Tải bản đầy đủ

Hoạt động của hội đồng nhân dân qua thực tiễn tỉnh nam định

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THU TRANG

HO¹T §éNG CñA HéI §åNG NH¢N D¢N QUA THùC TIÔN TØNH NAM §ÞNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THU TRANG

HO¹T §éNG CñA HéI §åNG NH¢N D¢N QUA THùC TIÔN TØNH NAM §ÞNH
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nƣớc và Pháp luật
Mã số: 60 38 01 01


LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: GS. TS. NGUYỄN ĐĂNG DUNG

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên
cứu thực sự của cá nhân, được thực hiện với sự quan tâm,
hướng dẫn tận tình chi tiết của GS.TS. Nguyễn Đăng
Dung. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm
bảo tính chính xác và trung thực. Luận văn được hoàn
thành theo đúng quy trình, quy định và hướng dẫn về
nghiên cứu khoa học.
Người cam đoan

PHẠM THU TRANG


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1: VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TRONG
TỔ CHỨC QUYỀN LỰC NHÀ NƢỚC Ở ĐỊA PHƢƠNG .................8
1.1.

Vị trí pháp lý của Hội đồng nhân dân ........................................... 8

1.1.1.

Tổ chức chính quyền địa phương trong bộ máy chính quyền
nhà nước ở Việt Nam......................................................................... 8

1.1.2.


Vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân .............................................. 10

1.2.

Chức năng của Hội đồng nhân dân.............................................. 18

1.2.1.

Chức năng đại diện cho mọi tầng lớp nhân dân địa phương ........... 18

1.2.2.

Chức năng quyết định các biện pháp quản lý địa phương............... 19

1.2.3.

Chức năng giám sát việc thực hiện các quyết định và hoạt
động của các cơ quan nhà nước khác .............................................. 21

1.3.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân ............................ 22

1.3.1.

Đối với HĐND cấp tỉnh ................................................................... 22

1.3.2.

Đối với HĐND cấp huyện ............................................................... 23

1.3.3.

Đối với HĐND cấp xã ..................................................................... 24

1.4.

Hình thức hoạt động của Hội đồng nhân dân ............................. 26

1.4.1.

Kỳ họp Hội đồng nhân dân .............................................................. 26

1.4.2.

Hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân ............................. 30

1.4.3.

Hoạt động của các Ban Hội đồng nhân dân .................................... 32

1.4.4.

Hoạt động của đại biểu và tổ đại biểu HĐND ................................. 33

Kết luận chƣơng 1 ......................................................................................... 35


Chƣơng 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN
DÂN - QUA THỰC TIỄN TỈNH NAM ĐỊNH ..................................36
2.1.

Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Nam Định ..... 36

2.1.1.

Điều kiện tự nhiên ........................................................................... 36

2.1.2.

Tình hình kinh tế - xã hội ................................................................ 38

2.2.

Thực trạng hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp tại
tỉnh Nam Định ................................................................................ 39

2.2.1.

Việc tổ chức và hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở
các cấp trên địa bàn tỉnh Nam Định theo Luật định (trước khi
thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường) ...... 39

2.2.2.

Việc tổ chức thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện,
quận, phường tại tỉnh Nam Định ..................................................... 63

2.2.3.

Những vướng mắc, hạn chế sau khi thực hiện thí điểm không
tổ chức HĐND huyện, phường tại tỉnh Nam Định.......................... 77

Kết luận chƣơng 2 ......................................................................................... 88
Chƣơng 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU LỰC,
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN ..... 89
3.1.

Tính tất yếu trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt
động của HĐND ............................................................................. 89

3.1.1.

Yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và xây dựng thành công nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân ....................................................................................... 89

3.1.2.

Thực trạng hoạt động của HĐND chưa tương xứng với vị trí,
vai trò của HĐND được luật định.................................................... 90

3.1.3.

Yêu cầu của đổi mới tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương...... 91

3.1.4.

Hoàn cảnh thực tiễn của nước ta ..................................................... 91

3.2.

Giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động
của HĐND các cấp tại tỉnh Nam Định ......................................... 92


3.2.1.

Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt
động của HĐND .............................................................................. 92

3.2.2.

Hoàn thiện hệ thống pháp luật về HĐND ....................................... 95

3.3.

Đề xuất đổi mới, cải tiến .............................................................. 100

3.3.1.

Về Chương trình xây dựng nghị quyết của HĐND và chuẩn
bị, tổ chức kỳ họp HĐND .............................................................. 100

3.3.2.

Về hoạt động của Thường trực HĐND, các Ban HĐND .............. 104

3.3.3.

Về hoạt động của Tổ đại biểu và đại biểu HĐND......................... 105

3.3.4.

Về mối quan hệ của HĐND với UBND, các cơ quan chuyên
môn thuộc UBND, các đơn vị, tổ chức hữu quan trên địa bàn ..... 106

3.3.5.

