Tải bản đầy đủ

TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH của các NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng là một loại hình tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất
của xã hội, có vai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế của quốc gia.
Sự hoạt động hiệu quả của hệ thống Ngân hàng gắn liền với sự hưng thịnh của
nền kinh tế. Trong những năm gần đây ngành Ngân hàng Việt Nam đã có
những thay đổi tích cực phù hợp với tình hình thực tiễn, đưa vốn vào lưu thông
tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội và thúc đẩy kinh tế phát triển.
Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng được thành lập theo Luật các tổ
chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền
tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi, sử dụng tiền gửi để cấp
tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.Trong các nghiệp vụ kinh doanh
ngân hàng, tín dụng là hoạt đông mang lại lợi nhuận cho ngân hàng gắn liền
với các rủi ro tín dụng. Đặc biệt rủi ro của ngân hàng rất dễ dẫn đến rủi ro hệ
thống gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Do đó để
hạn chế những rủi ro đó các ngân hàng đã tiến hành áp dụng hàng loạt các viện
pháp đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của khách hàng. Một trong những biện pháp
quan trọng nhất đó là bảo đảm tín dụng. Tài sản bảo đảm là một trong những
căn cứ quan trọng để ngân hàng xác định mức cho vay đối với khách hàng.
Ngân hàng coi bảo đảm tín dụng là nguồn trả nợ thứ hai sau nguồn trả nợ thứ
nhất là thu nhập từ hoạt động kinh doanh của khách hàng.

Như vậy, tài sản bảo đảm có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động kinh
doanh ngân hàng. Tuy nhiên, trên thực tế việc áp dụng các quy định về tài sản
bảo đảm còn nhiều khó khăn không những từ phía khách hàng, ngân hàng mà
còn từ phía Chính Phủ và các bộ ngành có liên quan. Chính vì vậy việc hoàn
thiện công tác bảo đảm chất lượng tín dụng là vấn đề cốt yếu nhất trong hoạt
động quản trị, hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại, nhất là
trong giai đoạn hiện nay. Việc hoàn thiện công tác bảo đảm chất lượng tín dụng
luôn là vấn đề mà các Ngân hàng thương mại, các cơ quan quản lý nhà nước
1


đặc biệt quan tâm.
Xuất phát từ tình hình thực tế của thị trường tiền tệ Việt Nam và cụ thể tại
Ngân hàng Bưu Điện Liên Việt - Phòng Giao Dịch Trung Yên, trên cơ sở các
vấn đề lý thuyết về bảo đảm tín dụng, cùng với sự quan tâm giúp đỡ của Ngân
hàng Bưu Điện Liên Việt - Phòng Giao Dịch Trung Yên, em chọn đề tài " Giải
pháp hoàn thiện công tác bảo đảm tín dụng tại Ngân Hàng Bưu Điện Liên Việt
- Phòng Giao Dịch Trung Yên" để làm chuyên đề tốt nghiệp này.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận chung, đề tài đi sâu nghiên cứu về thực trạng thực hiện
bảo đảm tín dụng tại Ngân hàng Bưu điện Liên Việt Phòng Giao Dịch Trung
Yên. Qua đó thấy được những điểm mạnh và điểm yếu trong quá trình thực
hiện bảo đảm tín dụng tại Phòng Giao Dịch, phân tích những nguyên nhân của
những hạn chế tồn tại, từ đó đưa ra giải pháp cho Phòng Giao Dịch và từ đó đề
xuất một số kiến nghị đối với các cơ quan có thẩm quyền nhằm hoàn thiện
công tác bảo đảm tín dụng tại Phòng Giao Dịch.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các khoản tín dụng bao gồm cả tài sản bảo đảm
và không có tài sản bảo đảm của tất cả các đối tượng tại Phòng Giao Dịch.
Phạm vi nghiên cứu: Các khoản tín dụng tại Phòng Giao Dịch 2012-2013
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng nhiều phương pháp trừu tượng khoa học, duy vật biện
chứng, thống kê, so sánh phân tích, trên cơ sở các số liệu thực tế tại Phòng
Giao Dịch Trung Yên.
5. Kết cấu chuyên đề: Gồm 3 chương
 Chương 1: Lý luận chung về bảo đảm tín dụng tại các Ngân hàng thương
mại.
Chương này tập trung vào các vấn đề mang tính chất lý thuyết về bảo
đảm tín dụng, làm rõ nội dung và quy trình thực hiện của từng hình thức bảo
đảm tín dụng.

2


 Chương 2: Thực trạng bảo đảm tín dụng tại Ngân hàng Bưu Điện Liên Việt
Phòng Giao Dịch Trung Yên.
Thông qua các số liệu thực tế tại Phòng Giao Dịch Trung Yên -Ngân
hàng Bưu điện Liên Việt, chương này đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng
thực hiện bảo đảm tín dụng tại Phòng giao dịch. Qua đó thấy được những khó
khăn, tồn tại của việc thực hiện bảo đảm tín dụng tại Phòng giao dịch và những
nguyên nhân của những khó khăn tồn tại đó.
 Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác bảo đảm tại Ngân hàng Bưu Điện
Liên Việt - PGD Trung Yên
Trên cơ sở đánh giá môi trường kinh doanh năm 2014 và định hướng phát
triển của Phòng giao dịch, chương này sẽ đưa ra các giải pháp và kiến nghị
nhằm nâng cao chất lượng hoạt động bảo đảm tín dụng tại Phòng Giao Dịch.

3


CHƯƠNG 1.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO ĐẢM TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. SỰ CẦN THIẾT THỰC HIỆN BẢO ĐẢM TÍN DỤNG TẠI CÁC NHTM
1.1.1. Khái niệm bảo đảm tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường phát triển như hiện nay, Ngân Hàng Thương
mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của Ngân hàng đó là huy
động vốn và cho vay vốn. Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa các cá nhân
và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan hiếm. Trong hoạt
động kinh doanh của mình, ngân hàng luôn đứng trước nguy cơ gặp rủi ro tín
dụng - rủi ro có thể dẫn đến tổn thất lớn nhất cho ngân hàng. Không những
vậy, rủi ro của một ngân hàng hoàn toàn có thể kéo theo rủi ro cho toàn hệ
thống, từ đó tác động xấu đến toàn bộ hệ thống Ngân hàng. Chính vì vậy, các
Ngân hàng Thương Mại khi cho vay phải có biện pháp giảm thiểu rủi ro cho
mình, việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tín dụng nhằm bảo đảm, nghĩa vụ
trả nợ cho khách hàng đi vay là điều cần thiết.
Bảo đảm tín dụng là thiết lập các cơ sở kinh tế và pháp lý tạo điều kiện
cho ngân hàng thỏa mãn nhu cầu thu hồi tín dụng đã cấp trong trường hợp
người vay không thực hiện trả nợ theo quy định. Bảo đảm tín dụng hay còn gọi
là bảo đảm tiền vay là việc bảo vệ quyền lợi của người cho vay dựa trên cơ sở
thế chấp, cầm cố tài sản thuộc quyền sở hữu của người đi vay hoặc bảo lãnh
của người thứ ba. Thực chất đây là việc thiết lập các cơ sở kinh tế và pháp lý
tạo điều kiện cho ngân hàng thỏa mãn nhu cầu thu hồi tín dụng đã cấp trong
trường hợp người vay không thực hiện trả nợ theo quy định.
Tài sản hoặc quyền sử dụng tài sản có thể được dùng làm tài sản đảm bảo
bao gồm tất cả tài sản có quyền giao dịch hoặc có khả năng lưu chuyển tiền tệ.
Tài sản đảm bảo có vai trò rất lớn trong quyết định cấp tín dụng của các tổ
chức tín dụng Việt Nam hiện nay không đơn giản vì nó là chỗ dựa tin cậy trong
việc đưa ra quyết định cấp tín dụng mà hơn thế nữa, tài sản đảm bảo có tác
4


