Tải bản đầy đủ

Đặc trưng di sản văn hóa phi vật thể ở Thanh Hóa

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA,
THỂ THAO VÀ DU LỊCH THANH HÓA

ĐẶC TRƯNG DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ
Ở THANH HÓA

Tác giả: Lê Thị Thảo

THANH HÓA, 2014
1


MỞ ĐẦU
Theo Luật di sản văn hóa, di sản văn hóa phi vật thể “là sản phẩm tinh thần
có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được
lưu truyền bằng miệng và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng
nói, chữ viết, tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng,
diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công
truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác”1.
Theo định nghĩa trên, xứ Thanh có một kho tàng các giá trị văn hóa phi vật
thể vô cùng phong phú và đặc sắc. Vấn đề đặt ra là yếu tố nào đã tạo nên hệ

thống giá trị đó và đặc trưng của nó ra sao? Giải đáp được câu hỏi này sẽ tạo cơ
sở cho việc nhận dạng các giá trị văn hóa phi vật thể Thanh Hóa để đưa chúng
vào hoạt động du lịch nhằm phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

1

Luật Di sản văn hóa và các văn bản hướng dẫn thi hành, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr7

2


1. Tổng quan chung về văn hoá phi vật thể Thanh Hóa (lễ hội, phong
tục, tín ngưỡng)
Theo GS. Trần Quốc Vượng: “Xứ Thanh là vị trí địa – chiến lược, địa –
chính trị, địa – văn hóa quan trọng của Việt Nam” 2. Điều đó đã làm cho các giá
trị văn hóa vật thể cũng như phi vật thể Thanh Hóa vô cùng phong phú và có
những nét độc đáo riêng, khẳng định được giá trị to lớn trong kho tàng văn hóa
truyền thống Việt Nam.
1.1. Thanh Hóa là mảnh đất còn lưu giữ được nhiều thành tựu văn hóa
phi vật thể độc đáo, đặc sắc và đa dạng được tiềm ẩn và lưu truyền trong
nhân dân
Thanh Hóa có kho tàng văn học dân gian phong phú và được ghi dấu ấn
bằng những tác phẩm đặc sắc. Người Việt với truyền thuyết về các vị thần
khổng lồ như: ông Bưng, ông Lau, ông Vồm… có công tạo ra núi non, sông
suối, ruộng đồng, thần Độc Cước xẻ đôi thân mình cứu giúp dân biển… Các dân
tộc thiểu số Thanh Hóa còn lưu giữ nhiều tác phẩm văn học dân gian đặc sắc. Sử
thi Đẻ đất, Đẻ nước gồm 2 vạn câu của người Mường, phản ánh chân thật quan
niệm về nguồn gốc hình thành, phát triển loài người, quá trình đấu tranh chinh
phục thiên nhiên, gây dựng cuộc sống, chống kẻ thù xâm lược. Các truyện thơ út
Lót – Hồ Liêu, Nàng Nga – Hai Mối của người Mường…, ú Thêm, Khăm Phanh
của người Thái, … là những bản tình ca phản ánh tình yêu lứa đôi, cuộc sống,
khát vọng của người lao động. Những tác phẩm này không chỉ thể hiện ước
vọng chinh phục tự nhiên mà còn phản ánh hiện thực lịch sử, xã hội Thanh Hóa
buổi đầu sơ khai. Chính chúng đã tạo thành linh hồn, tạo nên tính “thiêng” cho
các trò diễn, hát xướng trong lễ hội, sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng xứ Thanh
thêm lôi cuốn.
Thanh Hóa là mảnh đất sản sinh nhiều làn điệu dân ca đặc sắc: Khặp
(Thái), Xường rang, Bọ meẹng (Mường), Pả dung (Dao)… và các khúc hát giao
duyên, dân ca nghi lễ, hát đối đáp, hát ru… của người Việt. Nhiều làn điệu dân
ca mang sắc thái đặc trưng riêng của Thanh Hóa mà không nơi nào khác có

2

3


được: Hò sông Mã thể hiện rõ nét đặc điểm tâm lý, tính cách, đặc trưng lao động
sản xuất của người dân xứ Thanh qua tiết tấu khẩn trương, mạnh mẽ và một hoạt
cảnh “lãng mạn” của những vũ điệu lao động của con người, giữa một nền cảnh
và một hòa âm dữ dội của sông nước; múa đèn Đông Anh là một chuỗi minh
họa các biểu tượng văn hóa nông nghiệp, hội hè; Hát khúc (Tĩnh Gia), hát chèo
thờ (Nông Cống), chèo cạn (Hoằng Hóa), chèo chải (Thọ Xuân, Đông Sơn,
Thiệu Hóa…).
Hệ thống trò chơi, trò diễn của xứ Thanh cũng ra đời khá sớm và ngày càng
hoàn thiện, đạt tới trình tự nghi thức cao. Người Việt có trò Xuân Phả (Thọ
Xuân); trò Ngũ Bôn (Đông Sơn); trò Chiềng, trò Chụt (Yên Định); múa đèn,
chạy chữ ở Thiệu Hóa, TP Thanh Hóa; chèo chải, tế nữ quan được tổ chức ở
nhiều vùng, miền trong hội làng, lễ hội dầu xuân. Bên cạnh các trò chơi, trò diễn
dân gian của người Kinh, thì trò chơi, trò diễn của các dân tộc thiểu số cũng rất
phong phú như: trò diễn Pồn Pôông của người Mường; trò múa quạt, múa nón,
trò diễn Kin Chiêng boóc mạy của người Thái; múa bắt rùa, múa chuông của
người Dao; múa ô, múa khèn của người Mông... Những trò diễn này đã tạo nên
nét độc đáo, sức lôi cuốn, hấp dẫn của các lễ hội truyền thống.
Lễ hội Thanh Hóa đa dạng về loại hình và số lượng, thực sự trở thành điểm
nhấn trong sinh hoạt văn hóa xứ Thanh. Những lễ hội văn hóa, lịch sử tại đền Bà
Triệu, Lê Hoàn, khu di tích lịch sử Lam Kinh, đền thờ Quang Trung; lễ hội dân
gian tại đền thờ Mai An Tiêm, Nghè Sâm; lễ hội tín ngưỡng - tôn giáo tại chùa
Sùng Nghiêm Diên Thánh, cầu Ngư (Hậu Lộc), lễ hội đền Sòng, phố Cát, đền
Hàn… đã cuốn hút đông đảo công chúng giao hòa trong sinh hoạt văn hóa, tôn
giáo, tín ngưỡng, hướng con người vươn tới cái chân, thiện, mỹ.
Về tín ngưỡng, xứ Thanh gần như hội tụ đầy đủ các tín ngưỡng và tôn giáo
bản địa cũng như ngoại nhập. Đặc biệt, nơi đây có các tôn giáo tín ngưỡng độc
đáo như: tín ngưỡng thờ thần Độc Cước, thờ Tổ nước, thờ Trống Đồng, thờ
Đông Hải Đại Vương, Tứ vị Thánh Nương. Không nơi đâu như xứ Thanh lại
xuất hiện Nội đạo An Đông được vua Lê, chúa Trịnh phong là nội đạo chính
tông, dùng các phép thuật để chữa bệnh, trừ tà. Còn đạo Mẫu ở Thanh Hóa đã
4


