Tải bản đầy đủ

Công đồng người việt nam ở nước ngoài những nét văn hóa đặc trưng (NXB đại học quốc gia 2013) vũ hào quang, 163 trang

PGS.TS VŨ HÀO QUANG

CéNG §åNG NG¦êI VIÖT NAM
ë N¦íC NGOµI

NH÷NG NÐT V¡N HO¸ §ÆC TR¦NG
(Sách chuyên khảo) 

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI


2


CéNG §åNG NG¦êI VIÖT NAM
ë N¦íC NGOµI

NH÷NG NÐT V¡N HO¸ §ÆC TR¦NG

3



BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT

4

N

số lượng

THPT

Trung học phổ thông

KHXH&NV

Khoa học Xã hội và Nhân văn

DLXH

dư luận xã hội

TP HCM

Thành phố Hồ Chí Minh

NVNƠNN

Người Việt Nam ở nước ngoài

BKHCN

Bộ Khoa học& công nghệ

PVS

Phỏng vấn sâu


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ....................................................................................................... 9

Chương I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU ..... 11
1. Cơ sở lí luận............................................................................................... 11
1.1. Văn hóa: khái niệm, ₫ịnh nghĩa, loại hình ........................................... 11
1.2. Khái niệm và ₫ịnh nghĩa “con người" .................................................. 16
2. Các lí thuyết ₫ược vận dụng ₫ể nghiên cứu con người và văn hóa
cộng ₫ộng người Việt Nam ở nước ngoài .............................................. 19
2.1. Lí thuyết “₫ẩy-kéo” trong nghiên cứu di chuyển dân cư ...................... 19
2.2. Lí thuyết “thị trường lao ₫ộng” trong nghiên cứu chuyển cư ................ 20
2.3. Lí thuyết giá trị và ₫ịnh hướng giá trị trong nghiên cứu NVNƠNN ....... 21
2.4. Thuyết biến ₫ổi giá trị ......................................................................... 31
2.5. Một số hình thức biến ₫ổi giá trị, giải thích biến ₫ổi giá trị
trong ₫iều kiện của NVNƠNN ............................................................ 34
3. Một số cách tiếp cận chính trong nghiên cứu về con người văn hóa
cộng ₫ồng người Việt Nam ở nước ngoài .............................................. 36
3.1. Tiếp cận triết học ................................................................................ 36
3.2. Tiếp cận hệ thống ............................................................................... 37
3.3. Tiếp cận lịch sử................................................................................... 39
3.4. Tiếp cận nhân học văn hóa ................................................................ 40
3.5. Tiếp cận tâm lí học dân tộc................................................................. 42
4. Các khái niệm công cụ và thao tác hóa các khái niệm .......................... 42
4.1. Di cư ................................................................................................... 42
5


4.2. Tị nạn ................................................................................................. 43
4.3. Văn hóa .............................................................................................. 44
4.4. Tiếp biến văn hóa ............................................................................... 44
4.5. Cộng ₫ồng .......................................................................................... 44
4.6. Xã hội ................................................................................................. 45
4.7. Gia ₫ình .............................................................................................. 46
4.8. Lối sống của gia ₫ình ......................................................................... 47
4.9. Người Việt Nam ở nước ngoài ............................................................. 49
5. Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan ₫iểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam
về văn hóa và con người ₫ược vận dụng trong nghiên cứu NVNƠNN 49
5.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và con người ................................. 49
5.2. Quan ₫iểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về văn hóa
và con người ...................................................................................... 53
5.3. Quan ₫iểm của Đảng và Nhà nước về công tác ₫ối với người Việt
Nam ở nước ngoài ............................................................................. 55
Chương II. NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN VỀ CON NGƯỜI
VÀ VĂN HÓA CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM
Ở NƯỚC NGOÀI HIỆN NAY........................................................... 59
1. Những ₫ặc trưng chung của các cá nhân của cộng ₫ồng NVNONN .... 59
1.2. Những ₫ặc trưng cơ bản về văn hóa cộng ₫ồng người Việt Nam
ở nước ngoài ...................................................................................... 65
1.3. Đặc trưng cơ bản văn hóa cộng ₫ồng và tổ chức cộng ₫ồng Việt
tại Thái Lan ........................................................................................ 73
2. Mối quan hệ giữa các ₫ặc trưng về con người và xã hội trong cộng
₫ồng NVNONN ở một số nước ................................................................ 83
2.1. Quan hệ cộng ₫ồng người Việt với cộng ₫ồng người Mĩ
tại ₫ịa phương .................................................................................... 83
2.2. Quan hệ nội bộ cộng ₫ồng Việt kiều Mĩ .............................................. 84
6


2.3. Quan hệ giữa Việt kiều Thái Lan với dân sở tại .................................. 84
2.4. Quan hệ nội bộ cộng ₫ồng Việt kiều Thái ........................................... 85
3. Đặc trưng cơ bản của ₫ời sống văn hóa tinh thần của cộng ₫ồng
người Việt ở Thái Lan............................................................................... 87
3.1. Đặc trưng cơ bản của cộng ₫ồng Việt kiều Thái Lan .......................... 87
3.2. Sự hội nhập vào cộng ₫ồng cư dân bản ₫ịa........................................ 97
3.3. Các hình thức hội nhập của cộng ₫ồng .............................................. 98
3.4. Sự ₫ánh giá của người bản ₫ịa về vị thế cộng ₫ồng người Việt Nam
so với cộng ₫ồng các dân tộc của các nước láng giềng
như Lào, Campuchia .......................................................................... 99
3.5. Mức ₫ộ nắm bắt những thông tin về ₫ời sống kinh tế, văn hoá, xã hội
Việt Nam qua các kênh truyền thông của người Việt ở Thái Lan ...... 101
3.6. Đánh giá về mức ₫ộ hạnh phúc của gia ₫ình.................................... 102
3.7. Đánh giá về ₫ịa vị kinh tế gia ₫ình mình so với các gia ₫ình Việt kiều
khác ở nước sở tại ............................................................................ 103
3.8. Lí do quyết ₫ịnh nhập cư vào Thái Lan ............................................. 104
4. Xu hướng biến ₫ổi những ₫ặc trưng cơ bản về văn hóa của cộng
₫ồng Việt kiều Thái Lan ......................................................................... 105
4.1. Biến ₫ổi về ₫ịnh hướng giá trị phong tục, tập quán ........................... 105
4.2. Biến ₫ổi các giá trị văn hóa truyền thống của thế hệ thứ ba
ở Thái Lan ........................................................................................ 106
4.3. Biến ₫ổi nội dung giao tiếp do việc sử dụng ngôn ngữ Việt
của thế hệ thứ hai ............................................................................ 107
4.4. Biến ₫ổi nội dung giao tiếp do việc sử dụng ngôn ngữ
của thế hệ thứ ba trong giao tiếp tại gia ₫ình ................................... 109
4.5. Biến ₫ổi các nếp sống do những khó khăn của ₫ời sống .................. 110
4.6. Sự khác biệt giữa các thế hệ Việt kiều ở Thái Lan ............................ 112

