Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận thị trường của hộ trồng hoa, cây cảnh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Bộ giáo dục đào tạo
Trờng đại học nông nghiệp hà nội
........................

Nguyễn tiến hùng

Nghiên cứu giải pháp nâng cao khả năng
tiếp cận thị trờng của hộ trồng hoa, cây cảnh
trên địa bàn tỉnh bắc ninh

Luận văn thạc sĩ kinh tế
Chuyên ngành

: kinh tế nông nghiệp

Mã số

: 60.31.10

Ngời hớng dẫn khoa học


: TS. Trần hữu cờng

Hà Nội - 2009


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi,
được sự hướng dẫn của TS.Trần Hữu Cường. Các số liệu và kết quả nghiên
cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một
học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 06 tháng 9 năm 2009
Tác giả

Nguyễn Tiến Hùng

i


LỜI CẢM ƠN
Trước hết với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tôi xin được
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS.Trần Hữu Cường, người đã định
hướng, trực tiếp hướng dẫn và đóng góp ý kiến cụ thể cho kết quả cuối cùng để
tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ, giáo viên bộ môn Phát triển
nông thôn và toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế và PTNT - Trường
Đại Học Nông nghiệp Hà Nội.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo đã trực tiếp
giảng dạy tôi trong quá trình học tập tại trường và các thầy cô giáo Khoa Sau
Đại Học - Trường Đại Học Nông nghiệp Hà Nội.
Tôi xin trân thành cảm ơn tập thể cán bộ Sở Khoa học Công nghệ –
tỉnh Bắc Ninh, UBND thành phố Bắc Ninh cùng các phòng ban chuyên môn
của uỷ ban, Chính quyền các xã phường (Phường Võ Cường, Xã Phú Lâm,
Thị Trấn Thứa) và toàn thể các hộ gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi nhất
giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Xin cảm ơn sự giúp đỡ, động viên của tất cả bạn bè, đồng nghiệp, gia đình
và những người thân đã là điểm tựa về tinh thần và vật chất cho tôi trong suốt
thời gian học tập nghiên cứu và hoàn thành luận văn.

Dù đã có nhiều cố gắng, tuy nhiên không tránh khỏi những thiếu sót trong
quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn. Rất mong nhận được sự đóng góp ý
kiến của các thầy cô và các bạn.
Hà Nội, ngày 06 tháng 8 năm 2009
Tác giả

Nguyễn Tiến Hùng

ii


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BQ
CC
CNH – HĐH
DT
ĐVT
HTX
KT - XH

NN
PT
SL
TMDV
TTCN
UBND
XH
PTNT
TB
CP


TT
Trđ
TNHH
NL
TS
CN&XD
XHCN
SX

Bình quân
Cơ cấu
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
Diện tích
Đơn vị tính
Hợp tác xã
Kinh tế - xã hội
Lao động
Nông nghiệp
Phát triển
Số lượng
Thương mại dịch vụ
Tiểu thủ công nghiệp
Uỷ ban nhân dân
Xã hội
Phát triển nông thôn
Trung bình
Chi phí
Nghị định
Quyết định
Thị trấn
Triệu đồng
Trách nhiệm hữu hạn
Nông lâm
Thuỷ sản
Công nghiệp và xây dựng
Xã hội chủ nghĩa
Sản xuất

iii


MỤC LỤC
Lời cam đoan

i

Lời cảm ơn

ii

Danh mục các chữ viết tắt

iii

Mục lục

iv

Danh mục các bảng

v

Danh mục các biểu đồ

vi

1. ĐẶT VẤN ĐỀ..............................................................................................1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài..............................................................................................1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài....................................................................................2
1.2.1 Mục tiêu chung......................................................................................................2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể......................................................................................................2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................................3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu............................................................................................3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu...............................................................................................3

2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ........................................................4
2.1. Cơ sở lý luận................................................................................................................4
2.1.1 Khái niệm về thị trường........................................................................................4
2.1.2 Tiếp cận thị trường và tiếp cận thị trường trong nông hộ.....................................5
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận thị trường.......................................................9
Ngoài ra, quy mô về đất đai và vốn đầu tư cho sản xuất hoa, cây cảnh của hộ cũng phần
lớn quyết định đến khả năng tiếp cận thị trường của hộ. Với những quy mô khác nhau
thì người sản xuất tiếp cận với thị trường ở mức độ khác nhau.......................................18
Nguồn lực về vốn và đất đai của hộ sẽ quyết định đến quy mô và hướng đầu tư cho sản
xuất, kinh doanh của hộ. Từ đó ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng tiếp cận thị trường của
hộ. Để đáp ứng được quy mô của sản xuất kinh doanh buộc hộ phải tiếp cận và tìm kiếm
thị trường đầu vào và đầu ra cho sản phẩm. Cũng chính khả năng tiếp cận thị trường đầu
vào và đầu ra của hộ sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới quy mô sản xuất của hộ: những hộ tiếp
cận thị trường tốt hơn, dễ dàng hơn sẽ có xu hướng mở rộng quy mô và đầu tư mạnh mẽ
cho sản xuất kinh doanh; ngược lại những hộ tiếp cận thị trường khó khăn hơn thường
giữ nguyên hoặc thu hẹp quy mô sản xuất kinh doanh của mình....................................18
2.1.4 Tiếp cận thị trường của hộ trồng hoa, cây cảnh..................................................18
2.2. Cơ sở thực tiễn..........................................................................................................20
2.2.1. Tình hình tiếp cận thị trường hoa, cây cảnh trên thế giới..................................20
2.2.2. Khái quát tình hình phát triển và tiếp cận thị trường hoa, cây cảnh ở Việt Nam
......................................................................................................................................22

3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..............29
3.1 Đặc điểm tỉnh Bắc Ninh.............................................................................................29

iv


3.1.1 Đặc điểm tự nhiên...............................................................................................29
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội ...................................................................................31
3.1.3 Phương hướng, mục tiêu và các nhiệm vụ chủ yếu phát triển kinh tế-xã hội tỉnh
Bắc Ninh đến năm 2015...............................................................................................34
3.2 Đặc điểm các xã nghiên cứu.......................................................................................37
3.2.1. Vị trí điạ lý, điều kiện tự nhiên..........................................................................37
3.2.2. Điều kiện kinh tế xã hội.....................................................................................38
3.3 Phương pháp nghiên cứu............................................................................................40
3.3.1 Phương pháp chọn điểm, chọn mẫu nghiên cứu.................................................40
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu .............................................................................42
3.3.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin...........................................................44
3.3.4 Phương pháp phân tích số liệu............................................................................44
3.3.5 Hệ thống chỉ tiêu trong nghiên cứu.....................................................................45

