Tải bản đầy đủ

Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGÔ THỊ THANH

BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS TRẦN VĂN ĐỘ

HÀ NỘI - 2013


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo

tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn
học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của
Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có
thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN

Ngô Thị Thanh


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ ........................................................... 6
1.1.

..................... Yêu cầu bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự

1.2.

Các quyền con người có thể bị tác động trong TTHS .......................... 9

1.2.1.

Quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện .................................................. 9

1.2.2.

Quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn
bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục ........................................................... 12

1.2.3.

Quyền được xét xử nhanh chóng, không bị trì hoãn ............................ 14


1.2.4.

Quyền được xét xử công bằng ............................................................ 16

Chương 2: BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HOẠT ĐỘNG
XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VÀ LUẬT NHÂN QUYỀN QUỐC TẾ ............................................ 18
2.1.

Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình
sự theo Pháp luật Việt Nam ............................................................. 18

2.1.1.

Theo Hiến pháp 1992 ......................................................................... 18

2.1.2.

Theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 ..................................................... 20

2.2.

Một số quy định của Luật Nhân quyền Quốc tế về bảo đảm
quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự ................... 45

2.2.1.

Quy định về quyền của người bị cáo buộc hình sự ............................... 46

6


2.2.2.

Cơ chế bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án
hình sự theo Luật nhân quyền quốc tế ................................................. 48

4


Chương 3: MỘT SỐ TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ BẢO ĐẢM QUYỀN
CON NGƯỜI TRONG XÉT XỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY .......... 52
3.1.

Một số tồn tại trong xét xử vụ án hình sự ........................................ 52

3.1.1.

Sự độc lập của Tòa án còn hạn chế ..................................................... 52

3.1.2.

Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa được bảo
đảm triệt để ........................................................................................ 55

3.1.3.

Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội còn nhiều bất cập...... 56

3.1.4.

Tình trạng tồn đọng án, án quá hạn luật định: ...................................... 57

3.1.5.

Tình trạng bắt, giam giữ người tùy tiện còn tồn tại .............................. 58

3.1.6.

Tình trạng tạm giam kéo dài, thời hạn không rõ ràng ........................... 58

3.1.7.

Xét xử oan sai .................................................................................... 59

3.2.

Một số kiến nghị đảm bảo quyền con người trong giai đoạn xét
xử ở Việt Nam hiện nay .................................................................... 61

3.2.1.

Tăng cường giáo dục về quyền con người cho cán bộ hoạt động tư
pháp .................................................................................................. 61

3.2.2.

Hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền con người trong hoạt
động xét xử ........................................................................................ 61

3.3.

Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố
tụng, đặc biệt là Tòa án .................................................................... 73

3.4.

Triển khai việc thành lập Cơ quan nhân quyền Quốc gia Việt
Nam .................................................................................................. 74

KẾT LUẬN ................................................................................................... 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 78


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS :

Bộ luật hình sự

BLTTHS :

Bộ luật tố tụng hình sự

TAND :

Tòa án nhân dân

TANDTC :

Tòa án nhân dân Tối cao

TTHS :

Tố tụng hình sự

VKS :

Viện kiểm sát

VKSND :

Viện kiểm sát nhân dân

VKSNDTC :

Viện kiểm sát nhân dân Tối cao

HĐXX :

Hội đồng xét xử

CQĐT :

Cơ quan điều tra


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là giá trị mang tính phổ biến chung của nhân loại, là kết
quả của quá trình đấu tranh, phát triển lâu dài của tất cả các dân tộc, nhân dân trên
toàn thế giới. Được thúc đẩy từ năm 1945 kể từ khi thành lập Liên Hợp Quốc,
quyền con người thu hút sự quan tâm rộng rãi của dư luận và có sự tác động mạnh
mẽ tới các quan hệ chính trị, pháp lý, xã hội ở tất cả các cấp độ quốc gia, khu vực
và quốc tế. Nó không chỉ là nhận thức, là quan điểm mà hữu hình bằng các quy
phạm pháp lý được các quốc gia thừa nhận chung, phản ánh quy luật và hướng tất
yếu của xã hội loài người cũng như sự hình thành các cơ chế bảo đảm để quyền con
người được thực thi trên thực tế.
Tại Việt Nam, việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là mục tiêu nhất
quán của Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay. Việt Nam luôn tích cực tham gia
các Điều ước và hoạt động về quyền con người của Liên Hợp Quốc. Chỉ thị 12/TW
của Ban Bí Thư, ngày 12/7/1992 khẳng định: “Quyền con người là thành quả của
cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp
bức trên thế giới và cũng là cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên, qua
đó quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại”.
Do đó chúng ta cần phải bảo vệ thành quả này trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là
trong lĩnh vực TTHS. Việc bảo vệ quyền con người trong TTHS có một ý nghĩa đặc
biệt quan trọng vì trong lĩnh vực này, quyền con người dễ bị xâm phạm, dễ bị tổn
thương và có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng về vật chất, thể chất lẫn tinh
thần. Trong các chủ thể của hoạt động TTHS thì Tòa án giữ vai trò quan trọng.
Đảng đã khẳng định khâu trọng tâm của chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020
là cải cách hệ thống TAND: “Trung tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt
động của TAND” và „„xét xử là trọng tâm” (Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005
của Bộ Chính Trị). Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ X (tháng 4/2006)
cũng đã chỉ rõ sự cần thiết phải xây dựng cơ chế tài phán đối với những vi phạm