7


5. Đánh giá chung về thực trạng người Việt Nam ₫ang ₫ịnh cư
tại Thái Lan ............................................................................................. 114
Chương III. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA
VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN GIẢI QUYẾT ....................... 119
1. Quan ₫iểm của Đảng và Nhà nước ta về tăng cường sức mạnh Đại
₫oàn kết dân tộc, khai thác những thế mạnh của cộng ₫ồng
NVNƠNN ................................................................................................. 119
1.1. Những công trình nghiên cứu về tiềm lực và khả năng ₫óng góp
của cộng ₫ồng người Việt Nam ở nước ngoài
với sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện ₫ại hoá ₫ất nước................. 119
1.2. Các quan ₫iểm của Đảng và Nhà nước về công tác ₫ối với
người Việt Nam ở nước ngoài ........................................................... 122
2. Những vấn ₫ề ₫ặt ra cần giải quyết ....................................................... 126
2.1. Về phía Đảng, chính phủ Việt Nam .................................................. 126
2.2. Giải pháp .......................................................................................... 132
3. Những giải pháp về phát huy trí tuệ, tài năng người VNƠNN ............. 139
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 145

8


LỜI NÓI ĐẦU
 
Cuốn sách này được hình thành từ Đề tài cấp Nhà nước có 
tiêu  đề  “Những  đặc  trưng  cơ  bản  về  con  người  và  văn  hoá  của 
cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài”, mã số KX03.19/06‐10, 
do PGS. TS. Vũ Hào Quang làm Chủ nhiệm theo Quyết định số 
2764/QĐ‐BKHCN, ngày 21 tháng 11 năm 2007; được nghiệm thu 
ngày  26  tháng  3  năm  2011.  Công  trình  đã  được  triển  khai  bằng 
các phương pháp khảo sát xã hội học tại 03 nước là Mĩ; Thái Lan 
và Việt Nam. Cuộc khảo sát tại Mĩ được thực hiện trong tháng 8‐
9  năm  2009;  tại  Việt  Nam  từ  tháng  4  đến  tháng  7  năm  2009  và 
Thái Lan vào tháng 5 năm 2010. Trong quá trình thực hiện đề tài, 
nhóm  nghiên  cứu  đã  nhận  được  sự  giúp  đỡ  của  nhiều  cơ  quan 
hữu  quan  như:  Uỷ  ban  về  Người  Việt  Nam  ở  nước  ngoài  thuộc 
Bộ Ngoại giao; Đại sứ quán Việt Nam tại Washington DC, Tổng 
lãnh sự Việt Nam tại San fransisco; Trung tâm Nghiên cứu Châu 
Á tại San fransisco; Khoa Chính trị học, Đại học Mahasharakham, 
Thái  Lan; Hội  Việt  kiều  Thái  Lan;  Trường  Đại  học  Khoa  học  Xã 
hội  và  Nhân  văn  thuộc  Đại  học  Quốc  gia  Hà  Nội;  Viện  Nghiên 
cứu dư luận xã hội thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương. Ngoài ra, 
nhóm nghiên cứu còn nhận được sự giúp đỡ chân thành có hiệu 
quả cao của một số bà con Việt kiều tại Mĩ và Thái Lan. Phương 
pháp  thu  thập  thông  tin  chính  gồm:  Điều  tra  bằng  bảng  hỏi; 
phỏng  vấn  sâu;  thảo  luận  nhóm  tập  trung;  phỏng  vấn  chuyên 
gia; phân tích tài liệu; quan sát thực địa; các phần mềm hỗ trợ xử 
lí thông tin: SPSS; NVIVO. 
9


Các lí thuyết và các phương pháp tiếp cận chính trong công 
trình:  Lí  thuyết  chức  năng,  Thuyết  cấu  trúc  ‐  chức  năng;  Thuyết 
tương tác biểu trưng; Thuyết hành động xã hội; Lí thuyết giá trị. 
Những vấn đề trọng tâm được đề cập đến trong cuốn sách này là: 
‐ Những đặc trưng cơ bản về con người và văn hóa của cộng 
đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay; 
‐ Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành các đặc trưng 
cơ bản đó;  
‐  Thực  trạng  đời  sống  văn  hóa  tinh  thần  của  cộng  đồng 
người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay và những vấn đề đặt ra;  
‐ Xu hướng biến đổi bản sắc của con người và văn hóa cộng 
đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong những năm tới; 
‐ Cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách 
của Đảng và Nhà nước nhằm tăng cường sức mạnh đại đoàn kết, 
giữ  gìn  và  phát  huy  bản  sắc  dân  tộc,  trong  đó  có  việc  phát  huy 
những thế mạnh của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. 
Công trình này đã vận dụng các lí thuyết cơ bản của xã hội 
học  như  thuyết  chức  năng,  thuyết  tương  tác  biểu  trưng,  thuyết 
trao đổi mạng lưới, thuyết hành động xã hội, thuyết hệ thống để 
phân  tích cộng đồng  người Việt Nam ở  nước ngoài như  một bộ 
phận  không  thể  tách  rời  của  Dân  tộc  Việt  Nam.  Mặc  dù  sống  ở 
nước  ngoài,  cộng  đồng  NVNƠNN  vẫn  có  mối  liên  hệ  về  mặt 
chức năng với những người Việt trong nước ở cả cấp độ cá nhân 
lẫn cấp độ cộng đồng xã hội. Đó là các mối quan hệ có tính chức 
năng  như:  quan  hệ  dòng  máu,  dòng  họ,  quan  hệ  đồng  hương, 
quan hệ nghề nghiệp và quan hệ dân tộc. Các mối quan hệ trên 
đã gắn kết cộng đồng NVNƠNN thành một khối không thể tách 
rời với khối đại đoàn kết chung của dân tộc Việt Nam. 

