Tải bản đầy đủ

Sửa đổi hiến pháp ở việt nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua lần sửa đổi hiến pháp 2013

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THỊ HÀ

SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP Ở VIỆT NAM –
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
QUA LẦN SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 2013

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THỊ HÀ

SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP Ở VIỆT NAM –
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

QUA LẦN SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 2013

Chuyên ngành
Mã số

: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐẶNG MINH TUẤN

HÀ NỘI - 2015


LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, học viên Phạm Thị Hà xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc tới các Giáo sư, Tiến sĩ, Giảng viên của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
đã tạo điều kiện thuận lợi cho người viết học tập, nghiên cứu đề tài.
Đặc biệt, xin chân thành cảm ơn TS Đặng Minh Tuấn là người trực tiếp
hướng dẫn, đã dành nhiều thời gian, tâm huyết để chỉ dẫn, giúp đỡ học viên hoàn
thành Luận văn.
Tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và
những người thân đã động viên khích lệ tinh thần và giúp đỡ người viết hoàn thành
Luận văn này.
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2015
Tác giả luận văn

Phạm Thị Hà


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung
thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài
chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo
vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN

Phạm Thị Hà

1


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ......................................................................................................1
MỤC LỤC ..................................................................................................................2
DANH MỤC CÁC KÝ KIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT..........................................5
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................6
1. Tính cấp thiết ..................................................................................................6
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ...................................................................7
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................9
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ...............................................................10
5. Phƣơng pháp nghiên cứu .............................................................................10
6. Ý nghĩa khoa học và điểm mới của luận văn .............................................10
7. Bố cục của Luận văn ....................................................................................11
CHƢƠNG I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP ..........................12
1. Khái quát chung về sửa đổi hiến pháp .......................................................12
1.1. Khái niệm sửa đổi hiến pháp .............................................................12
1.2. Lý do sửa đổi hiến pháp .....................................................................13
1.3. Giới hạn, phạm vi sửa đổi hiến pháp ................................................14
1.4. Quy trình sửa đổi hiến pháp ..............................................................15
2. Sửa đổi hiến pháp trong lịch sử lập hiến Việt Nam ..................................17
2.1. Sửa đổi Hiến pháp 1946 .....................................................................17
2.2. Sửa đổi Hiến pháp 1959 .....................................................................20
2.3. Sửa đổi Hiến pháp 1980 .....................................................................21
2.4. Sửa đổi Hiến pháp 1992 (lần sửa đổi năm 2001) .............................24
CHƢƠNG II. THỰC TIỄN SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992 (LẦN SỬA ĐỔI 2013) ...28
2.1. Lý do sửa đổi hiến pháp ............................................................................28
2.1.1. Đổi mới tổ chức quyền lực Nhà nước .............................................28
2.1.2. Đảm bảo, mở rộng, thúc đẩy quyền con người, quyền công dân ...33
2.1.3. Xây dựng nền kinh tế thị trường .....................................................40
2.2. Quan điểm, yêu cầu sửa đổi Hiến pháp ...................................................42

2


2.2.1. Quan điểm sửa đổi Hiến pháp .........................................................42
2.2.2. Yêu cầu sửa đổi hiến pháp ...............................................................43
2.3. Mục đích, phạm vi, giới hạn sửa đổi hiến pháp ......................................45
2.3.1. Mục đích sửa đổi hiến pháp .............................................................45
2.3.2. Phạm vi, giới hạn sửa đổi hiến pháp ...............................................51
2.4. Quy trình sửa đổi hiến pháp .....................................................................53
2.4.1. Đề xuất, quyết định sửa đổi hiến pháp ............................................53
2.4.2. Xây dựng DTSĐHP ..........................................................................54
2.4.3. Lấy ý kiến nhân dân về DTSĐHP....................................................55
2.4.4. Thảo luận, thông qua DTSĐHP ......................................................56
2.4.5. Công bố sửa đổi hiến pháp ...............................................................57
2.5. Sự tham gia của nhân dân trong quá trình sửa đổi Hiến pháp 1992 ...58
2.5.1. Tiến trình lấy ý kiến nhân dân .........................................................59
2.5.2. Các phương thức lấy ý kiến nhân dân ............................................61
2.5.3. Thành phần tham gia góp ý kiến trong quá trình sửa đổi hiến pháp .......61
2.5.4. Tổng hợp các ý kiến nhân dân .........................................................62
2.6. Một số điểm mới của Hiến pháp 2013 .....................................................69
2.6.1. Về hệ thống chính trị và cách thức tổ chức quyền lực Nhà nước......69
2.6.2. Về quyền con người, quyền cơ bản của công dân ..........................77
2.6.3. Về hiệu lực và việc sửa đổi hiến pháp .............................................79
CHƢƠNG III. QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY TRÌNH SỬA
ĐỔI HIẾN PHÁP Ở NƢỚC TA HIỆN NAY .......................................................81
3.1. Hoàn thiện quy trình sửa đổi hiến pháp ở nƣớc ta hiện nay .................81
3.1.1. Quan điểm hoàn thiện ......................................................................81
3.1.2. Giải pháp hoàn thiện ........................................................................82
3.2. Đảm bảo sự tham gia rộng rãi và thực chất của nhân dân trong quá
trình sửa đổi hiến pháp ....................................................................................86
3.2.1. Quan điểm .........................................................................................86
3.2.2. Giải pháp ...........................................................................................88

3


KẾT LUẬN ..............................................................................................................99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................102
PHỤ LỤC I ............................................................................................................105

4


DANH MỤC CÁC KÝ KIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CHXHCN

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

DTSĐHP

Dự thảo sửa đổi Hiến pháp

Hiến pháp 2013

Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2013)