phát triển rộng khắp hình thành nên những trung tâm thờ tự lớn như đền Sòng –
Phố Cát, Phủ Na.
1.2. Vị trí và đặc điểm tự nhiên tạo cho các giá trị văn hóa phi vật thể
Thanh Hóa yếu tố mở, mang tính trung gian chuyển tiếp nhưng vẫn giữ được
nét đặc sắc riêng.
Thanh Hóa ở vào vị trí khá đặc biệt của đất nước. Là điểm kết nối giữa
vùng Bắc Bộ rộng lớn với khu vực miền Trung dài và hẹp, có đường biên giới
với nước bạn Lào và có đường bờ biển dài 120km. Thanh Hóa đồng thời nằm
trên các tuyến giao lưu quan trọng của hệ thống đường quốc tế và quốc gia như:
tuyến đường sắt Thống Nhất, quốc lộ 1A, quốc lộ 10; đường 15A và đường Hồ
Chí Minh xuyên suốt vùng Trung du Miền núi của tỉnh; có đường 217 nối Thanh
Hóa với tỉnh Hủa Phăn của Lào... Với vị thế đó, Thanh Hóa có nhiều điều kiện
thuận lợi để giao lưu văn hóa theo trục Bắc – Nam và trục Đông – Tây, tạo nên
sự đa dạng, phong phú và độc đáo trong văn hóa truyền thống.
Thanh Hóa là một trong số ít tỉnh, thành của nước ta có đầy đủ các yếu tố
tự nhiên đặc trưng của cả nước: rừng núi, trung du, đồng bằng, biển. Chính vì
vậy, Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ví Thanh Hóa như hình ảnh của đất nước
Việt Nam thu nhỏ lại. Sự đa dạng các yếu tố tự nhiên tất yếu dẫn đến sự đa dạng
văn hóa mà phong tục tập quán, tục trò, tín ngưỡng và lễ hội cổ truyền là những
biểu hiện sinh động. Nhà địa lý học Lê Bá Thảo coi đồng bằng châu thổ sông
Mã như là sự lặp lại của đồng bằng châu thổ Sông Hồng ở Bắc Bộ cả về phương
diện hệ thống đồi núi bao bọc thượng nguồn đến lượng phù sa bồi đắp ở hạ lưu,
độ cao đồng bằng châu thổ. Tuy nhiên, ở Thanh Hóa đồi núi chiếm tỷ lệ lớn bao
gồm 3/4 diện tích đất đai cả tỉnh, một số mạch núi kế tiếp mạch núi vùng Tây
Bắc chạy sát ra biển, nên ở Thanh Hoá, cảnh quan đồng bằng, biển và rừng núi
nối kết và cận kề nhau hơn, làm tăng tính chất rừng và biển của đồng bằng, chứ
không "xa rừng, nhạt biển" như đồng bằng châu thổ Bắc Bộ. Với miền Trung,
xứ Thanh là sự mở đầu, trước nhất cho một mô hình sinh thái kết hợp chặt chẽ
giữa đồng bằng, miền núi và biển cả. Chính điều đó đã làm văn hóa truyền thống
5


xứ Thanh rất đa dạng vừa mang tính chung thống nhất với văn hóa Việt Nam và
văn hóa vùng Bắc Bộ nhưng vẫn mang tính khác, biệt lập.
Chính vì vậy, trong ý thức hệ tư tưởng, tín ngưỡng Thanh Hóa ta bắt gặp
nhiều hiện tượng đồng nhất với đồng bằng Bắc Bộ. Một hệ thức luận từ tích
truyện thánh Bưng, ông Vồm, ông Tu Nưa cho đến Từ Thức, thần Độc Cước
(truyền thuyết ở Thanh Hóa) là một hình thức tương đồng với các tích truyện:
Thánh Tản Viên, Sơn Tinh - Thủy Tinh, Tiên Dung - Chử Đồng Tử (truyền
thuyết ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ) cho chúng ta thấy rõ sự kết nối đó.
Thanh Hóa cũng có sự giao lưu với bên ngoài từ khá sớm. Từ hàng ngàn
năm trước Công nguyên, người Việt cổ vùng hạ lưu sông Mã đã theo con sông
này giao lưu với đồng bào của mình vùng Bạch Hạc (Việt Trì) và xa hơn nữa là
vùng Tây Bắc Việt Nam từ rất sớm. Cũng men theo sông này người Việt cổ tiến
xuống đồng bằng và chắc chắn có những giao lưu với các tộc người Mã - Lai đa
đảo. Bằng sự tích Mai An Tiêm, huyền thoại thần Độc Cước cho phép chúng ta
nhìn nhận và liên hệ đến các vấn đề trên. Đối với văn hóa Trung Quốc, Thanh
Hóa có chịu ảnh hưởng ở nhiều mặt, thể hiện rõ nét nhất trong hệ tư tưởng Nho
giáo chi phối nhiều hoạt động văn hóa, được minh chứng trong nhiều chi tiết
nghi thức tế lễ trong lễ hội và trò diễn dân gian. Huyền tích về dấu chân Phật
trên mỏm đá Trường Lệ ở biển Sầm Sơn là biểu hiện của sự giao lưu văn hóa
với ấn Độ từ rất sớm. Trong khúc hát “Hải trình” của ngư dân Bạch Câu, Nga
Sơn bắt gặp những giai điệu Chăm có trống Vả phụ họa. Làn điệu dân ca Chăm
cũng được thấp thoáng trong câu hát đò dọc của trai đò sông Mã. Đáng quan tâm
là những khúc ca, lời thoại, ṿ điệu trong trò diễn Xuân Phả: Chiêm Thành, Ai
Lao, Ngô Quốc, Hoa Lan… cho thấy sợ giao lưu và hội nhập trong dân ca, dân
ṿũ xứ Thanh có từ xa xưa.
Tuy vậy, yếu tố văn hóa ngoại nhập không làm cho văn hóa bản địa bị biến
dạng, trái lại văn hóa bản địa bao giờ cũng mang tính trội, khi tiếp xúc, giao lưu
với văn hóa bên ngoài lại làm cho văn hóa bản địa tiếp nhận và tái tạo thêm
những yếu tố phong phú, mới lạ, phù hợp với tâm hồn, tình cảm con người nơi
6


đây mỗi khi nghiên cứu kỹ lưỡng các phong tục tập quán, tín ngưỡng, lê hội
Thanh Hóa chúng ta sẽ thấy được điều đó.
1.3. Các giá trị văn hóa phi vật thể Thanh Hóa mang đậm dấu ấn của
các dòng sông, đặc biệt là sông Mã.
Thanh Hóa có mạng lưới sông ngòi dày đặc với khoảng 20 con sông lớn
nhỏ và trên 200 con suối chảy theo địa hình nghiêng dốc từ Tây Bắc xuống
Đông Nam, chia cắt địa hình Thanh Hóa thành những vùng theo dòng chảy tự
nhiên của hệ thống sông ngòi. Suốt dọc chiều dài 102 km bờ biển, trung bình cứ
20km có một con sông thông ra biển.
Sông Mã không chỉ là con sông lớn nhất ở Thanh Hóa mà còn là con sông
có vị trí quan trọng đối với lịch sử – văn hóa – xã hội của đất nước. Theo tác giả
Trần Lâm Biền: “Khi nói đến văn minh sông Hồng mà không quan tâm đến con
sông Mã thì nền văn minh này trở nên khập khiễng…”3. Sông Mã bắt nguồn từ
Tuần Giáo - Lai Châu theo hướng tây bắc - đông nam chảy đến Chiềng Khương
qua đất Lào và trở về đất Việt Nam tại Mường Lát - Thanh Hóa qua các huyện
Quan Hóa, Cẩm Thủy, Vĩnh Lộc, Yên Định, Hoằng Hoá, cuối cùng đổ ra biển
với ba cửa sông lớn: cửa Lạch Trường (sông Lạch Trường), cửa Càn (nhánh
sông Hoạt), cửa Lạch Sung (sông Lèn). Các chi lưu chính của sông Mã gồm
Nâm Lệ, suối Vạn Mai, sông Luồng, sông Lò, sông Bưởi, sông Cầu Chầy, sông
Hoạt, sông Chu. Cũng giống như sông Hồng ở Bắc Bộ, sông Mã là cái trục
chính, là linh hồn của Thanh Hóa. Một mặt, sông Mã bồi đắp nên đồng bằng
rộng lớn, màu mỡ mà mức độ rộng lớn và phì nhiêu của nó chỉ đứng sau châu
thổ sông Hồng và sông Cửu Long. Mặt khác, do Thanh Hóa bị chắn hai đầu bởi
dãy núi Tam Điệp ở phía Bắc và dãy Hoàng Mai ở phía Nam, nên sự thông
thương, trao đổi và cả sự di cư xưa kia chủ yếu theo con dòng sông chính – sông
Mã. Sông Mã là đường thông thương huyết mạch giữa miền ven biển, đồng
bằng với thượng lưu ở phía Tây. Trên con sông này, lâm thổ sản được chuyên
chở từ miền núi về miền xuôi và hàng thủ công, hải sản từ đồng bằng lên miền
núi. Các đoàn thuyền tấp nập ngược xuôi nối liền các chợ ven bờ sông. Sông Mã
3