10


 

Chương I

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN
NGHIÊN CỨU
1. Cơ sở lí luận

1.1. Văn h‚a: khŸi niệm, ₫ịnh nghĩa, loại h˜nh

Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa 
phản  ánh  một  cách  nhìn  nhận  và  đánh  giá  khác  nhau.  Ngay  từ 
năm  1952,  hai  nhà  nhân  loại  học  Mĩ  là  Alfred  Kroeber  và  Clyde 
Kluckhohn đã thống kê và kết quả cho thấy có tới 164 định nghĩa 
khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới. Văn 
hóa được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc 
học, nhân loại học (theo cách gọi của Mĩ hoặc dân tộc học hiện đại 
theo  cách  gọi  của  châu  Âu),  dân  gian  học,  địa  văn  hóa  học,  văn 
hóa học, xã hội học,... và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó, định 
nghĩa về văn hóa cũng khác nhau.  
Theo định nghĩa chung nhất, văn hóa bao gồm tất cả những 
sản phẩm của hoạt động người. Và như vậy, văn hóa bao gồm cả 
hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư 
tưởng,  giá  trị  và  khía  cạnh  vật  chất  như  nhà  cửa,  quần  áo,  các 
phương tiện, v.v...  Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm 
và đó là một phần của văn hóa. 
Văn hóa bao gồm nhiều loại hình khác nhau. Bàn về các loại 
hình  văn  hóa,  Ngô  Đức  Thịnh  cho  rằng:  trong  một  quốc  gia,  các 
dạng thức văn hoá thường rất phong phú, đa dạng, tuy nhiên có 
11


thể quy chúng về mấy nhóm chính, như: a) Văn hoá cộng đồng (văn 
hoá tộc người, văn hoá quốc gia Việt Nam, văn hoá làng, văn hoá 
gia đình, dòng họ, văn hoá tôn giáo tín ngưỡng, ...), b) Văn hoá cá 
nhân,  c)  Văn  hoá  vùng‐lãnh  thổ  (văn  hoá  vùng,  văn  hoá  địa 
phương,...)  và  d)  Văn  hoá  sinh  thái.  Trong  mỗi  nhóm  như  vậy  lại 
chứa đựng nhiều dạng thức văn hoá khác nhau.1 
Người ta phân loại các định nghĩa về văn hóa thành những 
dạng chủ yếu sau đây: 
Về mặt thuật ngữ khoa học: Văn hóa được bắt nguồn từ chữ 
La‐tinh ʺCultusʺ mà nghĩa gốc là gieo trồng, được dùng theo nghĩa 
Cultus  Agri  là  ʺgieo  trồng  ruộng  đấtʺ  và  Cultus  Animi  là  ʺgieo 
trồng tinh thầnʺ tức là ʺsự giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con ngườiʺ. 
Theo  nhà  triết  học  Anh  Thomas  Hobbes  (1588‐1679):  ʺLao  động 
dành cho đất gọi  là sự gieo trồng và sự dạy dỗ trẻ em  gọi  là  gieo 
trồng tinh thầnʺ. 
Các  định  nghĩa  miêu  tả  định  nghĩa  văn  hóa  theo  những  gì 
mà  văn  hóa  bao  hàm.  Chẳng  hạn,  nhà  nhân  loại  học  người  Anh 
Edward Burnett Tylor (1832‐1917) đã định nghĩa văn hóa như sau: 
Văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học là 
một  tổng  thể  phức  hợp  gồm  kiến  thức,  đức  tin,  nghệ  thuật,  đạo 
đức,  luật  pháp,  phong  tục,  và  bất  cứ  những  khả  năng,  tập  quán 
nào  mà  con  người  thu  nhận  được  với  tư  cách  là  một  thành  viên 
của xã hội. 
Các định nghĩa lịch sử nhấn mạnh các quá trình kế thừa xã 
hội,  truyền  thống  dựa  trên  quan  điểm  về  tính  ổn  định  của  văn 
hóa.  Một  trong  những định  nghĩa đó  là của Edward  Sapir (1884‐

1

Ngô Đức Thịnh, “Tổng quan về các dạng thức văn hoá ở Việt Nam”, Tạp chí Văn
hoá dân gian, số 4/2005.

12


1939), nhà nhân loại học, ngôn ngữ học người Mĩ: Văn hóa chính 
là bản thân con người, cho dù là những người hoang dã nhất sống 
trong  một  xã  hội  tiêu  biểu  cho  một  hệ  thống  phức  hợp  của  tập 
quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống. 
Các định nghĩa chuẩn mực nhấn mạnh đến các quan niệm về 
giá  trị,  chẳng  hạn  William  Isaac  Thomas  (1863‐1947),  nhà  xã  hội 
học người Mĩ coi văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất 
kỳ nhóm người nào (các thiết chế, tập tục, phản ứng, cư xử,...). 
Các  định  nghĩa  tâm  lí  học  nhấn  mạnh  vào  quá  trình  thích 
nghi với môi trường, quá trình học hỏi, hình thành thói quen, lối 
ứng xử của con người. Một trong những cách định nghĩa như vậy 
của William Graham Sumner (1840‐1910), viện sỹ Mĩ, giáo sư Đại 
học  Yale  và  Albert  Galloway  Keller,  học  trò  và  cộng  sự  của  ông 
cho  rằng: Tổng  thể  những  thích  nghi  của  con  người  với  các  điều 
kiện sinh sống của họ chính là văn hóa, hay văn minh... Những sự 
thích nghi này được bảo đảm bằng con đường kết hợp những thủ 
thuật như biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kế thừa.  
Ralph  Linton  (1893‐1953),  nhà  nhân  loại  học  người  Mĩ  định 
nghĩa: a) Văn hóa suy cho cùng là các phản ứng lặp lại ít nhiều có 
tổ chức của các thành viên xã hội; b) Văn hóa là sự kết hợp giữa lối 
ứng xử mà các thành tố của nó được các thành viên của xã hội đó 
tán thành và truyền lại nhờ kế thừa.  
Theo  Pitirim  Alexandrovich  Sorokin  (1889‐1968),  với  nghĩa 
rộng nhất, văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra, hay được cải 
biến  bởi  hoạt  động  có  ý  thức  hay  vô  thức  của  hai  hay  nhiều  cá 
nhân tương tác với nhau và tác động đến lối ứng xử của nhau.  
Joseph  H.Fichter  đã  đưa  ra  định  nghĩa  về  văn  hóa  dựa  trên 
định nghĩa của E.B.Taylor E, B nhưng có bổ sung cho phù hợp với 
đối tượng nghiên cứu của ngành xã hội học. Fichter J, H viết: “Văn 
13


