Tải bản đầy đủ

Một số giải pháp nhằm ổn định và phát triển kinh tế nông hộ bị thu hồi đất trong quá trình phát triển khu công nghiệp tại thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên

MỤC LỤC
Lời cam đoan

i

Lời cảm ơn

ii

Mục lục

iii

Danh mục chữ viết tắt

vi

Danh mục bảng biểu

vii


Danh mục hộp thoại

viii

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1

1.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài

2

1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

2

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

2

1.3.2.1. Phạm vi thời gian

2

1.3.2.2. Phạm vi không gian

2

1.3.2.3. Phạm vi nội dung

3


1.4. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

3

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

4

2.1 Một số lý luận chung về phát triển khu công nghiệp

4

2.1.1. Khái niệm về khu công nghiệp

4

2.1.2. Vai trò của khu công nghiệp

5

2.1.3. Đặc điểm của khu công nghiệp

7

2.1.4. Tính tất yếu khách quan của việc phát triển khu công nghiệp

8

2.1.5 Cơ sở để xây dựng khu công nghiệp

10

2.2 Khái niệm, đặc trưng của kinh tế hộ

11

2.2.1. Khái niệm nông hộ

11

2.2.2 Đặc trưng của kinh tế nông hộ

.11

2.3 Vấn đề ruộng đất và nông dân trong nền kinh tế thị trường

13

2.4 Ảnh hưởng của việc phát triển khu công nghiệp đến nông hộ

16

i


Khung khái niệm sinh kế phát triển bền vững

20

2.5. Thực trạng phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam

21

2.5.1. Tình hình cho thuê đất và thu hút đầu tư

21

2.5.2. Về hiệu quả sản xuất kinh doanh trên đất khu công nghiệp

22

2.5.3. Về đất quy hoạch phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất

.23

2.5.4. Về sử dụng đất nông nghiệp và an ninh lương thực trong quy hoạch
phát triển khu công nghiệp

24

2.5.5. Một số khó khăn, hạn chế

26

2.6 Kinh nghiệm giải quyết việc làm và các vấn đề của kinh tế nông hộ trong
quá trình phát triển khu công nghiệp của một số nước trên thế giới

27

2.6.1. Trung Quốc

26

2.6.2 Nhật Bản

29

2.6.3. Đài Loan

29

2.7. Các công trình nghiên cứu có liên quan

31

PHẦN 3: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
3.1 Đặc điểm của thị xã Sông Công

33

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên

33

3.1.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội

37

3.1.2.1 Một số chỉ tiêu kinh tế của thị xã Sông Công

38

3.1.2.2 Một số chỉ tiêu xã hội của thị xã Sông Công

.39

3.2 Phương pháp nghiên cứu

43

3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu

43

3.2.2 Thu nhập số liệu

43

3.2.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp

.43

3.2.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp

43

3.2.3 Phân tích số liệu

44

3.2.4 Các chỉ tiêu phân tích

46

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

47

4.1 Khái quát về quá trình phát triển khu công nghiệp và sự chuyển dịch cơ

ii


cấu kinh tế tại thị xã Sông Công

47

4.1.1 Khái quát về quá trình phát triển KCN tại thị xã Sông Công

47

4.1.2 Đánh giá mức độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn thị xã Sông
Công trong những năm qua

50

4.2 Thực trạng kinh tế nông hộ dưới tác động của quá trình phát triển KCN

54

4.2.1 Thực trạng chung

54

4.2.2 Một số đặc điểm của nông hộ bị thu hồi đất của quá trình phát triển khu
công nghiệp

56

4.2.3 Thực trạng kinh tế nông hộ

58

4.2.3.1 Cách sử dụng tiền đền bù

58

4.2.3.2 Biến động thu nhập của các hộ dân trước và sau khi thu hồi đất

60

4.2.3.3 Sự thay đổi việc làm của người dân

64

4.2.3.4 Các ảnh hưởng tích cực, tiêu cực

68

4.2.3.5 Vai trò của của chính quyền và các tổ chức xã hội tác động đến nông
hộ bị thu hồi đất trong quá trình phát triển khu công nghiệp