Về các điều kiện đảm bảo cho hoạt động của HĐND ................... 106

KẾT LUẬN .................................................................................................. 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 110


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐND:

Hội đồng nhân dân

TAND:

Tòa án nhân dân

UBHC:

Ủy ban Hành chính

UBMTTQVN:

Ủy ban Mặt trận tổ quốc

UBND:

Ủy ban nhân dân

VBQPPL:

Văn bản quy phạm pháp luật

VKSND:

Viện kiểm sát nhân dân

XHCN:

Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là một trong những nhiệm vụ quan
trọng mà toàn Đảng, toàn dân ta đã và đang không ngừng phấn đấu thực hiện.
Trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước ta thường xuyên quan
tâm đến vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động của Nhà nước nói chung, của
Hội đồng nhân dân nói riêng. Chủ trương đổi mới tổ chức và hoạt động của
HĐND đó được thể hiện trong nhiều văn kiện của Đảng, như: Văn kiện các
Đại hội VI, VII, VIII, IX, X của Đảng, Văn kiện Hội nghị giữa nhiệm kỳ
Khoá VII, Văn kiện Hội nghị Trung ương 8 Khoá VII, Văn kiện Hội nghị
Trung ương 3,7 Khoá VIII. Những quan điểm, chủ trương đổi mới tổ chức và
hoạt động của Hội đồng nhân dân trong các văn kiện nêu trên đều được kịp
thời cụ thể hoá thành các quy định trong Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và
Uỷ ban nhân dân năm 2003, và một số văn bản pháp luật khác. Nghị quyết
Hội nghị Trung ương 5 Khoá X đề cập sâu đến mô hình tổ chức Hội đồng
nhân dân quận, huyện, phường với việc thí điểm không tổ chức Hội đồng
nhân dân ở cấp này tại một số địa phương.
Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định chế định HĐND trong tổ chức
chính quyền địa phương cũng nhằm khẳng định và bảo đảm quyền làm chủ
của người dân trong việc có cơ quan đại diện và giám sát cơ quan hành chính
nhà nước. Theo đó việc tổ chức của bộ máy chính quyền địa phương phải phù
hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính kinh tế đặc
biệt nhưng vẫn phải trên nguyên tắc: Ở đâu có cơ quan hành chính, ở đó có sự
giám sát của HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, cơ quan
đại diện cho nhân dân địa phương. Việc tiếp tục khẳng định nguyên tắc này

1


trong Hiến pháp vừa giữ được các vấn đề mang tính nguyên tắc của chính
quyền địa phương vừa đáp ứng được yêu cầu đổi mới, tạo điều kiện cho chính
quyền địa phương năng động, sáng tạo hơn trong thực hiện nhiệm vụ của
mình. Bảo đảm được quyền làm chủ đối với mọi quyền lực nhà nước của
nhân dân thông qua cơ quan đại diện của mình là HĐND các cấp.
HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện
cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân địa
phương, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước
Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. HĐND quyết
định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân
theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị
quyết của HĐND [38, Điều 113].
Việc giữ được chế định HĐND trong Hiến pháp năm 2013 sẽ tiếp tục
bảo đảm nhân dân có kênh giám sát và có nơi để thực hiện quyền lợi dân chủ
của mình. Đây là nền tảng pháp lý quan trọng nâng cao vai trò, vị thế cho hoạt
động của đại biểu dân cử và cơ quan dân cử trong hệ thống chính trị.
Trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước,
từ yêu cầu xây dựng nền dân chủ XHCN, đảm bảo quyền làm chủ của nhân
dân nâng cao vai trò của các cơ quan dân cử ở địa phương, những năm qua,
Hội đồng nhân dân các cấp đã từng bước thực hiện rõ chức năng, nhiệm vụ,
khẳng định vị trí là cơ quan quyền lực nhà nước, đại diện cho ý chí nguyện
vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương. Tuy nhiên, trong tổ chức và
hoạt động HĐND còn bộc lộ những khó khăn nhất định như hoạt động giám
sát và quyết định của HĐND vẫn còn nhiều hạn chế, một số vấn đề về tổ chức
của HĐND vẫn chưa được làm rõ, chưa có định hướng đổi mới một cách cơ
bản lâu dài. Chất lượng hoạt động giám sát của HĐND nhìn chung vẫn còn
chưa cao. HĐND các cấp chưa thể hiện được đầy đủ vai trò là cơ quan đại

2


diện của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương; các Đại biểu
HĐND chưa phát huy được hết tinh thần làm chủ, thể hiện ý chí của cử tri,
mối liên hệ giữa cử tri và đại biểu vẫn còn lỏng lẻo. Mặc dù về vấn đề này đã
có nhiều quy định của pháp luật như Luật tổ chức HĐND và UBND năm
2003, Nghị quyết 753/2005/UBTVQH11 Nghị quyết ban hành quy chế hoạt
động của HĐND; Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12 Nghị quyết điều chỉnh
nhiệm vụ quyền hạn của HĐND, UBND tỉnh, Thành phố trực thuộc trung
ương và quy định nhiệm vụ quyền hạn của UBND quận, phường nơi không tổ
chức HĐND quận, huyện, phường. Câu hỏi đặt ra là những nguyên nhân nào
dẫn đến hoạt động của HĐND nhiều khi vẫn còn mang tính hình thức; làm thế
nào để HĐND thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, là cơ
quan đại diện cho ý chí nguyện vọng của cử tri?
Theo quy định tại Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 thì
HĐND được chia thành 3 cấp: HĐND cấp tỉnh, HĐND cấp huyện, HĐND
cấp xã. Luật Tổ chức chính quyền địa phương vừa được Quốc hội khóa 13
thông qua ngày 19/6/2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016 tiếp tục
khẳng định ở đâu được coi là cấp chính quyền thì chính quyền ở đó bao
gồm HĐND và UBND. Tỉnh Nam Định là 1 trong 10 tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương đang thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND ở cấp
huyện, phường. HĐND các cấp tại tỉnh Nam Định trong quá trình hoạt
động của mình đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần quan trọng
vào thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của tỉnh. Trong thời gian qua bên cạnh những thành tựu đạt
được, hoạt động của HĐND các cấp tại tỉnh Nam Định vẫn còn gặp phải
nhiều tồn tại, vướng mắc được thể hiện thông qua hoạt động của Thường
trực, các Ban và đại biểu HĐND còn nhiều hạn chế; công tác giám sát và
thẩm tra chưa hiệu quả, công tác tiếp xúc cử tri của các đại biểu chưa