dụng rất tốt trong việc ngăn ngừa sự xuất hiện của tâm lý ỷ lại của khách hàng
sau khi đi vay.
Bảo đảm tiền vay thông thường chỉ được xem xét là biện pháp thay thế và
là cơ sở thu nợ thứ hai khi khách hàng vì một lý do nào đó không trả được nợ
vay. Việc quyết định cấp tín dụng hay không là do tính khả thi của dự án, khả
năng tài chính của khách hàng vay. Nếu ngân hàng cấp tín dụng dựa vào bảo
đảm tiền vay xong lại biết rằng ngân hàng sẽ phải bán vật đảm bảo sau đó để
trang trải món nợ thì ngân hàng sẽ chẳng bao giờ cho vay.
Đối với ngân hàng, việc cho vay có tài sản đảm bảo là cần thiết. Theo đó,
các đặc trưng cần có của tài sản đảm bảo bao gồm:
 Giá trị của bảo đảm phải lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm
Bảo đảm tín dụng không chỉ là nguồn thu nợ của ngân hàng mà còn có ý
nghĩa thúc giục người đi vay phải trả nợ, nếu không họ sẽ mất tài sản. Nhưng
nếu giá trị của tài sản nhỏ hơn nghĩa vụ được bảo đảm thị người đi vay hoàn
toàn không có động cơ trả nợ.
Nghĩa vị được bảo đảm bao gồm vốn gốc, lãi ( kể cả lãi quá hạn) và các
chi phí khác trừ trường hợp các bên có thỏa thuận lãi và các loại phí khác
không thuộc phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
 Tài sản phải có sẵn thị trường tiêu thụ
Mức độ thanh khoản của tài sản bảo đảm có liên quan trực tiếp đến lợi
ích của người cho vay. Mức độ thanh khoản thấy hay nói cách khác tài sản khó
bán thường khó được ngân hàng chấp nhận. Mức độ thanh khoản trung bình có
thể chấp nhận được tuy nhiên cần tính đến chi phí do kéo dài thời gian xử lý.
 Có đầy đủ cơ sở pháp lý để người cho vay có quyền ưu tiên về xử lý tài sản.
Đặc trưng này phải thể hiện được các mặt sau: Tài sản đem bảo đảm phải
thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người đi vay hoặc người bảo lãnh và được
pháp luật cho phép giao dịch. Đồng thời phải có đủ cơ sở pháp lý để ngân hàng
- chủ thể cho vay được quyền xử lý tài sản nhằm thu hồi nợ khi người đi vay
không thanh toán đúng hạn.
5


1.1.2 Ý nghĩa của việc thực hiện bảo đảm tín dụng
* Đối với ngân hàng
 Bảo đảm tín dụng giúp cho ngân hàng bảo đảm an toàn trong cấp tín dụng.
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính không cho vay tiền của
bản thân mình mà nó huy động vốn từ khách hàng để cấp tín dụng nên trách
nhiệm hàng đầu là bảo vệ lợi ích của người gửi tiền. Mặc dù phần lớn các ngân
hàng đều dự tính trước những rủi ro có thể xảy ra nhưng những rủi ro này vẫn
phải được kiểm soát chặt chẽ để bảo vệ số tiền mà ngân hàng đã huy động
được. Tài sản bảo đảm góp phần kiểm soát hạn chế các rủi ro trên.
Thực chất, bảo đảm tín dụng là thiết lập những cơ sở pháp lý để có thêm
nguồn trả nợ thứ hai. Trong cho vay kinh doanh, nguồn trả nợ thứ nhất từ
doanh thu thực tế đối với vay ngắn hạn, từ khấu hao và lợi nhuận đối với cho
vay trung dài hạn.Trong cho vay tiêu dùng, nguồn thu nợ thứ nhất là thu nhập
cá nhân như tiền công, tiền lương, các khoản thu nhập tài chính (lãi tiền gửi, cổ
tức, trái tức) và các khoản thu nhập khác. Các nguồn thu nợ thứ nhất này thể
hiện dưới hình thức lưu chuyển tiền tệ của người đi vay. Trong hoạt động kinh
doanh có muôn ngàn lý do dẫn đến nguồn thu nợ thứ nhất không thể thực hiện
được, nếu không có một nguồn bổ sung thứ hai thì tất yếu ngân hàng sẽ gặp rủi
ro. Vì vậy để bảo vệ lợi ích của mình ngân hàng thường yêu cầu người đi vay
phải có bảo đảm tín dụng ngoại trừ những khách hàng thật sự hoạt động tốt và
có mối quan hệ tín dụng thường xuyên.
 Bảo đảm tín dụng giúp ngân hàng tạo lập quan hệ tín dụng với khách hàng.
Khi quyết định cho vay ngân hàng phải phân tích đánh giá khách hàng
dưới nhiều góc độ khác nhau trong đó bảo đảm tín dụng được coi là một trong
những tiêu chuẩn xét duyệt cho vay và giới hạn cho vay vì nó trả lời được phần
nào các câu hỏi:
+ Khách hàng có mong muốn trả nợ không?
+ Khách hàng có khả năng trả nợ không?
+ Khả năng và ý muốn đó có duy trì trong suốt thời hạn vay vốn không?
6


