Tải bản đầy đủ

Điều trần tại ủy ban của nghị viện một số nước trên thế giới và việc áp dụng cho hội đồng dân tộc và các ủy ban của quốc hội việt nam

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ LAN ANH

ĐIỀU TRẦN TẠI ỦY BAN CỦA NGHỊ VIỆN
MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ
VIỆC ÁP DỤNG CHO HỘI ĐỒNG DÂN TỘC VÀ
CÁC ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ LAN ANH

ĐIỀU TRẦN TẠI ỦY BAN CỦA NGHỊ VIỆN

MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ
VIỆC ÁP DỤNG CHO HỘI ĐỒNG DÂN TỘC VÀ
CÁC ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ CÔNG GIAO

HÀ NỘI – 2015


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu, ví dụ và phân tích trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và
trung thực. Việc tham khảo, trích các kết quả nghiên cứu trước đó đã được
dẫn nguồn đầy đủ. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả
các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Lê Lan Anh


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

UBTVQH

: Ủy ban thường vụ Quốc hội

HĐDT

: Hội đồng Dân tộc

TANDTC


: Tòa án nhân dân tối cao

VKSNDTC

: Viện kiểm sát nhân dân tối cao

TW

: Trung ương

NN&PTNT

: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

GTVT

: Giao thông Vận tải

ASEAN

: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

AEC

: Cộng đồng kinh tế ASEAN

VOV

: Đài tiếng nói Việt Nam

EVN

: Tập đoàn điện lực Việt Nam

i


DANH MỤC CÁC BẢNG

STT

Nội dung

Trang

1

Bảng 1.1: So sánh điều trần với điều tra, chất vấn

10

2

Bảng 1.3: Tính phổ biến của hoạt động điều trần ở các nước

28

3

Bảng 2.1: So sánh điều trần với giải trình, yêu cầu báo cáo,
hội nghị lấy ý kiến, điều tra

ii

33


MỤC LỤC
Lời cam đoan
Danh mục các chữ viết tắt ........................................................................... i
Danh mục các bảng ......................................................................................ii
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM CỦA
NGHỊ VIỆN MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ ĐIỀU TRẦN ......... 9
1.1. Những vấn đề lý luận về điều trần tại ủy ban của nghị viện ............... 9
1.1.1. Khái niệm điều trần ............................................................................. 9
1.1.2 Mục đích, ý nghĩa của điều trần......................................................... 12
1.1.3. Chủ thể của điều trần ........................................................................ 14
1.1.4. Đối tượng được mời tham gia điều trần ............................................ 15
1.1.5. Nội dung của điều trần ...................................................................... 15
1.1.6. Thời điểm tổ chức và tính công khai của điều trần........................... 16
1.1.7. Thủ tục điều trần ............................................................................... 17
1.1.8. Kết quả của hoạt động điều trần ....................................................... 18
1.1.9. Khuôn khổ pháp lý về điều trần ........................................................ 18
1.2. Thực tiễn hoạt động điều trần tại ủy ban của nghị viện một số nước
trên thế giới................................................................................................. 19
1.2.1. Nghị viện Nhật Bản ........................................................................... 19
1.2.2. Nghị viện Hoa Kỳ .............................................................................. 22
1.2.3. Nghị viện Ba Lan............................................................................... 23
1.2.4. Nghị viện New Zealand ..................................................................... 25
1.3. Một số đánh giá về điều trần tại ủy ban của nghị viện các nước và bài
học kinh nghiệm cho Quốc hội Việt Nam .................................................. 27
1.3.1. Một số đánh giá về áp dụng điều trần tại ủy ban của nghị các nước 27
1.3.2. Những bài học kinh nghiệm cho Quốc hội Việt Nam ....................... 30
iii


Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CÓ TÍNH TƯƠNG ĐỒNG
VỚI ĐIỀU TRẦN TẠI HĐDT VÀ CÁC ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI
VIỆT NAM ................................................................................................. 33
2.1. Giải trình: hoạt động có tính tương đồng với điều trần .................... 33
2.2. Các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động giải trình tại HĐDT
và các ủy ban của Quốc hội Việt Nam ....................................................... 37
2.2.1. Các quy định trước khi Hiến pháp 2013 được ban hành .................. 37
2.2.2. Hiến pháp 2013 và các văn bản cụ thể hóa Hiến pháp ..................... 41
2.3. Thực tiễn tổ chức các phiên giải trình tại HĐDT và các ủy ban của
Quốc hội Việt Nam ..................................................................................... 42
2.3.1. Phiên giải trình đầu tiên và xu hướng phát triển.............................. 42
2.3.2. Một số phiên giải trình tiêu biểu trong thời gian gần đây................. 44
2.4. Những kết quả đạt được và những hạn chế của hoạt động giải trình ....... 51
2.4.1. Những kết quả đạt được .................................................................... 51
2.4.2. Những hạn chế và nguyên nhân ....................................................... 54
Chương 3 ÁP DỤNG ĐIỀU TRẦN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA HĐDT
VÀ CÁC ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI NƯỚC TA HIỆN NAY ................ 60
3.1. Sự cần thiết, cơ sở và phạm vi của việc áp dụng điều trần trong hoạt
động của HĐDT và các ủy ban của Quốc hội ........................................... 60
3.2. Các nguyên tắc áp dụng điều trần vào hoạt động của HĐDT và các
ủy ban của Quốc hội ................................................................................... 62
3.2.1. Góp phần phát huy dân chủ, tăng cường tính công khai, minh bạch
trong hoạt động của Quốc hội ..................................................................... 62
3.2.2. Bảo đảm điều trần phải gắn với việc tăng cường vai trò đại diện, nắm
bắt ý nguyện của người dân ........................................................................ 63
3.2.3. Bảo đảm phiên điều trần phải gắn với việc đổi mới tổ chức và hoạt
động của các ủy ban của Quốc hội ............................................................. 65
iv