70

4.2.4 Các ứng xử của hộ và các vấn đề khó khăn

72

4.3 Một số giải pháp ổn định và phát triển kinh tế nông hộ trong quá trình
phát triển khu công nghiệp

77

4.3.1 Giải pháp chung

77

4.3.2 Giải pháp cho từng nhóm hộ

80

4.3.2.1 Đối với nhóm 1

80

4.3.2.2 Đối với nhóm 2

81

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

83

5.1 Kết luận

83

5.2 Khuyến nghị

84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

86

iii


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu
BQ
BQDT
CC
CNH
CNH-HĐH
CT-TW
DT
ĐVT
GDP
KCN

NĐ-CP
NN
NNDV
PRA

Các chữ viết tắt
Bình quân
Bình quân diện tích
Cơ cấu
Công nghiệp hóa
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Chỉ thị Trung Ương
Diện tích
Đơn vị tính
Tổng thu nhập quốc dân
Khu công nghiệp
Lao động
Nghị định Chính phủ
Nông nghiệp
Nông nghiệp dịch vụ
Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn

QĐ-TTg
SL
SS
SXKD
TN
TNBQ
TW5
VLTX

có sự tham gia của người dân
Quyết định thủ tướng
Số lượng
So sánh
Sản xuất kinh doanh
Thuần nông
Thu nhập bình quân
Trung Ương 5
Việc làm thường xuyên

iv


DANH MỤC BẢNG BIỂU
3.1

Cơ cấu sử dụng đất đai của thị xã qua các năm

34

3.2

Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội của thị xã Sông Công

39

3.3

Thực trạng về nhân khẩu, lao động của thị xã

40

3.4

Một số chỉ tiêu về giáo dục, văn hóa và y tế của thị xã

43

4.1

Thực trạng phát triển các khu công nghiệp giai đoạn 2002-2008
48

4.2: Góc chuyển dịch và tỷ trọng cơ cấu kinh tế thị xã Sông Công

50

4.3

Một số chỉ tiêu chung của nông hộ trên địa bàn thị xã

54

4.4a

Một số đặc điểm của nông hộ

57

4.4b

Một số đặc điểm của nông hộ

57

4.5

Biến động về thu nhập của các hộ nông dân bị thu hồi đất sản xuất

62

4.6

Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu của hộ

63

4.7

Sự thay đổi việc làm của người nông dân bị thu hồi đất

66

4.8

Tỷ lệ thời gian làm việc của các thành viên trong hộ trước và sau
khi bị thu hồi đất

67

4.9

Đánh giá của nông hộ về ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa

68

4.10

Đánh giá của nông hộ về mức độ mua bán hàng hóa

69

4.11

Phân tích SWOT khi nông hộ chịu ảnh hưởng của quá trình công
nghiệp hóa

4.12

70

Thực trạng hỗ trợ giải quyết ổn định đời sống từ các cấp chính
quyền và doanh nghiệp

71

4.13

Những khó khăn của hộ trong quá trình công nghiệp hóa

73

4.14

Mô hình logistic về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư
cho các hoạt động kinh tế