Tuy nhiên đây không phải là tiêu chuẩn mang tính bắt buộc khi cấp tín
dụng cho khách hàng, nó chỉ là một trong những điều kiện cấp vốn. Tài sản
bảo đảm giúp cho khách hàng củng cố thêm lòng tin đối với ngân hàng. Lòng
tin là một trong những đặc trưng quan trọng của hoạt động tín dụng do vậy
lòng tin chính là một trong những căn cứ để ngân hàng quyết định cho vay.
 Bảo đảm tín dụng nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của người vay vốn
trong việc quản lý và sử dụng tiền vay.
Trong nền kinh tế, chủ thể kinh doanh ( người vay vốn) khó có thể tránh
hết được các rủi ro. Do vậy khi đem tài sản của mình ra làm bảo đảm cho
khoản vay họ sẽ có trách nhiệm hơn trong việc quản lý và sử dụng vốn vay vì
khi không trả được khoản vay họ sẽ bị mất tài sản bảo đảm đó. Tài sản bảo
đảm thường có giá trị lớn hơn khoản vay. Mặt khác, bảo đảm tín dụng giúp
ngân hàng giảm thiểu những rủi ro đạo đức có thể xảy ra. Đây được coi là ý
nhĩa quan trọng nhất của bảo đảm tín dụng.
 Bảo đảm tín dụng là tiêu chuẩn bổ sung những mặt hạn chế của nhà quản
trị tín dụng cũng như phòng tránh những diễn biến không thuận lợi của môi
trường kinh doanh.
Nâng cao năng lực thẩm định của cán bộ nhân viên ngân hàng khi thực
hiện bảo đảm tiền vay. Để phù hợp với từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể, để
đảm bảo cho nguồn trả nợ thứ hai có thể bù đắp được các tổn thất khi rủi ro tín
dụng xảy ra thì việc định giá tài sản bảo đảm là hết sức quan trọng. Tuy nhiên,
việc định giá tài sản bảo đảm thường có ý nghĩa hơn trong trường hợp cho vay
đối với khách hàng tư nhân, ít uy tín hoặc những doanh nghiệp nhỏ mới thành
lập, làm ăn không ổn định. Đối với những doanh nghiệp lớn có chính sách
quản lý hiệu quả, có sản phẩm và dịch vụ được thị trường chấp nhận, có lợi
nhuận tương đối ổn định và có tình hình tài chính tốt, lành mạnh, uy tín thanh
toán nợ cũ thì đó là những khách hàng tiềm năng.Trong trường hợp này, ngân
hàng sẵn sàng cho vay không cần có tài sản bảo đảm hoặc tài sản bảo đảm có
giá trị nhỏ hơn giá trị khoản vay. Do vậy, cán bộ tín dụng cần vận dụng bảo
7


đảm tiền vay một cách linh hoạt trong từng điều kiện cụ thể nhằm bảo đảm an
toàn cho ngân hàng đồng thời thu hút các khách hàng tốt.
* Đối với khách hàng
 Người gửi tiền: Bảo đảm tín dụng cho người gửi tiềm năng thêm niềm tin
vào ngân hàng, yên tâm hơn về khoản tiết kiệm của mình.
 Người vay vốn: Khách hàng vay vốn phải sử dụng tài sản của mình để bảo
đảm cho khoản vay, do đó họ sẽ có trách nhiệm hơn trong quản lý và sử dụng
vốn vay. Vì vậy, bảo đảm tín dụng là động lực thúc đẩy khách hàng vay vốn sử
dụng vốn vay có hiệu quả đúng mục đích để có khả năng trả nợ và nhận lại tài
sản của mình.
* Đối với nền kinh tế
Bảo đảm tiền vay được thực hiện tốt sẽ có vai trò hạn chế nợ quá hạn, nợ
khó đòi, hạn chế rủi ro tín dụng. Ngân hàng là một tổ chức tín dụng có vai trò
đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, rủi ro trong ngành ngân hàng sẽ dẫn đến
rủi ro hệ thống toàn nền kinh tế. Do vậy bảo đảm tín dụng góp phần giữ cho
nền kinh tế hoạt động lành mạnh, hạn chế những tổn thất. Mặt khác, bảo đảm
tín dụng giúp cho ngân hàng tăng thêm uy tín thu hút được người gửi tiền để
cho vay mở rộng sản xuất kinh doanh thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
1.2. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ BẢO ĐẢM TÍN DỤNG
1.2.1 Các loại hình bảo đảm tín dụng
Bộ luật dân sự năm 2005 xác định " Các biện pháp bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự bao gồm:
- Cầm cố tài sản
- Thế chấp tài sản
- Đặt cọc
- Ký cược
- Ký quỹ
- Bảo lãnh
- Tín chấp
8


Trong đó, hiện nay các ngân hàng thương mại chủ yếu áp dụng 2 hình thức
bảo đảm tín dụng cơ bản là bảo đảm đối vật (trong đó có 3 phương thức chính
là cầm cố, thế chấp tài sản của khách hàng vay vốn và bảo đảm bằng tài sản
hình thành từ vốn vay) và bảo đảm đối nhân (hay còn gọi là bảo lãnh).

 Bảo đảm đối vật
* Cầm cố bằng tài sản của khách hàng vay vốn
a, Khái niệm
Theo Bộ Luật dân sự năm 1999: " Cầm cố tài sản là việc bên có nghĩa vụ
(Khách hàng hay bên cầm cố) giao tài sản là động sản thuộc quyền sở hữu của
mình cho bên có quyền để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Theo luật Dân sự năm 2005- điều 326, " Cầm cố tài sản là việc một bên
cầm cố giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên nhận cầm cố để đảm
bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự.
b, Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch cầm cố tài sản
 Bên cầm cố tài sản
 Quyền của bên cầm cố tài sản ( Theo điều 331- Luật Dân sự năm 2005)
Bên cầm cố có các quyền sau đây:
+ Yêu cầu bên nhận cầm cố đình chỉ việc sử dụng tài sản cầm cố trong
trường hợp qui định tại khoản 3 điều 333 của Bộ luật này, nếu do sử dụng mà
tài sản cầm cố có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị.
+ Được bán tài sản cầm cố nếu được bên nhận cầm cố đồng ý.
+ Được thay thế tài sản cầm cố bằng một tài sản khác nếu có thỏa thuận.
+ Yêu cầu bên nhận cầm cố giữ tài sản cầm cố trả lại tài sản cầm cố khi
nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt.
+ Yêu cầu bên nhận cầm cố bồi thường thiệt hại xảy ra đối với tài sản cầm
cố.
 Nghĩa vụ của bên cầm cố tài sản(Theo điều 330- Luật Dân sự 2005).
Bên cầm cố tài sản có nghĩa vụ sau:
+ Giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố theo đúng thỏa thuận.
9