3.2.4. Bảo đảm điều trần phải góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của
Quốc hội ...................................................................................................... 67
3.3. Một số giải pháp áp dụng điều trần vào hoạt động của HĐDT và các
ủy ban của Quốc hội nước ta hiện nay ...................................................... 69
3.3.1. Tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý về hoạt động giải trình ................ 69
3.3.2. Đẩy mạnh tổ chức thông tin, tuyên truyền rộng rãi về điều trần trong
hoạt động của Quốc hội .............................................................................. 72
3.3.3. Hoàn thiện tổ chức, hoạt động của HĐDT, các ủy ban của

Quốc hội ..................................................................................................... 75
3.3.4. Tăng cường năng lực của bộ máy giúp việc của Quốc hội ............... 79
KẾT LUẬN ................................................................................................. 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 83

v


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Có một sự thống nhất trong các nghiên cứu về nghị viện là duy trì một
hệ thống ủy ban mạnh sẽ tạo cho nghị viện khả năng tốt hơn để gây ảnh
hưởng về mặt chính sách đối với công chúng và để giám sát tốt hơn đối với
các hoạt động của ngành hành pháp [18, tr.37]. Một trong những công cụ hữu
hiệu được các ủy ban của nghị viện sử dụng để thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của mình là tổ chức phiên điều trần. Đây là một cơ chế chính thức
để các ủy ban có thể thu thập thông tin về những vấn đề chính sách từ các cơ
quan thuộc chính phủ, các chuyên gia từ bên ngoài, các tổ chức dân sự, các
đối tượng có liên quan khác… nhằm mục đích tăng cường chất lượng của quá
trình ra quyết định.
Ở Việt Nam, trong điều kiện Quốc hội chưa hoạt động thường xuyên
thì vai trò của HĐDT và các ủy ban ngày càng được coi trọng. Quốc hội Việt
Nam đã có những nỗ lực để đổi mới cơ cấu tổ chức, thẩm quyền và phương
thức hoạt động của Ủy ban trong thời gian gần đây và thể hiện tập trung nhất
là trong Luật tổ chức Quốc hội 2015.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, điều trần chỉ mới được sử dụng dưới góc độ
nghiên cứu mà chưa được sử dụng chính thức. Trong Hiến pháp 2013, Luật tổ
chức Quốc hội 2014 cũng chỉ quy định về vấn đề “giải trình” trước HĐDT và
các Ủy ban của Quốc hội chứ chưa quy định về “điều trần”. Về mặt ngữ nghĩa
tiếng Việt, giải trình và điều trần thể hiện tính chất hoàn toàn khác nhau. Việc
lựa chọn thuật ngữ “giải trình” vô hình trung đã thu hẹp đáng kể đối tượng mà
các ủy ban của Quốc hội có thể nghe và cần phải nghe.
1


Thực tế trong thời gian qua, HĐDT và các Ủy ban của Quốc hội Việt
Nam đã tổ chức các phiên giải trình đối với các vấn đề được dư luận xã hội
quan tâm và đã nhận được phản hồi tích cực từ phía cử tri cả nước. Tuy nhiên,
do chưa có quy định cụ thể về thủ tục tiến hành nên việc triển khai còn gặp
nhiều khó khăn, trở ngại và chưa thống nhất. Cách làm tùy thuộc vào sự sáng
tạo của mỗi ủy ban. Về cơ bản vẫn là sự giải trình, báo cáo của bộ ngành
trước ủy ban về một vấn đề cụ thể kết hợp tham khảo thêm một số yếu tố của
phiên điều trần của nghị viện các nước.
Chính vì vậy, để tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của
HĐDT và các Ủy ban của Quốc hội việc nghiên cứu áp dụng hình thức điều
trần là vấn đề rất cần thiết và có ý nghĩa. Việc áp dụng hình thức điều trần
trong hoạt động của HĐDT và các Ủy ban của Quốc hội sẽ mang lại những
hiệu quả tích cực, giải quyết được những hạn chế trong họat động giải trình
hiện nay. Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Điều trần tại ủy
ban của nghị viện một số nước trên thế giới và việc áp dụng cho HĐDT và
các Ủy ban của Quốc hội Việt Nam” làm luận văn Thạc sĩ Luật học, chuyên
ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật tại Khoa Luật – Đại học
Quốc gia Hà Nội.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến điều trần tại các Ủy ban của Quốc hội, trong thời gian
qua, đã có nhiều cá nhân và tổ chức tiến hành nghiên cứu dưới hình thức sách,
đề tài khoa học, luận án, báo cáo nghiên cứu chuyên đề, các bài báo, tạp chí
khoa học. Một số nghiên cứu tiêu biểu có thể kể như sau:
- TS. Ngô Đức Mạnh, “Suy nghĩ về việc đổi mới tổ chức các Ủy ban
của Quốc hội”, Hiến kế lập pháp, số 5/2006.
2