ICCPR

Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị

SĐHP

Sửa đổi hiến pháp

UBDTSĐHP

Ủy ban dự thảo sửa đổi hiến pháp

UDHL

Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền

5


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Hiến pháp có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị xã hội của quốc
gia. Hiến pháp là văn bản chính trị pháp lý xác định nguồn gốc và bản chất của quyền
lực Nhà nước, cách thức tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước; quy định những vấn
đề quan trọng nhất, nền tảng nhất của quốc gia như: chế độ chính trị, chế độ kinh tế,
chế độ văn hóa, xã hội, hệ thống tổ chức, nguyên tắc hoạt động và thẩm quyền của các
cơ quan trong bộ máy Nhà nước, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân… Với vai trò
và nội dung quan trọng như vậy, Hiến pháp được coi là nền tảng pháp lý của quốc gia,
là đạo luật cơ bản của Nhà nước và có giá trị tối thượng. Vì vậy, việc xây dựng hiến
pháp và sửa đổi hiến pháp là công việc trọng đại của quốc gia.
Cải cách sâu rộng về hiến pháp cũng là một trong những hoạt động nhằm thích
ứng với sự phát triển của xã hội và hiện đại hóa Nhà nước. Một hiến pháp hiện đại
bên cạnh các quy định về tổ chức Nhà nước còn phải chứa đựng các quyền con
người cơ bản và các quyền cơ bản của công dân mà nhân dân đòi hỏi thực hiện. Hệ
thống chính trị thiết lập cho người dân các quyền, yêu cầu Nhà nước phải giải quyết
và chịu trách nhiệm về những hành vi trái với pháp luật của mình. Thông qua một
bản hiến pháp có hiệu lực và hiệu quả, được người dân thông hiểu và chấp nhận thì
niềm tin và ý thức của người dân đối với Nhà nước pháp quyền mới được nâng cao,
chỉ khi nào người dân được đảm bảo rằng, họ không chỉ có các quyền, mà kể cả
trong trường hợp tranh chấp, họ vẫn được bảo vệ các quyền đó, thì họ mới sẵn sàng
cống hiến và phụng sự Nhà nước pháp quyền.
Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã được áp
dụng trong thực tiễn. Tuy nhiên, từ đó đến nay đất nước đã có nhiều thay đổi, nhất
là về kinh tế - xã hội, do đó bản Hiến pháp này cần được nghiên cứu sửa đổi. Báo
cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Khẩn trương nghiên cứu
sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) phù
hợp với tình hình mới”. Theo đó, Quốc hội Việt Nam khóa XIII, tại kỳ họp thứ

6


nhất, đã thành lập Ủy Ban DTSĐHP năm 2013 để chuẩn bị các kế hoạch tổng thể
cho lần sửa đổi toàn diện thứ hai Hiến pháp 1992.
Song qua thực tiễn sửa đổi Hiến pháp năm 2013 cho thấy quy trình sửa đổi
còn nhiều bất cập; các ý kiến của nhân dân chưa được ghi nhận đúng và đủ trong
hiến pháp sửa đổi, do vậy, việc lấy ý kiến nhân dân trong quá trình sửa đổi hiến
pháp vẫn mang tính “hình thức”; nhiều ý kiến được đưa ra thảo luận, song không
được ghi nhận trong Hiến pháp sửa đổi…
Trước tình hình đó, việc hiến định hóa các ý kiến phản ánh tâm tư nguyện
vọng của nhân dân, đảm bảo các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân không bị vi phạm, hạn chế tối đa các hành vi vi hiến và việc sửa đổi quy
trình sửa đổi hiến pháp cho phù hợp với điều kiện hiện tại trong nước… là cần thiết.
Để giải quyết vấn đề nêu trên, cần nghiên cứu quá trình sửa đổi hiến pháp ở
Việt Nam, đi sâu tìm hiểu quy trình sửa đổi và việc lấy ý kiến của nhân dân trong
quá trình sửa đổi hiến pháp nhằm đánh giá, phân tích thực trạng sửa đổi hiến pháp ở
Việt Nam, từ đó, phát hiện những điểm mới, tiến bộ của hiến pháp sửa đổi và những
vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu đáp ứng các yêu cầu đặt ra, đồng thời, có những đề
xuất nhằm hoàn thiện quy trình sửa đổi hiến pháp và đưa ra một số quan điểm, giải
pháp khác nhằm đảm bảo sự tham gia rộng rãi và thực chất của nhân dân trong việc
sửa đổi hiến pháp… để hoạt động sửa đổi hiến pháp thực sự đi vào đời sống, phản
ánh đúng, đủ và chân thực tâm tư nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân tạo tiền
đề cho những lần sửa đổi hiến pháp trong tương lai mang đúng bản chất của một đợt
sinh hoạt chính trị dân chủ đi đến kết quả là xây dựng một bản Hiến pháp chất
lượng, khoa học, có “tuổi thọ” cao, mang tính nhân dân, phù hợp tiến trình xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân.
Từ yêu cầu thực tiễn đó, tôi đã triển khai nghiên cứu đề tài: “Sửa đổi Hiến pháp ở
Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua lần sửa đổi Hiến pháp 2013”.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Hiến pháp có thể quyết định vận mệnh quốc gia, “sinh trưởng, phồn thịnh”
hay “còi quặt, chậm phát triển” phụ thuộc rất nhiều vào mức độ tiến bộ, phù hợp

7


của một bản hiến văn. Chính vì vậy, sửa đổi hiến pháp là đợt sinh hoạt chính trị
quan trọng của một quốc gia. Bởi thế, có rất nhiều các công trình, bài viết chứa
đựng nhiều tâm huyết của các tác giả về hiến pháp nói chung, về lĩnh vực sửa đổi
hiến pháp nói riêng. Trong số đó phải kế đến một số công trình tiêu biểu như:
Trước hết, đó là những công trình nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Đăng Dung.
Ông là một trong những nhà giáo dành nhiều tâm huyết của mình cho khoa học
Luật Hiến pháp. Ông đã viết nhiều công trình nghiên cứu khoa học, nhiều sách tham
khảo có giá trị về hiến pháp nói chung, về vấn đề sửa đổi hiến pháp nói riêng. Trong
số đó phải kể đến các Giáo trình Luật Hiến pháp do ông chủ biên (các năm 2007,
2013…); sách chuyên khảo “Những vấn đề về hiến pháp và sửa đổi hiến pháp”
(2012); sách chuyên khảo “ABC về Hiến pháp” (2013) và là đồng tác giả của rất
nhiều công trình nghiên cứu khoa học, sách tham khảo, rất nhiều bài viết trên các
tạp chí, các trang báo điện tử…;
Cùng với đó là hàng loạt các tài liệu nghiên cứu về hiến pháp và sửa đổi hiến
pháp của các tác giả như: Sách chuyên khảo : “Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 –
Những vấn đề lý luận và thực tiễn” (2 tập) (2012) của đồng các tác giả GS.TS Phạm
Hồng Thái, Nguyễn Sỹ Dũng, GS.TS Nguyễn Đăng Dung, PGS.TS Vũ Công Giao,
Hoàng Minh Hiếu, TS. Đặng Minh Tuấn; Sách chuyên khảo “Hiến pháp: những
vấn đề lý luận và thực tiễn”(2011) của đồng các tác giả GS.TS Nguyễn Đăng Dung,
GS.TS Phạm Hồng Thái và PGS. TS Vũ Công Giao; Sách tham khảo “Bình luận
khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013” (2014)
của nhiều tác giả, chủ biên là GS.TSKH Đào Trí Úc – PGS.TS Vũ Công Giao; Sách
tham khảo “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về sửa đổi hiến pháp ở Việt
Nam” của PGS.TS Nguyễn Như Phát (2012); Sách tham khảo “Luận về sửa đổi
Hiến pháp năm 1992” của TS Võ Trí Hảo (2013); Sách tham khảo “Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn về xây dựng và ban hành hiến pháp” của GS.TS Trần Ngọc
Đường (2013); Sách tham khảo “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về sửa đổi, bổ
sung Hiến pháp năm 1992” của GS.TS Võ Khánh Vinh (2013); “Sự tham gia của