7


không chỉ là huyết mạch kinh tế mà còn là con sông chuyên chở văn hóa, tạo
nên hai bên bờ những hiện tượng văn hóa phong phú, đa dạng và kỳ thú. Có thể
nói, sông Mã chính là nhân tố quan trọng nhất hình thành giá trị bản sắc văn hóa
xứ Thanh.
Nhiều đền thờ với nhiều lễ tục, phản ánh các tín ngưỡng cổ xưa của người
Việt trong các làng xã ở hai bên bờ sông Mã, sông Chu, sông Lãng Giang... Đó
là các lễ tục đền Mối, đền Mưng, đền ối, nghè Sâm thờ Đức Thánh Ngũ Vị, tức
cha con Lê Ngọc, là quan Thái thú quận Cửu Chân thời nhà Tùy đã có công
chống quân xâm lược nhà Đường thế kỷ VI. Lễ hội làng Vạc thờ các vị Cao sơn
đại vương, Linh Quang đại vương, Tô Đại Lưu với nhiều thần tích kỳ thú về
những vị nhân thần có công dựng nước, đánh giặc, có đức cao giúp đời. Nhóm
di tích, truyền thuyết ven sông Mã còn góp phần cấu thành những giá trị văn hóa
đặc trưng. Đó là các tích truyện, huyền thoại về các thánh Lưỡng, có đến “chín
chín” làng dọc theo dòng sông Mã từ ngã ba Bông đến xã Vĩnh Quang đều có
đền thờ Ông. Lễ hội thánh Tến có đền thờ ở làng ích Hạ (Hoằng Hóa); truyền
thuyết về ông Bưng và ông Vồm thi sức mạnh siêu nhiên, có khả năng khai thiên
lập địa. Một tư liệu dân gian đậm yếu tố sử học, chứng minh sự thống nhất với
nhà nước của các Vua Hùng là Lễ hội ở đền Hổ Bái, huyện Yên Định, có nội
dung về truyền thuyết Hùng Trinh Vương con trai thứ 11 của Lạc Long Quân,
đến vùng hạ lưu sông Mã để “chọn đất lập giang Bộ, một vùng phiên dậu của
nhà nước Văn Lang phía Nam”, ngày nay tục lễ vẫn còn bảo lưu tại vùng Thiệu
Hóa, Yên Định.
1.4. Các giá trị văn hóa phi vật thể Thanh Hóa mang nhiều yếu tố “biển”
hơn hẳn vùng Bắc Bộ.
Biển Thanh Hóa thuộc vịnh Bắc Bộ, có nhiều tài nguyên hải sản, khoáng
sản. Theo nhận xét của nhiều nhà nghiên cứu, biển Thanh Hóa có vẻ “mặn mòi”,
“biển” hơn so với biển ở các tỉnh phía bắc như Ninh Bình, Nam Định, Thái
Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh. Bờ biển Thanh Hóa dài 102km trải qua 6 huyện
thị, tiếp giáp với biển Ninh Bình ở phía Bắc và Nghệ An ở phía Nam. Chất biển
của Thanh Hoá không chỉ thể hiện ở đường bờ biển và dải "cồn cát duyên hải",
8


mà còn ở dấu tích của giới hạn của các vụng biển mà nay châu thổ đã lấp đầy.
Các mạch núi ăn sất ra biển và giao thương biển với phương thức "măng, tre đưa
xuống, cá chuồn đưa lên" đã đem đến cho đời sống vật chất và tinh thần của
người dân mỉn ngược vời mỉn biển từ bao đời nay luôn có mối quan hệ gắn bó.
Biển ưu đãi nhiều cho con người nhưng biển cũng luôn tiềm tàng những
hiểm họa khôn lường. Đứng trước biển, con người thấy mình nhỏ bé, sợ hãi. Đó
chính là nguồn gốc của những phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội của cư dân
ven biển nhằm chế ngự nỗi sợ hãi trước biển. Tín ngưỡng thờ thần Độc Cước ở
vùng biển Sầm Sơn. Tại hòn Cổ Giải, có đền thờ thần Độc Cước, một biểu
tượng phân thân biển - đất liền khá kỳ thú, thể hiện ước vọng chinh phục biển
của dân chài nhưng còn ngập ngừng, sợ hãi trước biển. Tại phía Nam cửa Lạch
Trường (địa phận Sầm Sơn) có di tích và lễ hội đền Bà Triều và đền thờ Tứ vị
Thánh nương, tại cửa Lạch Bạng có di tích thờ Đức Ông và đền thờ Tứ vị Thánh
nương. Lễ hội làng Cự Nham (Sầm Sơn) thờ Tứ vị Thánh nương là thần biển với
sự tích: hoàng hậu triều Nam Tống bị người Nguyên bức hại nhảy xuống biển tự
vẫn, trôi dạt vào cửa Cờn Nghệ An (cũng như 13 làng khác ven biển ở huyện
Quảng Xương đều có đền thờ Nam Hải Phúc Thần là Tứ vị Thánh nương trên),
cũng cho thấy sự tiếp nhận một cách cởi mở, khoan dung các giá trị văn hóa của
các dân tộc khác của người Việt xưa ở vùng này. Các đền thờ đại vương Nam
Hải (thần cá Voi) là một tín ngưỡng của các cộng đồng phương Nam, cũng khá
phổ biến ở các vùng biển Quảng Xương, Tĩnh Gia, Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa.
Nhìn chung, các thần tích và lễ hội dân gian đã phần nào phản ánh đời sống tinh
thần, vật chất, đặc trưng văn hóa của Xứ Thanh.
1.5. Phong tục, tín ngưỡng, lễ hội Thanh Hóa là biểu hiện sinh động của
đặc trưng của kinh tế - xã hội, văn hóa - lịch sử Thanh Hóa.
Là nơi sinh tụ từ rất sớm của người Việt cổ, Thanh Hóa có điều kiện hình
thành và bảo lưu được nhiều giá trị văn hóa truyền thống. Có thể có một số địa
phương là nơi phát hiện được một số di chỉ khảo cổ học là minh chứng sự phát
triển lịch sử Việt Nam, nhưng hiếm có vùng đất nào lại có đầy đủ những mốc
nổi tiếng đánh dấu các giai đoạn phát triển lớn của lịch sử dân tộc, từ tối cổ đến
9


hiện nay như Thanh Hóa, làm cho vùng đất này từ thiên nhiên đến văn hóa đều
thấm đượm màu sắc lịch sử. Người ta đã phát hiện ở Thanh Hóa những di chỉ
khảo cổ nổi tiếng, liền mạch thuộc hầu hết các thời đại khảo cổ học lớn của nước
ta thời tiền sử và sơ sử: từ đồ đá cũ sơ kỳ (núi Đọ), thời kỳ đá cũ (di chỉ Hang
Con Moong), đá mới (Đa Bút), đồng đá (Hoa Lộc), văn hóa đồng thau (Đông
Sơn). Mặt khác, di vật của nhiều thời kỳ phát triển xã hội đã được tìm thấy trong
một số di chỉ có hiện tượng xếp chồng lên nhau theo thứ tự thời gian lớp dưới có
niên đại cổ hơn lớp trên, chứng tỏ dân cư xứ Thanh nối tiếp nhau tồn tại, phát
triển khá liên tục. Thanh Hóa là nơi phát hiện ra một trong ba trung tâm của nền
văn hóa Đông Sơn trên đất Việt: Trung tâm sông Hồng (Bắc Bộ), trung tâm
sông Cả (Nghệ An) và trung tâm sông Mã (xứ Thanh). Vì lẽ đó, có thể khẳng
định Thanh Hóa cùng với đồng bằng châu thổ Bắc Bộ là cái nôi hình thành dân
tộc Việt Nam, quốc gia Việt Nam và nền văn hóa Việt Nam. ở Thanh Hóa có thể
gặp những mô thức huyền thoại về vua Hùng, Thánh Tản Viên, Thánh Gióng,
An Dương Vương, Mỵ Châu – Trọng Thủy của vùng đồng bằng Bắc Bộ được
“địa phương hóa ở đây”.
Thanh Hóa là mảnh đất tương đối ổn định trong lịch sử, không bị chia cắt
hành chính như các địa phương khác. Bản đồ hành chính Thanh Hóa qua các
thời kỳ lịch sử về cơ bản vẫn được giữ nguyên với các tên gọi khác nhau như:
Cửu Chân, Tượng Quận, ái Châu, Thanh Đô, Thanh Hoa... Tuy một số quận
huyện có nhập, tách và vùng đất Thanh Hóa ngoại được tách ra thành tỉnh Ninh
Bình, song đại bộ phận lãnh địa, ranh giới xứ Thanh đã được xác lập ổn định từ
thời Bắc thuộc cho đến bây giờ. Có lẽ tính ổn định về hành chính (tất nhiên sự
ổn định này là hệ quả của sự thống nhất về tự nhiên, lịch sử, văn hóa) đã tạo
điều kiện cho các tập tục, tín ngưỡng, lễ hội Thanh Hóa có sự thống nhất, mang
đặc trưng riêng không nhầm lẫn với bất cứ vùng miền nào.
Cũng như đồng bằng Bắc Bộ, Thanh Hóa là nơi con người tụ cư và khai
phá từ rất sớm tạo nên những làng xã cổ truyền. Đây chính là cái nôi chứa đựng
những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc. Làng xã chứa đựng trong lòng nó lễ
hội dân gian, những tục trò, phong tục tập quán, tín ngưỡng. Sự cổ xưa của làng
10