- Nghiên cứu sinh Trần Hồng Nguyên, “Nâng cao chất lượng hoạt
động lập pháp của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay” (2007), Luận án tiến sĩ luật học bảo vệ tại Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
- GS.TS Trần Ngọc Đường “Thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh của
HĐDT và các Ủy ban của Quốc hội - Thực trạng và giải pháp”, Nghiên cứu
lập pháp, số 113, tháng 1/2008.
- GS.TS Trần Ngọc Đường, Phát huy vai trò của HĐDT và các Ủy ban
của Quốc hội trong hoạt động lập pháp, Bài viết tại Hội thảo “Hoạt động của
các Ủy ban của Quốc hội - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” Viện nghiên
cứu lập pháp, 8/2010.
- Trung tâm Thông tin, Thư viện và Nghiên cứu khoa học, Văn phòng
Quốc hội, “Xây dựng quy trình làm việc mẫu của các Ủy ban của Quốc hội”,
Hà Nội, 2008.
- PGS.TS Trương Thị Hồng Hà, Hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm chức
năng giám sát của Quốc hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009.
- TS Hoàng Thị Ngân, Về cách tiếp cận quyền giám sát của Quốc hội
của tác giả, bài viết in trong sách: Giám sát và cơ chế thực hiện quyền giám
sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội, 2003.
- GS.TS Trần Ngọc Đường, Quyền giám sát tối cao và một số suy nghĩ
về việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả thực hiện quyền giám sát tối cao của
Quốc hội, giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội, HĐDT và các Ủy ban
của Quốc hội, bài viết in trong Kỷ yếu Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2000 2001: Tăng cường giám sát của Quốc hội nước ta hiện nay, Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh.
3


- Nguyễn Đức Hiền, Nguyễn Quốc Thắng, Một vài suy nghĩ về nâng
cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, bài viết in trong Kỷ yếu Hội
thảo khoa học về hoạt động giám sát của Quốc hội của Quốc hội, Văn phòng
Quốc hội, Hà Nội, 1999.
- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tăng cường hoạt động
giám sát của Quốc hội, Báo cáo tổng quan đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội,
2000-2011.
- Ủy ban Tư pháp của Quốc hội khoá XII, “Báo cáo kết quả đoàn nghiên
cứu về hoạt động giám sát của Quốc hội Đức và Na Uy”, Hà nội, 4/2010.
- Đinh Thi Minh Thư, Mở rộng các hình thức liên hệ cử tri, Báo Đại
biểu nhân dân, 12/4/2010.
- Đoàn Đình Anh, Điều trần ở HĐND tỉnh Hà Tĩnh, Báo Đại biểu nhân
dân, 30/7/2010.
- Nguyễn Hải Long, Vấn đề pháp lý về điều trần, chất vấn tại HĐDT và
các Ủy ban của Quốc hội Việt Nam, Trang thông tin điện tử của Trung tâm
bồi dưỡng đại biểu dân cử, tại địa chỉ http://ttbd.gov.vn, cập nhật ngày
02/11/2010.
- Nguyễn Đức Lam, Hoàng Minh Hiếu, John Patterson, Kit Dawnay,
Điều trần tại Ủy ban: Nghiên cứu khả năng áp dụng ở Việt Nam, Báo cáo
nghiên cứu thực hiện trong khuôn khổ Dự án “Tăng cường năng lực của các
cơ quan đại diện ở Việt Nam”, Văn phòng Quốc hội, Hà Nội, 2011.
- TS Nguyễn Sĩ Dũng, Giải trình hay điều trần? Báo lao động điện tử,
tại địa chỉ http://laodong.com.vn, cập nhật 28/01/2013.
- TS Nguyễn Sĩ Dũng (chủ biên), Giám sát của Quốc hội dưới góc nhìn
tham chiếu, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2004.
4