3


thường xuyên, chất vấn và trả lời chất vấn tại các kỳ họp còn mang tính
hình thức… những nguyên nhân này gây ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả
hoạt động của HĐND cả nước nói chung và của tỉnh Nam Định nói riêng.
Xuất phát từ mong muốn tìm hiểu một cách cụ thể và đưa ra giải pháp
thiết thực cho quê hương nên trong khuôn khổ luận văn của mình, tôi lựa
chọn nghiên cứu đề tài “Hoạt động của Hội đồng nhân dân - Qua thực tiễn
tỉnh Nam Định” mặc dù trong phạm vi của một luận văn không thể đi vào
tìm hiểu hết thực trạng hoạt động của HĐND trên phạm vi cả nước nhưng
việc tìm hiểu nghiên cứu này vừa góp phần nâng cao chất lượng hoạt động
của Hội đồng nhân dân tại địa phương nói riêng, vừa có thể đưa ra những giải
pháp thiết thực cho việc tăng cường hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân
dân trên cả nước nói chung.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Về thực tiễn là khắc phục được những hạn chế, tồn tại trong thực tiễn
hoạt động của HĐND. Về góc độ khoa học, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ
giúp cho việc luận giải khoa học về nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại
trong hoạt động của HĐND. Qua đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện
khuôn khổ pháp lý của hệ thống HĐND trên cả nước góp phần đưa ra các
giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Phân tích khôn khổ pháp lý hiện hành về tổ chức, hoạt động của hệ
thống HĐND các cấp trên cả nước.
- Phân tích thực tiễn hoạt động của HĐND các cấp tại tỉnh Nam Định
trong những năm gần đây từ đó đưa ra một số nhận xét, đánh giá và đề xuất
một số giải pháp pháp khắc phục; đảm bảo cho hoạt động của HĐND được
hiệu quả, nâng cao về chất lượng nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả, thực

4


hiện tốt vai trò đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân của cơ
quan dân cử ở tỉnh Nam Định nói riêng và trên cả nước nói chung trong
những năm tới.
3. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hoạt động của HĐND không phải là vấn đề mới ở Việt Nam. Nhiều
công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này, việc nghiên cứu thực trạng hoạt
động và đưa ra các giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động
của HĐND luôn là vấn đề có tính thời sự và cấp thiết. Các công trình nghiên
cứu của các nhà khoa học đều quan tâm tập trung theo một góc độ nhất định,
giá trị mà các công trình nghiên cứu đó mang lại rất cao và hướng tới sự hoàn
thiện tổng thể, trong đó tiêu biểu:
- GS.TS Nguyễn Đăng Dung, Chính quyền địa phương và các mô hình
của nó.
- GS.TS Nguyễn Đăng Dung, Hội đồng nhân dân trong nhà nước pháp
quyền. NXB Tư pháp – 2012.
- Tác giả Vũ Hùng, Hội đồng nhân dân – Quá trình hình thành và biến đổi.
- PGS.TS Bùi Tiến Quý, Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động của
chính quyền địa phương trong giai đoạn hiện nay.
- PGS.TS Bùi Xuân Đức, Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong
giai đoạn hiện nay, sách chuyên khảo của PGS.TS Bùi Xuân Đức.
- GS.TSKH Đào Trí Úc, Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Nguyễn Quốc Tuấn, Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
của Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp, Tạp chí quản lý Nhà
nước, số 6/2002.
- Trương Đắc Linh, Tổ chức và hoạt động các ban của Hội động nhân
dân, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 2/2003.