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN........................................46
4.1. Tình hình phát triển sản xuất hoa, cây cảnh của tỉnh Bắc Ninh................................46
4.2.2 Một số thông tin chung về các hộ điều tra..........................................................52
4.3 Thực trạng tiếp cận thị trường của các hộ trồng hoa, cây cảnh..................................60
4.3.1. Tiếp cận thị trường đầu vào của sản xuất hoa cây cảnh.....................................60
4.3.2. Tiếp cận thị trường đầu ra của sản xuất hoa cây cảnh........................................76
4.4 Tác động của tiếp cận thị trường đến quá trình sản xuất kinh doanh của hộ trồng
hoa, cây cảnh....................................................................................................................85
4.4.1 Tác động của tiếp cận thị trường đến giá đầu vào, đầu ra và thu nhập của hộ....85
4.4.2 Tác động của tiếp cận thị trường đến quá trình sản xuất hoa, cây cảnh của hộ
thông qua quá trình chuyên môn hóa và thâm canh hóa..............................................91
4.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận thị trường của các hộ trồng hoa cây cảnh..........93
4.5.1 Các yếu tố ảnh hưởng tới mức độ tiếp cận thị trường của hộ trồng hoa, cây cảnh
......................................................................................................................................93
4.5.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực tiếp cận thị trường của hộ trồng hoa, cây
cảnh..............................................................................................................................97
4.6 Định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao khả năng tiếp cận thị trường
của các hộ trồng hoa, cây cảnh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.............................................99
4.6.1 Cơ sở khoa học của định hướng và giải pháp.....................................................99
4.6.2 Các giải pháp chủ yếu nâng cao khả năng tiếp cận thị trường cho các hộ trồng
hoa, cây cảnh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh...................................................................102

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................110
5.1 KẾT LUẬN..............................................................................................................110

v


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Các loại hoa, cây cảnh trồng phổ biến ở Việt Nam....................................24
Bảng 2.2: Các loại hoa, cây cảnh xuất khẩu của Việt Nam, năm 2007.........................26
Bảng 2.3: Quy hoạch diện tích sản xuất hoa, cây cảnh trên cả nước
(Bộ NN & PTNT từ năm 2006 – 2010)........................................................27
Bảng 3.1: Khái quát chung về tình hình kinh tế xã hội của Tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn
2006 – 2008..............................................................................................32
Bảng 3.2: Hiện trạng sử dụng đất đai của các xã nghiên cứu năm 2008.......................38
Bảng 3.3: Tình hình dân số lao động của các xã nghiên cứu năm 2008.......................40
Bảng 3.4: Phân bổ mẫu điều tra hộ........................................................................42
Bảng 4.1: Tình hình phát triển trồng hoa, cây cảnh của tỉnh Bắc Ninh.........................47
Bảng 4.2: Khái quát tình hình phát triển sản xuất hoa, cây cảnh tại các xã nghiên cứu....50
Bảng 4.3: Một số thông tin về nhóm hộ điều tra......................................................56
Bảng 4.4: Tình hình sử dụng đất đai và quy mô sản xuất hoa cây cảnh........................59
Bảng 4.5: Tình hình tiếp cận các nguồn đất đai của các hộ điều tra.............................61
(tính bình quân một hộ điều tra)............................................................................61
Bảng 4.6: Tình hình tiếp cận các nguồn vốn
cho sản xuất hoa, cây cảnh của hộ...............................................................64
Bảng 4.7: Tình hình sử dụng lao động của các hộ trồng hoa, cây cảnh........................67
Bảng 4.9: Giá và chi phí đầu tư một số giống hoa, cây cảnh chủ yếu của hộ.................74
(tính bình quân trên một sào hoa cây cảnh).............................................................74
Bảng 4.10: Giá một số loại phân bón chủ yếu sử dụng cho trồng hoa, cây cảnh............75
Bảng 4.11: Tình hình tiêu thụ các loại hoa, cây cảnh của các nhóm hộ........................80
Bảng 4.12: Giá bán một số loại hoa, cây cảnh của các hộ điều tra qua các kênh............82
Bảng 4.13: Chi phí, doanh thu và lợi nhuận một số loại hoa của các nhóm hộ..............89
Bảng 4.14: Chi phí, doanh thu và lợi nhuận một số loại cây cảnh của các
nhóm hộ.................................................................................................89

vi


DANH MỤC ĐỒ THỊ
Biểu đồ 4.1: Chi phí cây giống bình quân/sào
của một số giống hoa, cây cảnh chủ yếu..........................................................73
Biều đồ 4.2: So sánh giá một số loại phân bón chủ yếu sử dụng cho trồng hoa,
cây cảnh của các nhóm hộ................................................................................76
Biểu đồ 4.3: Hình thức tiêu thụ hoa, cây cảnh của các nhóm hộ.....................78
Biểu đồ 4.4: So sánh giá bán một số loại hoa chủ yếu của các nhóm hộ.........84