+ Báo cho bên nhận cầm cố về quyền của người thứ ba đối với tài sản
cầm cố, nếu có, trong trường hợp không thông báo thì bên nhận cầm cố có
quyền hủy hợp đồng cầm cố tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc
duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm
cố.
+Thanh toán cho bên nhận cầm cố chi phí hợp lí để bảo quản, giữ gìn
tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
 Bên nhận cầm cố
 Quyền của bên nhận cầm cố tài sản ( theo điều 333 - Luật Dân sự 2005)
như sau:
+ Yêu cầu người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật TSCC trả lại tài sản đó.
+ Yêu cầu xử lý TSCC theo phương thức đã thỏa thuận hoặc theo quy định
của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ.
+ Được khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài
sản cầm cố, nếu có thỏa thuận.
+ Được thanh toán chi phí hợp lý bảo quản tài sản cầm cố khi trả lại tài sản
cho bên cầm cố.
 Nghĩa vụ của bên nhận cầm cố ( theo điều 332- luật Dân sự)
+ Bảo quản, giữ gìn TSCC, nếu làm mất hoặc hư hỏng TSCC thì phải bồi
thường thiệt hại cho bên cầm cố.
+ Không được bán, trao đổi, tặng cho, cho thuê, cho mượn tài sản cầm cố,
không được đem TSCC để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác.
+ Không được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ TSCC nếu
không được bên cầm cố đồng ý.
+ Trả lại TSCC khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt hoặc
được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.
C, Những loại tài sản cầm cố thông dụng để đảm bảo tiền vay
- Cầm cố hàng hóa:
Cho vay cầm cố hàng hóa là nghiệp vụ cho vay có bảo đảm áp dụng phổ
10


biến tại các NHTM hiện nay vì hình thức này có nhiều ưu thế hơn bảo đảm
bằng bất động sản:
+ Khi khách hàng không thanh toán được nợ đúng hạn, ngân hàng có thể bán
được hàng hóa một cách dễ dàng hơn so với bất động sản.
+ Giúp cho các doanh nghiệp thực hiện dự trữ vật tư hàng hóa theo chu kì và
thời vụ nhằm ổn định sản xuất và đáp ứng được nhu cầu của thị trường.
- Chiết khấu kí hóa thương phiếu
Chiết khấu ký hóa thương phiếu là hình thức cho vay có bảo đảm bằng
quyền về tài sản xuất phát từ hợp đồng ký thác bằng hàng hóa. Các công ty
kinh doanh kho được pháp luật cho phép kí gửi hàng hóa của các doanh
nghiệp. Các công ty kinh doanh kho trước khi được cấp phép hoạt động phải
có hệ thống kho an toàn và được trang bị hệ thống phòng cháy chữa cháy đầy
đủ.
Khi người kí thác hàng hóa có nhu cầu vốn ngắn hạn, họ có thể đến ngân
hàng xin vay nợ trên cơ sở bảo đảm bằng hàng hóa đã kí thác tại công ty kinh
doanh kho. Ngân hàng căn cứ vào biên lai và kí hóa phiếu - hai chứng từ của
công ty kinh doanh kho giao cho người kí thác để quyết định cho vay bằng một
tỷ lệ nhất định của giá trị hàng hóa.
Chiết khấu kí hóa phiếu tương đối an toàn và có nhiều thuận lợi vì các lý do
sau:
+ Kí hóa phiếu đại diện cho một lượng hàng hóa có được lưu trữ tại các kho
an toàn, mặt khác các hàng hóa thường xuyên được bảo hiểm đầy đủ.
+ Ngân hàng ít bị rủi ro về hư hỏng và mất mát hàng hóa, vì tại đây việc
quản lý đã có một đội ngũ nhân sự có năng lực về kiểm soát và bảo quản hàng
hóa.
+ Chiết khấu kí hóa phiếu sẽ tạo điều kiện cho NHTM có thêm nguồn vốn
thông qua tái chiết khấu ở ngân hàng trung ương.
- Cầm cố các chứng khoán
Cho vay cầm cố chứng khoán là một nghiệp vụ cho vay đơn giản, khách
11


hàng chuyển giao chứng khoán cho ngân hàng để nhận tiền vay. Khi đáo hạn
khách hàng trả nợ cho ngân hàng và nhận lại các chứng khoán đã cầm cố.
Hình thức cầm cố này rất phổ biến ở các nước trên thế giới. Đối với nước
ta do thị trường chứng khoán cũng mới phát triển do đó hình thức này mới
trong quá trình hình thành, tuy nhiên trong vài năm tới hình thức này hứa hẹn
sẽ phát triển rất nhanh.
Trong đó có các loại chứng khoán cầm cố như: Công trái, tín phiếu kho
bạc, trái phiếu đô thị, cổ phiếu, trái phiếu công ty và các loại giấy nợ khác.
Về phía ngân hàng, khi nhận hồ sơ xin vay cầm cố bằng chứng khoán,
ngân hàng phải nghiên cứu mức độ rủi ro của từng loại chứng khoán, đặc biệt
đối với các chứng khoán công ty
Thông thường đối với các chứng khoán nhà nước, tỷ lệ cho vay so với giá
trị định giá cao hơn so với các chứng khoán công ty, vì chứng khoán công ty
thường có mức độ rủi ro tín dụng và rủi ro lãi suất cao hơn, hay nói cách khác
các chứng khoán công ty có khả năng hoàn trả thấp và có giá cả biến động với
biên độ cao.
- Đảm bảo bằng tiền gửi
Tiền gửi dùng làm bảo đảm cho khoản ứng trước của ngân hàng thường là
tiền gửi có kì hạn và tiết kiệm, còn đối với tiền gửi thanh toán khi dùng làm
bảo đảm cho ngân hàng phải được chuyển sang một tài khoản phong tỏa.
Tiền gửi là tài sản bảo đảm an toàn và ít tốn kém vì lý do sau:
+ Không cần định giá
+ Chi phí phát sinh trong việc quản lý tiền gửi bảo đảm không đáng kể.
+ Việc xử lý tài sản để thu hồi nợ khi khách hàng không có khả năng trả nợ
tương đối đơn giản.
Với hình thức bảo đảm này thì tỷ trọng cho vay của ngân hàng tương đối
cao và mức cho vay được tính dựa vào công thức:

12


T (1 + r )
1
T = G
v
1+ r
2

Trong đó:
TV : Số tiền cho vay tối đa
T
G :Mệnh giá của tiền gửi
r
1 :Lãi suất tiền gửi
r
2 :Lãi suất cho vay

Lãi suất tiền gửi được sử dụng trong công thức trên là lãi suất ngân hàng
chấp nhận thanh toán, khi phải thanh lý tiền gửi để trả nợ. Thông thường mức
lãi suất này nhỏ hơn mức lãi suất tiền gửi theo hợp đồng và thậm chí bằng 0.
Mức lãi suất cụ thể được quy định phụ thuộc từng ngân hàng.
- Bảo đảm bằng vàng
Bảo đảm bằng vàng là hình thức bảo đảm trong cho vay cá nhân. Vàng
dùng bảo đảm được kí gửi và bảo quản tại ngân hàng. Phần lớn các NHTM
Việt Nam đều có nghiệp vụ kinh doanh vàng, đây là một điều kiện thuận lợi
cho việc phân kim và định giá vàng làm cơ sở để xác định mức cho vay. Đối
với các ngân hàng hoặc chi nhánh, Phòng giao dịch không có nhân viên kỹ
thuật về vàng nhất thiết phải nhờ đến dịch vụ phân kim và định giá của công ty
kinh doanh vàng.
- Bảo đảm bằng các khoản phải thu
Các khoản nợ của người thứ ba đối với khách hàng vay vốn được coi là tài
sản bảo đảm cho các khoản vay ngắn hạn. Việc bảo đảm bằng các khoản phải
thu được thực hiên theo hai cách:
+ Bảo đảm không thông báo: Các khoản phải thu dùng làm bảo đảm chỉ có
sự thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng vay vốn - chủ nợ của khoản phải
thu, mà không thông báo cho con nợ biết về sự cầm cố này. Hoặc có thể khách
hàng vay vốn cam kết sẽ chuyển giao cho ngân hàng khi con nợ thanh toán.