1


nhằm tăng cường hiệu quả bảo vệ quyền con người bằng nhánh quyền Tư pháp. Đại
Hội Đảng lần thứ XI (tháng 01/2011) cũng đã khẳng định tính cấp thiết của việc xây
dựng cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước, việc thực hiện các quyền lập pháp,
quyền hành pháp và quyền tư pháp. Quan điểm này của Đảng là hoàn toàn đúng đắn
vì trong bất kỳ một Nhà nước pháp quyền nào quyền tư pháp (mà đại diện là Tòa
án) phải được coi là trung tâm và là hệ thống cấu thành quan trọng của bộ máy
quyền lực Nhà nước để bảo vệ. Thực tiễn cho thấy, hàng năm Tòa án đã xét xử hàng
chục nghìn vụ án trong đó có nhiều vụ án lớn (Rusalka Khánh Hòa, Năm Cam, Lã
Thị Kim Oanh, PMU 18, Thiên Lợi Hòa, Phương Ninh Hột, VinaShin...). Các vụ án
đó được xét xử nghiêm minh, công bằng, đúng người, đúng tội, tạo cho nhân dân
niềm tin vào hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn tồn tại một số hạn chế,
đặc biệt là tình trạng xét xử oan (vụ án Vườn Điều ở Bình Thuận, vụ Nguyễn Minh
Hùng hai lần bị tuyên án tử hình, vụ án con trâu ở Yên Bái...). Qua các vụ án oan,
một đặc điểm chung rất dễ nhận thấy là luôn có những vi phạm tố tụng nghiêm
trọng trong quá trình tiến hành tố tụng, kết luận vụ án luôn là kết quả của sự truy xét
qua áp đặt chủ quan của người tiến hành tố tụng, có dấu hiệu mớm cung, bức cung
trong quá trình điều tra (song hầu như không chứng minh được hoặc không được
Hội đồng xét xử xem xét). Hậu quả để lại của những vụ án đó, theo tác giả là không
bao giờ khắc phục được. Tuy rằng Nghị quyết 388 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
về bồi thường oan sai trong hoạt động TTHS và Luật Trách nhiệm bồi thường của
Nhà nước (2009) đã phần nào khắc phục được những sai lầm do những người tiến
hành tố tụng gây ra nhưng nó không giải quyết được mọi chuyện. Thực tế số người
bị làm oan, bị làm sai trong quá trình TTHS được bồi thường theo Luật cũng chưa
đáng là bao. Và việc bồi thường đó, không bao giờ tương xứng với những gì mà
những người bị oan, bị sai đã phải gánh chịu. Do đó, tác giả nghĩ rằng, để tránh oan
sai trong TTHS, Tòa án cần phải có hoạt động xét xử đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật. Có như vậy thì quyền con người mới được đảm bảo.
Xét xử vụ án hình sự là chức năng quan trọng nhất của Tòa án, là giai đoạn
quyết định của toàn bộ quá trình TTHS. Trong giai đoạn này, Tòa án áp dụng các

2


biện pháp cần thiết do luật định để kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn
bộ các quyết định mà CQĐT và VKS đã thông qua trước khi chuyển vụ án sang Tòa
án, nhằm loại trừ các hậu quả tiêu cực do sơ suất, sai lầm... Đồng thời trên cơ sở kết
quả tranh luận công khai và dân chủ tại phiên tòa để ra bản án, quyết định một cách
công minh và đúng pháp luật, có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục. Giai đoạn này
được bắt đầu từ khi Tòa án nhận được hồ sơ vụ án hình sự và kết thúc bằng một bản
án (quyết định). Đây là giai đoạn TTHS trung tâm và quan trọng để tăng cường
pháp chế, bảo vệ các quyền và tự do của công dân, góp phần có hiệu quả vào cuộc
đấu tranh phòng và chống tội phạm.
Với những lí do trên, tác giả đã chọn đề tài “Bảo đảm quyền con người
trong hoạt động xét xử vụ án hình sự” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình, với
mục đích góp phần nhỏ trong nghiên cứu khoa học về bảo đảm quyền con người
trong TTHS trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong khoa học pháp lý nước ta, vấn đề bảo đảm quyền con người được nhiều
tác giả nghiên cứu trong các công trình với các góc độ khác nhau. Từ góc độ nghiên
cứu về quyền con người nói chung có công trình “Quyền con người trong thế giới
hiện đại” (Viện Thông tin khoa học xã hội, 1995) của GS.TS Hoàng Văn Hảo và
Phạm Khiêm Ích; “Quyền con người và luật quốc tế về quyền con người”(NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997) của PGS.TS Chu Hồng Thanh. Từ góc độ nghiên
cứu quyền con người trong lĩnh vực Tư pháp có “Bảo đảm quyền con người trong tư
pháp hình sự Việt Nam” (Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh,
2010); “Luật tố tụng hình sự Việt Nam với việc bảo vệ quyền con người” (Đề tài
nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc Gia, 2011). Các tác giả Nguyễn Thái Phúc,
Trần Quang Tiệp cũng có những công trình nghiên cứu về đề tài này. Ngoài ra có một
số tác giả chọn vấn đề bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, trong TTHS làm đề
tài Luận án tiến sĩ luật học (TS Nguyễn Quang Hiền, Nguyễn Huy Hoàng, Lại Văn
Trình). Trong các công trình này, các tác giả có phân tích đến Tòa án với vai trò là

3


đại diện quan trọng nhất của nhánh quyền lực Tư Pháp theo nghĩa rộng. Bên cạnh đó,
cũng có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vai trò, vị trí của Tòa án trong cơ chế phân
chia quyền lực như (GS.TS Nguyễn Đăng Dung...). Tuy nhiên các công trình nghiên
cứu đó chủ yếu tập trung vào các vai trò chung của Tòa án, chưa đi sâu cụ thể vào
vấn đề bảo vệ quyền con người của Tòa án trong giai đoạn xét xử.
3. Mục đích, nhiệm vụ của Luận văn
3.1. Mục đích
Trên cơ sở phân tích các quy định liên quan đến bảo đảm quyền con người
trong hoạt động xét xử của pháp luật Việt Nam, liên hệ với thực tiễn và so sánh với
pháp luật quốc tế, tác giả làm sáng tỏ những bất cập, hạn chế để đưa ra những giải
pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật TTHS. Đồng thời, qua
đây, tác giả muốn nhấn mạnh vai trò của Tòa án trong việc bảo đảm quyền con
người để chúng ta có cái nhìn đúng đắn hơn về vai trò, vị trí của cơ quan này.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích nói trên, tác giả đã đưa ra và giải quyết các
nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu ý nghĩa của việc đảm bảo quyền con người trong TTHS (đặc
biệt là trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự)
- Phân tích các quy định pháp luật TTHS Việt Nam liên quan đến bảo đảm
quyền con người, so sánh với các tiêu chuẩn quốc tế có liên quan.
- Nghiên cứu thực tiễn xét xử Tòa án: đánh giá hiệu quả cũng như làm sáng
tỏ những hạn chế trong việc bảo đảm quyền con người.
- Đưa ra những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật
TTHS và nâng cao hiệu quả hoạt động TTHS liên quan đến việc bảo vệ quyền tự do
dân chủ của công dân.
4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác –
LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà
nước và pháp luật, về Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về quyền con người
và bảo đảm quyền con người.