hóa là một toàn bộ phức tạp bao gồm kiến thức, tín ngưỡng nghệ thuật, 
đạo  đức,  luật  pháp,  phong  tục  và  các  khả  năng  khác  cùng  tập  quán  do 
con người thu thập được với tư cách là nhóm xã hội”1. 
Các  nhà  khoa  học  xã  hội  (cả  xã  hội  học  lẫn  nhân  học)  theo 
trường phái chức năng luận của E. Durkheim đã xem xét văn hóa 
như  là  một  cấu  phần  của  xã  hội.  Họ  định  nghĩa  xã  hội  như  sau: 
“Xã  hội  là  một  thực  tại  của  các  thành  phần  văn  hóa  và  cấu  trúc 
hoặc là các sự kiện xã hội mà có thể nghiên cứu”2. Theo định nghĩa 
này, văn hóa chính là sự biểu hiện thực tế của xã hội. 
Năm  2002,  UNESCO  đã  đưa  ra  định  nghĩa  về  văn  hóa  như 
sau: Văn hóa nên là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, 
vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người 
trong  xã  hội  và  nó  chứa  đựng,  ngoài  văn  học  và  nghệ  thuật,  cả 
cách  sống,  phương  thức  chung  sống,  hệ  thống  giá  trị,  truyền 
thống và đức tin.  
Từ  các  định  nghĩa  trên,  có  thể  đi  đến  một  khái  niệm  tổng 
quát:  Văn  hóa  là  sản  phẩm  hoạt  động  của  con  người  với  tư  cách 
loài; văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa 
con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo 
nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa 
được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã 
hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành 
động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát 
triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và 
hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như 
trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra. 

1
2

Xã hội học, Joseph H. Fichter (Trần Văn Đĩnh dịch), Sài Gòn 1974, trang 161.
www.en. Wikipedia.org/wiki/culture.

14


‐ Tiểu văn hóa 
Tiểu  văn  hóa  là  văn  hóa  của  các  cộng  đồng  xã  hội  mà  có 
những  sắc  thái  khác  với  nền  văn  hóa  chung  của  toàn  xã  hội. 
Người  ta  thường  hay  nhắc  đến  tiểu  văn  hóa  của  thanh  niên,  của 
một dân tộc ít người nào đó hay tiểu văn hóa của một cộng đồng 
người  dân  sinh  sống  lâu  đời  ở  một  nước,  v.v.....  Thực  chất,  tiểu 
văn  hóa  vẫn  là  một  bộ  phận  của  nền  văn  hóa  chung;  nó  tuy  có 
những nét khác biệt khá rõ so với nền văn hóa chung song không 
đối lập với nền văn hóa chung đó. 
‐ Phản văn hóa 
Trong  khi  tiểu  văn  hóa  vẫn  hướng  tới  bảo  vệ  những  giá  trị 
của nền văn hóa chung thì phản văn hóa công khai bác bỏ những 
chuẩn  mực,  giá  trị  của  nền  văn  hóa  chung.  Phản  văn  hóa  có  thể 
được  xem  như  tập  hợp  các  chuẩn  mực,  giá  trị  của  một  nhóm 
người trong xã hội mà đối lập, xung đột với các chuẩn mực, giá trị 
chung của toàn xã hội. Như vậy, sự khác biệt giữa phản văn hóa 
và văn hóa chung lớn hơn nhiều so với tiểu văn hóa. Phản văn hóa 
là điều thường thấy trong mọi xã hội. 
‐ Văn hóa nhóm 
Văn  hóa  nhóm  là  hệ  thống  các  giá  trị,  các  quan  niệm,  tập 
tục  được  hình  thành  trong  nhóm.  Văn  hóa  nhóm  được  hình 
thành  từ  khi  các  mối  quan  hệ  trong  nhóm  được  thiết  lập  và 
cùng  với  thời  gian  các  quy  chế  được  hình  thành,  các  thông  tin 
được trao đổi và các thành viên cùng trải qua các sự kiện. Tất cả 
các nhóm nhỏ đều có văn hóa của mình, nhưng đồng thời cũng 
là  một  phần  của  nền  văn  hóa  toàn  xã  hội.  Như  vậy,  văn  hóa 
nhóm  cho  thấy  trong  nền  văn  hóa  chung  còn  có  thể  có  những 
nét  riêng  biệt  của  các  tập  đoàn,  các  tổ  chức  xã  hội  khác  nhau. 
15


Cũng có những ý kiến cho rằng, văn hóa nhóm dùng để chỉ nền 
văn hóa riêng nhỏ hơn tiểu văn hóa. 
‐ Xã hội hóa cá nhân 
Có nhiều định nghĩa khác nhau về xã hội hóa. Tuy nhiên, các 
định nghĩa này đều nhấn mạnh vai trò của việc học hỏi, thực hiện 
bổn phận và trách nhiệm của cá nhân đối với xã hội với tư cách là 
thành viên của xã hội đó. Xã hội được hiểu theo nghĩa rộng nhất là 
xã hội loài người, hiểu theo nghĩa cụ thể của một quốc gia dân tộc, 
hiểu  theo  nghĩa  hẹp  là  nhóm  xã  hội  bao  gồm  các  cộng  đồng,  gia 
đình ‐ dòng họ, nhóm nghề nghiệp hay nhóm lao động, nhóm công 
chức, v.v... 
Xã hội hóa cá nhân là quá trình trong đó cá nhân học tập, lĩnh 
hội  những  tri  thức,  giá  trị,  chuẩn  mực,  phong  tục  tập  quán,  ngôn 
ngữ, giá trị để cá nhân có thể thực hiện các chức năng xã hội của nó 
với tư cách là thành viên của một nhóm hay của một xã hội cụ thể. 
Một loại định nghĩa khác nhấn mạnh vai trò học hỏi của nhóm xã 
hội. Xã hội hóa là quá trình học hỏi các quy tắc hành vi đối với một 
nhóm xã hội nào đó1. 
1.2. KhŸi niệm vš ₫ịnh nghĩa ¹con người"
1.2.1. Định nghĩa