- TS Ngô Huy Cương, Điều trần ủy ban của Quốc hội và sự cần thiết
tiếp nhận chế định này ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 191,
tháng 3/2011.
Qua khảo sát cho thấy, phần lớn các công trình nghiên cứu nói trên tập
trung khảo cứu về hoạt động của cơ quan dân cử, trong đó có đề cập về điều
trần tại các Ủy ban của Quốc hội.
Một số ít công trình nghiên cứu trực tiếp về hoạt động điều trần, tuy nhiên
các công trình đó mới đề cập đến một số khía cạnh của điều trần như vấn đề
pháp lý, kinh nghiệm các nước mà chưa nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện
về lý luận và tổng kết thực tiễn hoạt động có tính tương đồng với điều trần (giải
trình) ở Việt Nam, kiến nghị các biện pháp áp dụng điều trần vào hoạt động của
HĐDT và các Ủy ban của Quốc hội Việt Nam. Hơn nữa, luận văn được tiến
hành trong bối cảnh đã có những văn bản quan trọng liên quan đến hoạt động
của ủy ban mới được ban hành như Hiến pháp 2013 và Luật tổ chức Quốc hội
2014 và có văn bản sắp được ban hành như Luật hoạt động giám sát của Quốc
hội và Hội đồng nhân dân. Do vậy, việc lựa chọn và góc độ nghiên cứu của đề
tài “Điều trần tại ủy ban của nghị viện một số nước trên thế giới và việc áp dụng
cho HĐDT và các Ủy ban của Quốc hội Việt Nam” là không trùng lặp với các
công trình khoa học đã được công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Luận văn này được nghiên cứu hướng tới một số mục đích như sau:
- Góp phần tiếp tục hoàn thiện những vấn đề lý luận và hoàn thiện
khuôn khổ pháp lý về tổ chức và hoạt động của HĐDT và các ủy ban của Quốc
hội Việt Nam, trong đó có các văn bản quy định về cơ cấu tổ chức, chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và các văn bản quy định về quy trình, thủ tục hoạt động.
5


- Áp dụng điều trần trong họat động của HĐDT và các Ủy ban của
Quốc hội Việt Nam nhằm tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của
các cơ quan chuyên môn của Quốc hội nói riêng và hoạt động của Quốc hội
nói chung.
3.2. Nhiệm vụ
- Tìm hiểu những vấn đề lý luận về hoạt động điều trần tại các ủy ban
của nghị viện, trong đó, làm rõ các khái niệm điều trần, giải trình, chất vấn,
điều tra.
- Nghiên cứu hoạt động điều trần tại nghị viện một số quốc gia trên thế
giới, Trong đó tập trung vào các vấn đề cơ bản như mô hình, tổ chức, thẩm
quyền, phạm vi, thủ tục, loại hình, thời hạn,…
- Tìm hiểu về sự cần thiết và cách thức áp dụng điều trần vào hoạt động
của HĐDT và các Ủy ban của Quốc hội Việt Nam trong đó làm rõ cả cơ sở lý
luận, pháp lý và thực tiễn.
- Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm áp dụng điều trần vào hoạt động
của HĐDT và các Ủy ban của Quốc hội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn tập trung vào các vấn đề như:
+ Các lý thuyết về tổ chức và hoạt động của ủy ban nói chung và điều
trần nói riêng.
+ Thực tiễn điều trần ở nghị viện một số nước;
+ Các quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động của HĐDT và các
ủy ban của Quốc hội.
+ Thực tiễn các hoạt động có sự tương đồng nhất định với điều trần tại
HĐDT và các Ủy ban của Quốc hội thời gian qua.
6


- Phạm vi nghiên cứu:
Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, tác giả tập trung nghiên cứu
hoạt động điều trần tại ủy ban nghị viện một số nước trên thế giới tiêu biểu
cho các mô hình chính thể đại nghị, tổng thống và lưỡng tính. Luận văn cũng
tập trung nghiên cứu những cơ sở pháp lý và thực tiễn hoạt động của HĐDT
và các ủy ban của Quốc hội Việt Nam trong thời gian gần đây (trước và sau
khi ban hành Hiến pháp 2013). Việc áp dụng điều trần vào hoạt động của
HĐDT và các ủy ban được nghiên cứu trong cả lĩnh vực lập pháp và giám sát.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu luận văn là chủ nghĩa Mác – Lênin;
tư tưởng Hồ Chí Minh về các vấn đề Nhà nước và Pháp luật; quan điểm của
Đảng và Nhà nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
trong giai đoạn hiện nay, về đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội nói
chung và tổ chức, hoạt động của các cơ quan của Quốc hội nói riêng; lý
thuyết về chuyển hóa, du nhập pháp luật giữa các quốc gia trên thế giới.
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp
nghiên cứu khoa học như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, kết hợp với
phương pháp phân tích các tư liệu, tài liệu, báo cáo công tác có liên quan đến
tổ chức và hoạt động của HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
+ Về cơ sở lý luận, luận văn tập trung vào khai thác, phân tích khái
niệm, bản chất, các thành tố của hoạt động điều trần như chủ thể, đối tượng,
mục đích, thủ tục; phân biệt rõ điều trần với điều tra, giải trình, tham vấn, lấy
ý kiến... Bên cạnh đó, làm rõ vai trò, lợi ích của điều trần trong hoạt động của
HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội nói riêng và Quốc hội nói chung.
+ Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động điều trần tại Ủy ban của Quốc
hội một số nước. Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
7