5


- Đinh Ngọc Quang, Về đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân
dân các cấp nhiệm kỳ 2004 – 2009, Tạp chí quản lý Nhà nước số 02/2005.
Các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp một lượng kiến thức và
thông tin khá đồ sộ về HĐND từ góc độ tổ chức đến hoạt động. Tuy nhiên,
những công trình nghiên cứu trên mới nêu ra những nhận định khái quát, chưa
nêu được những giải pháp phù hợp cho từng địa phương cụ thể vì tình hình
kinh tế, xã hội của mỗi vùng là khác nhau. Đặc biệt, chưa có công trình
nghiên cứu nào đề cập đến hoạt động của HĐND các cấp tỉnh Nam Định.
Như vậy, đề tài này tuy không phải là một lĩnh vực mới, song với việc
đi sâu tìm hiểu cụ thể tại một địa phương là tỉnh Nam Định, đề tài này vẫn sẽ
có những đóng góp về phương diện lý luận chung, cũng như về mặt quản lý
nhà nước ở địa phương, thông qua việc đề xuất những giải pháp phù hợp trên
địa bàn tỉnh. Vì vậy, nghiên cứu đề tài này vẫn là cần thiết và thiết thực.
Đề tài sẽ phân tích toàn diện về thực tiễn hoạt động đồng thời nêu ra
những nhận xét đánh giá và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động của HĐND các cấp tại tỉnh Nam Định trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu lý luận chung về hoạt động của HĐND
nói chung và tại tỉnh Nam Định nói riêng theo tinh thần của Hiến pháp năm
2013 và Luật chính quyền địa phương năm 2015.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu đi sâu vào tìm hiểu đánh giá thực trạng
hoạt động của HĐND các cấp tỉnh Nam Định trong thời gian qua. Trên cơ sở
đó có những nhận xét, đánh giá đối với việc thí điểm không tổ chức HĐND
huyện, quận, phường; về những kết quả đạt được và những tồn tại, hạn chế, để
có những kiến nghị, đề xuất trong việc đổi mới, hoàn thiện tổ chức của HĐND.

6


5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của triết học
Mác – Lê nin, lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan
điểm, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta về HĐND.
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng là phương pháp khảo
sát thực tế, thu thập các tài liệu, văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến
nội dung nghiên cứu. Phân tích, so sánh và đánh giá về thực trạng hoạt động
của HĐND các cấp. Tổng hợp vấn đề và biên tập hiệu đính tài liệu tổng kết.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục tài
liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân trong tổ chức quyền
lực nhà nước ở địa phương.
Chương 2: Thực trạng hoạt động của Hội đồng nhân dân qua thực tiễn
tỉnh Nam Định.
Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động
của Hội đồng nhân dân.

7


Chương 1
VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TRONG
TỔ CHỨC QUYỀN LỰC NHÀ NƢỚC Ở ĐỊA PHƢƠNG
1.1. Vị trí pháp lý của Hội đồng nhân dân
1.1.1. Tổ chức chính quyền địa phương trong bộ máy chính quyền
nhà nước ở Việt Nam
Theo quy định tại Điều 4 Luật tổ chức và hoạt động của HĐND và
UBND năm 2003 thì bộ máy chính quyền được tổ chức một cách hoàn chỉnh:
“HĐND và UBND được tổ chức ở các đơn vị hành chính sau: Tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh); huyện, quận, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện); xã, phường, thị trấn (gọi chung là
cấp xã). Tính đến ngày 15.6.2011, cả nước có 63 đơn vị hành chính cấp tỉnh;
698 đơn vị cấp huyện và 11.112 đơn vị cấp xã. Bộ máy chính quyền địa
phương gồm HĐND và UBND được thành lập đầy đủ ở cả 3 cấp. HĐND là
cơ quan đại diện của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.
UBND là cơ quan chấp hành của HĐND cùng cấp, cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương.
Luật tổ chức chính quyền địa phương được Quốc hội khóa 13 của nước
CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 19/6/2015 có hiệu lực thi hành kể từ
ngày 01/01/2016 quy định ngoài 3 đơn vị hành chính như theo quy định Luật
tổ chức HĐND và UBND năm 2013 thì nước ta còn thêm đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt. Tuy vậy dù ở cấp nào thì khoản 1 Điều 4 một lần nữa khẳng
định “Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban
nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam quy định tại Điều 2 của Luật này”. Ở đâu được coi là cấp
chính quyền thì chính quyền ở đó bao gồm HĐND và UBND. Dù tổ chức

8


theo chính quyền địa phương ở nông thôn hay ở đô thị thì tổ chức của chính
quyền địa phương vẫn bao gồm HĐND và UBND.
Theo nghĩa rộng, chính quyền địa phương được hiểu là tất cả các cơ
quan nhà nước đóng trên lãnh thổ địa phương mà hoạt động của chúng có tác
động trong phạm vi lãnh thổ địa phương. Theo nghĩa hẹp, nói đến chính
quyền địa phương là nói đến cơ quan đại diện và cơ quan hành chính, ở Việt
Nam gọi là HĐND và UBND. Hai cơ quan này hợp thành một cơ quan nhằm
tổ chức và quản trị đời sống xã hội của địa phương đó (căn cứ vào Hiến pháp,
luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và các quyết định của
chính các cơ quan này).
Về các yếu tố cấu thành chính quyền địa phương: Chính quyền địa
phương luôn gắn với một đơn vị hành chính - lãnh thổ nhất định và được tổ
chức theo đơn vị hành chính - lãnh thổ đó. Nghĩa là không có chính quyền địa
phương nào nằm ngoài đơn vị hành chính lãnh thổ.
Nghiên cứu lịch sử hình thành, phát triển của các đơn vị hành chính lãnh thổ và chính quyền địa phương ở nước ta từ khi nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa ra đời (nay là CHXHCN Việt Nam) cho thấy, các đơn vị hành chính
lãnh thổ được chia thành nhiều cấp, ngày càng đa dạng hơn các loại hình
trong cùng một cấp. Cho đến nay, các đơn vị hành chính - lãnh thổ ở địa
phương nước ta được tổ chức chủ yếu theo 3 cấp: cấp tỉnh và tương đương;
cấp huyện và tương đương; cấp xã và tương đương.
Về chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính lãnh thổ: Hiến
pháp năm 1946 quy định: HĐND, Ủy ban hành chính được tổ chức ở tỉnh,
thành phố, thị xã và xã; ở cấp bộ và huyện chỉ có UBHC do các HĐND
cấp dưới trực tiếp bầu ra. Hiến pháp 1959, 1980 và 1992 quy định tại mỗi
đơn vị hành chính - lãnh thổ đều tổ chức HĐND và UBHC (sau này đổi
tên là UBND).