vii


1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội đời sống của người dân đang
được nâng cao, nhu cầu thưởng thức cái đẹp ngày càng lớn dẫn đến nhu cầu
tiêu thụ hoa, cây cảnh cũng gia tăng. Sản xuất hoa, cây cảnh đang trở thành
một ngành mang lại lợi nhuận lớn. Nắm bắt được nhu cầu của thị trường
nhiều hộ trồng hoa, cây cảnh đã phát triển thành các trại hoa, cây cảnh với
quy mô lớn, đầu tư hệ thống nhà lưới kiên cố, sản xuất với số lượng lớn.
Hiện nay, nước ta có 10 vùng sản xuất hoa, cây cảnh lớn bao gồm: Đà Lạt,
Mê Linh – Vĩnh Phúc, Tây Tựu – Hà Nội, Hành Bồ – Quảng Ninh, Đằng
Hải – Hải Phòng,… Tuy nhiên, lượng hoa, cây cảnh sản xuất chưa đáp ứng
được nhu cầu thị trường trong nước.
Trong những năm gần đây, do quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa
đã làm cho diện tích đất nông nghiệp giảm đi đáng kể. Nông hộ bị thu hẹp tư
liệu sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người dân. Bắc Ninh
cũng là một trong những tỉnh có tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh,
diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm mạnh. Nằm trong vùng đồng bằng
châu thổ sông Hồng nên Bắc Ninh rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp
nói chung đặc biệt phát triển hoa, cây cảnh. Mặt khác, Bắc Ninh nằm liền kề
với thủ đô Hà Nội, một thị trường lớn về tiêu thụ hoa, cây cảnh. Không
những vậy năm 2007 thị xã Bắc Ninh được công nhận thành phố đô thị loại
3 với hơn 15 vạn dân. Đây là một thị trường đầy tiềm năng đối với ngành
sản xuất hoa, cây cảnh. Vì vậy, việc hình thành và phát triển các vùng
chuyên canh sản xuất hoa, cây cảnh là một tất yếu.
Những năm qua, Bắc Ninh đã có một số chủ chương, chính sách hỗ
trợ phát triển trồng hoa, cây cảnh như hỗ trợ về vốn, tập huấn và chuyển
giao kỹ thuật trồng hoa, cây cảnh,.. cho các hộ trồng hoa. Tuy nhiên, còn

1


bộc lộ một số tồn tại như: quy mô sản xuất kinh doanh hoa cây cảnh của các
hộ còn nhỏ lẻ, khả năng tiếp cận thị trường của hộ chưa cao, khả năng đáp
ứng nhu cầu của thị trường còn thấp, các hộ còn gặp nhiều khó khăn trong
việc tiếp cận thị trường đầu vào và thị trường đầu ra,… Vì vậy các hộ chưa
mạnh dạn đầu tư mở rộng quy mô sản xuất.
Mặt khác, do nhu cầu hoa cây cảnh trên thị trường khu vực có xu
hướng tăng nhanh, thị hiếu tiêu dùng cũng có nhiều thay đổi theo hướng chất
lượng ngày càng cao và chủng loại ngày càng đa dạng, đòi hỏi việc sản xuất
vừa phải mở rộng quy mô, vừa phải thâm canh đi đôi với ứng dụng một số
công nghệ cao. Chính vì vậy, quy mô sản xuất hiện nay không thể đáp ứng
được nhu cầu của thị trường.
Câu hỏi đặt ra là: các hộ trồng hoa tiếp cận thị trường như thế nào?,
đang gặp những khó khăn gì trong việc tiếp cận thị trường?, và cần phải có
những giải pháp cụ thể nào để tăng khả năng tiếp cận thị trường của hộ trồng
hoa, cây cảnh?, từ đó góp phần thúc đẩy phát triển nghề trồng hoa, cây cảnh
trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh… Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận thị trường của
hộ trồng hoa, cây cảnh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng tiếp cận thị trường của hộ trồng hoa, cây cảnh trên
địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao khả năng tiếp
cận thị trường của hộ trồng hoa, cây cảnh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về tiếp cận thị trường
và tiếp cận thị trường hoa cây cảnh.

2


- Đánh giá thực trạng khả năng tiếp cận thị trường của hộ trồng hoa, cây
cảnh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
- Đề xuất những giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận thị trường của hộ trồng
hoa, cây cảnh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong những năm tới.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu khả năng tiếp cận thị trường của hộ trồng hoa, cây cảnh
trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
- Đối tượng cụ thể là khả năng tiếp cận thị trường các yếu tố đầu vào và
thị trường tiêu thụ sản phẩm của những hộ trồng hoa và cây cảnh.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi nội dung
Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng tiếp cận thị trường đầu vào và đầu ra của
hộ trồng hoa, cây cảnh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, từ đó đề xuất một số giải
pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận thị trường của các hộ trồng hoa, cây
cảnh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
1.3.2.2 Phạm vi về không gian
Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
1.3.2.3 Phạm vi thời gian
Thời gian đánh giá thực trạng 2006 – 2008; Thời gian đưa ra định hướng
và giải pháp đến 2015.

3


2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm về thị trường
Thị trường gắn liền với quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá, nó ra đời
và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của sản xuất lưu thông hàng hoá.
Thị trường có thể hiểu là: “Thị trường là tổng hoà các mối quan hệ mua
bán”, “thị trường là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu”, “thị trường là nơi trao đổi
hàng hoá” hay “thị trường là cái chợ”…[9]
Thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu
cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thoả
mãn nhu cầu và mong muốn đó.[1]
Theo Mc Carthy: “Thị trường có thể hiểu là các nhóm hàng tiềm năng
với những nhu cầu tương tự (giống nhau) và những người bán đưa ra các sản
phẩm khác nhau với các cách thức khác nhau để thoả mãn nhu cầu đó”.[9]
Thị trường là một tập hợp các dàn xếp mà thông qua đó người bán và
người mua tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hoá, dịch vụ.
Thị trường là một khuôn khổ vô hình trong đó người này tiếp xúc với
người kia để trao đổi một thứ gì đó khan hiếm và trong đó họ cùng xác định
giá cả và số lượng trao đổi.
Thị trường là sự biểu hiện ngắn gọn quá trình mà nhờ đó các quyết
định của các hộ gia đình về việc tiêu dùng các hàng hoá khác nhau, các
quyết định của các doanh nghiệp về việc sản xuất cái gì và như thế nào, các
quyết định của công nhận về làm việc bao lâu và cho ai được điều hoà bởi sự
điều chỉnh giá cả.[6]
Cho dù thị trường được khái niệm bằng cách nào đi chăng nữa cũng
không thể tách khỏi quan điểm cốt lõi: Thị trường là nơi mua bán, là nơi gặp
gỡ để tiến hành hoạt động mua bán giữa người mua và người bán, được tiến
hành trong một thời điểm và một không gian nhất định.