+ Phân tích thực trạng hoạt động có sự tương đồng nhất định với điều trần
của HĐDT và các Ủy ban của Quốc hội thời gian qua – hoạt động giải trình. Từ
đó, đánh giá được những hiệu quả, hạn chế của họat động này trên thực tế.
+ Lý giải sự cần thiết áp dụng điều trần vào hoạt động của HĐDT và
các ủy ban của Quốc hội Việt Nam; luận giải cơ sở khoa học, pháp lý, thực
tiễn và phạm vi, mức độ của việc áp dụng điều trần vào Quốc hội Việt Nam.
+ Đề xuất những biện pháp cụ thể về hoàn thiện cơ sở pháp lý cũng như
những giải pháp đồng bộ để vận dụng, áp dụng điều trần trở thành phương
thức hoạt động mới hiệu quả, thiết thực trong việc thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của HĐDT và các Ủy ban của Quốc hội.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần vào việc hoàn thiện lý
luận về hoạt động của hệ thống ủy ban của Quốc hội nói chung, hoạt động
điều trần trong lập pháp và giám sát của các ủy ban của Quốc hội nói riêng.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu
ích giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐDT và các Ủy ban của Quốc hội
trên thực tế.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tham khảo, luận văn được
kết cấu thành 3 chương, cụ thể là:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm của nghị viện một số
nước trên thế giới về điều trần.
Chương 2: Thực trạng hoạt động có tính tương đồng với điều trần tại
HĐDT và các Ủy ban của Quốc hội Việt Nam.
Chương 3: Áp dụng điều trần trong họat động của HĐDT và các Ủy
ban của Quốc hội Việt Nam hiện nay.
8


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM CỦA NGHỊ VIỆN
MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ ĐIỀU TRẦN

1.1. Những vấn đề lý luận về điều trần tại ủy ban của nghị viện

1.1.1. Khái niệm điều trần
Nghĩa gốc tiếng Anh của điều trần là “nghe” (hearings). Ủy ban của
Quốc hội “nghe” tất cả các bên liên quan cung cấp thông tin, lập luận, chứng
cứ về một vấn đề trong giám sát, trong lập pháp, để làm sáng tỏ hơn vấn đề
đó. Điều trần là trình bày chính thức trước cơ quan đại diện nhà nước để giải
thích, biện bạch … về vấn đề nào đó mà mình chịu trách nhiệm [14, tr.10].
Thực tiễn hoạt động của nghị viện ở các nước trên thế giới cho thấy,
điều trần là phiên họp của Ủy ban nghị viện (thường là mở công khai) để thu
thập thông tin và ý kiến về một dự luật nào đó, hoặc để tiến hành điều tra về
một vấn đề thời sự nào đó, hoặc để giám sát, đánh giá hoạt động của Chính
phủ hoặc việc thực thi pháp luật. Trong một số trường hợp, điều trần hoàn
toàn mang tính chất giải thích, cung cấp những chứng cứ hoặc số liệu về một
vấn đề đang diễn ra. Các chuyên gia nghiên cứu đã khái quát thành 4 loại điều
trần cơ bản như sau [3. tr.11]:
i) Điều trần lập pháp;
ii) Điều trần giám sát;
iii) Điều trần điều tra;
iv) Điều trần thông báo.
Khái niệm điều trần có thể được làm rõ hơn thông qua việc so sánh sau đây.

9


Bảng 1.1: So sánh điều trần với điều tra, chất vấn
Điều trần

Điều tra
Giám sát

Chất vấn

Lĩnh vực

Lập pháp + Giám sát

Tính chất

Chủ yếu là xem xét Xem xét vụ việc cụ Xem xét cả những vấn
những vấn đề về chính thể
đề chính sách và
sách. Cũng có khi điều
những vấn đề cụ thể
trần về một vấn đề cụ
thể

Mục đích

Thu thập thông tin

Xem xét tính hợp Làm rõ trách nhiệm
pháp của các hành vi của cá nhân có thẩm
quyền

Chủ thể

Tất cả các loại ủy ban

Ủy ban Điều tra

Giám sát

Đại biểu Quốc hội

Ủy ban lâm thời
Thanh tra Quốc hội
Ban Dân nguyện của
Quốc hội
Đối tượng Tất cả các bên có liên Chủ thể điều tra, đối Đại biểu Quốc hội và
quan đến chính sách
tượng bị điều tra và các thành viên Chính
tham gia
bên cung cấp chứng
phủ
cứ
Hình thức

Phiên điều trần (phiên Xem xét tài liệu,
họp của Ủy ban)
thu thập chứng cứ

Phiên họp toàn thể của
Quốc hội

Gặp nhân chứng
Đối chất …
Tính công Chủ yếu là công khai Thông thường chỉ Công khai
trong toàn bộ quá trình công khai kết quả
khai
chuẩn bị và diễn ra điều tra
phiên điều trần