8


nhân dân vào quy trình lập hiến” (2013) và nhiều công trình khoa học, nhiều bài
nghiên cứu khác…
Tuy nhiên, các công trình, bài viết đó thường chỉ xem xét một hoặc một số vấn
đề nhất định về sửa đổi hiến pháp, hoặc chỉ đề cập vấn đề sửa đổi hiến pháp dưới
những góc độ nhất định. Vì vậy, luận văn “Sửa đổi Hiến pháp ở Việt Nam – Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn qua lần sửa đổi Hiến pháp 2013” là công trình khoa học
đầu tiên mở rộng phạm vi nghiên cứu cả về cơ sở lý luận và thực tiễn về sửa đổi
hiến pháp dưới góc độ và phương pháp nghiên cứu của Lý luận và Lịch sử về Nhà
nước và pháp luật.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về sửa
đổi hiến pháp ở Việt Nam qua lần sửa đổi Hiến pháp 2013. Trên cơ sở đó, luận văn
đưa ra những quan điểm, kiến nghị xung quanh việc sửa đổi hiến pháp, cũng như
đổi mới quy trình sửa đổi hiến pháp ở nước ta để một mặt sửa đổi hiến pháp thực sự
đi vào đời sống, phản ánh đúng, đủ và chân thực tâm tư nguyện vọng của mọi tầng
lớp nhân dân để những lần sửa đổi hiến pháp trong tương lai đúng bản chất của một
đợt sinh hoạt chính trị dân chủ đi đến kết quả là xây dựng một bản Hiến pháp chất
lượng, khoa học, có “tuổi thọ” cao, mang tính nhân dân, phù hợp tiến trình xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân; mặt khác, phát huy dân chủ, tăng cường vai trò của nhân dân trong
quá trình sửa đổi hiến pháp nói riêng, trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân nói chung.
Để đạt được mục đích nói trên, luận văn có nhiệm vụ:
Phân tích một số vấn đề lý luận về sửa đổi hiến pháp ở Việt Nam: khái niệm,
quy trình, hình thức, giới hạn sửa đổi hiến pháp; những nội dung cơ bản của vấn đề
sửa đổi hiến pháp, như lý do sửa đổi, những nguyên tắc sửa đổi, quy trình sửa đổi…
Phân tích lịch sử sửa đổi hiến pháp ở nước ta từ Hiến pháp năm 1946 đến nay.
Căn cứ vào những vấn đề lý luận đó, tác giả đi sâu phân tích thực tiễn lần sửa
đổi Hiến pháp năm 2013 để tìm ra một số điểm mới quan trọng cũng như những vấn

9


đề cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi trong Hiến pháp 2013 đáp ứng yêu cầu đặt ra. Từ
đó, đưa ra những giải pháp cần thiết đối với vấn đề sửa đổi hiến pháp ở Việt Nam
hiện nay trong điều kiện phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, phù hợp với điều kiện, hoàn
cảnh của nước ta.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài luận văn có nội dung rộng và phức tạp. Trong khuôn khổ chuyên ngành
Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật, luận văn chỉ tập trung phân tích những
vấn đề lý luận cơ bản về sửa đổi hiến pháp; phần thực trạng sửa đổi hiến pháp năm
2013, luận văn đi sâu hơn vào việc phân tích quá trình lấy ý kiến nhân nhân đối với
DTSĐHP, những vấn đề còn tồn tại, bất cập để tìm ra nguyên nhân; một số điểm
mới quan trọng về tổ chức quyền lực Nhà nước, về quyền con người, quyền công
dân cũng như những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi trong Hiến pháp 2013
đáp ứng các yêu cầu đặt ra, trên cơ sở đó, đề xuất quan điểm và những giải pháp cần
thiết đối với vấn đề sửa đổi hiến pháp trong điều kiện ở nước ta hiện nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh về nhà nước và pháp luật; Các quan điểm của Đảng về sửa đổi hiến pháp, xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Luận văn
cũng được trình bày trên cơ sở nghiên cứu Hiến pháp, các luật và Điều ước quốc tế
quy định các vấn đề mà Hiến pháp hiến định và các văn bản pháp luật khác quy
định về sửa đổi hiến pháp. Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp,
phương pháp hệ thống, phương pháp luật học so sánh… để làm sáng tỏ những nội
dung cần nghiên cứu của luận văn.
6. Ý nghĩa khoa học và điểm mới của luận văn
Ý nghĩa khoa học của luận văn là việc tiếp cận, phân tích việc sửa đổi hiến
pháp trên nền tảng dân chủ, quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân. Dân chủ là sự
thừa nhận vai trò của nhân dân trong việc sửa đổi hiến pháp, là chủ thể trực tiếp,