13


+ Bảo đảm có thông báo: Việc cầm cố khoản phải thu cần thông báo cho
con nợ biết và người này phải thanh toán trực tiếp cho ngân hàng thay vì thanh
toán cho chủ nợ - người vay vốn.
Bảo đảm bằng các khoản phải thu không phải là hình thức bảo đảm có độ
an toàn cao, vì vậy khi thực hiện việc cho vay theo hình thức này ngân hàng
phải nghiên cứu và đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn sau:
+ Tính liêm khiết của khách hàng vay vốn
+ Bản chất và đặc tính của các khoản phải thu
+ Xác định mức độ rủi ro của các khoản phải thu để định tỷ trọng cho vay.
Nếu rủi ro thấp thì tỷ trọng cho vay cao va ngược lại.
Ở Việt Nam hình thức này chưa phổ biến do việc thanh toán qua ngân hàng
còn rất hạn chế, do đó ngân hàng không thể kiểm soát được các khoản chi trả
của con nợ với khách hàng vay vốn.
- Bảo đảm bằng hợp đồng nhận thầu
Các công ty xây dựng hoặc các công ty thiết bị vật tư có hợp đồng về xây
dựng hoặc hợp đồng về cung cấp, nếu thiếu vốn để thực hiện hợp đồng có thể
nhượng lại hợp đồng đó cho ngân hàng để được tài trợ vốn ngắn hạn.
Cho vay bảo đảm bằng hợp đồng nhận thầu đôi lúc cũng có rủi ro cho ngân
hàng, rủi ro này xuất phát từ những nguyên nhân sau:
+ Người nhận thầu không đủ khả năng thực hiện hợp đồng
+ Chủ đầu tư hay người nhận thầu chính không sẵn lòng thanh toán khi
bên nhận thầu đã thực hiện theo hợp đồng.
Các hợp đồng nhận thầu xây dựng hoặc cung cấp hàng hóa cho các tổ chức
nhà nước được coi là an toàn hơn so với các hợp đồng tư nhân, tuy nhiên trong
một số trường hợp cũng có thể gặp rủi ro thanh toán chậm. Các hợp đồng tư
nhân có rủi ro cao hơn do đó ngân hàng phải nghiên cứu kĩ các bên hợp đồng
đặc biệt là nghiên cứu nguồn vốn thanh toán của chủ đầu tư.
* Thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay vốn
a,Khái niệm
14


Theo Luật Dân sự năm 1999:" Thế chấp là việc bên đi vay dùng tài sản là
bất động sản thuộc sở hữu của mình hoặc giá trị quyền sử dụng đất hợp pháp
để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên cho vay".
Theo Luật Dân sự năm 2005:" Thế chấp tài sản là việc một bên ( thế chấp)
dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối
với bên kia ( bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận
thế chấp".
b, Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia thế chấp tài sản.
 Bên thế chấp tài sản
 Quyền của bên thế chấp tài sản ( theo điều 349-Luật Dân sự 2005) như
sau:
+ Được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản thế chấp, trừ
trường hợp hoa lợi, lợi tức cũng thuộc tài sản thế chấp theo thỏa thuận.
+ Được đầu tư làm tăng giá trị của tài sản thế chấp.
+ Được bán, thay thế TSTC, nếu tài sản đó là hàng hóa luân chuyển trong
quá trình sản xuất kinh doanh.
+ Được bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp không phải là hàng hóa
luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh, nếu được bên nhận thế chấp
đồng ý.
+ Được cho thuê, cho mượn tài sản thế chấp nhưng phải thông báo với bên
thuê, bên mượn biết về việc tài sản cho thuê, cho mượn đang được dùng để thế
chấp và phải thông báo cho bên nhận thế chấp biết.
+ Nhận lại TSTC do người thứ ba giữ, khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng
thế chấp chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.
 Nghĩa vụ của bên thế chấp (theo điều 348-Luật Dân sự) như sau :
+ Bảo quản, giữ gìn tài sản thế chấp
+ Áp dụng các biện pháp cần thiết để khắc phục, kể cả phải ngừng việc
khai thác công dụng TSTC nếu do việc khai thác đó mà tài sản thế chấp có
nguy cơ mất giá trị hoặc giảm sút giá trị.
15


+ Thông báo cho bên nhận thế chấp về các quyền của người thứ ba đối với
TSTC,nếu có trong trường hợp không thông báo thì bên nhận thế chấp có
quyền hủy hợp đồng thế chấp tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy
trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với TSTC.
+ Không được bán, trao đổi, tặng cho TSTC trừ trường hợp quy định tại
khoản 3 và khoản 4 điều 349 của Bộ Luật này.
 Bên nhận thế chấp
 Quyền của bên nhận thế chấp ( theo điều 351-Luật Dân sự 2005) như sau :
+ Yêu cầu bên thuê, bên mượn TSTC trong trường hợp quy định tại khoản
5 điều 349 của Bộ luật này phải chấm dứt việc sử dụng TSTC, nếu việc sử
dụng làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của tài sản đó.
+ Được xem xét, kiểm tra trực tiếp TSTC, nhưng không được cản trở hoặc
gây khó khăn cho việc sử dụng, khai thác TSTC.
+ Yêu cầu bên thế chấp phải cung cấp thông tin về thực trạng TSTC.
+ Yêu cầu bên thế chấp áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo toàn tài
sản, giá trị tài sản trong trường hợp có nguy cơ làm mất giá trị hoặc giảm sút
giá trị của tài sản do việc khai thác, sử dụng.
+ Yêu cầu bên thế chấp hoặc người thứ ba giữ tài sản thế chấp giao tài sản
đó cho mình để xử lý trong trường hợp đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có
nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
+ Giám sát, kiểm tra quá trình hình thành tài sản trong trường hợp nhận thế
chấp tài sản hình thành trong tương lai.
+ Yêu cầu xử lý TSTC theo quy định tại điều 355 hoặc khoản 3 điều 324
của Bộ luật này và được ưu tiên thanh toán.
 Nghĩa vụ của bên nhận thế chấp ( theo điều 350- Luật Dân sự 2005) như
sau:
+ Trong trường hợp các bên thỏa thuận nhận thế chấp giữ giấy tờ về tài sản
thế chấp thì khi chấm dứt thế chấp phải hoàn trả cho bên thế chấp giấy tờ về tài
sản thế chấp.
16


+ Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng kí giao dịch bảo đảm xóa
đăng ký trong các trường hợp quy định tại các điều 355, 356 và 357 của Bộ
luật này.
 Bên thứ ba giữ tài sản thế chấp
 Quyền của bên thứ ba giữ tài sản thế chấp ( theo điều 353 -Luật Dân sự
2005)
+ Được khai thác công dụng của tài sản thế chấp, hưởng hoa lợi, lợi tức từ
tài sản thế chấp nếu có thỏa thuận.
+ Được trả thù lao và được thanh toán chi phí bảo quản, giữ gìn tài sản thế
chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
 Nghĩa vụ của người thứ ba giữ TSTC ( theo điều 252- Luật Dân sự 2005)
+ Bảo quản, giữ gìn TSTC, nếu làm mất TSTC, làm mất giá trị hoặc giảm
sút giá trị của tài sản thế chấp thì phải bồi thường.
+ Không được khai thác công dụng của TSTC, trong trường hợp quy định
tại khoản 1 điều 353 của Bộ luật này, nếu việc tiếp tục khai thác có nguy cơ
làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của TSTC.
+ Giao lại TSTC cho bên nhận thế chấp hoặc bên thế chấp theo thỏa thuận.
c, Các loại thế chấp
- Căn cứ vào nội dung pháp lý, thế chấp chia làm 2 loại:
+ Thế chấp pháp lý: là hình thức thế chấp cho người đi vay ( người thế
chấp) thỏa thuận chuyển quyền sở hữu cho ngân hàng khi không thực hiện
được nghĩa vụ trả nợ. Theo hình thức này, khi người đi vay không thanh toán
được nợ ngân hàng được quyền bán tài sản hoặc cho thuê với tư cách là người
sở hữu mà không cần thực hiện các thủ tục tố tụng để nhờ sự can thiệp của tòa
án.
+ Thế chấp công bằng ( thế chấp thông thường) là hình thức thế chấp trong
đó ngân hàng chỉ nắm giữ giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản hoặc giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất để bảo đảm cho món vay. Khi người đi vay
không thực hiện được nghĩa vụ theo hợp đồng, việc xử lý tài sản phải dựa trên
17


sự thỏa thuận của người đi vay và người cho vay hoặc phải nhờ đến sự can
thiệp của tòa án nếu có tranh chấp.
- Căn cứ vào thứ tự thế chấp:
+ Thế chấp thứ nhất: là việc thế chấp tài sản để bảo đảm cho món nợ thứ
nhất được xác định trong mối tương quan giữa các khoản vay có thế chấp, tức
là việc sử dụng một tài sản làm bảo đảm cho nhiều khoản vay và thế chấp cho
khoản vay đầu tiên đang tồn tại gọi là thế chấp thứ nhất.
+ Thế chấp thứ hai: là hình thức thế chấp trong đó người đi vay sử dụng
phần giá trị chênh lệch giữa giá trị tài sản thế chấp với khoản nợ thứ nhất được
bảo đảm bằng tài sản đó để bảo đảm cho khoản nợ thứ hai.
- Căn cứ vào phạm vi thế chấp:
+ Thế chấp toàn bộ bất động sản: là hình thức thế chấp bất động sản trong
đó nếu bất động sản có vật phụ thì vật phụ cũng thuộc tài sản thế chấp.
+ Thế chấp một phần bất động sản: với hình thức thế chấp này, nếu bất
động sản có vật phụ thì vật phụ chỉ thuộc tài sản thế chấp nếu có thỏa thuận.
* Cầm cố, thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốn vay
Là việc khách hàng vay dùng chính tài sản hình thành từ vốn vay làm
TSBĐ thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chính khoản vay đó đối với tổ chức tín
dụng.
Tài sản hình thành trong tương lai là tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm
sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết. Tài
sản hình thành trong tương lai bao gồm cả tài sản đã được hình thành tại thời
điểm giao dịch bảo đảm, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm mới
thuộc sở hữu của bên bảo đảm.
Trong trường hợp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản hình thành
trong tương lai thì khi bên bảo đảm có quyền sở hữu đối với một phần hoặc
toàn bộ tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm có các quyền đối với một phần
hoặc toàn bộ tài sản đó. Đối với tài sản phải đăng kí quyền sở hữu mà bên bảo
đảm chưa đăng kí thì bên nhận bảo đảm vẫn có quyền xử lý tài sản khi đến hạn
18


xử lý.
 Bảo đảm đối nhân (Bảo lãnh).
* Khái niệm:
Theo điều 361- Bộ Luật Dân sự: " Bảo lãnh là việc người thứ ba ( người
bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ
thay thế cho bên có nghĩa vụ( bên được bảo lãnh), nếu khi đến hạn mà bên
được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên
cũng có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ khi bên
được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình."
Người bảo lãnh là người thực hiện nghĩa vụ thay cho người đi vay đối với
người cho vay (ngân hàng). Người bảo lãnh có thể là cá nhân hoặc pháp nhân.
Người nhận bảo lãnh là người chủ nợ, người hưởng thụ bảo lãnh, trong quan
hệ tín dụng thì đó là các ngân hàng cho vay. Người được bảo lãnh là người đi
vay, người có nghĩa vụ phải thanh toán nợ cho ngân hàng vay.
+ Trong quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và người đi vay được thể hiện
trên hợp đồng tín dụng, ngân hàng là người có quyền yêu cầu người đi vay
thanh toán nợ khi đáo hạn.
+ Người bảo lãnh và người đi vay thỏa thuận về việc bảo lãnh, việc thực
hiện nghĩa vụ thay khi người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ.
+ Người bảo lãnh cam kết với ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho
người đi vay khi khoản nợ đáo hạn mà người đi vay không thực hiện được.
* Phân loại bảo lãnh
- Căn cứ vào hình thức bảo lãnh:
+ Bảo lãnh bằng tài sản: Là hình thức bảo lãnh trong đó bên bảo lãnh phải
có tài sản để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Việc bảo lãnh bằng tài sản có thể
kèm theo biện pháp thế chấp hoặc cầm cố tài sản để thực hiện nghĩa vụ.
+ Bảo lãnh bằng uy tín: Là hình thức bảo lãnh chỉ dựa vào uy tín của người
bảo lãnh. Theo quy định hiện hành bên bảo lãnh không phải là tổ chức tín dụng
19