10


Nội dung

Tất cả những vấn đề Chỉ những vụ việc Tất cả những vấn đề
thuộc nội dung hoạt nhất định trên cơ sở thuộc thẩm quyền phụ
động của ủy ban
kiến nghị của cử tri
trách của Chính phủ
hoặc đại biểu Quốc
hội

Thủ tục

Theo thủ tục một Thủ tục của một cuộc Thủ tục chất vấn tại
phiên họp ủy ban
điều tra (thủ tục tư phiên họp toàn thể
pháp)

Hệ quả

- Kiến nghị đối với - Báo cáo Quốc hội
Chính phủ
- Đưa vấn đề vào
chương trình nghị sự
của Quốc hội

Lợi ích

Có tác động và ảnh
hưởng rộng tới: Quốc
hội, các cơ quan của
Quốc hội, xã hội, nền
dân chủ

Làm rõ trách nhiệm
chính trị đối với người
bị chất vấn

Thường là tác động Có tác động và ảnh
hẹp hơn:
hưởng tới: Quốc hội,
Giải quyết vụ việc cụ Chính phủ, xã hội
thể

Ở Việt Nam, thuật ngữ “điều trần” chưa được sử dụng chính thức trong
các văn bản pháp luật mà thay vào đó là thuật ngữ “giải trình”. Về bản chất,
giữa hoạt động “điều trần” tại ủy ban của nghị viện các nước trên thế giới có
điểm tương đồng và khác biệt với hoạt động “giải trình” tại HĐDT và các Ủy
ban của Quốc hội Việt Nam (sẽ được làm rõ trong phần sau của luận văn).
Song việc lựa chọn thuật ngữ “giải trình” đã thu hẹp đáng kể đối tượng mà
các ủy ban của Quốc hội có thể nghe và cần phải nghe. Chỉ có đại diện Chính
phủ, các bộ ngành mới có trách nhiệm phải giải trình trước Quốc hội, ủy ban
của Quốc hội. Rất nhiều thành phần khác không có trách nhiệm phải giải trình
trước ủy ban nhưng lại rất cần được ủy ban lắng nghe [4].
11


Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng, điều trần là một hình thức để
các Ủy ban của nghị viện có thể thu thập thông tin (ý kiến, quan điểm, chứng
cứ, dữ liệu v.v…) về những vấn đề chính sách từ các cơ quan thuộc Chính
phủ, các chuyên gia từ bên ngoài, các tổ chức dân sự, hiệp hội, doanh nghiệp,
cá nhân công dân nhằm mục đích tăng cường chất lượng của quá trình ra
quyết định.

1.1.2 Mục đích, ý nghĩa của điều trần
* Về mục đích:
Phần lớn nghị viện các nước đều quy định việc điều trần là để thực hiện
nhiệm vụ của Ủy ban, nói cách khác, điều trần được xem là một công cụ để
thực hiện các nhiệm vụ mà Ủy ban được giao, không giới hạn đó là nhiệm vụ
lập pháp hay giám sát. Ví dụ, Điểm d, Khoản 4, Điều 37 Nội quy Hạ nghị
viện Cộng hòa Indonesia quy định các Ủy ban có thể tổ chức các cuộc điều
trần công khai để thực hiện các nhiệm vụ của Ủy ban. Điều 76, Điều 77, Nội
quy của Hạ nghị viện Nhật Bản ghi nhận một Ủy ban có thể tiến hành hoạt
động điều trần công khai để xem xét các giải pháp được chuyển tới Ủy ban
mình hoặc để thực hiện các nghiên cứu sơ Bộ theo sáng kiến của mình.
* Ý nghĩa của điều trần
Có thể thấy rằng, điều trần ở ủy ban nghị viện mang lại nhiều lợi ích
khác nhau sau đây:
Một là, thu thập thông tin đầy đủ, nhiều chiều (ý kiến, quan điểm,
chứng cứ, dữ liệu,…) về những vấn đề chính sách, phục vụ các hoạt động như
thẩm tra các dự án luật, giám sát các chính sách và hoạt động của Chính phủ.
Vai trò quan trọng nhất của hoạt động điều trần là thu thập thông tin để các
nghị sĩ, có cơ sở đánh giá, xem xét các vấn đề được đưa ra thảo luận của Ủy
ban, cung cấp những chứng cứ có sức thuyết phục phục vụ cho việc đưa ra
12