10


chủ thể tối cao của quyền lực Nhà nước, nhân dân phải có mặt trong tất cả các bước
của quá trình sửa đổi hiến pháp.
Luận văn có những điểm mới cơ bản sau:
Phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về sửa đổi hiến pháp từ bản hiến
văn đầu tiên năm 1946, các bản hiến văn tiếp theo năm 1959, 1980, năm 1992 (sửa
đổi năm 2001) và mới nhất là lần sửa đổi Hiến pháp 1992 năm 2013.
Luận văn đi sâu phân tích quá trình lấy ý kiến nhân dân đối với DTSĐHP năm
2013, từ đó tìm ra những tích cực cũng như mặt còn tồn tại trong quá trình lấy ý
kiến nhân dân.
Luận văn tìm hiểu, phân tích những điểm mới cũng như những vấn đề cần tiếp
tục nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp 2013 đáp ứng các yêu cầu đặt ra.
Từ đó, luận văn đưa ra những quan điểm, đề xuất giải pháp liên quan để tháo
gỡ những vấn đề đó, đồng thời nhằm hoàn thiện quy trình sửa đổi hiến pháp, những
đảm bảo để nhân dân được tham gia một cách trực tiếp, sâu rộng và thực chất vào
sửa đổi hiến pháp – đợt sinh hoạt chính trị dân chủ, rộng lớn nhất của cả nước.
7. Bố cục của Luận văn
Luận văn gồm có: Mở đầu, Ba chương, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo:
Chương 1: Lý luận chung về sửa đổi Hiến pháp;
Chương 2: Thực tiễn sửa đổi Hiến pháp 1992 (lần sửa đổi 2013);
Chương 3: Sửa đổi hiến pháp ở Việt Nam – một số nhận định và đề xuất.

11


CHƢƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP
1. Khái quát chung về sửa đổi hiến pháp
1.1. Khái niệm sửa đổi hiến pháp
Thuật ngữ “Hiến pháp” có gốc La tinh là “Constitutio” xuất hiện từ rất xa xưa
với nghĩa: xác định, quy định [5, tr71]. Nhà nước La Mã cổ đại dùng thuật ngữ này
để chỉ các văn bản quy định của Nhà nước. Nhưng với nghĩa hiện nay, Hiến pháp
được hiểu là một đạo luật cơ bản của một quốc gia do cơ quan quyền lực Nhà nước
cao nhất ban hành, dùng để xác định thể chế chính trị, cách thức tổ chức, hoạt động
của bộ máy nhà nước và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân. Mọi cá nhân,
cơ quan và tổ chức phải có nghĩa vụ tuân thủ hiến pháp. [7, tr13]
- Theo cuốn Đại từ điển Tiếng Việt do Nhà xuất bản Hồng Đức phát hành, thì
sửa đổi được hiểu là “Thay đổi, thêm bớt cho phù hợp với yêu cầu đã khác
trước”.[26, tr1128]
- Cũng theo cuốn từ điển này, thì Hiến pháp được hiểu là “đạo luật cơ bản
của nhà nước quy định chế độ chính trị, kinh tế, xã hội, quyền và nghĩa vụ công
dân, tổ chức bộ máy nhà nước”.[26, tr565]
- Theo cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng, Nhà xuất bản
Đại Học Quốc gia thì Sửa đổi hiến pháp là “việc điều chỉnh hoặc bổ sung thêm một
số điều khoản vào Hiến pháp hiện hành”. [23, tr412]
- Theo cuốn giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc
gia Hà Nội thì Sửa đổi hiến pháp là một quy trình đặc biệt đặt ra các quy tắc trong
việc sửa đổi hiến pháp. Việc sửa đổi hiến pháp đặt ra khi đã có Hiến pháp, tức là sửa
đổi những quy định của bản Hiến pháp hiện hành. Nguồn gốc của việc sửa đổi
thường xuất phát từ việc những quy định Hiến pháp hiện hành không còn phù hợp với
những thay đổi của đời sống thực tiễn, nhưng cũng có thể xuất phát từ một sự áp đặt
từ bên ngoài hoặc do ý chí chủ quan của một/hoặc một nhóm người”. [5, tr95]
- Cũng liên quan đến khái niệm sửa đổi hiến pháp, trong cuốn ABC về Hiến
pháp của Nhà xuất bản Thế giới thì “Sửa đổi hiến pháp là việc điều chỉnh hoặc bổ

12


sung thêm một số điều khoản vào Hiến pháp hiện hành. Trong các xã hội dân chủ,
hiến pháp ra đời nhằm quy định các quy tắc trách nhiệm, giới hạn quyền lực của
Nhà nước nhằm bảo đảm chủ quyền của nhân dân và các quyền, tự do của con
người. Sau khi ra đời, theo thời gian, các quy định của hiến pháp có thể phải sửa
đổi để phù hợp với những biến động của cuộc sống”. [7, tr40]
Tổng hợp các quan điểm và khái niệm ở trên, theo tác giả luận văn, khái niệm
sửa đổi hiến pháp có thể được hiểu là việc điều chỉnh hoặc bổ sung thêm một số
điều khoản vào Hiến pháp hiện hành. Nguồn gốc của việc sửa đổi thường xuất phát
từ việc những quy định Hiến pháp hiện hành không còn phù hợp với những thay đổi
của đời sống thực tiễn, nhưng cũng có thể xuất phát từ một sự áp đặt từ bên ngoài
hoặc do ý chí chủ quan của một hoặc một nhóm người.
1.2. Lý do sửa đổi hiến pháp
Hiến pháp như đã biết, là đạo luật có hiệu lực pháp lý tối cao của quốc gia,
chính vì vậy hiến pháp thường có tuổi thọ cao và ít thay đổi so với các đạo luật
khác. Tuy nhiên, ít thay đổi không có nghĩa là không thay đổi. Thực tiễn cho thấy,
hiến pháp của nhiều quốc gia, cho dù là những quốc gia được xem là cha đẻ của
hiến pháp, có nền lập hiến xuất hiện từ rất sớm như Mỹ thì bản Hiến pháp của họ
cũng không tránh khỏi những lần phải sửa đổi bởi đơn giản“Hiến pháp là bản văn
của con người, con người có khuyết tật thì hiển nhiên bản văn của họ không tránh
khỏi những khuyết tật”. [7, tr42] Một bản hiến văn ra đời từ những năm 80 của thế
kỷ trước thì chắc hẳn không còn phù hợp với xã hội chững năm 20 của thế kỷ này,
một nội dung đúng trước đây nhưng lại có thể không đúng cho hiện tại và tương lai,
bởi lẽ, cuộc sống con người luôn thay đổi theo thời gian, tình hình xã hội biến
chuyển, nhu cầu của con người theo đó cũng có những đổi thay “Mỗi bản hiến pháp
thông qua là dành cho một thế hệ, không thể bắt thế hệ mai sau phải tuân thủ những
quan điểm, mong muốn, sự ấn định của thế hệ trước, dù có những điểm phù hợp
cần kế thừa”[7, tr42].
Như vậy, dù là bản hiến văn ra đời rất phù hợp với xã hội đương thời hay bản
hiến văn ngay từ khi ra đời đã mang trong mình những khiếm khuyết thì theo thời