4


- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phân tích, tổng hợp,
lịch sử, so sánh, hệ thống, thống kê…
Luận văn cũng khai thác thông tin tư liệu của các công trình nghiên cứu đã
công bố để chứng minh cho các luận điểm.
5. Những nét mới của Luận văn
- Phân tích một cách cụ thể các quy định cơ bản về quyền con người được
chuyển tải trong Hiến pháp và BLTTHS. Từ đó tạo ra được cái nhìn thân thiện và
gần gũi hơn đối với những nhân quyền cơ bản.
- Làm rõ được vai trò của Tòa án trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự.
- Có sự đánh giá, so sánh vai trò bảo đảm quyền con người của Tòa án được
quy định trong pháp luật Việt Nam và Luật nhân quyền quốc tế.
- Góp phần làm rõ thực trạng bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện
nay, tính tương thích của pháp luật hình sự Việt Nam và Luật nhân quyền quốc tế.
- Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, phân tích, đánh giá, luận văn cũng đưa ra
những giải pháp, kiến nghị để Tòa án thực hiện tốt vai trò bảo đảm quyền con người.
6. Ý nghĩa của việc nghiên cứu
Tác giả hy vọng việc nghiên cứu thành công Đề tài sẽ đóng góp một phần
khiêm tốn trong việc giải quyết về mặt khoa học một trong những nội dung cấp thiết
hiện nay ở nước ta là “Tòa án với vấn đề bảo vệ quyền con người trong hoạt động
xét xử vụ án hình sự”.
Luận văn có thể là tài liệu tham khảo trong hoạt động lập pháp TTHS, trong
thực tiễn điều tra truy tố, xét xử cũng như trong nghiên cứu về TTHS.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn kết
cấu gồm 3 chương như sau:
- Chương 1: Một số vấn đề về bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự
- Chương 2: Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự
theo Pháp luật Việt Nam và Luật nhân quyền quốc tế
- Chương 3: Một số tồn tại và kiến nghị bảo đảm quyền con người trong giai
đoạn xét xử ở Việt Nam hiện nay.

5


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1 . Yêu cầu bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự
Quyền con người là một nội dung lớn của thế giới ngày nay. Đây là giá trị
cao quý, kết tinh từ nền văn hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới; là tiếng nói
chung, sản phẩm chung, mục tiêu chung, phương tiện chung của mọi quốc gia, dân
tộc trên thế giới để bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm và hạnh phúc của mọi con người.
Nó không còn là nhận thức, là quan điểm mà hữu hình bằng các quy phạm pháp lý
được các quốc gia thừa nhận chung, phản ánh quy luật và hướng đi tất yếu của xã
hội loài người cũng như sự hình thành các cơ chế bảo đảm để quyền con người
được thực thi trên thực tế [22]
Là thành viên của các Công ước Quốc Tế về quyền con người, Nhà nước
Việt Nam luôn nỗ lực thực hiện các cam kết của mình đồng thời chủ động hợp tác
với các quốc gia và các tổ chức quốc tế trong nhiều hoạt động trên lĩnh vực quyền
con người. Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người ở
Việt Nam trình bày tại Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc ở Geneva, Thụy Sỹ
ngày 08/5/2009 cũng khẳng định: “Nhà nước Việt Nam coi con người là mục tiêu
và động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế, xã hội và luôn nhất quán trong
việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền con người”. Do đó, chúng ta cần phải bảo vệ
thành quả này trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực TTHS. TTHS là quá
trình giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật gồm khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
Trong đó giai đoạn khởi tố là giai đoạn đầu tiên của TTHS. Tại giai đoạn này
sau khi tiếp nhận tin báo và tố giác tội phạm, cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành
kiểm tra, xác minh sự việc xảy ra có dấu hiệu của tội phạm hay không để quyết định
khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự.
Giai đoạn điều tra là giai đoạn cơ quan có thẩm quyền điều tra vụ án có trách