ở Thanh Hóa được biểu hiện một phần qua các tên gọi là “Kẻ”, “Xá”, “Vạn”,
“phường”... “Kẻ là tên gọi khá cổ của làng, xuất hiện với tần suất khá nhiều ở
Thanh Hóa, thậm chí còn đậm đặc hơn cả Bắc Bộ là vùng vốn có nhiều làng cổ.
Mặt khác, do Thanh Hóa là một tỉnh có địa hình đa dạng nên xét về nghề nghiệp
và một số đặc trưng xã hội, làng ở Thanh Hóa cũng khá đa dạng như làng thuần
nông, làng thủy cơ chuyên nghề đánh cá hay kết hợp đánh cá với nông nghiệp,
làng có nghề thủ công, làng khoa cử… Sự cổ xưa của làng cùng với sự phong
phú về loại hình làng truyền thống đã tạo cho các lễ hội, phong tục, tập quán, tục
trò, tín ngưỡng ở làng Thanh Hóa có tính vừa phong phú, đa dạng, vừa đặc sắc.
Thanh Hóa là đất “thang mộc”, “đất quân vương”, hơn một nửa thời gian
tồn tại của chế độ phong kiến Việt Nam (thế kỷ X – XX), đứng đầu bộ máy cai
trị quốc gia là người xứ Thanh (Lê Đại Hành thế kỷ X - XI, Hồ Quý Ly cuối thế
kỷ XIV đầu thế kỷ XV, Lê Thái Tổ và các vua thời Lê sơ thế kỷ XV - XVI, vua
Lê và chúa Trịnh thế kỷ XVI-XVIII, các vua triều Nguyễn thế kỷ XIX – XX).
Một số chức vụ chủ chốt trong triều đình phong kiến như Tể tướng, Tham tụng,
Thượng thư lục bộ... cũng đều có mặt người Thanh Hóa. Xứ Thanh đồng thời
cũng là kinh đô của các triều đại Hồ (Tây Đô), Lê Sơ (Lam Kinh), thời Lê Trung
Hưng (kinh đô Vạn Lại). Đặc điểm nổi bật này đã đem đến cho xứ Thanh sự ảnh
hưởng và tiếp cận với văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng chính thống, đặc biệt là Nho
giáo khiến văn hóa xứ Thanh bên cạnh tính dân dã còn mang cả tính bác học.
Mặt khác, do có vị trí và địa thế quan trọng, các tập đoàn phong kiến thất thế
hay muốn khởi nghiệp đều muốn chọn Thanh Hóa làm căn cứ phòng thủ; con
người, vật lực thường bị huy động tối đa cho chiến tranh tạo nên những giá trị
đặc sắc trong lễ hội, tục trò, tín ngưỡng.
Là đất phát vương của các triều đại Tiền Lê, Hồ, Lê sơ, Lê Trung hưng,
chúa Trịnh, chúa Nguyễn, chịu ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa cung đình và du
nhập các kiểu cách lối sống của kinh đô, thế nhưng xứ Thanh lại không nằm cận
kề Thăng Long hay kinh đô Huế mà nằm ở ngoại trấn, vùng ngoại vi của trung
tâm văn hóa chính trị của đất nước. Vì vậy, trình độ phát triển kinh tế – xã hội
có phần thấp hơn, những ảnh hưởng giao lưu văn hóa với khu vực và Trung Hoa
11


có phần bị hạn chế, xứ Thanh còn lưu giữ lại nhiều yếu tố văn hóa Việt cỏ hơn
vùng Bắc Bộ, chốn kinh kỳ. Đó cũng là nguyên nhân làm cho Thanh Hóa có
những biểu hiện hóa thạch ngoại biên về văn hóa nhiều hơn hẳn nơi khác.
Địa thế và lịch sử đã để lại cho Thanh Hóa hàng nghìn di tích lịch sử - văn
hóa. Theo thống kê của Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Thanh Hoá năm
2006, Thanh Hóa có 1.535 di tích, danh thắng, di chỉ khảo cổ, trong đó 137 di
tích xếp hạng quốc gia, 467 di tích xếp hạng cấp tỉnh. ở đó không chỉ chứa đựng
những giá trị văn hóa vật thể quý giá và đặc sắc, mà chính ở các di tích này còn
tiềm ẩn nhiều giá trị văn hóa phi vật thể tiêu biểu như: thần tích, huyền thoại, tục
ngữ, ca dao, lễ tục, lễ hội, văn hóa ẩm thực, các nghi lễ, tục kiêng khem… gắn
với các nhân vật được thờ phụng.
Một yếu tố quan trọng tạo nên những sắc thái văn hóa độc đáo trong tín
ngưỡng, lễ hội Thanh Hóa chính là hệ thống các nhân vật được thờ phụng. Đó là
những nhân vật huyền thoại, hoặc mang tính lịch sử, hoặc cả hai. Đó là các nhân
vật khổng lồ có sức mạnh phi thường xẻ núi lấp biển, những Ông Gióng đánh
giặc Ân, An Dương Vương xây thành, Mỵ Châu - Trọng Thủy, các vi Thánh
Cao Sơn Đại vương, Tứ Vị Thánh Nương, Thánh Lứng, Thanh Bưng cùng hàng
trăm vị Thành Hoàng nửa huyền thoại, nửa lịch sử. Bên cạnh đó là những nhân
vật lịch sử Bà Triệu, Dưong Đình Nghệ, Lê Hoàn, Lê Phụng Hiểu, Lê Lợi, Trần
Khát Chân ... Đôi khi, những nhân vật lịch sử này, do tầm vóc lớn lao của họ đã
được tâm thức dân gian đồng nhất với các vị thần khổng lồ như trường hợp Lê
Phụng Hiểu được lồng ghép trong nhân vật thần thoại ông Bưng và hàng loạt
các vị Thành Hoàng nửa lịch sử, nửa huyền thoại khác. Những yếu tố vừa huyền
thoại, vừa lịch sử này đã được khắc ghi trong tâm thức của nhân dân và được
tái hiện thông qua các lễ hội, phong tục và tín ngưỡng, nó trở thành một thứ tình
yêu quê hương đất nước đã được linh thiêng hóa, tín ngưỡng hóa. Những nhân
vật này đã trở thành linh hồn cho những tục lệ, tín ngưỡng, lễ hội trong làng xã
cổ truyền. Đặc biệt, những lễ hội gắn với những nhân vật lịch sử nổi tiếng
thường có quy mô vượt ra khỏi phạm vi của làng trở thành lễ hội của cả vùng,