75

v


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
4.1

Tăng trưởng kinh tế thị xã Sông Công

51

4.2

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thị xã

52

4.3 Tỷ lệ hộ sử dụng tiền đề bù cho chi tiêu theo tiêu chí

60

DANH MỤC HỘP THOẠI
4.1

Cơ hội việc làm

55

4.2

Sử dụng tiền đền bù

59

4.4

Thay đổi việc làm

67

4.5

Lý do không làm việc trong nhà máy thu hồi đất

75

vi


PHẦN 1

MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa là quá trình tất yếu của các quốc gia.
Tất cả các quốc gia muốn phát triển đều phải trải qua quá trình này. Nó như
một điều kiện để quốc gia đó phát triển kinh tế, nâng cao năng lực sản xuất
của xã hội và là tiền đề để thực hiện các chiến lược, mục tiêu phát triển trong
ngắn hạn cũng như dài hạn. Việt Nam là một nước nông nghiệp, có nền văn
minh lúa nước hàng ngàn năm nay. Trải qua nhiều năm đấu tranh với giặc
ngoại xâm và nội xâm với một nền nông nghiệp lạc hậu và kém phát triển đã
làm cho kinh tế nước ta kiệt quệ và được xếp vào danh sách những nước
nghèo và kém phát triển trên thế giới. Để khôi phục, ổn định và phát triển
kinh tế đất nước sau chiến tranh thì con đường nhanh nhất với nước ta đó là
thực hiện việc phát triển công nghiệp mà khởi đầu của nó là xây dựng các khu
công nghiệp.
Do lợi ích phát triển của công nghiệp là rất lớn, nên trong lịch sử phát
triển của nhân loại từ trước đến nay, chưa có một quốc gia phát triển nào mà
không trải qua giai đoạn CNH-HĐH, chuyển nền kinh tế chủ yếu từ nông
nghiệp lên công nghiệp và hiện đại hóa các ngành sản xuất cũng như dịch vụ.
Để phát triển công nghiệp, một trong những điều kiện quan trọng nhất là phải
chuyển đổi một phần diện tích đất nông nghiệp sang công nghiệp để có mặt
bằng xây dựng. Việc phát triển các KCN diễn ra tạo ra giá trị sản xuất lớn hơn
và làm cho bộ mặt kinh tế xã hội thay đổi cả về mặt lượng và chất.
Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực thì quá trình này còn để lại
những vấn đề tiêu cực như giải quyết việc ổn định cuộc sống, việc làm cho
một bộ phận người lao động, giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường, giải
quyết các vấn đề thuần phong mỹ tục, các vấn đề về văn hóa - xã hội…Không

1


nằm ngoài sự phát triển chung của cả nước, thị xã Sông Công tỉnh Thái
Nguyên trong những năm gần đây quá trình xây dựng KCN cũng diễn ra hết
sức mạnh mẽ và nhanh chóng, có thể coi đây là điểm cho sự phát triển của
quá trình phát triển KCN trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Vấn đề ổn định và
phát triển kinh tế cho đối tượng nông hộ bị thu hồi đất cho xây dựng KCN
luôn được các cấp chính quyền địa phương quan tâm sâu sắc, chính vì vậy
chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Một số giải pháp nhằm ổn định và phát
triển kinh tế nông hộ bị thu hồi đất trong quá trình phát triển khu công
nghiệp tại thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên”
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu các ảnh hưởng của quá trình phát triển KCN đến việc ổn
định và phát triển kinh tế nông hộ bị thu hồi đất.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn của kinh tế
nông hộ trong quá trình phát triển các khu công nghiệp.
- Đánh giá, phân tích thực trạng kinh tế nông hộ bị thu hồi đất để xây
dựng khu công nghiệp
- Phân tích ứng xử và các vấn đề khó khăn của nông hộ dưới tác động
của quá trình phát triển KCN.
- Đề xuất các giải pháp nhằm ổn định và phát triển kinh tế của nông hộ
bị thu hồi đất cho phát triển KCN.
1.3 Giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề trong phát triển kinh tế
nông hộ dưới ảnh hưởng của quá trình phát triển các khu công nghiệp. Trong
đó tập trung vào các nông hộ bị thu hồi đất để xây dựng khu công nghiệp.