chỉ được bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của mình. Còn các tổ chức tín
dụng có thể bảo lãnh bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người
nhận bảo lãnh.
- Căn cứ vào phạm vi bảo lãnh:
+ Bảo lãnh toàn bộ: là hình thức bảo lãnh trong đó người bảo lãnh cam kết
thực hiện thay toàn bộ nghĩa vụ của người được bảo lãnh nếu người đó không
thực hiện được nghĩa vụ của mình khi đến hạn.
+ Bảo lãnh một phần: là hình thức bảo lãnh trong đó người bảo lãnh chỉ
cam kết thực hiện thay một phần nghĩa vụ khi người được bảo lãnh không thực
hiện được nghĩa vụ của mình. Trong trường hợp này phải ghi rõ số tiền bảo
lãnh.
- Căn cứ vào nghĩa vụ phải bảo lãnh:
+ Bảo lãnh riêng biệt: là hình thức bảo lãnh được áp dụng cho một số tiền
vay cụ thể theo hợp đồng tín dụng và được hạch toán riêng trên tài khoản cho
vay.
+ Bảo lãnh duy trì: là hành vi bảo lãnh cho một loạt các giao dịch và mức
bảo lãnh theo hạn mức tối đa. Phương thức bảo lãnh này được áp dụng khi cho
vay bằng kĩ thuật thấu chi trên tài khoản vãng lai.
1.2.2 Quy trình thực hiện bảo đảm tín dụng
1.2.2.1. Nhận và kiểm tra hồ sơ bảo đảm
Quy trình tín dụng bắt đầu từ khâu lập hồ sơ tín dụng. Trong giai đoạn này
cán bộ tín dụng yêu cầu khách hàng vay vốn lập các tài liệu liên quan đến
khách hàng, phương án kinh doanh và tài sản bảo đảm. Việc nhận và kiểm tra
hồ sơ tài sản bảo đảm là một phần trong khâu lập hồ sơ tín dụng. Với bước này,
nhiệm vụ chủ yếu của cán bộ tín dụng là kiểm tra về tính đầy đủ của hồ sơ bảo
đảm so với hồ sơ tín dụng.
1.2.2.2. Thẩm định tài sản bảo đảm
Ngân hàng sẽ phải thẩm định đánh giá tài sản khi áp dụng phương pháp
cho vay có tài sản bảo đảm đối với khách hàng. Việc thẩm định đánh giá tài
20


sản có ý nghĩa rất quan trọng nhằm xác định tính hợp pháp của giao dịch bảo
đảm, bảo về quyền lợi của cả khách hàng và ngân hàng, làm cơ sở để định giá
tài sản.
*Việc thẩm định các điều kiện của tài sản bảo đảm phải thực hiện trên các
khía cạnh sau:
+ Thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên bảo đảm
+ Được phép giao dịch và không có tranh chấp
+ Được mua bảo hiểm đối với những tài sản Nhà nước quy định phải mua
bảo hiểm.
+ Xem xét đánh giá tính thị trường của tài sản bảo đảm
+ Đánh giá xu hướng biến động giá trị tài sản
+ Đánh giá giá trị tài sản
*Việc thẩm định tài sản bảo đảm thực hiện dựa vào 3 nguồn thông tin:
+ Hồ sơ tài liệu và thông tin do khách hàng cung cấp: Đây là nguồn thông
tin chủ yếu để xem xét đánh giá tình trạng và giá trị của tài sản bảo đảm vì vậy
cần cố gắng thu nhập càng nhiều càng tốt. Tuy nhiên cũng cần chú ý, nguồn
thông tin của khách hàng luôn có ý muốn chủ quan để làm tốt hồ sơ tín dụng
do đó cũng cần chú ý đánh giá mức độ chính xác của nguồn thông tin này.
+ Khảo sát thực tế: Khảo sát thực tế nhằm khẳng định lại các thông tin mà
khách hàng cung cấp và phát hiện những vấn đề mới cần thẩm định tiếp. Kết
quả khảo sát thực tế phải được lập thành biên bản làm việc và có ít nhất hai
chữ kí nhằm bảo đảm tính khách quan của việc thẩm định.
+ Các nguồn khác (Chính quyền địa phương, công an, tòa án, cơ quan
đăng kí giao dịch bảo đảm,...): Thực tế cho thấy những thông tin lấy từ nguồn
này thường mang tính chất khách quan và chính xác cao. Kết quả buổi làm
việc với cơ quan hữu quan cũng phải ghi chép lại, có chữ kí của ít nhất hai
người và được lưu giữ cũng các hồ sơ khác.
Việc xác định tính chất pháp lý về quyền sở hữu tài sản hoặc quyền sử
dụng đất thực ra không quá phức tạp nhưng ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn và
21


xảy ra nhiều rủi ro liên quan đến thủ tục pháp lý do những nguyên nhân sau:
 Nhiều loại tài sản chưa thực hiện việc đăng kí tài sản và cấp giấy
chứng nhận về quyền sở hữu tài sản như nhà ở vùng nông thôn, các cơ sở kinh
doanh. Riêng đối với doanh nghiệp nhà nước việc thế chấp chỉ dựa trên cơ sở
giấy xác nhận của cơ quan quản lý vốn nhà nước.
 Các cơ quan quản lý nhà nước chưa quản lý hết tài sản có đăng kí hoặc
quản lý phân tán ở nhiều đơn vị. Từ đó không xác định được một cách chắc
chắn các giấy tờ hợp pháp về sở hữu tài sản. Như trường hợp có cá nhân có 2
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sử dụng nó để thế chấp cho hai ngân
hàng.
 Đất đã giao cho cá nhân và tổ chức sử dụng nhưng chưa cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Sự thiếu đồng bộ này sẽ dẫn đến tranh chấp về
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong các hợp đồng thế chấp.
1.2.2.3. Định giá tài sản bảo đảm
Về nguyên tắc, việc định giá tài sản bảo đảm phải thực hiện theo giá thị
trường. Nếu định giá cao hơn giá thị trường có thể sẽ dẫn đến khi phát mại tài
sản thế chấp (hoặc chuyển quyền sở hữu cho ngân hàng) trong trường hợp
khách hàng không trả được nợ thu hồi đủ gốc, lãi và các khoản chi phí khác.
Nếu định giá thấp hơn giá thị trường thì an toàn cho ngân hàng nhưng sẽ ảnh
hưởng đến việc đáp ứng nhu cầu vốn cho khách hàng và làm suy yếu tính cạnh
tranh trong việc thu hút khách hàng.
Định giá tài sản là một công việc phức tạp đòi hỏi phải có các cán bộ có
chuyên môn và nhiều kinh nghiệm. Đối với tài sản có giá trị lớn, phức tạp cần
thiết phải thuê các tổ chức tư vấn để thực hiện định giá tài sản thế chấp.
1.2.2.4. Xác định mức cho vay tối đa theo giá trị tài sản bảo đảm
Có 3 căn cứ để ngân hàng xác định mức cho vay đối với một khách hàng
đó là: Nhu cầu vốn của khách hàng, khả năng đáp ứng nhu cầu của ngân hàng
và giá trị của tài sản bảo đảm. Tài sản bảo đảm là nguồn thu nợ thứ hai vì vậy
22