6


nhiệm và nghĩa vụ áp dụng mọi biện pháp theo luật định để thu thập chứng cứ nhằm
xác định tội phạm, người phạm tội và các vấn đề khác của vụ án
Giai đoạn truy tố là giai đoạn VKS ra quyết định truy tố bằng bản Cáo trạng
hay không truy tố bị can ra xét xử trước Tòa án;
Giai đoạn xét xử sơ thẩm là giai đoạn Tòa án thụ lý, nghiên cứu hồ sơ để tiến
hành giải quyết vụ án bằng việc ra bản án hoặc các quyết định.
Giai đoạn xét xử phúc thẩm là giai đoạn Tòa án cấp trên trực tiếp sẽ xét xử
lại bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp dưới chưa có hiệu lực pháp luật
bị kháng cáo;
Giai đoạn thi hành án là giai đoạn cuối cùng của TTHS. Trong giai đoạn này
các cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thi hành các bản án và quyết định của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, còn có thể có giai đoạn đặc biệt là giai đoạn Tòa án có thẩm quyền
xét lại bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo các thủ tục
giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
Mỗi giai đoạn thực hiện một nhiệm vụ nhất định nhưng cùng hướng đến
mục đích chung là giải quyết mọi vấn đề của vụ án hình sự. Mỗi giai đoạn tuy
độc lập nhưng vẫn nằm trong mối quan hệ khăng khít với nhau và tạo thành một
trình tự thống nhất; giai đoạn trước là tiền đề cho việc thực hiện nhiệm vụ của
giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra giai đoạn trước. Mỗi giai đoạn tố tụng do
một chủ thể thực hiện nhưng các chủ thể có quan hệ chặt chẽ với nhau, vừa phối
hợp vừa kiểm soát lẫn nhau để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Việc giải
quyết đó chính là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng (CQĐT, VKS, Tòa án)
và người tiến hành tố tụng (Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT, Điều tra viên;
Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án Tòa
án, Thẩm phán, Hội thẩm). [10]
Như vậy, hoạt động này trước hết sẽ bảo vệ quyền lợi cho người bị hại trước
sự xâm phạm của tội phạm. Tuy nhiên xét ở một góc độ khác, TTHS với tư cách là
quá trình Nhà nước đưa một người ra xử lý trước pháp luật khi họ thực hiện tội

7


phạm luôn thể hiện tính quyền lực với sức mạnh cưỡng chế Nhà nước, với sự thiếu
bình đẳng về thế và lực của các bên tham gia quan hệ TTHS, trong đó người bị buộc
tội luôn bị yếu thế hơn. Hoạt động này liên quan đến việc phát hiện, xử lý hành vi
nguy hiểm cho xã hội được quy định là tội phạm và xử phạt người phạm tội. Vì vậy,
để đạt được mục đích của TTHS, Pháp luật TTHS của bất kỳ quốc gia nào cũng có
quy định về những biện pháp cưỡng chế tố tụng, các hành vi, quyết định tố tụng
đụng chạm đến quyền, lợi ích của công dân. Hay nói cách khác, khả năng ảnh
hưởng của hoạt động TTHS tới các quyền con người của người bị tình nghi phạm
tội là tất yếu. Do đó, hoạt động TTHS trong mọi quốc gia đều được xếp vào nhóm
“nguy cơ cao” khi người ta nói đến vấn đề bảo vệ quyền con người. Trong lĩnh vực
này, quyền con người của những người bị tình nghi phạm tội dễ bị xâm phạm, dễ bị
tổn thương và hậu quả để lại cũng đặc biệt nghiêm trọng khi nó động chạm đến
những quyền con người cơ bản như quyền sống; quyền được bảo vệ không bị tra
tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo; quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện ... Cho nên
khi đánh giá, xem xét tình trạng vi phạm quyền con người của một quốc gia, người
ta thường bắt đầu từ lĩnh vực TTHS.
Trong những năm qua, hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS nhìn
chung đã có những kết quả khả quan góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ
trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo
pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn
chế, tồn tại, vi phạm trong việc bắt người, giam, giữ, khám xét ...; vẫn còn tình trạng
xét xử oan sai chưa đúng người, đúng tội. Tình trạng đó trước hết sẽ ảnh hưởng đến
quyền lợi của những người bị vi phạm, đặc biệt là những quyền lợi rất quan trọng
và cơ bản. Không những thế nó còn có thể tạo ra những bức xúc trong xã hội. Một
số phần tử phản động nhân cơ hội này, khoác thêm lớp áo “Nhân quyền” thổi
phồng, xuyên tạc, hư cấu thêm sự việc để kích động, lôi kéo, kêu gọi nhân dân
chống lại sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta. Đây là những hậu quả rất nặng nề,
khó khắc phục, có khi là không thể khắc phục. Cho nên, bảo đảm quyền con người

8


trong hoạt động TTHS cần được quan tâm ở mọi góc độ. Việc ban hành các quy
định đúng đắn, hợp lý, khả thi phải đi đôi với việc đảm bảo thực hiện các quy định
đó trong thực tế. Việc thực hiện các quy phạm pháp luật TTHS phụ thuộc vào các
chủ thể tiến hành tố tụng trong đó Tòa án đóng vai trò trọng tâm. Với hoạt động xét
xử và bản án được thông qua tại phiên tòa, mọi nghi ngờ, mọi vấn đề sẽ được làm
sáng rõ từ nội dung vụ án cho đến hình phạt đối với bị cáo. Nếu có một phiên tòa
công bằng, mọi vi phạm quyền con người trong các giai đoạn trước đó (nếu có) sẽ
được phán xử và có những chế tài phù hợp. Ngược lại, nếu phiên tòa đó không đảm
bảo, thì sai lầm sẽ nối tiếp sai lầm và kết thúc bằng một sai lầm. Hoặc nếu như
những quá trình trước (khởi tố, điều tra, truy tố) dù tiến hành đúng nhưng đến giai
đoạn xét xử lại làm sai thì vẫn cho ra một kết quả sai. Do đó, ta có thể coi, Tòa án là
cánh cửa cuối cùng, là cơ hội cuối cùng để quyền con người được đảm bảo.
Từ những sự phân tích trên cho thấy quyền con người trong hoạt động TTHS
cần phải được quan tâm một cách sâu sắc và toàn diện, đặc biệt là tại giai đoạn xét
xử. Cùng với nó, cần phải nghiên cứu thêm về vai trò bảo vệ quyền con người của
các chủ thể tiến hành tố tụng, đặc biệt là vai trò của tòa án.
1.2. Các quyền con người có thể bị tác động trong TTHS
Trong lĩnh vực TTHS, khi quyền lực cưỡng chế của nhà nước bị lạm
dụng, bị vi phạm thì nguy cơ ảnh hưởng đến các quyền con người là rất cao. Có
nhiều quyền con người có thể bị tác động trong lĩnh vực này, tuy nhiên trong
phạm vi đề tài, tôi chỉ đề cập đến những quyền bị tác động tương đối phổ biến
nhất, đó là các quyền sau đây:
1.2.1. Quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện
Trong Luật nhân quyền quốc tế, quyền này lần đầu tiên được quy định tại
Điều 9 Tuyên ngôn toàn thế giới về Quyền con người, 1948 (UDHR): “Không ai bị
bắt, giam giữ hay lưu đày một cách tùy tiện”, sau đó được Công ước quốc tế về các
quyền dân sự và chính trị, 1966 (ICCPR) cụ thể hóa hơn tại Điều 9 như sau: “
1. Mọi người đều có quyền hưởng tự do và an toàn cá nhân. Không ai bị bắt
hoặc giam giữ vô cớ. Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền
đó là có lý do và theo đúng những thủ tục mà pháp luật đã quy định.