2


1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1. Phạm vi thời gian
Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 11/2008 đến tháng 10/2009.
Số liệu thức cấp được thu thập trong giai đoạn 2002-2008.
Số liệu sơ cấp được khảo sát trong năm 2008.
1.3.2.2. Phạm vi không gian
Đề tài được tiến hành điều tra nghiên cứu trên địa bàn thị xã Sông
Công, nghiên cứu điểm tại xã Tân Quang nơi có diện tích đất xây dựng khu
công nghiệp lớn nhất.
1.3.2.3. Phạm vi nội dung
Ảnh hưởng của quá trình phát triển KCN đến phát triển kinh tế của các
nông hộ từ đó đưa ra những giải pháp phát triển kinh tế cho từng nhóm hộ
chịu ảnh hưởng.
1.4. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Góp phần hệ thống hóa lý luận và các thông tin thực tiễn về kinh tế
hộ, về tác động của quá trình phát triển KCN đến đời sống nông hộ và các
giải pháp ổn định, phát triển.
- Cung cấp hệ thống số liệu cho địa phương về thực trạng ảnh hưởng
của các hộ bị mất đất sản xuất trên địa bàn. Các ứng xử của nông hộ, cách sử
dụng tiền đền bù của các nhóm hộ. Giúp địa phương nhận dạng được các vấn
đề hiện đang nảy sinh trong các nông hộ bị ảnh hưởng của quá trình phát triển
KCN.
- Giúp địa phương có các chính sách và giải pháp ổn định kinh tế cho
nông hộ, đặc biệt là các hộ nghèo thiếu kinh nghiệm và khả năng thích ứng
kém, các hộ bị mất nhiều đất sản xuất và đang gặp các vấn đề khó khăn

3


PHẦN 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Một số lý luận chung về phát triển khu công nghiệp
2.1.1. Khái niệm về khu công nghiệp
Hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp theo hướng tập trung chuyên
môn hóa theo lãnh thổ có xu hướng phát triển ngày càng rộng rãi trên thế giới
và ở nước ta là cụm công nghiệp, khu công nghiệp tập trung, khu công nghiệp
kỹ thuật cao và khu chế xuất. Các hình thức tổ chức doanh nghiệp theo hướng
tập trung chuyên môn hóa đó có nét đặc trưng tổng quát chung là mật độ tập
trung khá cao một số doanh nghiệp và các hoạt động phục vụ trên một khu
vực có không gian giới hạn. Song, giữa chúng có những nét đặc thù riêng về
quy mô và ranh giới địa lý, về tính chất sản xuất của các doanh nghiệp, về tổ
chức quản lý.
+ Theo Nghị định số 192/CP ngày 25.12.1994 của Chính phủ, các KCN
được định nghĩa là các khu vực công nghiệp tập trung, không có dân cư, được
thành lập với các ranh giới được xác định nhằm cung ứng các dịch vụ để hỗ
trợ sản xuất.
+ Như vậy, khu công nghiệp là một khu vực sản xuất công nghiệp tập
trung trên một phạm vi lãnh thổ nhất định. Một khu công nghiệp có thể gồm
các cụm công nghiệp hoặc nhiều cụm công nghiệp
+ Cụm công nghiệp được phân bổ trên phạm vi lãnh thổ không lớn. Các
cơ sở thuộc cụm công nghiệp có thể là đơn vị cùng ngành hoặc khác ngành
nhưng có mối liên hệ sản xuất với nhau hoặc sử dụng chung một kết cấu hạ
tầng.
+ Khu công nghiệp kỹ thuật cao tập trung những doanh nghiệp công
nghiệp thuộc những ngành sản xuất có hàm lượng khoa học công nghệ cao và

