lam Sơn, sđd.

Góp phần vào HÀNH TRÌNH TÌM VỀ DÒNG TỘC

21


hộ nghĩa quân, hàng vạn trai tráng đã đầu quân đánh giặc, lực lượng nghĩa quân vì thế không
những được tăng cường về số lượng mà còn được nhanh chóng nâng cao về chất lượng.
B- Vào nam:
Phổ hệ 1994 (21) ghi: "... trong Phổ hệ tự tự (có Mục lục đồ tự) và Phổ hệ tiểu tự (có
Cung lục thiệt lục) đều viết: Liêm Thuần nhị quận công tranh, Thăng Điện nhị phủ chi dân binh
khách đại dân ly tán Nhân Huyện nãi sứ ngã...nghĩa là vào thời kỳ Sơ tổ và Thuỷ tổ chúng ta vào
lập nghiệp ở Hòa Đa và Bảo An, hai quận Liêm Thuần còn đang đánh nhau, nhân dân rất khổ
cực và ly tán...Từ đó, sau khi nghiên cứu Phổ hệ nhiều tộc, trong đó có tộc có mối quan hệ tam
kiết hữu với tộc Phan, Phổ hệ 1994 xác định thời gian vào nam phải vào thời vua Lê Nhân Tông.
Vào ở được một thời gian, Ngài Nhơn Bàn xin cha mẹ ra tham gia việc quân. Ngài làm tới chức
Thượng tướng và được phong tước Bá, và do nhu cầu công vụ Ngài được cử trở về Quảng Nam
trông coi việc thuế và lo việc quốc kế dân sinh, nên có câu liễn thờ:
Trở lại đất nam vì nước vì dân công quá lớn
Điềm lành ứng báo này con này cháu đức lâu dài
Trở lại Bảo An, Ngài gặp mẫu thân và tìm phần mộ phụ thân từ Cồn Ông Bản ở làng Bất
Nhị, cải táng về xứ Cồn nai hạ ở Bảo An. Tiếp tục sự nghiệp mở đất xây nền của phụ thân, Ngài
cùng hai Ngài Nguyễn tổ và Ngô tổ khai khẩn mở mang thêm đất đai lập xã hiệu Phi Phú, triều
Tây Sơn đổi Phú An, đến thời Minh Mạng đổi Bảo An. Ngài có công với nước, có hiếu với cha mẹ
và giàu lòng tình nghiã, kính trên mến dưới, trọng đức tài, nên Ngài được sắc phong Tiền hiền
khai khẩn, hai Ngài Nguyễn tổ và Ngô tổ cũng được sắc phong cùng lúc. Ngài được hai lần sắc
phong:
+Lần 1: Tiền hiền khai khẩn, Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân Cẩm y vệ đô
chỉ huy sứ Địch nghĩa bá.
+Lần 2: Tiền hiền khai canh, Dục bảo trung hưng linh phò tôn thần.
Phổ hệ II-1971 (22) ghi: "...Ngài Sơ tổ chúng ta đã cùng Ngài Tiền hiền Nguyễn Liệt (tổ
họ Nguyễn) và Ngài Tiền hiền Ngô Văn (tổ họ Ngô) đều có chí khai hoang lập xã. Ba ngài kết
bạn tâm giao mang vợ con vào nam sáng lập ấp Hòa Đa gần làng La Nan phía bắc sông Thu
Bồn. Sau một thời gian cư trú tại đây, nhận thấy đất xấu, nước lại không tốt, không đúng với ý
nguyện tác lập một cơ đồ vĩnh viễn để lại cho con cháu ngày sau, ba Ngài bèn ủy thác người
canh thủ và đã vượt sông qua phía nam tìm được một nơi hoang nhàn, rộng rãi, đất đai phì
nhiêu, cỏ cây tú mậu liền mang vợ con đến cư trú, đồng tâm hiệp lực, ngày thì khai phá, tối ngủ
trên cây, công lao khó nhọc không sao kể xiết. Nhưng chưa được bao lâu thì đất nước loạn ly
nhân dân phân tán, Ngài Nhơn Huyện mới bảo con là Ngài Nhơn Bàn về lại cố hương để lánh
nạn. Vâng lời của thân phụ, Ngài Nhơn Bàn về tới cố hương thì bà con cũng bị cảnh loạn ly tản
(

21

) Sách đã dẫn , trang 442.