12


thu hút không chỉ người dân trong tỉnh mà cả du khách ngoài tỉnh và nước ngoài
tham dự.
Về cư dân, ngoài người Kinh (Việt) sinh sống ở đồng bằng còn có các dân
tộc thiểu số khác: Mường, Thái, Dao, H’Mông, Khơ Mú, Thổ, thuộc các nhóm
ngôn ngữ: Việt – Mường, Môn – Khơ Me, Thái – Tày, Mông – Dao, sinh sống
chủ yếu ở miền núi, trên địa bàn các huyện Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hóa,
Bá Thước, Thạch Thành, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc, Lang Chánh, Thường Xuân,
Như Xuân, Như Thanh. Mỗi dân tộc đó đến ngày nay còn bảo lưu nhiều giá trị
văn hóa đặc sắc về tín ngưỡng, phong tục, lễ hội, góp phần làm phong phú thêm
sắc thái văn hóa xứ Thanh.
Có thể nói Thanh Hóa hội tụ đầy đủ những yếu tố thuận lợi để hình thành
một vùng văn hóa dân gian đa dạng cả về tự nhiên và lịch sử, kinh tế, xã hội.
Phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội Thanh Hóa vì thế mà vô cùng đa dạng,
phong phú và có những nét đặc sắc riêng. Đó là một tiềm năng không nhỏ có thể
khai thác đưa vào hoạt động du lịch, góp phần phát triển kinh tế – xã hội tỉnh
nhà.
2. Những đặc trưng và tiềm năng về lễ hội, tục trò, tín ngưỡng truyền
thống Thanh Hoá.
2.1. Lễ tục, Lễ hội
Lễ hội đối với người dân Việt Nam xưa gần như là một sinh hoạt cộng đồng
rộng lớn nhất và duy nhất. Khi chưa có những hình thức sinh hoạt tinh thần như
chèo, tuồng tổ chức diễn ở sân đình lôi cuốn đông đảo dân làng đi xem, mà các
hình thức sân khấu này mới chỉ xuất hiện vào khoảng thế kỷ XVIII, thì lễ hội tổ
chức hàng năm là dịp dân làng được hòa mình vào với cộng đồng. Theo GS.
Trần Lâm Biền “lễ hội, nếu như không còn thì khó mà tưởng tượng nổi, xã thôn
như trở về miền hoang dã, lấy gì để cân bằng cho một năm đầy vất vả, cho hoà
hợp yêu thương và phần nào bản sắc sẽ dễ tàn phai, làm cạn mòn lòng yêu quê
hương nguồn cội…”4

4

Trần Lâm Biền, Hội xuân vài dòng suy ngẫm, Tập san TTKH trường CĐ VHNT Thanh Hóa, tr. 13

13


Lễ tục, lễ hội xứ Thanh có từ thời xa xưa gắn liền với việc tập hợp và tổ
chức các lực lượng để chiến đấu và sản xuất, thể hiện nhu cầu cân bằng đời sống
tâm linh, sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa của cộng đồng dân làng. Lễ
hội xứ Thanh mang sắc thái của nền văn minh nông nghiệp, gắn với tín ngưỡng
dân gian thờ thần thánh và những người có công với dân làng, đất nước. Lễ hội
truyền thống xứ Thanh rất đa dạng và là nơi lưu giữ lâu dài các tục lệ, dân ca,
diễn xướng, trò diễn dân gian phong phú và độc đáo.
Về số lượng, Theo Lê Huy Trâm – Hoàng Anh Nhân, số điểm có lễ hội trên
tỉnh Thanh Hóa được tính như là đơn vị lễ hội với tiêu chí của mỗi đơn vị là có
thần tích, có lệ tục, có thời gian hội và lễ, có trò diễn riêng, mang màu sắc địa
phương văn hóa làng (có thể phân biệt với làng khác) con số lên đến trên 50 đơn
vị5. Theo thống kê của Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch Thanh Hóa, toàn tỉnh
Thanh Hóa hiện nay có 160 lễ hội truyền thống liên quan đến di tích lịch sử,
danh thắng được nhà nước công nhận, 50 lễ hội liên quan đến tín ngưỡng tôn
giáo. Trên tổng số 5757 làng, bản, khu phố có 1/3 làng, bản, khu phố tổ chức lễ
hội hàng năm. So với các địa phương khác đó là con số quả là không nhỏ, đã thu
hút hàng triệu du khách đến tham dự. Nhiều lễ hội có ý nghĩa lớn về mặt lịch sử,
văn hóa, có tác dụng tích cực trong việc giáo dục truyền thống yêu nước và khôi
phục phát triển những nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa cổ truyền. Hàng năm, ở
khắp các địa phương trên toàn tỉnh đều tổ chức long trọng và trang nghiêm các
lễ hội đặc trưng của từng địa phương để đáp ứng một phần đời sống tinh thần,
tâm linh của người dân, đồng thời còn để phục vụ mục đích phát triển du lịch.
Lễ hội ở Thanh Hóa rất phong phú và đa dạng, mang nhiều màu sắc đặc trưng
của từng tập tục, lề thói riêng biệt.
Về thời gian, cũng như những vùng miền khác trên cả nước, do đặc trưng
của nền kinh tế nông nghiệp, lễ hội Thanh Hóa diễn ra nhiều nhất vào những
khoảng thời gian nông nhàn như sau tết vào tháng giêng mùa xuân hoặc vào
tháng 7, tháng 8 mùa thu (xuân thu nhị kỳ).

5

Lê Huy Trâm – Hoàng Anh Nhân (2001), Lễ tục, lễ hội truyền thống xứ Thanh, Nxb Văn hóa dân tộc, tr.10

14


Về không gian, cũng như các địa phương khác trong nước, lễ hội Thanh
Hóa chủ yếu diễn ra trong không gian làng. Lễ hội là biểu hiện sinh động nhất,
là tổng hợp lịch sử văn hóa làng. Tất cả từ tín ngưỡng, phong tục tập quán… của
làng đều được thể hiện trong lễ hội. ở Thanh Hóa có những lễ hội được mở rộng
phạm vi như nhiều làng giao chạ trong lễ hội song việc mời chạ cũng khép kín
trong phạm vi làng, do làng tự lo liệu. Cũng có Đền thờ được “quốc tế” (tức là
được triều đình ban chỉ dụ, cử quan về chủ trì cuộc tế) song lễ hội vẫn chỉ diễn
ra trong không gian làng. Có một số lễ hội mở ra trong không gian lớn hơn: Hội
vùng. Cả vùng (gồm nhiều làng) cùng thờ chung một Thánh và trong kỳ lễ hội
thì các làng về đền chính, nghè chính để tế thánh. ở Thanh Hóa có nhiều nghè có
tên là nghè Ba Làng, nghè Tứ Thôn (tức là nghè thờ Thành Hoàng chung của
nhiều thôn làng) nhưng bao giờ cũng có làng làm hạt nhân. Cũng có lễ hội lấy
Tổng (tức nhiều làng) làm không gian lễ hội như lễ hội đền thờ Trần Nhật Duật
ở Văn Trinh thuộc tổng Văn (Quảng Xương), Đền Tam Tổng thờ Thánh Lưỡng
Trần Khát Chân ở huyện Vĩnh Lộc. Nghè Sâm là nghè thờ Cao hoàng ở làng
Viên Khê (Đông Sơn) là Nghè hàng Tổng (tức tổng Thạch Khê) gồm 3 xã 9
thôn thuộc Kẻ Rủn xưa. Vào ngày hội tế, các làng trong tổng chia nhau các phần
việc, cử làng đăng cai việc chủ trì tế Thánh để mở hội.
Về cấp độ, lễ hội xứ Thanh rất đa dạng và phong phú, Theo Lê Huy Trâm –
Hoàng Anh Nhân, Thanh Hóa có các dạng lễ hội từ sơ khai đến các hoạt động lễ
hội phát triển cao.
- Cấp độ hoạt động tục lệ: loại lễ hội này còn rất thô sơ theo tục và theo lệ
nhằm thực hiện một tín ngưỡng từ xa xưa truyền lại mà người thực hiện về sau
không hề biết đến nguồn gốc, nguyên nhân, chỉ nhắm mắt làm theo song bỏ đi
thì không được. Có thể kể đến tục chơi Hang Lãm (huyện Thường Xuân); tục
chơi Chợ Chuộng (Đông Sơn), chợ Hoàng (Nga Sơn), chợ Chìa (Tĩnh Gia); tục
chơi chợ Tình duyên của người Mường (Cẩm Thủy).
- Cấp độ lễ tục: hoạt động lễ hội ở cấp độ này vẫn còn gắn với tục nhằm bộ
lộ một mong muốn của cả cộng đồng song không còn chỉ là hoạt động tục lệ
nữa. Phần lễ ở đây đã thành quy củ, được ghi trong các khoán ước của làng, còn
15