9


Về cơ chế hình thành chính quyền địa phương: Đối với HĐND do tính
chất là cơ quan đại diện của nhân dân nên cơ quan này chủ yếu được hình
thành theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, do nhân dân trực tiếp bầu ra. Trên
thực tế, từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đến nay, cả về mặt
pháp lý và thực tiễn, HĐND các cấp đều do nhân dân trực tiếp bầu ra theo
nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
Đối với UBND: Ở nước ta, việc thành lập UBND được thực hiện chủ
yếu theo cơ chế do HĐND bầu. Thời kỳ từ Hiến pháp năm 1946 đến năm
1960, cơ quan hành chính có tên gọi là ủy ban hành chính, có thời kỳ lấy tên
là ủy ban hành chính - kháng chiến và do HĐND cùng cấp bầu ra. Đối với cấp
bộ và cấp huyện nơi không tổ chức HĐND thì UBHC bộ do HĐND các tỉnh
bầu ra và ủy ban hành chính huyện do HĐND cấp xã bầu ra. Thời kỳ từ Hiến
pháp 1959 đến Hiến pháp 1980, UBHC do HĐND cùng cấp bầu ra. Từ Hiến
pháp năm 1992, việc thành lập UBND vẫn theo cơ chế bầu cử nhưng được
đổi mới có sự kết hợp với cơ chế bổ nhiệm.
Theo như quy định trên đây thì chính quyền địa phương bao giờ cũng
gần nhân dân hơn, có điều kiện để phục vụ nhân dân tốt hơn. Mỗi một cấp
chính quyền đều có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong cơ cấu tổ chức của
chính quyền địa phương. HĐND các cấp có vị trí pháp lý hết sức quan trọng
trong hệ thống cơ quan chính quyền địa phương. Là cơ quan đảm bảo quyền,
lợi ích hợp pháp của công dân, các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức xã hội
nghề nghiệp ở địa phương, đảm bảo cho sự phát triển toàn diện, ổn định ở địa
phương, xứng đáng là cơ quan chính quyền của nhân dân.
1.1.2. Vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân
HĐND là hình thức tổ chức chính quyền địa phương kiểu mới. Nó
không phải là cơ quan đại diện, tư vấn bên cạnh cơ quan hành chính hay là
“cơ quan tự quản” như trong các chính quyền địa phương kiểu phong kiến

10


trước đây hay tư bản hiện nay mà là cơ quan đại diện quyền lực nhà nước của
nhân dân trên địa bàn lãnh thổ - được coi là một bộ phận quyền lực hợp thành
quyền lực nhà nước thống nhất chung của toàn quốc. Vị trí, vai trò của
HĐND được quy định trong Hiến pháp của nhà nước ta và được quy định cụ
thể trong bản Hiến pháp 2013 như sau: “HĐND là cơ quan quyền lực Nhà
nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của
nhân dân địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm
trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên” [40].
Theo đó có thể thấy HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa
phương, là cơ quan quan trọng nhất ở địa phương. Vì nhà nước ta là nhà nước
dân chủ, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, các cơ quan quyền lực do nhân
dân bầu ra và cơ quan đó phải là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương.
Vị trí của HĐND được thể hiện ngày càng rõ nét trong tiến trình phát
triển của các bản Hiến pháp Việt Nam. Trải qua gần 70 năm hình thành và
phát triển, HĐND ở nước ta không ngừng kiện toàn và lớn mạnh, ngày càng
thể hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình và thực sự là một bộ phận không
thể thiếu của chính quyền địa phương. Ngay tại bản Hiến pháp đầu tiên năm
1946 đã dành 5 chương, 6 điều quy định vai trò, vị trí của HĐND. Ngày
22/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 63/SL về tổ chức Hội
đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp. Nội dung chủ đạo của Sắc
lệnh này là:
Để thực hiện chính quyền nhân dân địa phương trong nước
Việt Nam, sẽ đặt hai thứ cơ quan Hội đồng nhân dân và Ủy ban
hành chính. Hội đồng nhân dân do dân bầu ra theo lối phổ thông và
trực tiếp đầu phiếu là cơ quan thay mặt cho dân. Ủy ban nhân dân
do các Hội đồng nhân dân bầu ra là cơ quan hành chính vừa thay
mặt cho dân vừa đại diện cho Chính phủ... .