4


những cơ sở nghiên cứu khoa học, công nghệ nhờ đó quan hệ giữa nghiên cứu
và ứng dụng triển khai tổ chức có hiệu quả, loại hình khu công nghiệp này
cũng được coi là hạt nhân cho sự phát triển khoa học và công nghệ của đất
nước.
2.1.2 Vai trò của khu công nghiệp
Trong thời kỳ CNH-HĐH việc xây dựng các khu, cụm công nghiệp là
cần thiết và được nhà nước khuyến khích.
Từ năm 1994 các KCN được xây dựng để cung ứng cơ sở hạ tầng thuận
lợi, tạo điều kiện dễ dàng cho đầu tư nước ngoài và đặc biệt khuyến khích các
DN nhỏ và vừa gia nhập các khu vực công nghiệp. Lợi ích của việc sản xuất
tập trung tại các cụm CN so với phát triển công nghiệp tản mạn là đảm bảo
tiết kiệm về kết cấu hạ tầng, quản lý hành chính và quản lý môi trường mặt
khác cung cấp các dịch vụ thuận lợi.
Các KCN, KCX được hình thành cũng nhằm tránh sự phân tán các cơ
sở sản xuất trong khu dân cư sinh sống vừa không thuận lợi cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa gây ô nhiễm môi trường xung
quanh khu dân cư làm ảnh hưởng đến đời sống của cộng đồng dân cư trong
vùng, nhất là ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân.
Trên góc độ hiệu quả kinh tế thì khu công nghiệp trở thành động lực
của vùng kinh tế. Không có khu công nghiệp thì không có vùng kinh tế trọng
điểm theo ý nghĩa kinh tế thị trường. Sự tách rời khu công nghiệp với vùng
kinh tế theo địa phương là không phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế thị
trường, là sai lầm về thể chế quản lý Nhà nước. Trong khi ở nước ta hơn 60%
diện tích đất trong khu công nghiệp còn bỏ hoang thì các doanh nghiệp vừa và
nhỏ lại không có mặt bằng đủ cho sản xuất kinh doanh. Báo chí cho biết ngay
ở các địa phương giá đất rẻ mà tiền thuê đất trong khu công nghiệp đã chiếm
30% tổng vốn của doanh nghiệp, do hoạt động của đơn vị chuyên trách xây

5


dựng cơ sở hạ tầng kém hiệu quả, chi phí cao. Đó là một trong những nguyên
nhân khiến nhiều doanh nghiệp lảng tránh khu công nghiệp [26].
Khu công nghiệp là nơi kết hợp sức cạnh tranh của doanh nghiệp với
sức cạnh tranh kinh tế vĩ mô. Ngày nay, vị thế của doanh nghiệp và của cả
nền kinh tế cũng như của đất nước đều được quyết định bởi sức cạnh tranh
trên thị trường. Đối với các nước đang phát triển như nước ta, tiến hành CNHHĐH trong điều kiện kinh tế thị trường thế giới đã phát triển cao thì thách
thức lớn nhất trước mắt và lâu dài là vấn đề sức cạnh tranh. Thách thức ấy
ngày càng trở nên lớn hơn theo tiến trình hội nhập, nhất là ở giai đoạn kinh tế
tri thức và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới như hiện nay. Để giải bài toán sức
cạnh tranh trong quá trình hội nhập chỉ có con đường kết hợp nâng cao sức
cạnh tranh của kinh tế vĩ mô đồng thời với nâng cao sức cạnh tranh của doanh
nghiệp. Khu công nghiệp là mô hình kết hợp như thế một cách có hiệu quả.
Chính ở các khu công nghiệp chứ không phải ở đâu khác, lợi thế so sánh của
đất nước có thể trực tiếp chuyển thành lợi thế cạnh tranh và nâng cao uy tín
chính trị của Nhà nước.
Khu công nghiệp còn là nơi đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất
lượng cao cho quá trình hiện đại hóa đất nước. Chính việc các lao động trong
nước được thu hút vào làm việc trong các KCN sẽ có được năng lực và tác
phong làm việc chuyên nghiệp, thậm chí có cả các cấp quản lý bậc cao cũng
được hình thành từ đây. Tuy vậy, số lượng lao động trực tiếp và quản lý trong
các khu công nghiệp chưa đạt được chất lượng và cơ cấu phù hợp. Thực tế
này, một mặt do các KCN chưa tạo được các điều kiện cần thiết cho người lao
động chỗ ăn ở đi lại và nhất là tiền lương còn quá thấp (mức thu nhập bình
quân của người lao động ở đây khoảng 1,2-1,5 triệu đồng/tháng, kéo dài trong
nhiều năm và tính cả tiền tăng ca). Mặt khác, công tác đào tạo của nước ta còn
kém về tay nghề và cơ cấu chưa phù hợp với KCN.