4


2.1.2 Tiếp cận thị trường và tiếp cận thị trường trong nông hộ
2.1.2.1 Khái niệm về tiếp cận thị trường (Market access)
Có nhiều khái niệm khác nhau về tiếp cận thị trường:
Theo tổ chức FAO năm 1989 thì: “Tiếp cận thị trường bao gồm việc
tìm hiểu xem các khách hàng của bạn cần gì và cung cấp cái đó cho họ mà
vẫn có lãi”.[8]
Theo Nutilus Consultants 1987 thì: Tiếp cận thị trường là các hoạt động
thương mại liên quan đến việc chuyển sản phẩm từ người sản xuất tới người
tiêu dùng hoặc người sử dụng cuối cùng.[8]
Ngoài ra còn một số khái niệm khác về tiếp cận thị trường như:
- “Tiếp cận thị trường là một quá trình hoặc một hệ thống, một loạt các
hoạt động và sự việc có liên quan móc xích, và toàn bộ nhằm mang lại sự thỏa
mãn cho khách hàng”.[8]
- “Tiếp cận thị trường là việc xác định nhu cầu của khách hàng và cung
cấp một hoặc nhiều sản phẩm thỏa mãn các nhu cầu đó với giá cả có thể chấp
nhận được đối với khách hàng mà đồng thời người bán vẫn có lãi”. [8]
- “Tiếp cận thị trường là một hệ thống các hoạt động và phân hệ ảnh
hưởng lẫn nhau và ăn khớp vào nhau được thiết kế và vận hành nhằm mục
đích mang lại sự thỏa mãn cho khách hàng”.[8]
Như vậy, Tiếp cận thị trường là một khái niệm rất rộng, nó bao gồm
những hoạt động chủ yếu sau:
+ Xác định thị trường và thị phần mong đợi
+ Phát triển ý tưởng về các sản phẩm bán hoặc dịch vụ cung cấp.
+ Tìm kiếm, lựa chọn và phối hợp các yếu tố đầu vào cho sản xuất sản phẩm.
+ Tìm ra những đối thủ cạnh tranh đang hoạt động.
+ Quyết định các phương pháp đóng gói và phân phối
+ Bảo đảm nguồn cung cấp sản phẩm
+ Định giá

5


+ Nhận đơn hàng
+ Giao sản phẩm cho người tiêu dùng
+ Đảm bảo công việc kinh doanh trong tương lai
2.1.2.2 Khái niệm về hộ [4]
- Theo các tác giả nhóm nhân chủng học từ năm 1982-1985: Hộ là đơn
vị đảm bảo quá trình tái sản xuất lao động tiếp theo thông qua quá trình tổ
chức nguồn thu nhập nhằm chi tiêu cho cá nhân và đầu tư vào sản xuất.
- Theo Martin năm 1988: Hộ là đơn vị cơ bản liên quan đến sản xuất,
tái sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động khác.
- Theo Raul, năm 1989: Hộ là tập hợp những ngừơi có cùng huyết tộc,
có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo tạo sản phẩm để bảo
tồn chính bản thân mình và cộng đồng.
- Theo Magê, năm 1989: Hộ là một nhóm người có cùng chung huyết
tộc hoặc không cùng chung huyết tộc ở chung trong một mái nhà và ăn chung
một mâm cơm.
- Theo Weberster, từ điển kinh tế năm 1990: Hộ là những người cùng
sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và cùng có chung một ngân quỹ.
Như vậy, cá nhân và các tổ chức khi nhìn nhận và quan điểm về hộ
không giống nhau nhưng đều có những nét chung đó là: "Hộ là tập hợp những
người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với
nhau bởi quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng thân khác
cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng chung nguồn thu nhập và cùng tiến
hành sản xuất kinh doanh."
2.1.2.3 Tiếp cận thị trường trong nông hộ
Theo lý thuyết và nhiều nghiên cứu thực nghiệm (Hua 1999, Von
Oppen và cộng sự 2003, Trần Hữu Cường 2005) cho đây là một khái niệm
khá rộng.
Trong nông hộ, “tiếp cận thị trường là mức độ dễ hoặc khó để tới

6


được các thị trường của các yếu tố đầu vào cho sản xuất và sản phẩm đầu ra
của SX nông nghiệp”. [2]
Thị trường ở đây đề cập đến cả thị trường các yếu tố đầu vào và thị
trường các sản phẩm đầu ra của hộ. Thị trường các yếu tố đầu vào của hộ như
giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thị trường tín dụng, thị trường kỹ thuật công
nghệ,… Để đo mức độ tiếp cận thị trường người ta thường dùng khoảng cách
hoặc là khoảng thời gian cần thiết để vận chuyển vật tư, hàng hoá từ hộ sản
xuất đến điểm trao đổi mua bán bằng một phương tiện vận chuyển nhất định.
Việt Nam nói chung và Bắc Ninh nói riêng điểm mua bán các yếu tố đầu vào,
cũng như điểm tiêu thụ sản phẩm của nông hộ rất khác nhau thậm chí trong
cùng một thôn, xã. Điểm trao đổi này thường xuyên thay đổi, rất khó xác định
đâu là điểm trao đổi mua bán chính của hộ. Vì vậy, đề tài sẽ lựa chọn giá yếu
tố đầu vào và giá sản phẩm đầu ra để đo mức độ tiếp cận thị trường của hộ
trồng hoa, cây cảnh. Khi tiếp cận thị trường tốt nghĩa là khoảng cách từ hộ tới
thị trường càng ngắn thì giá vật tư càng thấp và giá nông sản mà người nông
dân nhận được càng cao. Điều này được thể hiện cụ thể qua biểu đồ 1 và biểu
đồ 2:
P

P
(Giá bán)

(Giá mua)

P1

P1

P2
P2
L1

L2

Tiếp cận thị trường
(Thời gian, km)

Biểu đồ 1: Mối quan hệ giữa tiếp cận
thị trường với giá các yếu tố đầu vào

L1

L2

Tiếp cận thị trường
(Thời gian, km)