(

22

) Sách đã dẫn, trang 5.
Góp phần vào HÀNH TRÌNH TÌM VỀ DÒNG TỘC

22


mác điêu tàn. Trong hoàn cảnh tứ cố vô thân nên Ngài phải xin làm con nuôi một gia đình rồi
kết duyên cùng bà Dương thị người Quảng Nam. Sau khi lập gia đình xong, Ông bà cùng nhau
trở vào nam, khi vào thì thân phụ là Ngài Nhơn Huyện chẳng may đã qua đời, chỉ còn thân mẫu.
Trong khi hàn huyên, bà thuật lại thân phụ vì lánh nạn mạng chung tại ấp Bác Nhị, mai táng tại
đấy nhưng không biết đích xác nơi phần mộ, Ngài Nhơn Bàn bèn nhờ thầy soi môi tìm cốt và đã
nhận thấy nơi ống chân có tật nên biết đây là di hài của thân phụ, bèn khâm liệm đem về làng
chôn tại xứ Cồn nai hạ. Người ta nhìn thấy nơi mai táng có ong về làm tổ nên đều nghĩ rằng đó
là điềm con cháu ngày sau đông đúc. Tống táng thân phụ xong, Ngài lo nối chí thân sinh, cùng
hai Ngài Nguyễn, Ngô tiếp tục khai khẩn đất đai, lập thành xã Phi Phú gồm cả ấp Hòa Đa và sau
đổi tên xã Phi Phú là Phú An. Vậy Ngài Nhơn Bàn là Thuỷ tổ tộc Phan chúng ta, Ngài tức là Tiền
hiền tộc Phan kể là đời thứ nhất. Đến triều Tây Sơn tu bộ chia Phú An thành hai ấp, đến đời
Minh Mạng thứ 17 đổi ra Bảo An đông, tây nhị xã. Khi lập xã xong, Ngài Thuỷ tổ chúng ta xuất sĩ
làm quan đến chức Đặc tấn phụ quốc thượng tướng quân Cẩm y vệ đô chỉ huy sứ Địch nghĩa bá.
Ngài sinh hạ được 7 trai, 3 gái đều được quý hiển, trong ấy 2 Ngài chết, còn lại 5 Ngài là Thế tổ
5 phái, tức là thế hệ thứ hai vậy...
Từ việc ghi chép của hai Phổ hệ cho thấy :
a/ Việc vào nam được xác nhận là thời kỳ ly loạn, nhân dân xiêu tán. Tôi ghi lại đây sử
liệu từ thời kỳ 1407 đến 1471 để tiện việc giải thích thêm sau này :
*Từ 1407 đến 1428 là thời kỳ thuộc Minh, nhân ta bị đô hộ tàn bạo, và cuộc kháng chiến
của Bình Định vương Lê Lợi kéo dài từ 1418 đến 1428 có ảnh hưởng sâu rộng trên cả nước.
*Từ 1434 đến 1471 là những cuộc xâm lấn của Chiêm Thành có ảnh hưởng đến Hoá
Châu (23) gồm :
+Tháng 4 năm Giáp dần 1434, Chiêm Thành vào cướp cửa Việt (Quảng Trị).
+Tháng 5 năm Giáp tí 1444, vua Chiêm là Bí Cái đến cướp thành Hoá Châu, triều
đình sai Lê Khả và Lê Bôi đem 10 vạn quân đi đánh.
+Tháng 4 năm Ất sửu 1445, Chiêm Thành vào cướp Hoá Châu, triều đình sai Tư
đồ Lê Thận và Đô đốc Nguyễn Xí đem quân đi đánh.
+Tháng chạp năm Ất sửu 1445, Lê Khả đem quân đi đánh Chiêm Thành.
+Tháng 3 năm Kỷ sửu 1469, Chiêm Thành quấy nhiễu vùng Hoá Châu.
+Tháng 8 năm Canh dần 1470, vua Chiêm Thành là Trà Toàn đem 10 vạn quân
vào đánh Hóa Châu. Vua Lê Thánh Tông điều 26 vạn quân, tự làm tướng đi đánh Chiêm Thành,
vây thành Trà Bàn, bắt được vua Chiêm là Trà Toàn.
+Tháng 11 năm Tân mão 1471, Chiêm Thành lại làm phản, nhà vua sai Lê Niệm
đánh bắt được vua Chiêm là Trà Toại và đồng đảng đem về kinh.