Theo  Bách  khoa  toàn  thư  mở  trực  tuyến,  con  người,  theo 
phân  loại  học  là  Homo  sapiens,  tiếng  La‐tinh  nghĩa  là  ʺngười 
thông  tháiʺ  hay  ʺngười  thông  minhʺ,  là  một  loài  còn  sống  duy 
nhất của chi Homo, thuộc loài động vật có vú. Con người là một 
loài  sinh  vật  có  bộ  não  tiến  hóa  rất  cao  cho  phép  thực  hiện  các 
suy luận trừu tượng, ngôn ngữ và xem xét nội tâm. Điều trên kết 

1

Metta Spencer, Founndations of Modern sociology, Prentice Hall ins…
Englewood cliffs,NJ. 1979, P.106-107.

16


hợp với một cơ thể đứng thẳng cho phép giải phóng hai chi trước 
khỏi  việc  di  chuyển  và  được  dùng  vào  việc  cầm  nắm,  cho  phép 
họ dùng nhiều công cụ hơn tất cả những loài khác. 
Con người là một sinh vật xã hội. Con người rất thành thạo 
việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, để biểu lộ những ý kiến 
riêng của mình và trao đổi thông tin. Con người tạo ra những xã 
hội phức tạp trong đó có những nhóm hỗ trợ nhau và đối nghịch 
nhau ở từng mức độ, có thể từ những cá nhân trong gia đình cho 
đến những quốc gia rộng lớn. Giao tiếp xã hội giữa con người và 
con người đã  góp  phần tạo  nên những truyền  thống,  nghi  thức, 
quy tắc đạo đức, giá trị, chuẩn mực xã hội, và cả luật pháp. Tất cả 
cùng  nhau  tạo  nên  những  nền  tảng  của  xã  hội  loài  người.  Con 
người cũng rất chú ý đến cái đẹp và thẩm Mĩ, cùng với nhu cầu 
muốn bày tỏ mình, đã tạo nên những sự đổi với về văn hóa như 
nghệ thuật, văn chương và âm nhạc. 
Con người cũng được chú ý ở bản năng muốn tìm hiểu mọi 
thứ  và  điều  khiển  tự  nhiên  xung  quanh,  tìm  hiểu  những  lời  giải 
thích hợp lí cho những hiện tượng thiên nhiên qua khoa học, tôn 
giáo, tâm lí và thần thoại. Bản năng tò mò đó đã giúp con người 
tạo ra những công cụ và học được những kĩ năng mới. Trong giới 
tự nhiên, con người là loài duy nhất đã tìm ra lửa, nấu thức ăn, tự 
may quần áo, và sử dụng các công nghệ kĩ thuật trong đời sống. 
Con người khác với con vật ở chỗ con người có khả năng tư 
duy trừu tượng, có thể quyết định và lựa chọn. Con người có thể 
làm những dự án trù liệu và tính toán cho tương lai, suy nghĩ về 
chính những hành động và phản ứng của mình, chịu trách nhiệm 
về hành vi của mình và có khả năng phát triển ý thức trách nhiệm 
của mình đối với người khác1 

1

Joseph H. Fichter, Xã hội học, (Trần Văn Đĩnh dịch), Sài Gòn, 1974, trang 21-22.

17


1.2.2. Độ ổn ₫ịnh thŸi ₫ộ vš ₫ịnh nghĩa thŸi ₫ộ cŸ nhŽn

Việc xác định được độ ổn định của  thái độ và thái độ của 
cá  nhân  có  ý  nghĩa  quan  trọng  trong  việc  nghiên  cứu  các  đặc 
trưng về con người trước những tác động của môi trường sống. 
Sự  cân  bằng  và  tính  nhất  quán,  ổn  định  của  nguồn  tin  có  phù 
hợp  với  mong  đợi  của  chủ  thể  hành  động  hay  không  chính  là 
nguyên nhân hay nguồn gốc của độ ổn định hay là sự thay đổi 
của thái độ của cá nhân. Khi một cá nhân mong muốn sự thống 
nhất hay toàn vẹn của một hiện tượng, sự vật tác động đến phù 
hợp  với  nhận  thức  thì  những  thông  tin  đó  sẽ  được  tiếp  nhận, 
ngược  lại,  thông  tin  sẽ  bị  loại  bỏ  khi  nó  có  nguy  cơ  thách  thức 
thái  độ  hiện  tại.  Leon  Festinger  (1919–1990)  đã  đưa  ra  thuyết 
mâu thuẫn nhận thức vào năm 1957, cho rằng, bất kỳ người nào 
đang  nắm  giữ  hai  nhận  thức  đối  lập  nhau  đều  có  tâm  trạng 
chán  ghét  thúc  đẩy  hành  vi1.  Lí  thuyết  không  đồng  điệu  hay 
mâu thuẫn nhận thức xem xét một cách rõ ràng mối liên hệ giữa 
hành vi và thái độ. Sự mất cân bằng trong nhận thức hay đồng 
hoá thông tin sẽ dẫn tới hiện tượng không ổn định thái độ. Khi 
một  người  với  kinh  nghiệm  sống  của  mình  tham  gia  việc  thực 
hiện  một  vai  trò  xã  hội  mới  mà  nó  không  phù  hợp  với  kinh 
nghiệm  cũ  dẫn  tới  hiện  tượng  mất  cân  bằng.  Trong  quá  trình 
truyền thông, nơi mà sự thuyết phục là yếu tố chủ đạo tạo dựng 
niềm tin thông qua nội dung của các thông điệp, nếu mã nguồn 
thông  tin  là  những  người  đáng  tin  cậy,  hình  ảnh  bắt  mắt,  nội 
dung  mới  đa  dạng  và  được  tác  động  liên  tục  ổn  định  dễ  tác 
động  đến  sự  thay  đổi  hành  vi  cũ  với  niềm  tin  mới  được  tạo 
dựng. Lí thuyết này được áp dụng rộng rãi trong truyền thông 

1

Turner, The Cambrige Dictionary of sociology, 2008, P.175.