13


gian bản hiến văn đó đều phải sửa đổi để phù hợp với xã hội đương thời và những
nhu cầu thực tiễn của con người.
1.3. Giới hạn, phạm vi sửa đổi hiến pháp
Việc sửa đổi hiến pháp là sự kiện hệ trọng của đời sống xã hội, do vậy, các
nhà lập hiến cũng vạch ra những giới hạn nhằm đảm bảo sự ổn định chính trị quốc
gia cũng như bản chất của thể chế chính trị. Nhìn chung, người ta khái quát thành ba
loại giới hạn của việc sửa đổi hiến pháp như sau:
Một là, giới hạn về thời gian: Theo đó, hiến pháp bị cấm sửa đổi trong một
thời gian xác định. Đó thường là khoảng thời gian được dành cho việc hình thành
các thiết chế hiến định sau khi hiến pháp sửa đổi được ban hành; do vậy, rất cần duy
trì sự ổn định về mặt thể chế (Hiến pháp Hy Lạp năm 1975, Bồ Đào Nha năm 1976,
Philippines năm 1987, Brazil năm 1988...). Về điểm này, hợp lý nhất là nên cấm
sửa đổi hiến pháp trong thời hạn 5 năm kể từ khi được ban hành, trừ những thay đổi
mang tính chất biên tập (về mặt kỹ thuật); [10]
Hai là, giới hạn về tình huống (hoàn cảnh): Theo đó, hiến pháp bị cấm sửa đổi
khi xuất hiện những tình huống nhạy cảm về chính trị như khủng hoảng chính phủ,
an ninh quốc gia bị đe dọa, chủ quyền lãnh thổ bị xâm phạm, tình trạng chiến tranh,
thảm họa về thiên tai, dịch bệnh… (Hiến pháp Tây Ban Nha năm 1978, Rumani
Năm 1991, Pháp...); [10]
Ba là, giới hạn về nội dung: Theo đó, hiến pháp bị cấm sửa đổi một số nội
dung có liên quan đến việc xác định nền tảng của chế độ Nhà nước như bản chất
dân chủ của thể chế chính trị, hình thức chính thể, hình thức cấu trúc Nhà nước, chủ
quyền toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, chống chiến tranh, chống phân biệt chủng tộc, tôn
giáo… (Hiến pháp Nga, Pháp, Italia năm 1947, Cộng hòa Liên bang Đức năm 1949,
Thái Lan năm 2007...). Việc hạn chế sửa đổi các nội dung nhất định trong hiến pháp
chủ yếu nhằm duy trì các nguyên tắc căn bản nhất của một xã hội dân chủ (dân chủ,
cộng hòa, pháp quyền, tôn trọng phẩm giá con người. Những nguyên tắc này là bất
di bất dịch không thể thay đổi trong hiến pháp. [7, tr59]

14


Phạm vi sửa đổi hiến pháp: Căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể mà hiến pháp có thể
được sửa trên toàn diện ở tất cả các chương, điều khoản của hiến pháp cũ; cũng có
thể chỉ được sửa một phần ở một số chương, điều hay một số chế định… Cụ thể:
Một là, sửa đổi bằng việc ban hành một bản văn hiến pháp có nội dung bao gồm
những điều khoản hiến định đã được sửa đổi trực tiếp do bản thân chính quyền hợp
hiến tiến hành xuất phát từ sự biến chuyển đời sống kinh tế - xã hội mà không xuất
phát từ việc thay đổi chế độ chính trị (nhiều người coi đây như phiên bản mới của
hiến pháp); Hai là, sửa đổi bằng việc ban hành các điều khoản bổ sung (còn gọi là tu
chính án) mà không thay đổi trực tiếp bản văn hiến pháp nguyên thủy; Ba là, sửa
đổi bằng hoạt động giải thích hiến pháp cho phù hợp với sự phát triển của đời sống
xã hội mà không làm biến dạng tinh thần hiến pháp.
Hiện nay ở nước ta, về mặt pháp lý, việc sửa đổi hiến pháp đã được quy định
dù vậy vẫn còn sơ sài, tản mạn ở một số văn bản quy phạm pháp luật, Quốc hội vẫn
chưa ban hành một văn bản quy phạm pháp luật chuyên biệt nào về vấn đề này. Lỗ
hổng pháp lý khá nghiêm trọng này khiến thực tiễn hoạt động lập hiến nói chung,
sửa đổi hiến pháp nói riêng ở nước ta thiếu tính thống nhất và ổn định, chủ yếu dựa
vào điều kiện, hoàn cảnh trong mỗi giai đoạn lịch sử.
1.4. Quy trình sửa đổi hiến pháp
Việc sửa đổi hiến pháp chỉ thực hiện sau khi có bản hiến pháp - sản phẩm của
quy trình ban hành hiến pháp, như là một sự tu chính bản hiến pháp hiện hành, bảo
đảm phù hợp, cập nhật với những đổi thay của xã hội. Có nghĩa là, quy trình sửa đổi
hiến pháp bao giờ cũng có sau quy trình ban hành hiến pháp. Chính vì vậy, nó được
chú ý hơn về mặt chủ thể, quy trình và cách thức tiến hành.
Quy trình sửa đổi hiến pháp được hiểu một cách chung nhất là trình tự, thủ tục
sửa đổi được quy định thành các khâu, các bước tiến hành chặt chẽ với những chuẩn
mực chung theo những đòi hỏi dân chủ và tiêu chí của Nhà nước pháp quyền hiện đại.
Thông thường quy trình sửa đổi hiến pháp được tiến hành theo trình tự, thủ tục
rất quy củ và chặt chẽ như sau:

15


Chủ thể và sáng quyền sửa đổi hiến pháp: Chủ thể có thẩm quyền sửa đổi hiến
pháp là chủ thể đặc biệt, gần như chủ thể ban hành hiến pháp. Một số nước quy định
phải do nhân dân quyết định, thông qua hình thức trưng cầu ý dân (như Pháp, Nga,
Thái Lan, Philippin…). Tuy nhiên, đa số các nước quy định cho các cơ quan đại
diện (Đại hội nhân dân, Quốc hội/Nghị viện lập pháp) thực hiện việc này với thủ tục
đa số đặc biệt 2/3 hoặc 3/4 trên tổng số đại biểu. Nhiều nước còn kèm theo thủ tục
sau đó là phải được nguyên thủ quốc gia (Vua, Tổng thống) xem xét công bố hoặc
đưa ra cho nhân dân phúc quyết (như là phê chuẩn). [10]
Sáng kiến đề nghị và quyết định việc sửa đổi hiến pháp: quyền này thuộc
nhiều chủ thể khác nhau từ nghị viện và các đại biểu, các đảng phái chính trị, chính
phủ (ngành hành pháp) cho đến nhân dân, cử tri như ở Thụy Sỹ, Cộng hòa liên bang
Đức, một số bang của Mỹ. [10]
Soạn thảo DTSĐHP: Việc soạn thảo dự thảo sửa đổi hiến pháp thường được
giao cho một Hội nghị hiến pháp bao gồm đại diện rộng rãi các tầng lớp, đảng phái
và các lãnh thổ (bang, tỉnh) - do nhân dân bầu ra. Ngoài hình thức Hội nghị hiến
pháp, kinh nghiệm thế giới cho thấy, thành lập Ủy ban sửa đổi hiến pháp cũng là
một giải pháp trong việc thảo luận và soạn thảo dự án sửa đổi hiến pháp. Ưu điểm
của hình thức Ủy ban sửa đổi hiến pháp là nó cho phép tập hợp được trí tuệ của các
chuyên gia. Ở Việt Nam, hiện tại đang áp dụng mô hình này, Ủy ban sửa đổi hiến
pháp soạn thảo DTSĐHP. [10]
Tham vấn nhân dân trong quá trình sửa đổi hiến pháp là việc lấy ý kiến nhân
dân về các vấn đề sửa đổi hiến pháp. Hoạt động này được thực hiện trong suốt quy
trình sửa đổi hiến pháp. Tuy nhiên ở nước ta, việc lấy ý kiến nhân dân chỉ diễn ra
sau khi có DTSĐHP. Đây là một trong những hạn chế cần khắc phục trong quy
trình sửa đổi hiến pháp của một nước dân chủ như ở nước ta.
Thảo luận, thông qua DTSĐHP hoặc dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một
số điều của hiến pháp: Là khâu quan trọng nhất trong quy trình sửa đổi hiến pháp.
Dù bằng con đường nào, trưng cầu ý dân hay thông qua tại Quốc hội/Nghị viện
người ta đều đòi hỏi phải có những điều kiện cao và quy trình rất chặt chẽ về số

16


người tham dự (trên 50% đối với cử tri và trên ¾ đối với nghị sỹ), tỷ lệ tán thành
hay phủ quyết (trên 50% đối với cử tri và 2/3 đối với nghị sỹ), một cấp hay hai cấp
(Hạ viện - Thượng viện hoặc Quốc hội - Nguyên thủ quốc gia hoặc Quốc hội - nhân
dân phúc quyết). [10]
Công bố hiến pháp sửa đổi hoặc Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của
hiến pháp: Đối với các nước, khác với các luật sau khi được nghị viện thông qua
còn phải trải qua các công đoạn xem xét cuối cùng, công bố hoặc phủ quyết thì hiến
pháp thông qua thường có hiệu lực ngay.
Việt Nam trên thực tế cũng đã và đang theo quy trình sửa đổi này. Tuy nhiên,
trong các công đoạn, hoặc áp dụng cứng nhắc, hoặc biến tấu nhưng nhìn chung, chưa
đáp ứng được yêu cầu về trình tự sửa đổi. Điển hình là việc lấy ý kiến nhân dân chỉ
diễn ra sau khi có DTSĐHP là chưa thực sự hợp lý, dân chủ. Thiết nghĩ, cần phân
tích, đánh giá một cách khách quan tính hợp lý và hiệu quả của tất cả các bước trong
quy trình từ đó tìm ra những điểm phù hợp mà nước ta có thể áp dụng để một mặt,
hoàn thiện hơn cách thức sửa đổi hiến pháp của nước nhà, mặt khác, gợi ý cho các
nhà lập pháp lựa chọn phương pháp phù hợp nhất trong từng hoàn cảnh nhất định.
2. Sửa đổi hiến pháp trong lịch sử lập hiến Việt Nam
2.1. Sửa đổi Hiến pháp 1946
Hiến pháp năm 1946 ra đời là kết quả của một cuộc trường kỳ đấu tranh gian
khổ và anh dũng của dân tộc ta từ hàng chục năm trước. Nó đã thừa hưởng những
tinh thần, những lý tưởng, những nguyên tắc mà cách mạng đã vạch ra. Do đó, Hiến
pháp năm 1946, về căn bản có tính tiến bộ rõ rệt.
Tuy nhiên, Hiến pháp năm 1946 ra đời ngay sau khi Cách mạng tháng Tám
vừa thành công, Chính phủ và nhân dân ta đang phải đương đầu với rất nhiều khó
khăn ở trong nước cũng như ở ngoài nước. Việc thực hiện Hiến pháp năm 1946 một
mặt đem lại những hiệu quả tích cực cả về kinh tế, chính trị, xã hội, nhưng mặt
khác, trong điều kiện nước ta chưa thống nhất. Việc cải cách ruộng đất và chỉnh đốn
tổ chức ở miền Bắc của nước ta đã phạm nhiều sai lầm nghiêm trọng. Ý thức chính
trị nói chung của tầng lớp nhân dân tuy đã được nâng cao, nhưng tự do dân chủ