Biểu đồ 2: Mối quan hệ giữa tiếp cận
thị trường với giá các sản phẩm đầu ra

7


Khi tiếp cận thị trường tốt nghĩa là khoảng cách từ hộ tới thị trường càng
ngắn, vì vậy sẽ giảm được thời gian và chi phí để tới được thị trường. Như
vậy, khi tiếp cận thị trường đầu vào tốt (mức tiếp cận L1) thì người nông dân
mua yếu tố đầu vào ở mức giá P2; nhưng khi tiếp cận không tốt (ở mức L2)
thì người nông dân phải mua yếu tố đầu vào với mức giá là P1, cao hơn P2.
Khi bán các sản phẩm đầu ra, nếu tiếp cận thị trường tốt (ở mức L1) thì người
nông dân nhận được mức giá là P1; nếu tiếp cận không tốt (ở mức L2) thì
người nông dân nhận được mức giá là P2, thấp hơn P1.
Như vậy, khi sử dụng giá các yếu tố đầu vào và giá sản phẩm đầu ra để đo
mức độ tiếp cận thị trường của hộ thì hai yếu tố này có quan hệ ngược chiều
với nhau, hay nói cách khác khi khoảng cách từ hộ đến thị trường tăng lên thì
người nông dân phải mua vật tư với giá cao hơn, và giá bán các sản phẩm đầu
ra của hộ có xu hướng giảm dần, cũng như khi nói tiếp cận thị trường dễ hơn
thì thu nhập của hộ sẽ tăng lên và ngược lại khi tiếp cận thị trường khó hơn
thì thu nhập của hộ sẽ giảm đi. Khái niệm tiếp cận thị trường đề cập tới thời
gian và khoảng cách để tới được thị trường, chính vì vậy tiếp cận thị trường
chịu ảnh hưởng trực tiếp của chất lượng kết cấu hạ tầng như chất lượng
đường xá, phương tiện vận chuyển, hệ thống thông tin,…
Khi tiếp cận thị trường dễ dàng giúp cho người sản xuất lựa chọn được
yếu tố đầu vào phù hợp và nắm bắt tốt nhu cầu của thị trường. Từ đó có kế
hoạch cụ thể cho sản xuất kinh doanh và giảm chi phí trong sản xuất và tiêu
thụ, tăng thu nhập cho người sản xuất. Mặc dù các động lực như giá nông sản
và yếu tố đầu vào cho sản xuất nông nghiệp giữ vai trò quan trọng, nhưng tác
động của nó đến sản xuất nông nghiệp vẫn bị hạn chế nếu tiếp cận thị trường
còn thấp. Tiếp cận thị trường tốt sẽ đảm bảo sự thống nhất trong những hoạt
động sản xuất và kinh doanh, vừa đem lại thu nhập cao hơn cho người sản
xuất vừa giảm được giá thành và tăng lợi ích cho người tiêu dùng.

8


Như vậy, trong nông nghiệp để tiếp cận được thị trường các yếu tố đầu
vào cho sản xuất và sản phẩm đầu ra phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trình độ
của người sản xuất, hệ thống cơ sở hạ tầng, thể chế chính sách của Nhà nước,
phương tiện vận chuyển và các nguồn lực nội tại của người sản xuất.
Từ việc phân tích tổng hợp các yêu tố ảnh hưởng tới tiếp cận thị trường
của hộ, đề tài chia mức độ tiếp cận thị trường thành: tiếp cận dễ, tiếp cận
trung bình và tiếp cận khó. Trên cơ sở đó đề tài lựa chọn các hộ trồng hoa cây
cảnh có quy mô khác nhau để tiến hành so sánh mức độ tiếp cận thị trường
của các nhóm hộ: nhóm hộ có quy mô lớn, nhóm hộ có quy mô trung bình và
nhóm hộ có quy mô nhỏ. Mặt khác, đề tài cũng lựa chọn các vùng sản xuất
hoa, cây cảnh có khoảng cách xa, trung bình và gần so với thị trường trung
tâm để tiến hành so sánh mức độ tiếp cận thị trường của các vùng sản xuất.
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận thị trường
2.1.3.1 Khoảng cách của hộ so với thị trường
Khoảng cách từ hộ tới thị trường gần hay xa phần lớn sẽ quyết định
mức độ tiếp cận thị trường của hộ là dễ dàng hay khó khăn. Khi hộ có vị trí
gần thị trường thì ngoài việc giảm được thời gian và chi phí vận chuyển vật tư
đầu vào hoặc sản phẩm đầu ra, hộ còn tiếp cận được dễ dàng và nhanh chóng
các thông tin thị trường như: biến động giá cả, nhu cầu tiêu dùng, tiến bộ kỹ
thuật,... Từ đó giúp hộ nắm bắt tốt nhu cầu và biến động của thị trường, có
nhiều lựa chọn cho phương án sản xuất kinh doanh, giảm được chi phí, tăng
năng suất và thu nhập.
Ở mức độ vĩ mô, khi xem xét trong phạm vi một tỉnh, thì những xã,
huyện nào càng xa thị trường trung tâm, hệ thống giao thông khó khăn thì xã,
huyện đó có kinh tế chậm phát triển hơn, mức sống của người dân thấp hơn;
ngược lại, tại các xã, huyện gần thị trường trung tâm, giao thông thuận tiện thì
kinh tế phát triển nhanh hơn so với các xã, huyện xa thị trường trung tâm và