9


2. Bất cứ người nào bị bắt giữ đều phải được thông báo vào lúc bị bắt về những
lý do họ bị bắt và phải được thông báo không chậm trễ về sự buộc tội đối với họ.
3. Bất cứ người nào bị bắt hoặc bị giam giữ vì một tội hình sự phải được
sớm đưa ra tòa án hoặc một cơ quan tài phán có thẩm quyền thực hiện chức năng tư
pháp và phải được xét xử trong thời hạn hợp lý hoặc được trả tự do. Việc tạm giam
một người trong thời gian chờ xét xử không được đưa thành nguyên tắc chung,
nhưng việc trả tự do cho họ có thể kèm theo những điều kiện để bảo đảm họ sẽ có
mặt tại Tòa án để xét xử vào bất cứ khi nào và để thi hành án nếu bị kết tội.
4. Bất cứ người nào do bị bắt hoặc giam giữ mà bị tước tự do đều có quyền
yêu cầu được xét xử trước Tòa án, nhằm mục đích để Tòa án đó có thể quyết định
không chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ và ra lệnh trả lại tự do cho họ,
nếu việc giam giữ là bất hợp pháp.
5. Bất cứ người nào trở thành nạn nhân của việc bị bắt hoặc bị giam giữ bất
hợp pháp đều có quyền được yêu cầu bồi thường”. [23, 81]
Điều 9 ICCPR đã được HRC/UNHRC giải thích tại Bình luận chung số 8
(phiên họp thứ 16, 1992) rằng:
- Phạm vi áp dụng Điều 9 ICCPR: Cho tất cả những người bị tước tự do
(những người bị buộc tội, tâm thần, lang thang, nghiện ma túy, người bị tước tự do
vì mục đích giáo dục, kiểm soát nhập cư…)
- Thời hạn tạm giữ: theo quy định của pháp luật quốc gia nhưng Ủy ban
khuyến nghị không nên tạm giữ quá hai ngày.
- Tổng thời gian bị tạm giam: thời gian bị tạm giam của người bị buộc tội
phải phù hợp với thời hạn xét xử. Việc tạm giam trước khi xét xử chỉ nên coi là
ngoại lệ và càng ngắn càng tốt.
- Nếu muốn tiến hành việc giam giữ như là một biện pháp ngăn chặn thì
việc thực hiện phải có căn cứ; phải được thực thi theo đúng các trình tự, thủ tục luật
định. Nếu biện pháp ngăn chặn bị sử dụng một các tùy tiện thì nạn nhân phải được
bồi thường. [21, 258]
Đặc biệt, “Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay

10


bị cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào, 1988” có những quy định rất cụ thể về quyền
không bị bắt, giam giữ tùy tiện, đó là:
- Việc bắt giữ, giam hay cầm tù chỉ được thực hiện theo đúng các quy định
của pháp luật một cách nghiêm ngặt và bởi những quan chức có thẩm quyền hay
những người được ủy quyền thực hiện việc đó (nguyên tắc 2).
- Bất kỳ hình thức giam hay cầm tù nào và tất cả các biện pháp ảnh hưởng
đến quyền con người của một người đang bị giam hay bị cầm tù dưới bất kỳ hình
thức nào phải được ra lệnh bởi, hoặc chịu sự kiểm soát có hiệu quả của cơ quan xét
xử hoặc cơ quan có thẩm quyền khác (nguyên tắc 4).
- Các nhà chức trách bắt giữ một người nào đó, tạm giam người đó hoặc điều
tra vụ án chỉ được phép thực hiện những quyền hạn được giao cho họ theo pháp
luật, và việc thực hiện các quyền hạn này phải chịu sự giám sát của cơ quan xét xử
hay cơ quan có thẩm quyền khác (nguyên tắc 9).
- Việc bắt giữ phải có lệnh với các nội dung cụ thể theo nguyên tắc 12.
Đồng thời, văn kiện này cũng quy định rất rõ ràng và cụ thể các quyền của
người bị bắt giữ: quyền được thông báo về lý do bị bắt giữ, quyền được giải thích
về quyền và nghĩa vụ, quyến được phiên dịch miễn phí, quyền liên lạc với thế giới
bên ngoài, quyền bào chữa, quyền bảo đảm về sức khỏe, quyền khiếu nại, quyền
được suy đoán vô tội, quyền được bồi thường thiệt hại nếu bị giam giữ tùy tiện,
quyền được phát biểu về sự đối xử trong khi bị giam trước cơ quan xét xử hoặc có
thẩm quyền … [23, 697]
Ngoài ra, Các quy tắc chuẩn, tối thiểu của Liên hợp quốc về những biện pháp
không giam giữ (Các quy tắc Tokyo), 1990 cũng quy định việc tránh giam giữ tiền
xét xử như sau:
“6.1. Giam giữ trước khi xét xử được sử dụng như phương án cuối cùng
trong quá trình TTHS, khi xét thấy cần thiết cho việc điều tra hành vi bị coi là phạm
tội và cần thiết để bảo vệ xã hội và các nạn nhân.
6.2. Những biện pháp khác ngoài biện pháp giam giữ trước khi xét xử phải
được áp dụng càng sớm càng tốt. Thời gian giam giữ trước khi xét xử không được