18


để  tạo  ra  mô  hình  hay  một  lối  sống  hoặc  thói  quen  tiêu  dùng 
mới cũng như các quan hệ khác trong xã hội.  
Áp dụng lí thuyết này, chúng tôi nghiên cứu sự thay đổi thái 
độ kể cả thái độ chính trị của Việt kiều đối với cuộc sống và môi 
trường mới nơi họ nhập cư. 
2. Các lí thuyết ₫ược vận dụng ₫ể nghiên cứu con người và văn hóa cộng ₫ộng
người Việt Nam ở nước ngoài

2.1. L˝ thuyết ¹₫ẩy-k˙oº trong nghi˚n cứu di chuyển dŽn cư

Ravenstein  thống  kê  một  số  luận  điểm  mang  tính  thiết  yếu 
trong  học  thuyết  của  mình  nhằm  giải  thích  di  cư  như  một  xu 
hướng  nảy  sinh  trên  những  điều  kiện  do  hiện  diện  của  một  loạt 
các  biến  số.  Ông  nhấn  mạnh  đến  khoảng  cách  di  chuyển  của 
người  chuyển  cư.  Ông  chỉ  ra  rằng,  thông  qua  một  số  biến  số  tác 
động, sự chuyển cư trực tiếp đến các trung tâm đô thị mang tính 
hấp đẫn đối với họ. Nhân tố quan trọng thứ tư mà ông nhấn mạnh 
là sự hiện diện của dòng di chuyển có tính toán hoặc là dòng di cư 
có định hướng. Dấu hiệu rõ rệt nhất mà ông phát hiện trước hết là 
sự  phát  triển  công  nghệ,  thương  nghiệp  làm  gia  tăng  dòng  di 
chuyển, thứ hai là đòi hỏi có sự “tốt hơn” trong nhu cầu vật chất 
của họ1.  
Ở cấp cá nhân còn tồn tại những nguyên nhân có tính chất 
xã hội như: 
Muốn gần người thân, gia đình, đoàn tụ gia đình, v.v..... 

1

Ravenstein, E.G. The Laws of Migration, op. cit, 52 (2), 1989, pp. 241-301. Trích
theo Tống Văn Chung “Đánh giá thực trạng đời sống văn hóa tinh thần của cộng
đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay và những vấn đề đặt ra cần giải
quyết“. Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước
ngoài với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Thành phố Hồ Chí
Minh, tháng 5/2010.

19


Bị kỳ thị tại cộng đồng xã hội nơi xuất cư. 
Mong muốn tìm nơi mới để kiến tạo những mối quan hệ xã 
hội và môi trường sống mới.”  
2.2. L˝ thuyết ¹thị trường lao ₫ộngº trong nghi˚n cứu chuyển cư

Mô  hình  “đẩy‐kéo”  là  mô  hình  kinh  tế  kinh  điển  trong 
nghiên cứu về di cư. Các nhà nghiên cứu di dân sau này đã đưa ra 
lí thuyết thị trường lao động. Họ cho rằng thực chất là quá trình 
người  dân  di chuyển đến nơi có cơ hội để  có được tiền công cao 
hơn, và xem xét nó như là phương tiện bố trí lại nguồn nhân lực 
từ hoạt động năng suất thấp sang những hoạt động nỗ lực để có 
năng  suất  cao  hơn.  Bởi  lao  động  tự  nó  không  được  đồng  nhất, 
nghĩa là có nhiều loại lao động khác nhau về mặt kỹ năng, do đó, 
lao động dư thừa trong khu vực này chuyển sang khu vực khác. 
Trong  nghiên  cứu  về  di  chuyển  dân  cư,  các  nhà  sáng  lập  lí 
thuyết về thị trường lao động đã đưa ra mô hình di chuyển những 
người lao động có tay nghề từ những vùng công nghiệp xuống cấp 
sang những vùng công nghiệp hấp dẫn hơn ở Britain. Lind  1 chỉ ra 
rằng,  trước  hết  lao  động  được  bàn  đến  như  là  hàng  hoá  trao  đổi; 
thứ  hai,  qua  đó  nó  được  thừa  nhận  như  là  hàng  hoá  thay  đổi,  nó 
được đánh giá bằng những mức độ tiền công khác nhau, và điều đó 
là  nguyên  nhân  căn  bản  cho  hành  vi  di  chuyển  của  người  di  cư. 
Wallerstein2,  Elizabeth  Petra3  nghiên  cứu  sự  di  cư  quốc  tế.  Cơ  sở 
của thuyết này hình thành trên hai cách tiếp cận nghiên cứu về di 
dân. Cách tiếp cận thứ nhất khẳng định rằng những yếu tố kinh tế‐

1

Lind H. Internal migration in Britain. In J.A. Jackson. Migration, Camridge
University Press, Cambridge, 1969, p.77.
2
Wallerstein, I. The Modern World Systems. Academic Pres. New York. 1974.
3
Petra, E. M. The global labor market in the modern world economy. In: M. M.
Kritc, C.B Keely, S. M. Tomasi. Global Trends In Migration, Center for
Migration Studies, New York, 1981, pp. 44-63.

20


giải phóng tự do làm cho cá nhân người lao động là chủ thể hành 
động xã hội tự do lựa chọn đối với khả năng có thể trong thị trường 
lao động; quan điểm thứ hai chính là việc thừa nhận sự trao đổi lao 
động từng phần giữa các quốc gia1. 
“Các nhà kinh tế xem di dân diễn ra từ khu vực truyền thống 
lan truyền sang khu vực hiện đại của nền kinh tế, nơi có mức tiền 
lương cao hơn. Theo Tarado (1971) sự chênh lệch lớn về tiền công 
lao  động  giữa  nông  thôn  và  đô  thị,  giữa  khu  vực  kinh  tế  chính 
thức và phi chính thức là nguyên nhân thúc đẩy di dân nông thôn‐
đô thị”. “Nơi nào có điều kiện kinh tế, có mức lương và thu nhập 
cao  hơn  sẽ  thu  hút  được  lao  động  đến  nơi  đó.  Trong  giai  đoạn 
kinh  tế  khủng  hoảng  và  đình  đốn,  các  dòng  di  dân  lao  động 
hướng vào khu vực kinh tế phi chính thức”2. Rõ ràng rằng, trong 
hoàn cảnh nào, người dân di cư cũng cố gắng giành và cải tạo địa 
vị kinh tế  của mình cho dù họ có thể, hoặc không thể, vượt khỏi 
tầng lớp người lao động. Song ngay trong tầng lớp đó, họ có thu 
nhập là có thể vượt sang tầng lớp (bộ phận khác), chẳng hạn như 
thoát được đói nghèo. 
Vận dụng lí thuyết này cho thấy có thể xem xét nhu cầu và 
đáp  ứng  nhu  cầu  lao  động  của  người  dân  di  cư,  cũng  như  tác 
động của cơ chế thị trường đến hành động chuyển cư của họ. Hơn 
thế, họ kỳ vọng vào tương lai khấm khá hơn nên hành động ra đi 
của họ đã bị chi phối bởi sức hút của thị trường lao động. 
2.3. L˝ thuyết giŸ trị vš ₫ịnh hướng giŸ trị trong nghi˚n cứu NVNƠNN