11


Hiến pháp 1946, hiến định hóa cách thức tổ chức cơ quan chính quyền
địa phương trong chương V “HĐND - Ủy ban hành chính” với các điều từ điều
57 đến điều 62. Cụ thể tại Điều 58 đã nêu “ở tỉnh, thành phố, thị xã và xã có
HĐND do đầu phiếu phổ thông, trực tiếp bầu ra. HĐND tỉnh, thành phố, thị xã
hay xã cử ra Ủy ban hành chính (sau đây viết tắt là UBHC). Ở bộ và huyện, chỉ
có UBHC. UBHC do Hội đồng các tỉnh và thành phố bầu ra”. Như vậy ngay từ
lúc mới thành lập, HĐND chỉ có ở hai cấp đó là cấp tỉnh và cấp xã (không có ở
huyện như hiện nay). Tuy nhiên, do điều kiện hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ nên
ủy ban hành chính tồn tại trong một thời gian dài còn HĐND không được thành
lập ở nhiều nơi. Căn cứ vào quy định của Hiến pháp 1946 và các Sắc lệnh trong
thời kỳ kháng chiến, nhằm phù hợp với tình hình thực tế của đất nước thì các
Sắc lệnh quy định tổ chức chính quyền địa phương ở những vùng tạm thời bị
địch kiểm soát và uy hiếp đã ra đời như Sắc lệnh số 254/SL ngày 19 tháng 11
năm 1948 và Sắc lệnh 255/SL ngày 19 tháng 11 năm 1948. Sau khi miền Bắc
hoàn toàn được giải phóng nhà nước ta đã tiến hành các biện pháp nhằm củng
cố chính quyền địa phương. Sắc luật số 04/SL ngày 20 tháng 07 năm 1957, về
thể lệ bầu cử HĐND các cấp và Sắc lệnh 110/SL ngày 31 tháng 05 năm 1958,
về tổ chức chính quyền địa phương quy định tổ chức lại các cơ quan chính
quyền địa phương ở các đơn vị hành chính.
Hiến pháp năm 1959 đã thực hiện một sự đổi mới căn bản về tổ chức
của cơ quan chính quyền địa phương. Theo quy định của Hiến pháp này thì
đơn vị hành chính nước ta không còn cấp kỳ (Bộ). Nước được chia thành tỉnh,
khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương; tỉnh chia thành huyện; thành phố,
thị xã; huyện chia thành xã, thị trấn. Ở các đơn vị hành chính nói trên đều
được thành lập HĐND và UBHC, các thành phố có thể chia ra khu phố có
HĐND và UBHC. Lần đầu tiên HĐND được xác định là cơ quan quyền lực
nhà nước ở địa phương, UBHC các cấp là cơ quan chấp hành của HĐND ở

12


địa phương, quy định này cho đến nay vẫn được ghi nhận trong Hiến pháp.
Luật tổ chức HĐND và UBHC ban hành ngày 25 tháng 10 năm 1962 đã cụ
thể hóa tinh thần của Hiến pháp 1959.
Đến Hiến pháp 1980 ra đời, không còn khu tự trị vì đất nước đã thống
nhất toàn vẹn lãnh thổ, nhưng lập ra các đơn vị hành chính đặc khu tương
đương tỉnh và tương đương phường ở những thành phố, thị xã. Vị trí, tính
chất của HĐND được quy định tại Điều 114, Hiến pháp 1980. Những quy
định của Hiến pháp được cụ thể hóa tại Luật tổ chức HĐND và UBND năm
1989, trong luật này có một số điểm mới nữa là đưa thêm vào trong cơ cấu, tổ
chức của HĐND một cơ quan mới là thường trực HĐND - cơ quan này giải
quyết những công việc trong thời gian HĐND không tổ chức họp.
Trên cơ sở các Hiến pháp 1946, 1980, 1992 và sửa đổi bổ sung năm
2001, hệ thống pháp luật về chính quyền địa phương đã có một số thay đổi về
cơ chế tổ chức và tên gọi, nhưng bản chất cũng như vai trò, vị trí, chức năng,
nhiệm vụ của mô hình tổ chức HĐND và UBND theo tinh thần sắc lệnh trên
đây cơ bản vẫn được giữ nguyên. Hiến pháp 1992 (sửa đổi bổ sung năm
2001) quy định: “HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại
diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa
phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà
nước cấp trên” [37, Điều 119]. Như vậy, chúng ta có thể hình dung HĐND
như chiếc cầu nối giữa nhân dân và nhà nước, tạo điều kiện cho nhân dân làm
chủ, mối quan hệ hai chiều được dung hoà giữa yếu tố quyền lực nhà nước và
yếu tố ý chí của nhân dân. Theo Hiến pháp 1992 vị trí, tính chất của HĐND
về cơ bản vẫn giữ nguyên cách thức tổ chức hệ thống chính quyền địa phương
như Hiến pháp 1980, bỏ đơn vị hành chính đặc khu. Về vị trí, tính chất của
HĐND được quy định rõ tại Điều 119, Hiến pháp 1992, nhưng có điểm khác
biệt ở chỗ Hiến pháp 1992 không quy định cách thức tổ chức của HĐND và