17


chưa được hoàn toàn phát huy và đảm bảo. Những nguyện vọng và yêu cầu chính
đáng của mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là của nhân dân lao động chưa được ghi
nhận đầy đủ. Nội dung bản Hiến pháp 1946 đã có nhiều điểm không theo thực tế,
thiếu chính xác. Biểu hiện: (1) Chưa xác định rõ ràng chủ thể lãnh đạo trong bộ máy
Nhà nước. (2) Chưa hiến định đúng hướng đi từ chế độ dân chủ nhân dân tiến lên
chủ nghĩa xã hội là hai bước không thể tách rời trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa
xã hội của nước ta. (3) Chưa hiến định Chế độ kinh tế. (4) Chưa hiến định rõ ràng
quyền và nghĩa vụ của công dân. (5) Bộ máy Nhà nước còn nhiều bất cập: vai trò
của Quốc hội mờ nhạt; chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ - Nghị viện chồng chéo;
mối quan hệ Chính phủ - Quốc hội không rõ ràng; các thể chế khác chưa thống
nhất; Chưa phân định rõ các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp… [30]
Từ những lý do kể trên, việc sửa đổi Hiến pháp năm 1946 trở thành vấn đề tất
yếu. Nhiều đại biểu Quốc hội đã đề ra việc sửa đổi hiến pháp, đó là một đề nghị rất
chính đáng, hợp với nguyện vọng của nhân dân, nhu cầu của tình thế và bước tiến
của lịch sử.
Hiến pháp 1946 sửa đổi cần bao quát được những nội dung chính sau: (i) Xác
nhận chính quyền dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội; (ii) Xác định nền kinh tế
dân chủ nhân dân; (iii) Định rõ quyền lợi của các tầng lớp nân dân và các dân tộc thiểu
số; (iv) Nêu rõ vai trò của Quốc hội và nhiệm vụ cùng quyền hạn của Chính phủ phụ
trách trước Quốc hội và hiến định rõ quan hệ giữa Chính phủ với Ban Thường trực
Quốc hội hay Ban Thường vụ nghị viện sau này; (v) Nêu rõ vai trò của Hội đồng nhân
dân; (vi) Định rõ nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan tư pháp; (vii) Nêu rõ quyền hạn
của nhân dân đối với Hội đồng nhân dân và Quốc hội. [30]
Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Quốc hội đề nghị Quốc hội thông qua đề nghị
sửa đổi hiến pháp, giao cho một tiểu ban nghiên cứu việc sửa đổi hiến pháp, đề ra dự án
sửa đổi hiến pháp để đem trình Quốc hội. Và trong kỳ họp lần thứ 6, Quốc hội đã quyết
định sửa đổi Hiến pháp năm 1946 và thành lập một Ban sửa đổi Hiến pháp.

18


Kế hoạch tiến hành của Ban Sửa đổi Hiến pháp chia ra 3 bước: Bước thứ nhất,
Ban SĐHP thảo ra một đề cương làm cơ sở cho một bản sơ thảo Hiến pháp sửa đổi.
Bước thứ hai, là sau khi đã xây dựng xong bản sơ thảo Hiến pháp sửa đổi, Ban
SĐHP sẽ đưa ra trưng cầu ý kiến của nhân dân. Bước thứ ba, là sau khi đã tiến hành
xong các cuộc trưng cầu ý kiến của nhân dân, Ban SĐHP sẽ tổng kết ý kiến của
nhân dân, chỉnh lý bản sơ thảo và thảo luận lại một lần nữa những vấn đề đã nêu ra,
hoàn thành bản dự thảo hiến pháp để đem trình Quốc Hội. [30]
Sau khi tổng kết ý kiến nhân dân, Ban sửa đổi hiến pháp tiến hành thảo luận,
thống nhất những nội dung cần sửa đổi trong Hiến pháp 1946, với những điểm mới
sau đây có giá trị quan trọng trong việc ghi nhận những thắng lợi của nhân dân ta
trong những năm qua và nêu rõ nhiệm vụ cách mạng mới trong giai đoạn lịch sử
mới. (1) Về tính chất Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa hiến pháp sửa đổi
khẳng định “ Nhà nước của ta là Nhà nước dân chủ nhân dân dựa trên nền tảng liên
minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo”. Đồng thời khẳng định nước ta là
một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc. Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam
đều bình đẳng về nghĩa vụ; chính sách dân tộc của chúng ta nhằm thực hiện sự bình
đẳng giúp nhau giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội. (2) Đường
lối chung tiến lên chủ nghĩa xã hội: nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tiến dần từ
chế độ dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội bằng cách phát triển và cải tạo kinh tế
quốc dân theo chủ nghĩa xã hội. (3) Mặc dù tên gọi chính thể không thay đổi (Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa), nhưng đây là bản hiến pháp đầu tiên của Việt Nam mang
nhiều dấu ấn của việc tổ chức nhà nước XHCN: quy định Quốc hội là cơ quan
quyền lực cao nhất của Nhà nước (tập quyền). Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền
lực của Nhà nước ở địa phương. Cùng với đó, hiến pháp sửa đổi cũng nêu rõ, tất cả
quyền lực Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều thuộc về nhân dân. Nhân dân
sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do
nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước Quốc hội. (4) Quyền lợi và nghĩa vụ cơ
bản của công dân, Hiến pháp sửa đổi khẳng định: Công dân nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa có quyền làm việc; có quyền nghỉ ngơi; có quyền tự do thân thể; có

19


quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội, biểu tình; có quyền bầu cử, ứng
cử…; đồng thời cũng nêu rõ nghĩa vụ của công dân: tuân theo hiến pháp, pháp luật,
kỷ luật lao động, trật tự công cộng và những quy tắc sinh hoạt xã hội, tôn trọng tài
sản công cộng, đóng thuế theo pháp luật, làm nghĩa vụ quân sự bảo vệ tổ quốc. [30]
Hiến pháp sửa đổi với nhiều điểm mới phù hợp với tình hình hiện tại sau khi
được Quốc hội thông qua trở thành Hiến pháp mới của nước ta - Hiến pháp năm
1959 gồm 10 chương chia làm 72 điều, thêm chương II – Chế độ kinh tế (so với
Hiến pháp 1946), có hiệu lực ngày 31 tháng 12 năm 1959. Được ban hành sau thắng
lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, đề ra nhiệm vụ củng cố miền Bắc, đưa miền
Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội và tiếp tục đấu tranh giải phóng miền Nam. Một
nhà nước quá độ từ chế độ dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội. [5, tr150] Với
những tiến bộ của bản hiến pháp này đã phát huy hơn nữa lòng yêu nước và chủ
nghĩa xã hội của nhân dân ta, sẽ động viên nhân dân ta đoàn kết chặt chẽ hơn nữa,
cố gắng thi đua hơn nữa để xây dựng nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập,
dân chủ và giàu mạnh.
2.2. Sửa đổi Hiến pháp 1959
Từ khi Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua Hiến pháp
1959 đến nay, tình hình nước ta đã có nhiều biến đổi sâu sắc cả về kinh tế, chính trị
- xã hội. Từ một đất nước bị chia cắt làm hai miền thì đến năm 1975, đất nước đã
hoàn toàn giải phóng, thống nhất về mặt Nhà nước, mở ra một giai đoạn mới của
cách mạng nước ta. Năm 1976, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng
cộng sản Việt Nam đã vạch ra đường lối chính sách để xây dựng một nước Việt
Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp 1959 đã hoàn
thành nhiệm vụ của mình. Nhà nước ta cần có một bản hiến pháp mới nhằm thể chế
hóa đường lối, chính sách của Đại hội, đồng thời khẳng định những thành quả của
nhân dân ta trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân và đế quốc, bản hiến pháp
mới với những quy định được điều chỉnh sao cho phù hợp với quan hệ kinh tế - xã
hội đã đổi mới ở nước ta và tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động lực lượng
toàn dân xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước.