phần Hội đã có trò diễn (tuy còn thô sơ) và trở thành nghĩa vụ của các thành
viên trong làng. Lễ tục làng Thiết Đanh là một ví dụ tiêu biểu. Sở dĩ không gọi
là lễ hội vì hoạt động này hoàn toàn theo tục: năm nào trong làng không có cố
ông nào vào tuổi 60 thì phải kéo chò Chụt để mong không có tai ách cho làng.
Trò Chụt có thể 2 – 3 năm làm một lần, cũng có thể mươi lăm năm mới làm lại.
- Cấp độ lễ hội: là cấp độ hoàn chỉnh nhất của hội làng miền xuôi. Cấp độ
lễ hội thể hiện đầy đủ 5 thành tố trong cấu trúc lễ hội: Thành Hoàng – Thần tích
– Thần điện – Tục lệ và Trò diễn, hội đủ các yếu tố của phạm vi lễ hội (thời
gian, không gian, nội dung ý nghĩa và văn hóa làng). Nó thỏa mãn đầu đểu nhu
cầu hội hè đình đám của người nông dan và biểu hiện cao nhất tín ngưỡng nông
nghiệp, lễ nghi nông nghiệp trong các xóm làng xưa. Những lễ hội điển hình ở
Thanh Hóa là lễ hội Lam Kinh, lễ hội đền Bà Triệu, lễ hội đền Sòng, lễ hội đền
Độc Cước, lễ hội Phủ Na....
Về loại hình, có thể phân lễ hội Thanh Hóa thành những loại hình nổi trội
sau:
- Lễ hội tín ngưỡng: Thường là tín ngưỡng dân gian, thờ các thần thánh như
thờ thành hoàng, thờ Mẫu, thờ các thần liên quan đến các hoạt động kinh tế như
nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp…
Những lễ hội tiêu biểu của nhóm này phải kể đến lễ hội xã Thiệu Trung,
tưởng niệm ông tổ nghề đúc đồng Khổng Minh Không, lễ hội xã Quảng Cư ở
Sầm Sơn tưởng niệm bà Triều – tổ sư nghề dệt săm xúc, lễ hội đình Phú Khê xã
Hoằng Phú – Hoằng Hóa Tổ nghề hát…
Các lễ hội gắn với tín ngưỡng thờ mẫu như lễ hội Phố Cát ở Thạch Thành,
lễ hội đền Sòng ở thị xã Bỉm Sơn, lễ hội Phủ Na (Xuân Du – Như Thanh)
- Lễ hội lịch sử: thường gắn với việc tưởng niệm các nhân vật lịch sử của
dân tộc đã có công trong việc đấu tranh, giữ gìn và bảo vệ tổ quốc như lễ hội
đền Bà Triệu (Hậu Lộc), lễ hội Lam Kinh (Thọ Xuân), lễ hội Lê Hoàn (Thọ
Xuân)… Đây là các lễ hội thường được tổ chức công phu, quy mô vượt ra khỏi
phạm vi của tỉnh, có tác dụng thu hút khách du lịch trên phạm vi toàn quốc.
16


- Lễ hội dân gian gắn với truyền thuyết: hiếm có một vùng quê nào lại có
nhiều truyền thuyết thấm đậm chất nhân văn như ở Thanh Hóa. Đó là truyền
thuyết Từ Thức gặp Giáng Hương gắn với lễ hội Từ Thức (Nga Sơn); truyền
thuyết Mai An Tiêm và quả dưa đỏ gắn với lễ hội Mai An Tiêm (Nga Sơn);
truyền thuyết Thần Độc Cước, hòn Trống Mái ở núi Trường Lệ, truyền thuyết
cửa Thần Phù ở Nga Sơn; truyền thuyết ông Vồm ở Thiệu Hóa, trạng Quỳnh ở
Hoằng Hóa…
Những lễ hội còn tồn tại trên đất Thanh Hóa đến ngày nay là kết quả của
một quá trình tiếp diễn và biến đổi văn hóa phong phú trải qua hàng nghìn năm.
Ban đầu chủ yếu là các sinh hoạt tục lệ, mang màu sắc văn hóa tín ngưỡng,
trong quá trình người dân xứ Thanh tham gia vào tiến trình lịch sử dân tộc, đặc
biệt có nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của nước nhà thuộc mọi giai đoạn lịch
sử diễn ra trên đất Thanh Hóa khiến lễ hội Thanh Hóa có xu hướng lịch sử hóa
rõ rệt, những lễ hội mang màu sắc tín ngưỡng dần dần bị biến đổi trở thành lễ
hội lịch sử.
2.2. Trò diễn dân gian
Lễ hội truyền thống ngoài chức năng thỏa mãn về tâm linh tín ngưỡng của
người dân để cầu mong một cuộc sống bình yên, sung túc còn có một chức năng
quan trọng khác: chức năng giải trí – giúp người dân cân bằng sau một mùa vụ
vất vả với bao lo toan và tạo ra những cơ hội để bày tỏ yêu thương. Các trò diễn
chính là yếu tố thực hiện được chức năng giải trí của lễ hội.
Trò diễn có mặt trong hầu hết các hội làng ở nước ta, tuy nhiên có thể
khẳng định rằng, không nơi nào còn bảo lưu kho tàng trò diễn dân gian điển
hình và phong phú như ở Thanh Hóa. Số lượng trò diễn trong lễ hội ở Thanh
Hóa rất lớn, có khi trong một trò lại bao gồm nhiều trò diễn hợp lại, do vậy tính
ra phải tới hàng trăm trò diễn khác nhau. Ví như trò Láng (hay trò Xuân Phả)
gồm 8 trò: trò Kéo hội, trò Chạy giải, trò Chèo thuyền, trò Hoa Lang, trò Chiêm
Thành (trò Xiêm), trò Ai Lao (trò Lào), trò Ngô Quốc (trò Ngô), trò Lục hồn
nhung (Tú Huần). Trò Bôn (Kẻ Bôn, xã Đông Thanh, Đông Sơn, Thanh Hóa)
gồm 6 trò: đấu cờ người, Tiên cuội (Tiên phường), Trò thủy (Thủy phường), Trò
17


Ngô (Ngô phường), Trò Hà Lan (Hà Lan phường), Trò Lăng Ba Khúc… Nhiều
trò diễn đặc sắc khác như trò chụt trong lễ hội làng Thiết Đanh, trò đánh bài
điếm ở lễ hội làng Duy Tinh (Văn Lộc, Hậu Lộc), trò đánh hát thị lập, trò đánh
cờ người, trò thi bơi ở lễ hội làng Cự Nham; trò múa lân ở làng Vạc… Hiếm nơi
nào trên đất nước Việt Nam đã hình thành những trung tâm, nơi mà các trò diễn
đậm đặc hơn, có các trò lớn và điển hình. Đông Sơn là một trung tâm trò diễn
tiêu biểu. Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã thấy trong trò diễn dân gian Thanh Hóa
những yếu tố tiền sân khấu. Đó là các “tích” đã bắt đầu hình thành các cốt
truyện, đó là những lời thoại của nhân vật khi diễn xướng với những mâu thuẫn
và giải quyết mâu thuẫn mang tính kịch tính, đó là tính cách của một số nhân vật
đã bắt đầu hình thành như thằng Ngô, con đĩ, các nhân vật Sĩ, Nông, Công,
Thương…
Trò diễn ở Thanh Hóa không chỉ phong phú về số lượng mà nội dung phản
ánh cũng rất đa dạng.
Các trò diễn phản ánh nội dung lịch sử như: Trò Láng (Xuân Phả), tái hiện
lại mối quan hệ bang giao giữ nước ta với các nước láng giềng trong lịch sử; trò
Ngô Triệu giao quân trong lễ hội đền Bà Triệu tái hiện lại cuộc chiến đấu chống
quân xâm lược phương Bắc trong cuộc khởi nghĩa Bà Triệu…
Các trò diễn liên quan tới các phong tục của làng như trò Chụt ở làng Thiết
Đanh được tổ chức khi năm đó làng không có cụ ông nào thọ 60 tuổi để cầu cho
làng không bị tai ách; trò nấu cơm thi ở nhiều làng; trò Vật cù trong lễ hội làng
Vạc.
Các trò diễn nhằm rèn luyện trí tuệ, sức khỏe và tạo không khí sôi nổi
trong lễ hội như trò đánh cờ người, trò đánh bài điếm, trò bơi thuyền có trong
nhiều lễ hội; trò kéo hội, trò chạy giải trong hội làng Xuân Phả.
Các trò diễn hát xướng, giãi bày tâm tư tình cảm như trò diễn Pồn Pông
của dân tộc Mường và trò diễn Kim chiêng boóc mạy của dân tộc Thái.
Trò diễn hình thành và tồn tại trong môi trường lễ hội, nếu tách riêng trò
diễn thì vẫn có phần vui tươi, nhưng mất đi yếu tố tâm linh vô cùng quan trọng.
18