các quyết định của Ủy ban. Các thông tin được thu thập tại các phiên điều trần
đến từ rất nhiều nguồn đa dạng khác nhau như từ các nhân chứng đến từ các
cơ quan Chính phủ, các thành viên Ủy ban, các học giả, các nhóm lợi ích. Qua
thông tin thu thập được các nghị sỹ có thể phần nào xác định được liệu Quốc
hội nên có những quyết định như thế nào cho phù hợp với những vấn đề đang
được đặt ra.
Hai là, điều trần là diễn đàn tranh luận công khai. Vì vậy, thông qua
các phiên điều trần, các ủy ban giúp xoa dịu, dung hòa, giải tỏa tình trạng
căng thẳng trong đời sống chính trị. Hoạt động điều trần có ý nghĩa quan
trọng trong việc tạo điều kiện cho công dân, các tổ chức trong xã hội vốn lâu
nay có nhiều điều bức xúc được lên tiếng. Qua đó, sự căng thẳng trong xã hội
chùng xuống bất kể các đạo luật hoặc các vấn đề được Ủy ban xem xét có thể
được thông qua hay không.
Ba là, điều trần là một hình thức để cơ quan lập pháp thực hiện quyền
giám sát đối với hoạt động của hành pháp. Để đánh giá việc chấp hành, thực
hiện các kiến nghị giám sát thì trước hết, các Ủy ban – chủ thể tiến hành các
hoạt động giám sát đơn lẻ hoặc các cơ quan giúp việc được phân công cần
theo dõi sát sao việc triển khai thực hiện các kiến nghị của các đối tượng giám
sát. Hoạt động điều trần tại các Ủy ban của nghị viện với tính chất đặc trưng
là công khai, minh bạch có ý nghĩa quan trọng, thiết thực là hình thức để cơ quan
lập pháp thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của cơ quan hành pháp.
Bốn là, điều trần tạo diễn đàn cho các thành viên của cơ quan đại diện
và cá nhân có thẩm quyền trong Bộ máy hành pháp trao đổi, thảo luận về những
vấn đề mà dư luận quan tâm. Việc áp dụng các phiên điều trần tại các Ủy ban
giúp cho các thành viên Ủy ban phát huy khả năng chuyên môn của mình; có
điều kiện thảo luận, trao đổi, đi sâu vào những vấn đề mà dư luận quan tâm.
13


Năm là, điều trần góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Ủy ban
nói riêng và hiệu quả hoạt động của Quốc hội nói chung. Tại phiên điều trần
các đại biểu nghe được ý kiến nhiều chiều trong đó có các chuyên gia và các
nhóm lợi ích. Chính vì vậy, chức năng đại diện trong trường hợp này cũng
được phát huy tối đa bởi nghị sĩ sẽ nghe và hiểu được tác động của chính sách
tới các nhóm đối tượng mà họ đại diện. Bên cạnh đó, thông qua điều trần, cơ
quan hành pháp có cơ hội tiếp thu thêm các ý kiến của chuyên gia, có thêm
nhiều góc nhìn, và từ đó hình thành các giải pháp chính sách phù hợp hơn với
cuộc sống. Như vậy, có thể nói rằng, điều trần góp phần thúc đẩy sự tương tác
giữa lập pháp và hành pháp trong việc ban hành và thực thi chính sách, điều
trần thúc đẩy sự năng động của chính quyền và chính vì vậy cũng tăng cường
hiệu quả của bộ máy nhà nước.

1.1.3. Chủ thể của điều trần
Chủ thể của điều trần là tất cả các Ủy ban của Quốc hội, bao gồm:
- Ủy ban thường trực;
- Ủy ban lâm thời;
- Ủy ban điều tra;
- Ủy ban nghiên cứu.
Về sự tham gia của các thành viên Ủy ban, do tính chất thu thập thông
tin và không đưa ra các quy định cụ thể của phiên điều trần, nên yêu cầu về số
lượng tối thiểu các nghị sỹ có mặt tại phiên điều trần là không khắt khe như
các phiên họp chính thức của Ủy ban. Thông thường, quy định ở nghị viện
của một số nước yêu cầu khoảng một phần ba số lượng thành viên của Ủy ban
phải có mặt tại phiên điều trần, trong khi đó ở một số nghị viện khác chỉ cần
vài ba nghị sỹ có mặt. Bên cạnh đó, ở một số nghị viện khác, để giảm tải cho
hoạt động của Ủy ban hoặc do quy mô của Ủy ban quá lớn, các hoạt động
điều trần có thể được tiến hành bởi các tiểu ban của Ủy ban.
14