20


Trên tinh thần đó, lấy cơ sở là Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IV của Đảng và các Nghị quyết tiếp theo của Ban chấp hành Trung ương Đảng,
cũng như kinh nghiệm quý báu của 35 năm xây dựng và củng cố chính quyền nhân
dân, kinh nghiệm phong phú về xây dựng và thi hành Hiến pháp 1946 và Hiến pháp
1959, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa VI, bản Báo cáo của UBDTSĐHP của Quốc
hội đã được trình bày, nêu rõ sự cần thiết phải có hiến pháp của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam; nội cung cơ bản của dự thảo hiến pháp; Cuộc thảo luận dự
thảo hiến pháp trong cán bộ và nhân dân và những việc phải làm để đảm bảo hiến
pháp mới được thi hành. [30]
Nội dung bản dự thảo hiến pháp nêu rõ 6 vấn đề: Tính chất của Nhà nước
(Điều 2: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước chuyên chính
vô sản”); Vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam (Điều 4: “Đảng cộng sản
Việt Nam… là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội, là nhân tố
quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”); Quyền làm chủ tập thể của
nhân dân lao động ở nước ta; Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; Cơ cấu tổ
chức Nhà nước và vấn đề tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
DTSĐHP đã được thảo luận và đưa ra lấy ý kiến toàn thể cán bộ, nhân dân.
Nhân dân với cương vị là người chủ tập thể cuả đất nước, đã tích cực tham gia xây
dựng đạo luật cơ bản có tầm quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của nước nhà
và lợi ích của toàn dân.
Hiến pháp 1959 sau khi sửa đổi trở thành Hiến pháp mới của nước ta- Hiến
pháp 1980. Hiến pháp 1980 được Quốc hội biểu quyết thông qua tại kỳ họp thứ bảy,
Quốc hội khóa VI ngày 18 tháng 12 năm 1980 gồm 12 chương, 147 điều trên cơ sở
kế thừa và phát triển Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959 do chủ tịch Hồ Chí Minh
trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng trở thành đạo luật cơ bản của Nhà nước, là Hiến
pháp của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước.
2.3. Sửa đổi Hiến pháp 1980
Hiến pháp năm 1980 được Quốc hội khóa VI thông qua ngày 18 tháng 12 năm
1980 là đạo luật cơ bản của Nhà nước đã thể chế hóa đường lối của Đảng cộng sản

21


Việt Nam được đề ra trong Nghị quyết Đại hội lần thứ IV (tháng 12 năm 1976) của
Đảng. Là bản Hiến văn ra đời trong không khí cách mạng thắng lợi trong cả nước,
chế độ thực dân mới do đế quốc Mỹ áp đặt ở miền Nam bị đập tan, đất nước không
còn bị chia cắt, cả nước ta độc lập, thống nhất và tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Hiến pháp 1980 là Hiến pháp của cơ chế tập trung kế hoạch, những nhận thức
cũ về CNXH. Cơ chế này có tác dụng rất to lớn cho công cuộc chiến thắng thực dân
và đế quốc những năm trước đây, nhưng sang đến một nền hòa bình, xây dựng và
phát trển kinh tế, những biểu hiện của hiến pháp về sự chủ quan, giản đơn, duy ý chí
trong quan niệm về con đường quá độ lên CNXH trong một đất nước mà nền sản
xuất nhỏ lẻ là phổ biến, còn nghèo nàn lạc hậu và vừa vượt ra khỏi chiến tranh đã
đẩy đất nước đến bờ vực của sự khủng hoảng kinh tế và xã hội. Không riêng gì của
Việt Nam, cả hệ thống xã hội chủ nghĩa thời kỳ này đều bước vào giai đoạn khủng
hoảng. Để dẫn dắt đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà
nước Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới, bắt đầu bằng đổi mới tư duy,
đường lối đối ngoại, tiếp theo là đổi mới kinh tế. Bước đầu công cuộc đổi mới kinh
tế đã thu được một số thắng lợi, khắc phục dần sự khủng hoảng kinh tế xã hội. Để
thúc đẩy công cuôc đổi mới thu được nhiều thắng lợi hơn nữa, Đảng, Nhà nước ta
bắt tay vào công cuộc đổi mới chính trị, cụ thể là sửa đổi hiến pháp.
Việc sửa đổi Hiến pháp 1980, thể hiện đúng tinh thần chỉ đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam được diễn ra ba giai đoạn. Giai đoạn đầu được tiến hành ngay sau
năm 1986, tức là sau Đại hội Đảng Cộng sản lần VI; giai đoạn hai được tiến hành
tiếp theo bằng việc thay đổi các quy định của Hiến pháp 1980 và những đạo luật
tiếp theo thể hiện rõ lực cản của công cuộc cải tổ và đổi mới; giai đoạn ba được tiến
hành bằng việc sửa đổi một cách toàn diện toàn văn Hiến pháp 1980 bằng cách
thành lập UBDTSĐHP do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước đứng đầu. [30]
Hiến pháp 1980 được sửa đổi qua ba lần như sau: (1) Với tinh thần của Nghị
quyết đại hội Đảng lần thứ VI, Quốc hội khoá VII, tại Kỳ họp thứ 3 ngày 22-121988 đã ra nghị quyết sửa đổi lời nói đầu, không chỉ rõ đích danh thực dân Pháp, đế
quốc Mỹ và bành trướng Trung Quốc cho phù hợp với quan hệ đối ngoại tốt đẹp

22


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×