11


lâu hơn thời gian cần thiết để đạt được những mục tiêu nêu trong quy tắc 5.1 và phải
được tiến hành một cách nhân đạo, tôn trọng nhân phẩm vốn có của con người.
6.3. Người phạm tội có quyền kháng án lên TA hoặc một cơ quan độc lập
có thẩm quyền khác trong các trường hợp biện pháp giam giữ trước khi xét xử
được áp dụng” [23; 752]
Pháp luật Việt Nam quy định quyền này tại Điều 71 Hiến pháp và Điều 6, 7
BLTTHS đồng thời có sự quy định rõ ràng về các biện pháp ngăn chặn để hạn chế
tới mức thấp nhất sự tùy tiện trong việc bắt, giam giữ người. Nội dung của quyền
không bị bắt, giam giữ tùy tiện theo Luật Nhân quyền quốc tế và Pháp luật Việt
Nam đều gồm: không được bắt giữ người người không có căn cứ; bắt giữ người
không đúng thẩm quyền, bắt giữ người không đúng thủ tục; bắt người, giam giữ
người chưa cần thiết. Tuy nhiên, Luật Nhân quyền quốc tế nhấn mạnh đến quy định
thời gian giam giữ không được kéo dài. Và chế độ giam giữ phải khác với chế độ thi
hành án phạt tù, đảm bảo đến mức tối đa việc hạn chế các quyền con người của
người bị giam giữ.
Quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện là cốt lõi của tự do và an toàn cá nhân.
Nếu quyền tự do và an toàn cá nhân của con người không được đảm bảo một cách
hiệu quả thì việc bảo vệ các quyền cá nhân khác sẽ dễ bị tổn thương và không thực
tế. Khi nhân quyền này bị vi phạm thì sẽ kéo theo một số hệ quả là các nhân quyền
khác cũng có nguy cơ bị ảnh hưởng theo như quyền không phân biệt đối xử; quyền
được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của người bị tước tự do; quyền tự do
đi lại, cư trú; quyền được tự do tín ngưỡng…[22]
Tuy vậy, trong TTHS, quyền này vẫn có nguy cơ bị vi phạm khi các cơ quan
tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp ngăn chặn một cách tùy tiện, nhất là khi áp
dụng biện pháp bắt người, tạm giữ và tạm giam để điều tra, truy tố và xét xử.
1.2.2. Quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo,
vô nhân đạo hoặc hạ nhục
UDHR và ICCPR lần lượt ghi nhận quyền này tại Điều 5 (UDHR) và Điều 7
(ICCPR) vào năm 1948 và 1966 nhưng lại không đưa ra một định nghĩa rõ ràng về

12


“tra tấn”. Phải đến năm 1984 thì Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử,
trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm (CAT) mới đưa ra khái
niệm về tra tấn như sau:
“Thuật ngữ “tra tấn” có nghĩa là bất kỳ hành vi nào cố ý gây đau đớn hoặc
đau khổ nghiêm trọng về thể xác hay tinh thần cho một người, vì những mục đích
như lấy thông tin hoặc lời thú tội từ người đó hay một người thứ ba, hoặc để trừng
phạt người đó vì một hành vi mà người đó hay người thứ ba thực hiện hay bị nghi
ngờ đã thực hiện, hoặc để đe dọa hay ép buộc người đó hay người thứ ba, hoặc vì
bất kỳ một lý do nào khác dựa trên sự phân biệt đối xử dưới mọi hình thức, khi nỗi
đau đớn và đau khổ đó do một công chức hay người nào khác hành động với tư
cách chính thức gây ra, hay với sự xúi giục, đồng tình hay ưng thuận của một công
chức. Khái niệm tra tấn không bao gồm những đau đớn hoặc đau khổ xuất phát từ,
gắn liền với, hoặc có liên quan đến, các biện pháp trừng phạt hợp pháp”.
Tuy nhiên, CAT cũng nêu rõ nội hàm của khái niệm trên được căn cứ vào
mục đích của Công ước là để cuộc đấu tranh chống tra tấn và đối xử hay trừng phạt
tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm được hiệu quả hơn [23, 148]
Điều 5 UDHR ghi nhận: “Không ai bị tra tấn hay bị đối xử, xử phạt một cách
tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm” [23, 49]
Điều 7 ICCPR nói rằng:
“Không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt một cách tàn ác, vô nhân
đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm. Đặc biệt, không ai có thể bị sử dụng để làm thí nghiệm
y học hoặc khoa học mà không có sự đồng ý tự nguyện của người đó” [23, 80]
Ở phiên họp lần thứ 16, 1982, HRC/UNHRC đã giải thích về Điều 7 ICCPR
tại Bình luận chung số 7. Trong phiên họp thứ 39, 1990, Ủy ban đã phản ánh, phát
triển và thay thế Bình luận chung số 7 bằng Bình luận chung số 20 với các nội dung
cơ bản như sau:
- Mục đích của Điều 7 ICCPR: bảo vệ phẩm giá và sự toàn vẹn về thể chất
và tinh thần của cá nhân.
- Không có giới hạn quyền đối với các quy định trong Điều 7 ICCPR, kể cả
trong tình trạng khẩn cấp quốc gia.