9


mức sống người dân cũng cao hơn; trong phạm vi một quốc gia, những tỉnh
và những vùng càng xa các khu trung tâm kinh tế (khu kinh tế trọng điểm)
hay nói cách khác là các trung tâm thị trường của quốc gia thì kinh tế sẽ chậm
phát triển hơn những tỉnh và những vùng gần hoặc nằm trong khu kinh tế
trọng điểm – thị trường trung tâm. Điều này là do khả năng tiếp cận thị trường
các yếu tố đầu vào và thị trường các sản phẩm đầu ra tại các vùng có mức độ
thuận lợi và khó khăn khác nhau, và chính việc tiếp cận thị trường khó hay dễ
ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế của một vùng hay của một quốc gia,
đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập.
2.1.3.2 Hệ thống thông tin thị trường
Thông tin thị trường có vai trò quan trọng trong các hoạt động sản xuất
kinh doanh, giúp cho người sản xuất trả lời được các câu hỏi: sản xuất cho
ai?, sản xuất bao nhiêu?, và sản xuất như thế nào?.
Thông qua hệ thống thông tin thị trường giúp cho người sản xuất đánh
giá được nhu cầu của thị trường, giúp hoạt động sản xuất gắn với thị trường,
hàng hóa làm ra phải phù hợp với nhu cầu thị trường, nâng cao khả năng cạnh
tranh của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới, đồng thời mở rộng
chủng loại hàng hóa xuất khẩu. Hệ thống thông tin cung cấp các thông tin cần
thiết về giá cả, cung cầu của quá trình sản xuất, lưu thông, tiêu thụ hàng hóa.
Nâng cấp và hoàn thiện hệ thống thông tin đến người nông dân là xu
thế tất yếu của con đường phát triển nông nghiệp ở nước ta; là yêu cầu khách
quan của nền kinh tế thị trường và là nhu cầu thích ứng với hiện đại hóa nông
nghiệp. Đây chính là con đường hữu hiệu để tăng thu nhập cho người nông
dân. Từ nhiều năm nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến nông nghiệp
- nông thôn đã có nhiều chủ trương, chính sách về nông nghiệp - nông thôn,
tăng cường đầu tư,… nên nông nghiệp - nông thôn Việt Nam đã có những
bước tiến triển vượt bậc, đời sống nông dân được cải thiện nhiều, bộ mặt nông

10


thôn đang có nhiều đổi mới. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp, nông thôn
nước ta hiện nay gặp phải hàng loạt những vấn đề nan giải, bất cập. Đó là, sản
xuất còn nhỏ lẻ, manh mún, chia cắt, năng suất lao động thấp, chất lượng sản
phẩm kém; lao động nông thôn dư thừa, thời gian lao động ít; sản phẩm nông
nghiệp quá rẻ, không tiêu thụ được; nông dân sản xuất nuôi, trồng tự phát
chạy theo giá cả của thị trường… Chính vì thế, thu nhập của nông dân còn
bấp bênh và rất thấp, họ là những người có mức thu nhập thấp nhất trong các
ngành nghề của người lao động ở nước ta. Hoàn thiện hệ thống thông tin nông
nghiệp góp phần giải quyết những nan giải trên của nông nghiệp - nông thôn
nước ta, mới tạo được điều cho nông dân có thu nhập cao hơn.
Chúng ta hãy xem xét vai trò của thông tin thị trường trong từng khâu
cụ thể:
Về sản xuất: có thể nhìn thấy rất rõ, hiện nay đồng ruộng bị phân chia
nhỏ lẻ, phân tán, manh mún như ô thuốc bắc. Gần vào đó là sự sản xuất, nuôi
trồng cây con cũng rất bé nhỏ của các hộ nông dân. Vì mỗi gia đình là một
đơn vị sản xuất, họ tự chịu trách nhiệm về sản xuất – kinh doanh, tiêu thụ sản
phẩm của mình. Phần lớn nông dân sản xuất nông nghiệp theo nối truyền
thống nên năng suất thấp, chất lượng sản phẩm kém. Một số hộ nông dân tuy
có mở rộng quy mô sản xuất nhưng lại ít dựa vào phương pháp canh tác khoa
học, lại thiếu thông tin về thị trường, chỉ trông chờ vào sự may rủi của quy
luật cung cầu nên sự thất bát là điều khó tránh khỏi. Khi nền kinh tế nông
nghiệp đã phát triển đến mức độ nhất định, việc chỉ dựa vào sức của người
nông dân, giao khoán sản phẩm đến từng hộ sẽ rất hạn chế trong việc phát
triển, vì quy mô sản xuất nhỏ, kinh doanh phân tán, thực lực kinh tế rất yếu,
khó ngăn cản được những rủi ro.
Thông qua hệ thống thông tin nông nghiệp có thể giúp cho người nông
dân ứng dụng rộng rãi khoa học kỹ thuật vào sản xuất, phát huy tối đa ưu thế

11


về tài nguyên, lao động và giống cây trồng; tập hợp các hộ nông dân thành
một tập đoàn, quy tụ họ vào hệ thống sản xuất nông nghiệp theo dây chuyền
công nghiệp từ sản xuất, cung ứng - chế biến đến tiêu thụ sản phẩm.
Về lưu thông: Hiện nay, mỗi gia đình là một đơn vị sản xuất đã cắt đứt
mối liên hệ bên trong giữa sản xuất và thị trường. Bản thân chế độ bao khoán
đã tạo ra sự mâu thuẫn giữa thị trường lớn và sản xuất nhỏ. Khi mối quan hệ
cung - cầu chuyển từ cung sang vượt quá cầu, do thông tin và sự dự đoán của
đại bộ phận nông dân có hạn, thị trường lại ngưng trệ điều tiết, sản xuất lại tự
phát, việc tiêu thụ sản phẩm sẽ gặp trở ngại hoặc bán không đúng với giá dự
kiến hoặc thừa ế sẽ xuất hiện tình trạng năng suất cao, được mùa mà thu nhập
không tăng thậm chí còn giảm, nông dân hoang mang thiếu phấn khởi trong
sản xuất.
Thông qua hệ thống thông tin sẽ tạo được cầu nối giữa các hộ nông dân
với thị trường, đưa sản xuất nhỏ, phân tán của các hộ hòa nhập vào thị trường
lớn; hướng dẫn nông dân tổ chức sản xuất hàng hóa, tạo điều kiện cho hoạt
động sản xuất và nhu cầu của thị trường liên kết chặt chẽ với nhau. Bên cạnh
đó, thông qua mạng lưới cung tiêu không những sản xuất được thuận lợi mà
sản phẩm còn được bán với giá cao và tiêu thụ hết. Trong quá trình tiêu thụ
sản phẩm, nông dân biết được sự cạnh tranh trên thị trường mà không ngừng
mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm tạo được thương
hiệu của mình.
Nếu quy trình sản xuất khép kín theo hộ nông dân, họ khó có thể ngăn
cản được những rủi ro đến bất ngờ, nhất là những rủi ro thiên tai và do sự điều
tiết của thị trường …sẽ có những hộ nông dân không duy trì được sản xuất.
Thông qua hệ thống thông tin có thể tăng cường được khả năng ngăn
chặn rủi ro cho nông dân. Mặt khác, từ các hoạt động sản xuất – kinh doanh
sẽ hình thành một khối gắn bó hữu cơ giữa nông nghiệp - công nghiệp –