Các trò diễn luôn phải được đan xen cùng các nghi lễ, phong tục tạo nên tính
tổng thể của lễ hội, như thế lễ hội nói chung và trò diễn nói riêng mới có thể tồn
tại và sống được lâu dài trong nhân dân.
2.3. Tín ngưỡng
Về tín ngưỡng dân gian, có thể nói trên đất nước Việt Nam có bao nhiêu
tôn giáo tín ngưỡng thì ở xứ Thanh cũng có bằng ấy tôn giáo tín ngưỡng được
người dân ở nơi đây ngưỡng vọng và chiêm bái. Tuy nhiên, mỗi một tôn giáo tín
ngưỡng ở Thanh Hóa đều mang những nét riêng, đặc sắc không nhầm lẫn với
vùng miền nào. Trên tổng thể, hoạt động tín ngưỡng Thanh Hóa cũng có nhiều
đặc điểm độc đáo so với các vùng miền khác trong cả nước.
Tín ngưỡng Thanh Hóa mang đậm dấu ấn của tín ngưỡng cổ đại Đông
Sơn. Văn hóa Đông Sơn là một nền văn hóa rực rỡ mà nhiều thành tựu to lớn
của nó đã được khẳng định. Là nơi phát tích của nền văn hóa đó, nhiều tín
ngưỡng cổ đại Đông Sơn đã hình thành và in dấu đậm nét, đến ngày nay vẫn còn
lưu lại vết tích trong các cộng đồng dân cư, đặc biệt là các dân tộc thiểu số. Dấu
ấn đậm nét nhất của tín ngưỡng cổ đại Đông Sơn còn lưu lại đến ngày nay trên
đất Thanh Hóa chính là những biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực sẽ được trình
bày kỹ lưỡng hơn ở phần sau (những tín ngưỡng điển hình).
Tín ngưỡng thờ thần là tín ngưỡng phổ biến ở nhiều nơi trên đất nước Việt
Nam. Thanh Hóa là mảnh đất vừa có nhiều yếu tố huyền thoại vừa mang đậm
dấu ấn lịch sử qua từng triều đại phong kiến. Chính vì vậy số lượng thần được
thờ ở Thanh Hóa so với cả nước không hề nhỏ. Nét độc đáo của tín ngưỡng thờ
thần ở Việt Nam cũng như ở Thanh Hóa là ở một làng, một ngôi đền, ngôi chùa,
một nơi thờ cúng không chỉ thờ độc tôn một thần mà có nhiều thần, có khi cả
thiên thần, nhiên thần, nhân thần, lại có cả những yếu tố, nhân vật thờ cúng giao
lưu, ảnh hưởng với các tín ngưỡng, tôn giáo khác của dân tộc như Nho giáo,
Đạo giáo, Phật giáo. Sự thờ cúng đa dạng đó không hề mâu thuẫn và pha tạp mà
có sự thống nhất chung trong nguyên lý cao nhất là mục đích cầu mong sự bình
yên, tốt lành, mong các thần đem lại cuộc sống hạnh phúc nhất cho con người.
19


Đối với người Việt ở miền xuôi, hầu hết các nhiên thần đều đã bị phong
kiến hóa, việc sùng bái, thờ cúng các thần tự nhiện chủ yếu còn bảo lưu được
tính nguyên sơ, hồn nhiên ở các dân tộc thiểu số miền núi, biểu hiện qua việc
thờ thần núi, thần đá, thần cây, thần sấm, thần sông nước… Đồng thời, là sự tiếp
nối của vùng đồng bằng Bắc Bộ, Thanh Hóa còn đọng lại tín ngưỡng thờ người
khổng lồ siêu việt: Độc Cước, ông Tu, ông Vồm, thánh Bưng, Cao Sơn, Cao
Các, Sơn tiêu Độc Cước, Cao Sơn Lập Thạch, Sạ Sơn...
Là mảnh đất nhiều chiến tranh loạn lạc, gắn bó với sự thịnh suy của nhiều
triều đại phong kiến, thần ở Thanh Hóa phần lớn đều là những vị anh hùng dân
tộc, những con người gắn với những bước phát triển của đất nước, quá trình
dựng làng, giữ nước… mà võ tướng chiếm tỷ lệ lớn. Trước hết đó là các vua
chúa: Bà Triệu, Lê Hoàn, Vua Đinh, Nhà Hồ, Nhà Lê, Nhà Nguyễn – chúa
Nguyễn, chúa Trịnh... Tiếp đến là các anh hùng giết giặc: Trần Khát Chân, Lý
Thường Kiệt, Dương Đình Nghệ, Lê Phụng Hiểu, Lê Lợi, Nguyễn Phục, Lê
Cốc, Lê Ngọc, Nguyễn Chích, Quận Mãn, Trịnh Khả... Có những trường hợp
độc đáo, nhân vật lịch sử đã được đồng nhất với nhân vật huyền thoại để được
nâng cao về tầm vóc trong tâm thức dân gian. Đó là trường hợp Lê Phụng Hiểu
– một nhân vật lịch sử có thật đã được lồng ghép tài tình với ông Bưng – một
nhân vật khổng lồ thần thoại để trở thành Thánh Tến – một vị thánh riêng của
người dân Thanh Hóa.
Điểm đặc biệt nhất là rất nhiều người có công với làng xã, đất nước đã
được nâng lên thành Thánh. Thần là do triều đình phong tặng. Thánh mới thực
sự là tín ngưỡng mà người dân xứ Thanh tôn thờ. Thanh Hoá là một trong
những địa phương tôn thờ nhiều vị Thánh nhất trong nước (12 vị). Trong quan
niệm của người dân Thanh Hóa nói riêng và cả nước nói chung, Thánh là bậc
cao minh nhất, không bị lực lượng nào điều khiển, kiềm thúc, có nhiều quyền
năng sẵn sáng diệt quỷ trừ tà, tạo được những cơn gió lành, mưa ngọt đem lại
mùa màng tươi tốt, cuộc sống yên vui cho dân làng”. Sách Địa chí Thanh Hóa
liệt kê 11 (thực chất là 12) vị Thánh được thờ ở Thanh Hóa là: Thánh Độc,
Thánh Bưng (Thánh Tến), Thánh Cưu, Thánh Lưỡng (hai vị khác nhau), Thánh
20