Có  rất  nhiều  định  nghĩa  khác  nhau  về  khái  niệm  “giá  trị”. 
Các  định  nghĩa  đều  nêu  lên  những  đặc  tính  quan  trọng  nhất  về 
mối quan hệ giữa chủ thể của hoạt động xã hội và đối tượng của 

1
2

J.A. Jackson. Migration, Camridge University Press, Cambridge, 1969, p.25.
Đặng Nguyên Anh, Xã hội học dân số, 2007, tr. 153-154.

21


nó. Quả thực, chỉ có trong mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động 
có ý thức xã hội và các khách thể của nó, khái niệm giá trị xã hội 
mới  trở  nên  có  ý  nghĩa  thực  sự.  “Giá  trị”  sẽ  trở  nên  trừu  tượng, 
khó hiểu và thậm chí “vô giá trị” khi tách rời nó khỏi hoạt động 
thực tiễn của con người, của xã hội. 
Thuật  ngữ  “giá  trị”  có  nguồn  gốc  từ  một  từ  gốc  Hy  Lạp  là 
AXIA,  có nghĩa  là  giá trị. Thuật  ngữ  này được dùng  nhiều trong 
các  trường  phái  triết  học,  xã  hội  học  như  trong  thuyết  tương  tác 
tượng trưng, thuyết hành động xã hội, thuyết trao đổi và lựa chọn 
hợp  lí…  Trong  thuyết  hành  động  xã  hội  của  mình,  M.Weber  coi 
giá  trị  như  là  động  cơ  và  đồng  thời  cũng  là  mục  đích.  Một  hành 
động  của  con  người  được  thúc  đẩy  bởi  một  giá  trị  nhân  văn  cao 
cả, ví dụ làm từ thiện, cứu người khác khi họ gặp hoạn nạn v.v... 
là những hành động hợp lí về mặt giá trị. Khái niệm “giá trị” được 
cá nhân cắt nghĩa cho chính mình, khi thấy hạt nhân của sự hợp lí 
về  mặt  giá  trị  thì  con  người  hành  động.  Trường  hợp  này  là  sự 
đồng nhất về mặt giá trị giữa động cơ hành động và kết quả hay 
mục  đích  của  hành  động.  Con  người  luôn  đặt  ra  cho  bản  thân 
những câu hỏi như: Mình làm việc đó để làm gì? Đối tác sẽ phản 
ứng ra sao? Câu hỏi này đã được lí giải trong bốn điển loại hành 
động xã hội. Khi chủ thể hành động thấu hiểu được mục đích của 
hành động tức là cắt nghĩa được động cơ hành động trong tương 
quan với khả năng phản ứng đáp lại của đối tác. Trong quá trình 
định hướng hành động, giá trị giữ vai trò dẫn đường, nhờ đó chủ 
thể hành động (actor) có thể thực hiện hành động hoặc dừng hành 
động1. Theo quan niệm của Weber, bất kỳ hành động nào của cá 
nhân có ý thức thì đều kèm theo một giá trị. Tuy nhiên, hành vi có 

1

Sam Whimster, “Max Weber: Work and Interpretation”, trong Handbook of Social
theory, George Ritzer và Barry Smart, SAGE Publications Ltd, 2003, pp.54-60.

22


ý thức của cá nhân cũng chưa đủ điều kiện để trở thành hành vi 
xã  hội  được  nếu  như  chủ  thể  hành  động  không  có  định  hướng, 
không  cân  nhắc  tới  phản  ứng  đáp  lại  của  những  người  xung 
quanh (xã hội). Khi con người gia nhập vào các hoạt động tập thể 
nó phải tuân thủ kỷ luật, quy tắc của tập thể, đó chính là những 
chuẩn  mực điều chỉnh  hành vi  xã hội của  cá nhân  cũng như  của 
nhóm xã hội. Có lẽ cho đến thời điểm hiện tại cũng chưa có nhà xã 
hội học nào đặt vấn đề phân biệt rạch ròi giữa ranh giới của giá trị 
nói chung với tư cách là giá trị xã hội và giá trị cá nhân. Hơn nữa, 
nếu không phân biệt cấp độ của hành động xã hội thì khó có thể 
hiểu được ranh giới của giá trị cá nhân và giá trị xã hội. 
Trong khi Weber đi tìm nguồn gốc của giá trị trong quan hệ 
của cá nhân với tư cách là chủ thể hoạt động xã hội với những cá 
nhân khác vừa là khách thể vừa là chủ thể trong tương tác xã hội, 
thì  E.Durkheim  coi  giá  trị  xã  hội  chính  là  ý  thức  tập  đoàn  được 
hình thành trong sự hợp tác và đoàn kết xã hội. Ý thức tập đoàn 
hình thành nhờ vào cơ chế điều tiết của các giá trị xã hội cơ bản. 
Trong đó, hoạt động là cơ sở của sự đoàn kết xã hội, mà nó có cội 
nguồn từ sự phân công, lao động xã hội và tổ chức xã hội.  
Khái  niệm  “Giá  trị  xã  hội”  của  Durkheim  cũng  nằm  trong 
khái niệm ý thức tập đoàn (tinh thần tập đoàn) mà cơ sở là đoàn 
kết xã hội. Lịch sử nhân loại là lịch sử phát triển biến đổi của hai 
loại  đoàn  kết  xã  hội,  đó  là  đoàn  kết  cơ  giới  và  đoàn  kết  hữu  cơ. 
Các  loại  đoàn  kết  này  theo  cách  nhìn  thực  chứng  của  ông  là  kết 
quả của việc phân công lao động xã hội. Theo Durkheim, trong các 
xã hội cổ xưa và những xã hội có trình độ sản xuất thấp kém chưa 
có  sự  phức  tạp  trong  phân  công  lao  động  xã  hội  thì  chỉ  có  kiểu 
đoàn  kết  cơ  giới.  Kiểu  đoàn  kết  hữu  cơ  thuộc  về  những  xã  hội 
công nghiệp hiện đại, khi có sự phân công lao động phức tạp hơn 
nhiều, tuy nhiên tính tập đoàn được hình thành trong sự hợp tác 
23