13


- Nội hàm của các khái niệm nêu trong Điều 7 ICCPR (tra tấn, trừng phạt tàn
bạo, vô nhân đạo, hạ nhục) căn cứ vào bản chất, mục đích và tính chất nghiêm trọng
của hành động đã thực hiện.
- Phạm vi ngăn cấm: các hành động gây ra đau đớn về thể chất lẫn tinh thần;
các hành động nhục hình, đánh đập tàn nhẫn để trừng phạt tội phạm hay để giáo
dục, rèn luyện đối với học sinh, bệnh nhân.
- Việc kéo dài thời gian biệt giam hoặc tù giam một người, kể cả người đã bị
kết án tử hình mà không có lý do chính đáng cũng bị coi là hành động tra tấn. Việc
thi hành án tử hình phải thực hiện theo cách thức làm giảm đến mức tối thiểu sự đau
đớn về thể xác và tinh thần cho tử tù. [21; 287]
Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay bị cầm tù
dưới bất kỳ hình thức nào, 1988 cũng quy định tại nguyên tắc 6 là:
“Không người nào bị giam hoặc cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào bị tra tấn
hay đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm. Không được
viện dẫn bất kỳ hoàn cảnh nào để biện minh cho việc tra tấn hay đối xử hoặc trừng
phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm” [23; 698]
Pháp luật Việt Nam quy định quyền này tại các Điều 71, 72 Hiến pháp; Điều
6, 7, 9 BLTTHS và các chương XII, XXII BLHS cũng chính là sự khẳng định về
mặt pháp lý về bảo vệ quyền không bị tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân
đạo hay bị hạ nhục.
Như vậy, quyền này có thể bị vi phạm ở nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng
trong TTHS là rõ nét nhất, đặc biệt là tại giai đoạn điều tra khi việc truy bức, dùng
nhục hình người bị nghi ngờ phạm tội có thể được sử dụng như là cách nhanh nhất
để lấy lời khai người bị buộc tội…
1.2.3. Quyền được xét xử nhanh chóng, không bị trì hoãn
Điểm c khoản 3 Điều 14 ICCPR quy định: “Người bị buộc tội được xét xử
mà không bị trì hoãn một cách vô lý”
Nguyên tắc 38 Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam
hay bị cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào, 1988 quy định: “Một người bị giam do bị

14


cáo buộc phạm tội hình sự phải có quyền được xét xử trong một khoảng thời gian
hợp lý hoặc được trả tự do trong thời gian chờ xét xử”
Quy tắc Bắc Kinh, 1985 cũng quy định việc tránh trì hoãn không cần thiết:
“Mỗi vụ án phải được xét xử nhanh chóng ngay từ đầu, không được có bất kỳ sự trì
hoãn không cần thiết nào” (Quy tắc 20).
Bình luận chung số 32 tại phiên họp thứ 19, 2007 của UNHRC cũng xác
định tại Điều 27:
“Một khía cạnh của phiên tòa công khai là tính chất nhanh chóng. Vấn đề xét
xử không chậm trễ trong TTHS được đề cập trong khoản 3c Điều 14, theo đó sự
chậm trễ trong thủ tục tố tụng không thể biện minh bởi sự phức tạp của vụ án hoặc
những hành vi của các bên là trái với nguyên tắc xét xử công bằng theo đoạn 1 của
Điều 14. Trong trường hợp chậm trễ này là do thiếu nguồn lực thì cần bổ sung ngân
sách cho thực thi pháp luật” [21, 367]
Quyền này có một ý nghĩa quan trọng trong TTHS vì việc áp dụng pháp luật
không chỉ cần đúng đắn mà còn phải kịp thời. Nếu công lý không được thực hiện
kịp thời thì cũng không còn nhiều ý nghĩa. Trước hết đối với quyền lợi của những
người bị hại thì rõ ràng là vụ án càng kéo dài càng bị ảnh hưởng (trừ trường hợp có
sự thỏa thuận bồi thường giữa các bên trong vụ án). Ngoài ra, tâm lý theo đuổi vụ
án kéo dài cũng rất mệt mỏi, ảnh hưởng đến cuộc sống, công việc hàng ngày của
những người tham gia tố tụng. Sau đó, chính bản thân những người bị tình nghi
phạm tội, những người bị buộc tội cũng bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng. Đó là
những trường hợp như do sự chậm trễ của hoạt động tư pháp mà nhiều người bị bắt,
tạm giữ, tạm giam sau nhiều ngày mới được xác định là vô tội và được trả tự do.
Ngay cả người bị buộc tội có bị kết án đi chăng nữa thì việc chờ đợi quá lâu một
hình phạt đối với mình cũng bị xem là một hành động tra tấn [21, 287]. Những
trường hợp này, dù có được giải quyết đúng người, đúng tội đi chăng nữa thì các giá
trị khác mà pháp luật cần bảo vệ cũng bị tổn hại nặng nề. Tuy vậy, trong thực tiễn tố
tụng, do nhiều nguyên nhân khác nhau, quyền này vẫn đã và đang bị vi phạm.
Không chỉ là việc kéo dài thời gian xét xử dẫn tới việc gia hạn, án quá hạn mà còn

15


có tình trạng án kéo dài năm này qua năm khác khi vụ án bị điều tra, xét xử lại theo
thủ tục chung.
1.2.4. Quyền được xét xử công bằng
Đây thực chất là một tập hợp các đảm bảo tố tụng nhằm bảo đảm quá trình
xét xử được công bằng, gồm: Bình đẳng trước Tòa án; Được xét xử bởi một Tòa án
độc lập, không thiên vị, công khai; Được suy đoán vô tội; Không bị áp dụng hồi tố;
Không hình sự hóa vụ án dân sự. Trong một số tài liệu thì mỗi bảo đảm này được
coi như là một quyền con người cụ thể [22; 168]
Quyền này được đề cập tại Điều 10 UDHR (quyền được xét xử công bằng và
công khai) và Điều 11 UDHR (quyền được suy đoán vô tội, không hình sự hóa vụ
án dân sự, không bị áp dụng hồi tố). Hai Điều này được tái quy định trong ICCPR
tại các Điều 11 (không hình sự hóa vụ án dân sự); Điều 14 (quyền được xét xử công
bằng; quyền được suy đoán vô tội; quyền được xét xử bởi một Tòa án độc lập,
không thiên vị); Điều 15 (không bị áp dụng hồi tố).
Ở phiên họp lần thứ 21, 1984, HRC/UNHRC đã giải thích về Điều 14
ICCPR tại Bình luận chung số 13. Sau này, Bình luận chung số 13 được thay thế
bằng Bình luận chung số 32 tại phiên họp thứ 19, 2007 với các nội dung như sau:
- Mục đích của Điều 14 ICCPR: bảo đảm công lý và làm tiền đề bảo đảm
một số quyền cụ thể trong đó.
- Bản chất của Điều 14: là một tập hợp các bảo đảm tố tụng nhằm bảo đảm
quá trình xét xử được công bằng (quyền bình đẳng trước phiên tòa và Tòa án; quyền
được xét xử công bằng và tranh tụng trước một Tòa án độc lập, không thiên vị;
quyền của người bị cáo buộc hình sự; quyền của người chưa thành niên; quyền
kháng cáo; quyền được bồi thường oan sai,…).
- Các quốc gia thành viên Công ước có nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện các
bảo đảm tố tụng quy định ở Điều 14.
- Các quốc gia thành viên Công ước có thể bảo lưu một số bảo đảm cụ thể ở
Điều 14 nhưng không được bảo lưu chung về quyền được xét xử công bằng…
- Từ Điều 7 đến Điều 57: Ủy ban giải thích rõ ràng và cụ thể về nội hàm của