6


2.1.3. Đặc điểm của khu công nghiệp
Khu công nghiệp thể hiện những đặc trưng chung nhất của tổ chức sản
xuất công nghiệp trên vùng lãnh thổ. Khu công nghiệp là khái niệm phổ biến
nhất ở nhiều nước. Trên góc độ khác nhau của sự phân bố, khu công nghiệp
được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau:
+ Xét về quy mô: Do điều kiện thuận lợi về tài nguyên, lao động, vị trí
địa lý và cơ sở hạ tầng kỹ thuật nên có những khu công nghiệp phát triển gắn
với những thành phố hàng triệu dân hoặc hàng chục vạn dân. Bên cạnh đó có
khu công nghiệp chỉ bao gồm một số doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ gắn
với các thị trấn, thị xã vài vạn dân.
+ Xét về vị trí địa lý: Khu công nghiệp được phân bố trong một tỉnh,
một vùng, trên lãnh thổ liên tỉnh, liên vùng.
+ Xét về trình độ phát triển: Nếu xét trong mỗi thời điểm nhất định nào
đó có thể thấy khu công nghiệp đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh, có
khu công nghiệp cần đầu tư xây dựng bổ xung, có khu công nghiệp đang xây
dựng. Trong tiến trình phát triển, việc phân loại khu công nghiệp theo cách
này chỉ mang ý nghĩa tương đối.
Về mặt pháp lý:
+ Đầu tư vào KCN bao gồm các thành phần kinh tế Việt Nam và các
nhà đầu tư nước ngoài. Những bộ phận tham gia trong khu công nghiệp sẽ
phải hoạt động theo luật tương ứng, người nước ngoài theo luật đầu tư nước
ngoài, doanh nghiệp nhà nước theo luật doanh nghiệp nhà nước,…
+ Việc xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp có thể gồm nhiều đối
tượng tham gia: công ty, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, xí
nghiệp liên doanh với nước ngoài, công ty 100% vốn nước ngoài. Vấn đề tổ
chức điều hành hoạt động của khu công nghiệp là ban quản lý các khu công
nghiệp.

7


Mục tiêu phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam là tranh thủ tiếp nhận
công nghệ kỹ thuật cao, tiên tiến của thế giới, giải quyết việc làm cho người
lao động trên cơ sở đảm bảo thu nhập tương xứng với mức hao phí lao động
trong tương quan với giá cả sức lao động của thị trường thế giới [16]
2.1.4. Tính tất yếu khách quan của việc phát triển KCN
Thực chất của việc thu hồi một phần diện tích đất để chuyển sang phát
triển công nghiệp là phân bố lại nguồn lực đất đai của xã hội theo hướng hiệu
quả. Do là nguồn lực tự nhiên nên diện tích đất sử dụng cho sản xuất và đời
sống của một quốc gia có tính cố định. Nhưng nhu cầu về đất lại ngày một
tăng, nên tình trạng khan hiếm về đất là không thể tránh khỏi. Khan hiếm
nguồn đất càng trở thành vấn đề lớn đối với nước ta khi bình quân đất tự
nhiên vào loại thấp so với nhiều nước trên thế giới, chỉ khoảng 0,4 ha/người
còn đất nông nghiệp chỉ có 0,1 ha/người [26].
Muốn tăng thêm phần diện tích đất cho phát triển công nghiệp thì phải
giảm nguồn đất sử dụng vào các mục đích khác, về mặt kinh tế tức là không
thể hy sinh sản xuất một lượng hàng hóa ở các ngành khác để đánh đổi lấy sự
tăng trưởng cao hơn của ngành sản xuất công nghiệp. Đó chính là lựa chọn
mà xã hội phải đặt ra. Một nền kinh tế có hiệu quả tức là không bị lãng phí, là
cách thức phân bổ nguồn lực sao cho đạt được kết quả tối ưu. Thế nhưng một
trong những điều kiện quan trọng nhất để xây dựng KCN là phải chuyển đổi
đất từ sản xuất nông nghiệp sang. Đối với những nước đất đai được thừa nhận
là của dân, việc chuyển mục đích sử dụng đất giữa các chủ sở hữu thuộc các
ngành kinh tế chủ yếu được thực hiện thông qua quan hệ mua bán do cơ chế
thị trường và quan hệ cung-cầu điều tiết, nhà nước chỉ hỗ trợ việc chuyển đổi
đạt được mục tiêu nhà nước đã lựa chọn.
Đối với nước ta, do đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhà nước là đại diện
chủ sở hữu và thống nhất quản lý, nên nhà nước có quyền giao đất cho các tổ