13


UBND ở các đơn vị hành chính như trước đây mà để cho luật quy định, đồng
thời Hiến pháp cũng không nhắc tới Thường trực HĐND là một cơ quan như
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1980 năm 1989 và chỉ coi
Thường trực HĐND như là một bộ phận của HĐND. Luật tổ chức HĐND và
UBND năm 2003 cụ thể hóa tinh thần được quy định trong Hiến pháp 1992.
Đi cùng với việc thay thế, nâng cấp lên thành luật thì nó cũng có những sửa
đổi, bổ sung về tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND như: quy định
quyền giám sát của HĐND và các ban của HĐND, quy định thẩm quyền bỏ
phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do HĐND bầu, tổ chức thường trực
HĐND ở tất cả các cấp; phân định rõ nhiệm vụ quyền hạn của HĐND và
UBND từng cấp (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã) ngay tại luật chứ không để
pháp lệnh quy định như trước nữa, điều này thể hiện sự phân cấp mạnh hơn
cho địa phương, phân định cụ thể hơn thẩm quyền và trách nhiệm giữa
UBND và Chủ tịch UBND.
Hiến pháp mới năm 2013 được Quốc hội thông qua ngày 28 tháng 11
năm 2013, tại Điều 113 HĐND được xác định là “cơ quan quyền lực nhà
nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của
nhân dân địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm
trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên” [40, Điều 113].
Với quy định này so với điều 119 Hiến pháp 1992 chúng ta đã thấy đã có sự
bổ sung cần thiết khi xác định HĐND là cơ quan chịu trách nhiệm trước nhân
dân địa phương, chứ không nêu một cách chung chung là HĐND chịu trách
nhiệm trước nhân dân như trong Hiến pháp 1992 và tiếp tục khẳng đình chắc
chắn HĐND là cơ quan đại diện về ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của
chính người dân đã bầu ra mình chứ không phải cho nhân dân tại địa phương
khác; HĐND phải thực hiện hai vai trò; vai trò thứ nhất là cơ quan quyền lực
nhà nước ở địa phương (quyết định các vấn đề quan trọng), vai trò thứ hai là

14


cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân
địa phương. Hai vai trò này được thực hiện có sự đan xen thể hiện qua chức
năng của HĐND đó là chức năng quyết định các vấn đề quan trọng ở địa
phương và chức năng giám sát.
Tính quyền lực nhà nước của HĐND thể hiện rõ nét từ lúc nó được
thành lập, HĐND được thành lập thông qua hoạt động bầu cử phổ thông đầu
phiếu, là người đại diện của nhân dân địa phương. Do đó, HĐND có rất nhiều
quyền như: Căn cứ vào pháp luật để bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức
danh của UBND, của Hội thẩm nhân dân cùng cấp, bỏ phiếu tín nhiệm đối với
các chức danh do mình bầu ra; căn cứ vào Hiến pháp, Luật, các văn bản của
cơ quan nhà nước trung ương để ban hành nghị quyết áp dụng tại địa phương
mình; có quyền giám sát hoạt động của các cơ quan khác trong tỉnh. Tuy
nhiên, tính quyền lực của HĐND tỉnh không giống với tính quyền lực của
Quốc hội. Theo quy định của Hiến pháp hiện hành thì Quốc hội là cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất, là cơ quan có quyền lập Hiến, lập pháp, những
văn bản này có giá trị pháp lý trong phạm vi toàn quốc, còn HĐND tỉnh chỉ
ban hành nghị quyết trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật, các văn bản của
cơ quan trung ương để triển khai tại địa phương mình và không có hiệu lực
với các địa phương khác.
Bên cạnh đó vai trò đại diện của HĐND đối với nhân dân địa phương
được nhiều người ví như vai trò của Quốc hội, nhưng khác về phạm vi và
mức độ và địa bàn hoạt động [4, tr 99]. Có thể ví vai trò đại diện của HĐND
nhân dân là như vậy bởi HĐND là cơ quan được thành lập bằng một cuộc bầu
cử, do cử tri địa phương trực tiếp bầu ra theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu,
bình đẳng, bỏ phiếu kín, hình thức hoạt động chủ yếu thông qua kỳ họp, quyết
định của HĐND được thông qua bằng việc biểu quyết theo đa số. Tính đại
diện của HĐND được thể hiện rõ nét trong cơ cấu đại biểu HĐND, ở đây tập

15


trung đầy đủ các thành phần giới tính, dân tộc, tôn giáo. Tổ chức chính trị,
chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp, cơ quan lực lượng vũ trang đang sinh
sống và hoạt động tại địa phương. Điều này cho thấy, HĐND là một cơ quan
đại diện của toàn dân địa phương, thể hiện khối đại đoàn kết toàn dân sống
trên địa bàn, điều này khác với tính đại diện của Quốc hội.
Việc ghi nhận vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương của
HĐND trong Hiến pháp 2013 đã khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa
tính quyền lực và tính đại diện của HĐND. Thực tiễn đã cho thấy, HĐND
muốn thực hiện được vai trò, vị trí là cơ quan đại diện cho nhân dân thì phải
có quyền lực và khi có quyền lực thì sẽ làm tốt vai trò đại diện. Nếu HĐND
chỉ có một trong hai vai trò này, hoặc là cơ quan đại diện hoặc là cơ quan
quyền lực không thôi thì việc thực hiện chức năng nhiệm vụ sẽ rất khó khăn,
vai trò của HĐND khó có thể thực hiện một cách đầy đủ và có hiệu quả.
Vị trí của HĐND trong cơ quan chính quyền địa phương là rất quan
trọng nó thể hiện ở chỗ HĐND thể hiện quyền làm chủ của nhân dân trên địa
bàn lãnh thổ đó, đồng thời thực hiện những nhiệm vụ do cấp trên giao phó.
HĐND là đại diện tiêu biểu nhất cho tiếng nói của các tầng lớp nhân dân
trong xã hội, được lựa chọn từ các đại biểu ưu tú của các tầng lớp nhân dân,
các dân tộc, tôn giáo, nông dân, trí thức,... HĐND đại diện cho trí tuệ, tinh
thần và sức mạnh tập thể nhân dân địa phương. Vì thế, HĐND là tổ chức
chính quyền gần gũi nhân dân nhất, hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng và yêu cầu
của nhân dân, hiểu rõ được những thuận lợi, khó khăn của địa phương.
HĐND thay mặt cho nhân dân địa phương, cho cử tri đã bầu ra mình để quyết
định những vấn đề quan trọng của địa phương và giám sát việc thi hành
những quyết định đó. HĐND quyết định những chủ trương, biện pháp quan
trọng để phát huy tiềm năng kinh tế của địa phương, xây dựng và phát triển
địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải

16


thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương làm tròn nghĩa
vụ của địa phương đối với cả nước; hoạt động giám sát của HĐND mang tính
quyền lực nhà nước để thay mặt nhân dân địa phương thực hiện quyền dân
chủ theo pháp luật quy định và là một bộ phận quyền lực cấu thành không thể
tách rời cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, là quyền lực mà nhân dân
địa phương trao cho cơ quan đại diện của mình theo một trình tự, thủ tục được
pháp luật quy định để chăm lo và bảo vệ quyền lợi ích chính đáng và hợp
pháp của nhân dân địa phương. Theo quy định hiện hành, HĐND giám sát
thông qua việc xem xét, đánh giá hoạt động của Thường trực HĐND, UBND,
TAND, VKSND cùng cấp, các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã
hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và công dân ở địa phương trong việc thực
hiện các nghị quyết của HĐND và việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.
Thực tiễn thời gian qua cho thấy, vai trò của HĐND các cấp ngày càng
được nâng lên, đã góp phần quan trọng cùng nhân dân cả nước thực hiện
thắng lợi những nhiệm vụ chiến lược qua từng giai đoạn cách mạng khác
nhau. Hoạt động của HĐND qua nhiều giai đoạn lịch sử đã thay đổi và phát
triển cả về chiều rộng và chiều sâu, từng bước bắt kịp với nhịp độ phát triển
của địa phương cũng như cả nước.
Luật tổ chức chính quyền địa phương mới được thông qua trung tuần
tháng 6/2015 xây dựng trên cơ sở sửa đổi toàn diện Luật tổ chức HĐND và
UBND năm 2003 cho phù hợp với tinh thần Hiến pháp năm 2013. Luật quy
định rõ hơn về cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân tạo cơ sở pháp lý để
củng cố, hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của
HĐND các cấp. Bên cạnh đó để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp
luật và phù hợp với thực tế của từng loại đơn vị hành chính, Luật cũng đã quy
định rõ ràng về nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương, của
HĐND, UBND ở các đơn vị hành chính. Trong việc phân định thẩm quyền

17


của chính quyền địa phương quy đinh tại khoản 3 Điều 11 Luật này đã khẳng
định “HĐND các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách
nhiệm giám sát các cơ quan nhà nước ở địa phương trong việc thực hiện các
nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp”.
1.2. Chức năng của Hội đồng nhân dân
Khi xuất hiện nhu cầu của xã hội, đòi hỏi phải một tổ chức, một cơ
quan đáp ứng nhu cầu của xã hội đó. Chức năng chính là vị trí, vai trò của tổ
chức được hình thành ra để đáp ứng nhu cầu xã hội [4, tr 103]. Những chức
năng cơ bản của HĐND phải thể hiện và là sự chứng minh được vị trí cơ quan
quyền lực nhà nước ở địa phương và cơ quan địa diện cho ý chí, nguyện
vọng, quyền làm chủ của nhân dân địa phương.
1.2.1. Chức năng đại diện cho mọi tầng lớp nhân dân địa phương
Xét về bản chất đại diện nhân dân của HĐND: nhân dân cần tổ chức ra
một cơ quan để thay mặt và thực thi quyền lực của nhân dân trong quản lý
nhà nước, thành lập ra các cơ quan nhà nước khác, biến ý chí của nhân dân
thành pháp luật để điều chỉnh mọi quan hệ xã hội vì lợi ích của nhân dân và
quyết định những vấn đề quan trọng và ở Trung ương là Quốc hội, còn địa
phương là HĐND các cấp. Quyền lực của HĐND có nguồn gốc ở nhân dân, ở
tính đại diện cho nhân dân, nếu xa rời nhân dân trong tổ chức và hoạt động thì
HĐND không còn là HĐND. HĐND sẽ trở thành một tổ chức “dân chủ hình
thức”, hành chính hóa và quan liêu hóa.
Như vậy xét về bản chất, tính đại diện của HĐND chính là sự thể hiện
nguyên tắc hiến định được quy định trong Điều 2 Hiến pháp 2013:
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân
dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm
chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×