16


các tập hợp tố tụng nêu trong Điều 14 ICCPR.
- Từ Điều 58 đến Điều 65, Ủy ban bình luận về mối liên hệ giữa Điều 14
ICCPR và các quy định khác của Công ước. [21, 379]
Về Điều 11 và 15 ICCPR thì cho đến nay, HRC/UNHRC chưa đưa ra bình
luận chung nào.
Trong Pháp luật Việt Nam, quyền này được thể hiện bằng nhiều quy định
trong Hiến pháp và BLTTHS. Pháp luật Quốc tế và Pháp luật Việt Nam đều ghi
nhận quyền xét xử công bằng là quyền cơ bản của người bị buộc tội trước cơ quan
tiến hành tố tụng. Đây là một nhân quyền cơ bản và có tính phổ quát cao. Một phiên
tòa công bằng là yếu tố thiết yếu để bảo đảm các quyền cơ bản khác của con người
như quyền sống, quyền tự do thân thể, quyền tự do ngôn luận …
Tuy nhiên, để có một phiên tòa công bằng thì cũng cần phải đảm bảo bởi
rất nhiều yếu tố. Và do đó, trong thực tế, quyền này dễ bị vi phạm dưới nhiều
hình thức khác nhau.

17


Chương 2
BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ
VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ
LUẬT NHÂN QUYỀN QUỐC TẾ
2.1. Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự theo
Pháp luật Việt Nam
Các quy định để bảo đảm quyền con người trong TTHS được thể hiện tập
trung và rõ ràng nhất tại Hiến pháp và BLTTHS cũng như các văn bản liên quan
đến hoạt động của TAND và VKSND. Tuy nhiên, trong phần này, chúng tôi chỉ đi
phân tích các quy định của Hiến pháp 1992 và BLTTHS 2003.
2.1.1. Theo Hiến pháp 1992
Hiến pháp 1992 được thông qua vào ngày 15/4/1992, được sửa đổi vào ngày
25/12/2001. Hiến pháp 1992 ra đời trong bối cảnh những năm đầu đất nước thực
hiện công cuộc đổi mới đất nước do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng
(1986) đề ra và để thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội năm 1991. Hiến pháp 1992 với vai trò là đạo luật gốc đã thực
hiện tốt sứ mệnh lịch sử, tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Nhiều thành tựu to lớn trong quá trình phát triển của đất nước đã diễn ra trên nền
tảng mà Hiến pháp 1992 tạo ra.
Về vấn đề quyền con người, quyền công dân, Hiến pháp 1992 đã có sự ghi
nhận về quyền con người tại chương V từ điều 49 - 82 (tăng 05 điều so với Hiến
pháp 1980). Hiến pháp 1992 đã ghi nhận hai nguyên tắc quan trọng là:
“Các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội
được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp
và luật” (Điều 50)
“Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân” (Điều 51)
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, cụm từ “quyền con

18


người” được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp. Từ hai nguyên tắc này, Hiến
pháp 1992 ghi nhận một số quyền con người nói chung và quyền con người trong
TTHS nói riêng cũng như cơ chế đảm bảo thực thi các nguyên tắc đó trong thực tế.
Các quyền con người trong TTHS được ghi nhận trong Hiến pháp 1992 gồm:
- Quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 52)
- Quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 71)
- Quyền được suy đoán vô tội: thực chất là sự ghi nhận nội dung chính của
quyền (Điều 72)
- Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở và đời sống riêng (Điều 73)
- Quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 74)
- Quyền được xét xử bởi một Tòa án độc lập (Điều 130)
- Quyền bào chữa (Điều 132)
Tuy nhiên, các quyền con người trên được thể hiện trong mối quan hệ
giữa nhà nước và công dân, chứ không được xem xét quyền con người như bản
chất vốn có của nó.
Ngoài việc ghi nhận những quyền con người cụ thể như trên thì Hiến pháp
1992 còn quy định cơ chế thực hiện quyền. Các quyền con người trong TTHS được
bảo đảm bằng hệ thống các cơ quan là Công an nhân dân, VKSND và TAND, trong
đó các quy định về VKSND và TAND khá rõ nét và cụ thể. Theo quy định của Hiến
pháp 1992 thì “VKSND thực hành quyền công tố” (Điều 137), “TAND là cơ quan
xét xử của nước CHXHCN Việt Nam” (Điều 127). Và cả hai hệ thống cơ quan này
đều có chung nhiệm vụ là “bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội
chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể,
bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân” (Điều 126).
Đặc biệt, ngoài việc quy định các nguyên tắc xét xử thì Hiến pháp còn quy định về
cơ cấu tổ chức hoạt động của hệ thống TAND và VKSND nhằm đảm bảo việc xét
xử được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện; so sánh với pháp luật quốc tế và
một số quốc gia khác thì phải thừa nhận rằng với những quy định như hiện nay về

19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×