( 23) Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam của Viện Sử học, Nhà xuất bản KHXH 1987, trang 255 269.
Góp phần vào HÀNH TRÌNH TÌM VỀ DÒNG TỘC

23


Xem các cuộc chiến tranh giữa nước ta và các nước láng giềng được sử liệu ghi lại cho
thấy, cuộc kháng chiến chống Minh của Bình Định vương Lê Lợi là một cuộc chiến đấu một mất
một còn của kẻ yếu chống lại kẻ mạnh, nghĩa quân từ chỗ không có gì nhưng nhờ vào tấm lòng
yêu nước, căm thù giặc tàn bạo và được lãnh đạo bởi một bộ chỉ huy tài trí đã lần lượt đi từ
thắng lợi nầy đến thắng lợi khác và cuối cùng là chiến thắng kẻ thù, giải phóng đất nước sau 10
năm gian khổ. Trong khi đó những cuộc xâm lấn của Chiêm Thành xảy ra vào lúc đất nước
chúng ta đã có chính quyền vững mạnh, tính chất của các trận chiến đánh Chiêm Thành không
mang một ý nghĩa sống còn đối với dân tộc ta so với cuộc kháng chiến chống Minh, vì lúc đó
tương quan lực lượng giữa ta và Chiêm Thành khác hẳn, ta là một nước mạnh còn Chiêm Thành
là một nước yếu, như vậy thì có thể thấy câu Liêm Thuần nhị quận công tranh có ý nghĩa phù
hợp với công cuộc kháng chiến chống Minh hơn là việc đánh Chiêm Thành.
b/ Trở lại với việc chống quân Minh, năm 1424 nghĩa quân giải phóng các châu huyện ở
Nghệ An, nhân dân nô nức, già trẻ trai gái đều hăng hái tham gia vào các công việc của nghĩa
quân, hàng vạn trai tráng đã gia nhập hàng ngũ, vào lúc đó Ngài Nhơn Huyện được khoảng 36
tuổi và Ngài Nhơn Bàn được khoảng 16 tuổi. Ta cũng biết rằng vào lúc nghĩa quân giải phóng
các châu huyện của Nghệ An, ở đây cũng còn những lực lượng kháng chiến chống Minh khác
của Phan Liêu, Lộ Văn Luật, Cầm Quý, Nguyễn Biên, Trương Hán, Phan Đà, Nguyễn Tuấn Thiện
v.v...và do uy tín rộng lớn của Lê Lợi và bộ tham mưu, do những chiến công vang dội của nghĩa
quân, các lực lượng chống Minh này đều gia nhập nghiã quân Lam Sơn. Hiện nay ta không có tài
liệu nhưng cũng có thể cho rằng Ngài Nhơn Huyện đã tham gia vào các lực lượng đó và đã cùng
gia nhập hàng ngũ nghĩa quân Lam Sơn vào thời gian này, còn Ngài Nhơn Bàn thì vừa độ tuổi
trai tráng, khí huyết phương cương, trong tình hình nô nức phấn khởi như thế, việc Ngài đầu
quân vào cờ nghĩa Lam Sơn là một điều có thể khẳng định. Ta cũng nên biết thêm là chính nghĩa
quân đã xây dựng căn cứ địa tại Nghệ An nên tình hình gia nhập nghĩa quân Lam Sơn ở tại Nghệ
An cũng có khác so với các nơi, vì về mặt tâm lý ngoài lòng yêu nước mà bất cứ người dân Việt
nào ở bất cứ nơi đâu cũng có, họ còn có niềm tự hào là nơi căn cứ địa của bộ chỉ huy nghĩa
quân.
Nhưng công việc chống Minh không ngừng lại ở Nghệ An, với kế hoạch mở rộng vùng
giải phóng làm hậu phương vững chắc, Lê Lợi đã liên tục cho quân ra bắc, vào nam. Tháng 8
năm 1425, Lê Lợi phái Trần Nguyên Hản đem quân vào nam giải phóng Tân Bình, Thuận Hóa,
có thể tin rằng trong đạo quân này có cả Ngài Nhơn Huyện cùng Ngài Nhơn Bàn, Ngài Nguyễn
Liệt, Ngài Ngô Bồ. Và như câu đối ở nhà thờ đã ghi "Bắc địa tùng Vương tam kiết hữu", trong lần
vào nam này đã diễn ra cuộc kết nghĩa Đào viên của ba Ngài họ Phan, họ Nguyễn, họ Ngô. Cả
ba Ngài trước đó ở các nơi khác nhau, không ai biết ai, nhưng cùng vào nam dưới lá cờ nghĩa,
cùng hành động vì mục đích chung là giải phóng đất nước đã gắn liền ba Ngài làm một và họ đã
kết nghĩa anh em. Từ đây, ta có thể xác định "tùng Vương" chính là theo lệnh Bình Định vương
Lê Lợi, xét về mặt ý nghĩa và cả về mặt từ ngữ thì phù hợp hơn là theo lệnh các vua nào khác.
Góp phần vào HÀNH TRÌNH TÌM VỀ DÒNG TỘC