12


thương mại, giữa sản xuất - chế biến – tiêu thụ với thị trường. Tiếp cận thông
tin thị trường tốt sẽ là phương pháp hữu hiệu để củng cố và hoàn thiện cơ chế
bao khoán sản phẩm, bảo đảm tính tự chủ trong sản xuất của nông dân.
Hiện nay, so với các ngành khác lợi nhuận trong sản xuất nông nghiệp
rất thấp dẫn đến mất đi một lượng lớn tài nguyên nông nghiệp hiện có. Điều
đó không chỉ làm yếu đi vị trí của ngành nông nghiệp mà còn ảnh hưởng đến
xây dựng và phát triển kinh tế nông thôn.
Thông qua thông tin thị trường nông nghiệp có thể nâng cao trình độ kỹ
thuật và trình độ chuyên môn hóa trong nông nghiệp đưa công nghiệp nông thôn
phát triển nhanh, gắn thị trường nông thôn với thành phố, thị trường trong nước
với quốc tế, tăng lợi nhuận trong sản xuất nông nghiệp. Người nông dân không
chỉ thu được lợi nhuận trong sản xuất trực tiếp mà còn có thể thu được lợi nhuận
gián tiếp từ khâu lưu thông và một phần lợi nhuận từ các ngành dịch vụ, cung
ứng và chế biến nông sản. Đồng thời tạo cho nông dân có việc làm trong những
lúc nông nhàn và giải quyết được nạn dư thừa lao động ở nông thôn hiện nay.
Như vậy, việc thu nhập của nông dân không ngừng được nâng cao, tạo không
khí phấn khởi, yên tâm ở quê hương sản xuất trong thanh niên nông thôn.
Mục tiêu chính của tiếp cận thông tin thị trường là thúc đẩy được sản
xuất nông nghiệp phát triển, gắn với kinh tế thị trường hòa nhập vào quốc tế,
điều hòa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, tăng
nhanh quá trình hiện đại hóa nông nghiệp, tạo cho nông dân có thu nhập cao
hơn và cuộc sống khá giả hơn.
Hiện nay, cách tiếp cận thông tin chính của nông dân là qua đài, báo,
truyền hình, mạng lưới khuyến nông. Tuy nhiên, các thông tin này thường chỉ
tập trung vào kỹ thuật sản xuất, trong khi đó câu hỏi đầu tiên đặt ra cho các
nông dân là sản xuất cho ai, bao nhiêu, sau đó mới là sản xuất như thế nào.
Chính vì vậy, cần nâng cấp và hoàn thiện hệ thống thông tin nông nghiệp,

13


nhằm cung cấp đầy đủ thông tin cho người nông dân, giúp người nông dân dễ
dàng tìm kiếm được thị trường, hoạt động sản xuất của người nông dân gắn
với thị trường, hàng hóa làm ra phù hợp với nhu cầu thị trường, nâng cao khả
năng cạnh tranh của hàng nông sản.
2.1.3.3 Hệ thống giao thông
Hệ thống giao thông là huyết mạch của nền kinh tế, hệ thống giao
thông thuận lợi sẽ bôi trơn các hoạt động của nền kinh tế, và ngược lại nếu hệ
thống giao thông kém phát triển sẽ kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế. Nó
tạo môi trường và điều kiện cho các ngành, các thành phần kinh tế ở mọi lĩnh
vực phát triển, đồng thời góp phần phát huy tiềm năng thế mạnh của mỗi
vùng, mở rộng giao lưu, xoá bỏ sự cách biệt giữa nông thôn với thành thị,
nâng cao dân trí... Kinh nghiệm của các nước trong khu vực cho thấy rằng, để
phát triển nhanh nền kinh tế ở nước đó phải có một kết cấu hạ tầng đủ mạnh
và phải đi trước một bước.
Trong nông nghiệp, hệ thống giao thông giúp cho người nông dân tiếp
cận được với thị trường các yếu tố đầu vào và thị trường đầu ra cho sản xuất
nông nghiệp. Hệ thống giao thông thuận tiện sẽ giảm chi phí trong việc vận
chuyển các yếu tố đầu vào và sản phẩm đầu ra, tăng thu nhập cho nông hộ.
Mặt khác, hệ thống giao thông thuận tiện sẽ tạo điều kiện cho người sản xuất
tiếp cận và lựa chọn được các yếu tố đầu vào cho sản xuất có chất lượng tốt
hơn và giá cả hợp lý hơn, tiếp cận được đa rạng các thị trường tiêu thụ và lựa
chọn được thị trường tiêu thụ có giá cao hơn.
Đối với các vùng sản xuất khác nhau, thì vùng nào gần thị trường hơn
sẽ có lợi thế hơn do tiếp cận tốt hơn với thị trường. Ngoài việc nắm bắt nhanh
chóng, kịp thời các thông tin và nhu cầu của thị trường, thì vùng gần thị
trường sẽ giảm được nhiều chi phí hơn so với những vùng xa thị trường, như
chi phí vận chuyển các yếu tố đầu vào và đầu ra.