thông thường giá trị tài sản thế chấp khi thanh lý dưới hình thức chuyển
nhượng để thu hồi nợ ( phát mại hoặc chuyển quyền sở hữu cho ngân hàng)
phải lớn hơn số tiền vay ban đầu cộng với lãi và các chi phí liên quan khác.
Như vậy giá trị tài sản thế chấp dùng để tính toán ở đây là giá trị dự kiến cho
tương lai, tuy nhiên để đơn giản hóa việc tính toán các ngân hàng thường điều
chỉnh tỷ lệ cho vay so với giá của tài sản thế chấp. Đối với tài sản có giá trị ổn
định thì áp dụng tỷ lệ cho vay cao, còn đối với các tài sản thế chấp có xu
hướng giảm giá hoặc giá cả biến động thất thường thì áp dụng tỷ lệ cho vay
thấp. Các ngân hàng được quyền quyết định tỷ lệ cho vay thích hợp so với giá
trị tài sản bảo đảm, trừ trường hợp thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốn vay.
* Nguyên tắc khi cấp tín dụng:
 Mức tín dụng cấp phải nhỏ hơn giá thị trường của TSBĐ ( để đảm bảo
thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi vay và các chi phí liên quan khác trong
trường hợp người đi vay không trả được nợ.
 Duy trì tỷ cho vay trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng tín dụng
( hiện nay các ngân hàng thường áp dụng tỷ lệ cho vay so với giá trị tài sản bảo
đảm là 50-70%).
 Có những ngân hàng chấp nhận cho vay các bảo đảm bằng sổ tiết kiệm
do chính ngân hàng mình phát hành với tỷ lệ đến 90-95% giá trị sổ tiết kiệm.
Tuy nhiên việc bảo đảm này cũng chứa đựng nhiều rủi ro xuất phát từ chính
thái độ chủ quan của ngân hàng đối với TSBĐ. Do đó ngân hàng cần đảm bảo
thực hiện đúng đầy đủ các quy định về quy trình cho vay cầm cố thế chấp và
cho vay với tỷ lệ an toàn so với giá trị của TSBĐ.
1.2.2.5. Lập hợp đồng bảo đảm
Hợp đồng tín dụng thường được kí kết cùng với hợp đồng tín dụng sau khi
các giấy tờ thủ tục liên quan được hoàn tất. Tùy theo hình thức bảo đảm và loại
tài sản bảo đảm được lập riêng hay nằm trong hợp đồng tín dụng, phải có công
chứng của Nhà nước theo quy định và đăng kí giao dịch bảo đảm hay không.
Một trong những vấn đề khó khăn nhất hiện nay đối với các ngân hàng là
23


việc công chứng và đăng kí giao dịch bảo đảm. Thời gian công chứng là một
trong những vấn đề nan giải của bộ máy hành chính hiện nay. Khó khăn thứ
hai liên quan đến việc công chứng là công chứng đối với tài sản hình thành từ
vốn vay. Thực tế hình thức bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay là hình
thức bảo đảm có nhiều tiện ích cho khách hàng vay vốn đặc biệt đối với doanh
nghiệp vừa và nhỏ.
Bên cạnh những khó khăn về công chứng, việc đăng kí giao dịch bảo đảm
cũng có nhiều vấn đề gây nên nhiều tranh chấp trong thời gian qua.
 Khó khăn đầu tiên là hệ thống các cơ quan chịu trách nhiệm đăng kí
giao dịch bảo đảm quá nhiều, phân tán ở nhiều nơi, từng loại tài sản khác nhau
lại phải đăng kí ở một cơ quan khác nhau: Tàu biển phải đăng kí tại cơ quan
đăng kí tàu biển và thuyền viên khu vực; máy bay phải đăng kí tại Cục hàng
không dân dụng Việt Nam; Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất
nếu bên bảo đảm là tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ
chức nước ngoài, người nước ngoài phải đăng kí tại phòng đăng kí thuộc Sở tài
nguyên môi trường, nếu bên đảm bảo là hộ gia đình, cá nhân là người Việt
Nam sinh sống tại Việt Nam thì đăng kí tại phòng đăng kí thuộc Phòng Tài
Nguyên môi trường...
 Khó khăn thứ hai liên quan đến việc đăng kí giao dịch bảo đảm bằng
tài sản hình thành từ vốn vay. Như trên đã phân tích, quan điểm về đối tượng
của hợp đồng bảo đảm phải có thật của các công chứng viên gây không ít khó
khăn cho việc đăng kí giao dịch bảo đảm đối với giao dịch bảo đảm bằng tài
sản hình thành trong tương lai.
1.2.2.6. Tái định giá tài sản bảo đảm và xử lý sau tái định giá
Tài sản bảo đảm có những mức biến động giá nhất định hoặc bất thường
trong suốt thời gian khách hàng vay vốn. Sự biến động này được ghi nhận tại
một tài khoản ngoại bảng của phòng kế toán. Trong cho vay trung dài hạn,
hàng năm ngân hàng phải đánh giá lại giá trị của tài sản bảo đảm nhằm duy trì
tỷ lệ cho vay trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng. Nếu giá trị của tài sản
24


bảo đảm bị giảm sút thì ngân hàng phải xử lý theo một trong hai cách sau:
 Yêu cầu khách hàng vay vốn bổ sung tài sản bảo đảm
 Thu hồi phần nợ thiếu bảo đảm.
Nợ gốc* Giá trị tái định giá
Giá trị thu hồi = Nợ gốc Giá trị định giá ban đầu
1.2.2.7. Xử lý tài sản bảo đảm khi đáo hạn
Khi hợp đồng tín dụng hết thời hạn có hai tình huống xảy ra: Thứ nhất
khách hàng thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi vay cho ngân hàng, khi
đó ngân hàng tiến hành các thủ tục giải chấp và thanh lý hợp đồng tín dụng
nhằm trả lại các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu hay trả lại tài sản cầm cố
cho khách hàng. Trường hợp thứ hai là khách hàng không thực hiện được
nghĩa vụ trả nợ của mình. Với trường hợp này ngân hàng phải tiến hành xử lý
tài sản bảo đảm để thu hồi nợ gốc, lãi và các chi phí liên quan khác. Việc xử lý
tài sản là một biện pháp thu hồi nợ khó đòi, tuy nhiên vấn đề đặt ra là khi nào
thì phát sinh việc xử lý tài sản bảo đảm. Thông thường ngân hàng sẽ tiến hành
xem xét khả năng trả nợ của khách hàng của khách hàng và cho gia hạn nợ nếu
xét thấy khó khăn của khách hàng chỉ là tạm thời vẫn còn có khả năng thanh
toán. Mục tiêu của ngân hàng không phải là bắt nợ khách hàng mà là cố gắng
tối đa để khách hàng trả nợ cho mình.
Việc xem xét đến tài sản bảo đảm chỉ nên áp dụng khi ngân hàng đánh giá
khách hàng không còn khả năng trả nợ, phương án kinh doanh của khách hàng
không còn tính khả thi hoặc doanh nghiệp bị phá sản.
* Nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm:
- Khi đến hạn mà khách hàng vay , bên bảo lãnh không thực hiện hoặc
thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với TCTD thì tài sản bảo đảm được xử lý
để thu hồi nợ.
- Tài sản bảo đảm phải được xử lý theo các phương thức mà các bên đã
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×