24


Cuộc kháng chiến vẫn chưa kết thúc, miền bắc nước ta vẫn còn ở dưới ách thống trị của
quân Minh, các lực lượng nghĩa quân lại được lệnh tập trung ra bắc giải phóng Đông đô, nhưng
miền nam là nơi giáp giới với Chiêm Thành cũng cần phải lo vì lúc này Chiêm Thành ngã về phía
nhà Minh, nhận chức tước của vua Minh, hơn nữa đây lại là vùng mới giải phóng nên chắc chắn
tuy có đưa quân ra bắc nhưng một lực lượng nghĩa quân vẫn còn ở lại tại đây (Thuận Hóa) để
vừa xây dựng hậu phương làm chỗ dựa vững chắc cho tiền tuyến vừa chống giặc phương nam.
Và Ngài Nhơn Bàn đã theo quân ra bắc, còn ba Ngài Nhơn Huyện, Nguyễn Liệt, Ngô Bồ ở lại
miền nam. Nhưng ở lại với mục đích là xây dựng hậu phương nên chắc chắn là lực lượng nghĩa
quân đã tổ chức thành những “đồn điền" (một hình thức “ngụ binh ư nông” của tổ tiên ta bao
gồm quân lính và nhân dân, quân để giữ trị an và cùng dân lo khai phá đất đai, mở rộng diện
tích canh tác, bảo đảm và ổn định đời sống), rồi từ những đồn điền đã ổn định lại tiến lên xây
dựng những đồn điền mới. Đây là lý do giải thích vì sao từ phía bắc sông Thu Bồn (ấp Hoà Đa)
cả ba Ngài Phan, Nguyễn, Ngô đã tiến xuống phía nam sông Thu Bồn làm thành Bảo An hiện
nay, nhờ công sức mở đất đó cả ba Ngài cùng được sắc phong Tiền hiền khai khẩn.
Còn Ngài Nhơn Bàn như đã nói ở trên là đã theo đoàn quân tiến ra bắc giải phóng Đông
Đô (Thăng Long), giải phóng đất nước, con đường chinh chiến này đã góp phần đưa Ngài từ
một thanh niên trai tráng trở thành một tuớng lĩnh và sau này được phong tước bá. Ta biết rằng
đến năm 1428, sau khi quân Minh rút hết về nước, Bình Định vương Lê Lợi lên ngôi lấy hiệu là
Lê Thái Tổ, binh số lúc bấy giờ là 25 vạn, nhà vua cho 15 vạn về làm ruộng, chỉ lưu 10 vạn tại
ngủ (24), trong số 10 vạn lưu tại ngũ có Ngài Nhơn Bàn là một tướng lĩnh, còn ba Ngài Nhơn
Huyện, Nguyễn Liệt, Ngô Bồ lẽ đương nhiên là ở lại luôn Bảo An mà không quay ra bắc vì mảnh
đất mới đã thấm bao công sức của các Ngài trong những ngày gian khổ trước đó. Rồi Ngài Nhơn
Bàn cũng trở về nam và theo tôi, Ngài trở về nam vì công vụ, vì mặt nam vẫn là một điểm trọng
yếu cần quân binh trấn thủ để giữ yên bờ cỏi đang còn nhiều khó khăn sau hơn 20 năm đô hộ
của quân Minh và 10 năm kháng chiến của nghĩa quân. Điều này giải thích được tại sao Ngài
Nhơn Bàn ra bắc rồi lại về nam, không phải như Phổ hệ II-1971 ghi là Ngài đi lánh nạn, vì một
người đi lánh nạn thì không thể sau này được phong tước bá và chỉ huy vệ Cẩm y là cấm binh
được.
Ta biết rằng sau chiến thắng quân Minh giải phóng đất nước, nhiệm vụ quan trọng đặt ra
cho vua Lê Thái Tổ là phải nhanh chóng khôi phục lại nền kinh tế đã bị tàn phá nặng nề bởi
chiến tranh, mà phía nam giáp giới với Chiêm Thành là nơi đất rộng người thưa, cho nên tiếp tục
chính sách "đồn điền" là một phương cách vừa giữ yên bờ cỏi vừa thực hiện được nhiệm vụ kinh
tế. Ngài Nhơn Bàn trở về nam là cũng để thực hiện chính sách đó (có thể đây là điều mà trong
Phổ hệ 1994 ghi là điều quốc kế dân sinh), nên sau khi cải táng xong thân phụ, Ngài lại cùng hai
Ngài Nguyễn, Ngô tiếp tục việc khai hoang mở đất, tạo nên vế đối "Nam thiên lập xã".

(

24

) Lịch triều hiến chương loại chí, sđd, Binh chế chí, trang 11.
Góp phần vào HÀNH TRÌNH TÌM VỀ DÒNG TỘC

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×