14


Để phát triển sản xuất thì đòi hỏi hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất
cũng cần được nâng cấp, đòi hỏi công trình thủy lợi nhằm đảm bảo tưới tiêu
đầy đủ nhu cầu tưới tiêu đối với quá trình sinh trưởng và phát triển của cây.
Còn hệ thống giao thông nó liên quan đến quá trình vận chuyển cây giống, cây
thương phẩm, hoa và các loại vật tư. Liên quan trực tiếp đến chi phí cho sản
xuất và tiêu thu sản phẩm, và ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của hộ.
Sản xuất muốn phát triển ổn định đòi hỏi có thông tin chính xác về thị
trường và luôn tìm cách đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Bất
kỳ ngành sản xuất nào cũng liên quan đến thị trường đầu vào và đầu ra. Sự
biến động giá cả ở cả hai thị trường đều tác động trực tiếp đến hiệu quả sản
xuất và thu nhập của nông hộ. Vì vậy, khi nắm bắt đầy đủ và cập nhật giá cả
đầu ra cũng như nguồn cung ứng các vật tư đầu vào, tạo lập và mở rộng thị
trường tiêu thụ sẽ mang lại tâm lý yên tâm sản xuất cho nông hộ. Sản xuất
hoa, cây cảnh cũng là ngành sản xuât hàng hóa trong điều kiện phát triển nền
kinh tế hiện nay. Vì vậy, sự phát triển của ngành này cũng gắn liền với những
biến động của thị trường, việc cập nhật đầy đủ và chính xác thông tin thị
trường giúp cho người sản xuất phát triển đúng hướng thị trường. Hệ thống
giao thông cũng là một yếu tố phục vụ đắc lực cho vấn đề này.
Trên thực tế cho thấy ở những địa phương có sự đầu tư hợp lý cho hệ
thống cơ sở hạ tầng tại đó nghề trồng hoa, cây cảnh có nhiều điều kiện thuận lợi
để phát triển sản xuất và tiêu thụ. Như vậy, việc tiếp cận thị trường trong sản xuất
hoa, cây cảnh và nâng cấp cơ sở hạ tầng có quan hệ hỗ trợ, bổ sung cho nhau,
trong đó quy hoạch về cơ sở hạ tầng cần thực hiện trước một bước.
2.1.3.4 Phương tiện vận chuyển
Ngành vận tải phát triển đã thúc đẩy thương mại của một quốc gia và
giữa các quốc gia. Phát triển vận tải thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá, là
động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Trong sản xuất nông nghiệp, chi phí cho

15


vận tải nguyên vật liệu, hàng hoá chiếm tỷ trọng lớn, nhất là khi phải vận
chuyển xa từ vùng này đến vùng khác, từ quốc gia này đến quốc gia khác,
thậm chí từ châu lục này tới châu lục khác. Vì vậy, phương tiện vận chuyển
đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp cận thị trường của nông hộ.
Với quy mô sản xuất của nông hộ hiện nay đa số là nhỏ lẻ, manh mún.
Chính vì vậy, các phương tiện vận chuyển chủ yếu của nông hộ để tiếp cận thị
trường là xe máy và xe thô sơ. Tại những hộ có quy mô sản xuất lớn (quy mô
trang trại), khi vận chuyển với số lượng hàng hoá nhiều thì hộ dùng phương
tiện vận chuyển là ôtô, việc vận chuyển thường xuyên hộ vẫn chủ yếu dùng
xe máy.
Đối với vùng sản xuất gần thị trường tiêu thụ: Do gần thị trường nên
các hộ có thể tận dụng các phương tiện thô sơ để vận chuyển hàng hoá đến thị
trường và không tốn nhiều thời gian để vận chuyển hàng hoá. Nếu có sử dụng
các phương tiện khác như xe máy, ôtô thì chi phí vận chuyển vẫn không đáng
kể. Từ đó sẽ giảm được nhiều thời gian và chi phí vận chuyển, có thể tiêu thụ
trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng nên giá cao hơn, giúp cho thu nhập
của nông hộ tăng lên.
Đối với những vùng sản xuất xa thị trường tiêu thụ: Gần như hộ không
thể tận dụng các phương tiện thô sơ để vận chuyển, việc vận chuyển hàng hoá
tốn nhiều thời gian và chi phí hơn. Khi vận chuyển đến thị trường tiêu thụ thì
cũng không thể bán cao hơn giá sản phẩm của vùng gần thị trường, trong khi
chi phí vận chuyển lại cao hơn. Chính vì vậy, thu nhập của các hộ nông dân
tại vùng sản xuất sa thị trường thấp hơn so với vùng gần thị trường.
2.1.3.5 Thể chế chính sách của Đảng và Nhà nước
Thông qua chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước là nhân tố góp
phần định hướng cho các hoạt động sản xuất hoa cây cảnh trong thời gian dài
do đó nó có vai trò rất quan trọng. Điển hình như Quyết định 182/1999-QĐ-

16


TTg ngày 03 tháng 09 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt “Đề
án phát triển rau và hoa cây cảnh đến năm 2010 và định hướng phát triển đến
năm 2020; Quyết định số 52/2007/QĐ-BNN ngày 05 tháng 6 năm 2007 của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc “Phê duyệt quy hoạch phát triển
rau quả và hoa cây cảnh đến năm 2010, tầm nhìn 2020”; các chính sách về
phát triển cơ sở hạ tầng, giao thông nông thôn;…Từ đó đã mở ra một hướng
phát triển mới cho nông nghiệp, nông thôn và nông dân.[5];[10]
Hơn nữa hiện nay với các chính sách chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông
thôn, chính sách dồn điền đổi thửa, chính sách khuyến khích các thành phần
kinh tế tham gia vào sản xuất và xuất khẩu hoa, cây cảnh cùng hàng loại các
chính sách hỗ trợ sản xuất khác, do vậy nông dân yên tâm hơn khi gắn bó với
nghề của mình. Từ đó đã làm cho ngành sản xuất nông nghiệp nói chung và
ngành trồng hoa, cây cảnh nói riêng phát triển mạnh mẽ.
Mặt khác các chính sách đầu tư, quy hoạch vùng sản xuất tạo thành các
vành đai xung quanh các đô thị lớn sẽ tạo điều kiện cho ngành sản xuất hoa,
cây cảnh phát triển một cách mạnh mẽ, tăng lượng cung cấp hàng hóa, thỏa
mãn nhu cầu của người tiêu dùng.
2.1.3.6 Các yếu tố nội tại của hộ
Nhân tố con người:
Con người là nhân tố quyết định khả năng tiếp cận thị trường, là yếu tố
quyết định với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong quá trình tiếp cận
thị trường hoa, cây cảnh yếu tố con người đóng vai trò vô cùng quan trọng
nếu lực lượng lao động có đầy đủ những phẩm chất, trình độ, đặc biệt là kinh
nghiệm thì sẽ dễ dàng hơn để tiếp cận thị trường, và hoạt động sản xuất kinh
doanh chắc chắn đem lại hiệu quả cao. Có trình độ tổ chức và quản lý giúp
người trồng hoa, cây cảnh tiếp cận được tốt thị trường đầu vào và đầu ra, từ
đó giúp họ lựa chọn và sử dụng đầy đủ và hợp lý các nguồn lực, tạo ra những

17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×