và  đoàn  kết  xã  hội.  Theo  ông,  ý  thức  tập  đoàn  là  cái  quyết  định 
đời  sống  xã  hội,  nó  có  tính  cưỡng  chế  so  với  ý  thức  cá  nhân.  Hệ 
thống giá trị cơ bản trong xã hội luôn luôn khẳng định lợi ích của 
nhóm  xã  hội  và  có  xu  hướng  đè  bẹp  lợi  ích  cá  thể  trong  trường 
hợp đối lập1. 
Theo Durkheim thì giá trị có đặc tính bề ngoài đối với tất cả 
các thành viên của xã hội, giá trị xã hội có thuộc tính ép buộc về 
mặt đạo đức vì bản thân nó phụ thuộc vào hiện thực khách quan. 
Đồng thời nó lại là một phần của chính hiện thực khách quan đó, 
tiếc  rằng,  chính  phần  “khách  quan”  đó  lại  “tuột  khỏi  tay  của  cá 
thể”.  Dựa  trên  cách  tiếp  cận  xã  hội  bằng  con  đường  thực  chứng, 
trên cơ sở quyết định luận xã hội, ông đã giải thích sự kiện tự tử 
như là một sự kiện xã hội chứ không phải là hiện tượng tâm lí cá 
nhân  đơn  thuần.  Khi  phân  tích  trường  hợp  tự  tử  vị  tha,  ông  đã 
nhấn mạnh vào tinh thần đoàn kết, liên kết tập đoàn và sự nhỏ bé 
của đời sống cá thể. Cá nhân sẵn sàng quyên sinh vì tập thể, vì xã 
hội, loại quyên sinh này khẳng định tính kỷ luật, hệ thống giá trị 
tập  đoàn  và  mức  liên  kết,  tinh  thần  đoàn  kết  của  tập  đoàn  nói 
riêng của xã hội nói chung. 
Việc nghiên cứu hiện tượng tự tử đã cho phép Durkheim có 
những nhận xét quan trọng về việc xem xét sự chuyển giao giá trị 
xã hội từ cấp độ ý thức, niềm tin cá nhân với tư cách là thành viên 
của tập đoàn xã hội. Ông cho rằng ý thức tập đoàn có đặc tính bề 
ngoài, nó chỉ thực sự có sức mạnh khi nó được thấm nhuần trong 
ý  thức  các  cá  thể.  Khi  đó  các  chủ  thể  hành  động  buộc  phải  phục 
tùng  chuẩn  mực  xã  hội  với  thái  độ  tôn  kính  và  tinh  thần  trách 
nhiệm.  Khi  cá  thể  đã  thấm  nhuần  những  giá  trị  xã  hội  thì  nó 

1

John Gillin, “For a science of Socialism”, Phương pháp, New York, 1954, tr.110 -113.

24


không  những  chỉ  phục  tùng  “mệnh  lệnh”  của  xã  hội  mà  nó  còn 
mong đợi để được thực hiện chuẩn mực xã hội nữa. Điều đó được 
đo  bằng  độ  liên  kết  gữa  các  thành  viên  trong  nhóm,  đó  là  cơ  sở 
của đoàn kết và trật tự xã hội. 
Các tác giả cận đại như Thomas và Znaniecki cũng phát triển 
khái niệm “giá trị” từ quan hệ hành vi xã hội. Họ cho rằng “tất cả 
những gì mang lại nội dung và ý nghĩa cho các thành viên của nhóm xã 
hội đều là giá trị xã hội”1. Giá trị chính là các quy tắc hành vi mà nhờ 
đó  cả  nhóm  lẫn cá nhân đều  thực hiện việc điều chỉnh, phổ  biến 
những  hành  động  cho  từng  thành  viên  của  mình.  Các  quy  tắc 
hành  vi  chính  là  giá  trị,  và  loại  giá  trị  này  mới  đáng  quan  tâm 
nghiên cứu trong xã hội học. Các giá trị cũng được xem tương tự 
như  những chuẩn  mực trong  khi phân tích  hành vi  xã hội vì các 
chuẩn mực xã hội và giá trị xã hội đều có chức năng điều chỉnh xã 
hội đối với hành vi cá nhân hoặc nhóm. Ngoài ra, các tác giả này 
còn  xem  nó  như  là  các  tâm  thế  chuẩn  để  chủ  thể  tự  định  hướng 
vào  mình,  đồng  thời  đánh  giá  hành  động  của  người  khác  hoặc 
trông chờ hành động tương ứng phù hợp với kẻ khác so với giá trị 
xã  hội  đã  quá  quen  thuộc.  Các  tác  giả  khác  như  Feris.  E  và 
H.Mead cũng có cách nhìn giá trị từ góc độ tâm thế xã hội, nhưng 
họ  thiên  về  quan  điểm  tâm  lí  xã  hội.  Hai  tác  giả  này  xem  giá  trị 
như là tâm thế xã hội. Đó là sự phản ánh chủ quan, cục bộ về các 
quy  tắc  xã  hội.  Tâm  thế  nhóm  là  loại  hiện  tượng  tập  thể,  là  tổng 
hoà của các tâm thế cá thể. Tâm thế nhóm có tính chỉnh thể và nó 
được  phản  ánh  một  cách  chọn  lọc  vào  tâm  thế  cá  thể,  do  đó  dư 
luận  xã  hội  được  phản  ánh  trong  dư  luận  cá  nhân  chính  là  mặt 
chủ quan của nền văn hoá2. 

1

W.I. Thomas and F. Znaniecki, The Polish peasant in Europe and America,
Boston 1918 - 1920.
2
The nature of Human nature. N.Y 1937, pp 135-143.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×