1.1.4. Đối tượng được mời tham gia điều trần
Đối tượng được các ủy ban xác định lắng nghe phụ thuộc vào các nội
dung của cuộc điều trần. Nhìn chung, ở các nước có ghi nhận hoạt động điều
trần của ủy ban thì đối tượng được lắng nghe chủ yếu là những người có
quyền, lợi ích liên quan đến nội dung của dự thảo luật hoặc vấn đề đang được ủy
ban xem xét, hoặc những người có kiến thức chuyên môn sâu về vấn đề đó.
Những đối tượng được tham gia phát biểu ý kiến tại các phiên điều trần
có thể là các Bộ trưởng, các công chức, các chuyên gia trong các lĩnh vực có
liên quan, đại diện của các tổ chức xã hội hoặc các đơn vị nghiên cứu khoa
học, đại diện cộng đồng dân cư hoặc người dân. Chẳng hạn ở Mỹ, những
người được mời tham dự các phiên điều trần có thể là những người vận động
hành lang, các chuyên gia, người của Lầu Năm Góc, người của Phố Wall, luật
sư, thẩm phán,… Tất cả đều muốn lên tiếng tại “cơ quan lập pháp nhỏ” này,
nơi mà những báo cáo Ủy ban có thể có tiếng nói quyết định lên tiến trình
biểu quyết ở phiên họp toàn thể.
Nghị viện ở các nước khác nhau có thể lựa chọn những người được mời
tham dự phiên họp điều trần theo các phương thức khác nhau. Một số nghị
viện chọn những người đã có kiến nghị gửi đến trước cho nghị viện được
tham dự và phát biểu tại các phiên điều trần (như ở Malaysia), trong khi một
số nghị viện sử dụng cách thức thông báo và lựa chọn những người dân có
quan tâm và đã đăng ký tham dự (như ở Philippines).

1.1.5. Nội dung của điều trần
Các nội dung được tiến hành điều trần rất phong phú, đa dạng và
thường liên quan trực tiếp đến các nội dung công việc mà các ủy ban được
giao thực hiện và bắt buộc trong một số trường hợp:
- Liên quan đến ngân sách hoặc có tác động làm giảm nguồn thu ngân sách;
15


- Khi đã nhận được các kiến nghị của cử tri.
Thông thường trước khi diễn ra phiên điều trần, Ủy ban cần phải quyết
định có cần đưa một vấn đề ra tiến hành điều trần hay không. Các Ủy ban
phải quyết định xem họ cần thông tin gì và các vấn đề cần trao đổi, sau đó
xem xét liệu điều trần có phải là phương thức tốt nhất để đạt được các mục
đích đó hay không.
Hiện nay, ở một số nước, điều trần là một khâu không thể thiếu trong
quy trình lập pháp. Chẳng hạn, trong những năm gần đây, rất hiếm khi các ủy
ban của Quốc hội Mỹ trình báo cáo ra phiên họp toàn thể về các dự luật quan
trọng mà không tổ chức các phiên điều trần về dự án luật đó. Thậm chí, nếu một
dự luật không được xếp vào lịch điều trần thì coi như dự luật đó đã “chết”.

1.1.6. Thời điểm tổ chức và tính công khai của điều trần
Thông thường các phiên điều trần có thể tổ chức bất kỳ lúc nào, trừ khi
có những hoạt động khác của nghị viện, ví dụ khi sắp xếp thời điểm tiến hành
điều trần, các Ủy ban thường phải tính toán để không bị trùng với các hoạt
động khác của Ủy ban, của Ủy ban khác và của cá nhân nghị sỹ để các nghị
sỹ có thể tham gia một cách thuận lợi nhất.
Các Ủy ban thường phải thông báo muộn nhất là một tuần trước khi
tiến hành phiên điều trần về:
+ Địa điểm;
+ Thời gian;
+ Các vấn đề sẽ đưa ra điều trần;
+ Thành phần tham dự.
Những thông tin trên cần phải được công bố công khai. Ngoài ra các Ủy ban còn
phải gửi đến các nghị sỹ và những người tham dự các tài liệu cần thiết như:
16


+ Giấy mời;
+ Tóm tắt các vấn đề đưa ra điều trần;
+ Danh sách các nhân chứng…

1.1.7. Thủ tục điều trần
Phiên họp điều trần của các Ủy ban thường được tiến hành với các thủ
tục tương tự phiên họp chính thức của Ủy ban. Tuy nhiên, do tính chất của
phiên họp điều trần chủ yếu là để thu thập thông tin nên thủ tục tiến hành
phiên họp cũng được thực hiện một cách linh hoạt và đơn giản hơn. Cụ thể tại
phiên họp này, nhiệm vụ cơ bản của các thành viên Ủy ban là lắng nghe ý
kiến của các nhân chứng được mời tham gia phiên điều trần. Các thành viên
của Ủy ban có thể đặt các câu hỏi để làm rõ về các vấn đề liên quan, thông
thường, việc lựa chọn các nhân chứng tham gia phát biểu tại phiên điều trần
phải đảm bảo sự cân bằng về số lượng các ý kiến phản đối hoặc ủng hộ về các
vấn đề được thảo luận.
Quy trình tiến hành điều trần thường gồm các bước sau:
- Soạn thảo Đề cương tham chiếu;
- Mời công chúng gửi ý kiến bằng văn bản;
- Tìm kiếm hỗ trợ từ chuyên gia độc lập;
- Nghe các đại biểu tham dự phiên điều trần trình bày (thường kéo dài
nhiều giờ đồng hồ của một phiên hoặc nhiều phiên);
- Công bố biên bản về nội dung phiên điều trần;
- Soạn thảo báo cáo về điều trần;
- Công bố báo cáo và đưa báo cáo vào chương trình nghị sự;
- Theo dõi việc thực hiện các kiến nghị trong báo cáo.
17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×