Mẫu, Thánh Nương, Thánh Tản, Thánh Quản, Thánh Trần, Thánh Khổng,
Thánh Hẹ. Mười hai vị Thánh được nhân dân Thanh Hóa tôn vinh và thờ phụng,
có vị tầm cỡ quốc gia như Thánh Tản, Thánh Trần, Thánh Mẫu…, có vị là
Thánh riêng của người dân Thanh Hóa làm cho bức tranh thờ cúng ở Thanh Hóa
có mảng màu riêng. Nhân vật Thánh Lưỡng tồn tại rất phổ biến ở Thanh Hóa,
được thờ phụng ở nhiều nơi. Tục thờ thánh Lưỡng liên quan đến tín ngưỡng thờ
giọt máu rơi với lời kể : Thánh Lưỡng ôm đầu nhảy lên ngựa phi, đến bờ sông
Cổ Định thì hóa, chỗ nào có giọt máu rơi thì chỗ ấy lập đền thờ. Sau này có
Thánh Lưỡng Trần Khát Chân và Thánh Lưỡng Đoàn Thượng là các nhân vật
lịch sử thời Trần bị nạn rơi đầu cũng tiềm nhập vào Thánh Lưỡng tham xung tá
quốc. Vì vậy, hiện tượng Thánh Lưỡng là một hiện tượng văn hóa độc đáo của
Thanh Hóa trong tổng thề văn hóa Việt.
Một nét đặc sắc khác của tín ngưỡng thờ thần ở Thanh Hóa là tín ngưỡng
thờ nữ thần, thờ Mẫu (cửu thiên huyền nữ (cô Chín), Tứ vị Thánh Nương, Bà
Triệu, Lê Thị Ngọc Dao...). Theo sách Thanh Hóa chư thần lục thì ở Thanh
Hóa, số nữ thần được thờ cúng ít hơn hẳn nam thần (173 nữ thần so với 770 nam
thần) nhưng lại rất đáng chú ý. Tục thờ Nguyệt Nga công chúa tôn thần (67 làng
thờ – tập trung ở hai huyện địa đầu Thanh Hóa là Hà Trung và Tĩnh Gia), cùng
với việc thờ các công chúa các triều: Trần, Lê, Chiêm Thành… ở những nơi non
xanh nước biếc, sơn kỳ thủy tú gắn với tín ngưỡng thờ nữ thần – mang ý nghĩa
cội nguồn tự nhiên trong tâm thức dân gian.
Do có bờ biển dài, nhiều cửa sông ở Thanh Hóa còn có tín ngưỡng thờ thần
Biển và những vị thần gắn với nghề nghiệp biển khơi. ở Thanh Hóa có nhiều vị
thần biển với tên gọi khác nhau : Đông Hải Đại Vương, Tứ Vị Thánh Nương, Tô
Đại Liêu tôn thần, Độc cước tôn thần, Bà Triều...
Nét độc đáo trong tín ngưỡng thờ thần ở Thanh Hóa là hiện tượng thờ cúng
thành tuyến dài. Hiện tượng này có quan hệ hữu cơ với đặc điểm địa lý, lịch sử
và văn hóa của đất nước – con người Thanh Hóa. Có thể kể đến các tuyến thờ
tiêu biểu: thờ thần Núi (414 làng thờ); tục thờ Tứ vị Thánh nương (94 làng thờ)
và Đông Hải Đại vương (72 làng thờ), Tô Đại Liêu tôn thần (73 làng thờ), Đô
21


Bác Trịnh phủ tướng quân tôn thần (71 làng thờ). Điều độc đáo là các tuyến thờ
các thần rất riêng biệt, mỗi thần một tuyến không chồng chéo, tuyến nọ vắt lên
tuyến kia hoặc lẫn lộn song hành.
Không thể không kể đến một hiện tượng độc đáo của Thanh Hóa trong
khuynh hướng tôn giáo đó là hiện tượng các “đạo nội”:
Thanh Hóa được ghi nhận là quê hương thứ hai của đạo Mẫu sau Phủ Giày
(Nam Định). Sách Thanh Hóa chư thần lục (năm 1903) cho biết ở Thanh Hóa có
48 làng thờ Liễu Hạnh công chúa ở 11 huyện. Nhưng sách Địa chí Thanh Hóa
ghi nhận đến năm 1920, việc thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh đã phát triển mở ra
nhiều phủ, đền khắp tỉnh Thanh Hóa”. Riêng ở Vĩnh Lộc, Yên Định, đến trước
năm 1945, hầu như các làng có nghè thờ Quản gia Đô bác thì đồng thời cũng có
phủ thờ Mẫu, và một số làng ở hai huyện này vì kiêng kỵ nên đã gọi mẹ là “mệ”.
Sự phát triển của đạo Mẫu ở Thanh Hóa không chỉ phản ánh quy luật phát triển
chung của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam mà còn nói lên tính độc đáo trong
văn hóa tín ngưỡng của người Việt ở Thanh Hóa.
Về “Đạo Đông” hay “Nội đạo tràng”, “Nội đạo” đến nay vẫn còn nhiều ý
kiến đánh giá không thống nhất nhưng có thể khẳng định nó là “đạo phù thủy,
một môn phái thuộc đạo giáo nguyên thủy Trung Quốc” (Hoàng Tuấn Phổ).
Pháp thuật là của đạo phù thủy, danh xưng là của đạo Phật. Tuy nó chưa hội tụ
đầy đủ các yếu tố cần thiết để trở thành một “đạo nội” theo đúng nghĩa một tôn
giáo, nhưng phải thấy vị trí quan trọng của nó trên con đường kết tập và phát
triển lâu dài của phái “đạo Nội” Việt Nam; đúng như nhận định của Tạ Chí Đại
Trường: “Dù sao thì nhìn vào tập họp đạo Nội ở Thanh Hóa cũng khiến ta nghĩ
tới đạo Cao Đài sau này khi loại trừ những khác biệt do thời đại đưa đến6”.
Cuộc Sùng Sơn đại chiến, theo Tạ Chí Đại Tường “một mặt là bởi bản chất
ma thuật trấn áp của hệ thống thầy pháp, mặt khác biểu lộ sự đối kháng nội địa
và biển khơi7”. Còn việc Liễu Hạnh công chúa bị thầy pháp đánh thua, nhưng lại
không mất uy thế nhờ Phật cứu, nghiễm nhiên trở thành đệ tử nhà Phật phản ánh
6
7

Tạ Chí Đại Trường, Thần Người và Đất Việt, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2006, tr.191.
Tạ Chí Đại Trường, Thần Người và Đất Việt, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2006, tr.194

22


“sự hội nhập của các khuynh hướng phương sĩ / phù thủy / đồng cốt ở cuối thế
kỷ XVIII có dáng kết thành vào đầu thế kỷ sau.
Có thể thấy rằng, cuộc xung đột và giải pháp cho cuộc xung đột này là một
bước ngoặt trong quá trình dung hợp giữa tín ngưỡng thờ Mẫu dân gian (đến lúc
này đã dung hợp nhiều yếu tố Đạo giáo) với tín ngưỡng Phật giáo; hay cũng có
thể nói là một bước ngoặt trên con đường dân gian hóa lâu dài hàng nghìn năm
của Phật giáo; tạo nên sự hòa hợp tuyệt vời giữa những nhân tố nội sinh và
ngoại lai (Nho, Phật, Đạo) nhằm đáp ứng nhu cầu mới của xã hội trong những
hình thức tín ngưỡng, tôn giáo này.
Như vậy, bức tranh sinh hoạt tín ngưỡng của người dân Thanh Hóa rất
phong phú đa dạng, về mục đích không nằm ngoài quan hiệm “có thờ có thiêng,
có kiêng có lành”, nhưng vượt lên trên hết, sâu sắc hơn, bản chất hơn chính là sự
thể hiện lòng biết ơn “uống nước nhớ nguồn” vốn là một phẩm chất cao đẹp của
người Việt Nam.

23


KẾT LUẬN
Hệ thống loại hình di sản văn hóa phi vật thể: tín ngưỡng, phong tục, lễ hội
cổ truyền ở Thanh Hóa hết sức phong phú, đa dạng, giàu giá trị và bản sắc, mặc
dù có những thăng trầm nhưng liên tục được kế thừa và sáng tạo, thể hiện truyền
thống lịch sử – văn hóa lâu đời và sức sống mạnh mẽ của con người xứ Thanh.
Đặc biệt, qua hệ thống loại hình di sản văn hóa này, chúng ta có thể thấy rõ mối
quan hệ giao lưu ảnh hưởng mạnh mẽ về văn hóa giữa các dân tộc cộng cư trên
địa bàn Thanh Hóa, đặc biệt là quan hệ gắn bó truyền thống lâu dài giữa ba dân
tộc Việt, Mường, Thái.

24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×