8


chức, cá nhân sử dụng và có quyền thu hồi đất để chuyển đổi mục đích sử
dụng. Về thực chất, đất nông nghiệp là đất Nhà nước giao cho nông dân nhằm
đưa vào phát triển sản xuất nông nghiệp. Theo pháp luật, người nông dân
không chỉ có quyền có đất sản xuất, mà còn có các quyền trong sử dụng đất,
được hưởng thành quả lao động và kết quả đầu tư trên đất khi được Nhà nước
giao. Việc Nhà nước thu hồi một phần diện tích đất nông nghiệp chuyển sang
phát triển CN và xây dựng các kết cấu hạ tầng khác trong giai đoạn đẩy mạnh
CNH-HĐH là cần thiết và đây là lẽ đương nhiên của người đại diện chủ sở
hữu đất.
Đây không phải là việc làm tùy tiện, mà nó được xuất phát từ yêu cầu
CNH-HĐH đất nước vì lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia. Không những thế,
nó còn do chính yêu cầu phát triển ngành nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
Bởi lẽ sự phát triển CN không chỉ tạo cơ hội việc làm mới mà nó còn tạo
nhiều cơ hội phát triển cho các đối tượng khác nhau và đây cũng là nội hàm
của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý. Bên cạnh đó nó cũng tạo ra sức
mua của các sản phẩm được sản xuất từ nông nghiệp. Còn những sản phẩm
được sản xuất ra từ CN sẽ là những yếu tố sản xuất và hàng tiêu dùng đáp ứng
tốt hơn nhu cầu sản xuất và đời sống của người dân nông thôn. Nhờ phát triển
CN mà người nông dân có điều kiện tham gia thị trường tiêu thụ sản phẩm và
mua sắm hàng hóa, cung cấp các nguyên vật liệu cho CN và lương thực, thực
phẩm cho những người làm CN.
Theo tính toán, năm 2004 1 ha đất nông nghiệp chỉ sử dụng khoảng 3-5
lao động, làm ra giá trị khoảng 22,5 triệu đồng/năm. Nhưng, nếu chuyển 1 ha
đất ấy sang xây dựng khu công nghiệp có thể thu hút 50-100 lao động và hơn
nữa (tùy quy mô doanh nghiệp) và làm ra giá trị từ 500 triệu đến hàng tỷ
đồng/năm, thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp cao gấp nhiều lần
làm nông nghiệp. Tuy nhiên, việc thu hồi đất nông nghiệp cũng đang xuất

9


hiện những vấn đề phức tạp, dẫn đến những gay cấn, “điểm nóng” về mặt xã
hội phải giải quyết, đặc biệt là vấn đề đảm bảo điều kiện sống và làm việc của
người lao động, trước hết là cho nông dân nông thôn vùng chuyển đổi mục
đích sử dụng đất nông nghiệp cho CNH-HĐH [1].
2.1.5 Cơ sở để xây dựng khu công nghiệp
Để xây dựng khu công nghiệp hợp lý cho từng vùng, từng lãnh thổ phải
dựa trên các nguyên tắc sau đây:
- Có khả năng tạo ra kết cấu hạ tầng thuận lợi về giao thông vận tải,
cung cấp điện nước và thải nước. Xử lý môi trường đảm bảo có hiệu quả và
phát triển bền vững lâu dài, có đủ dư địa để mở rộng và phù hợp với những
tiến bộ khoa học và công nghệ của nền văn minh công nghiệp và hậu công
nghiệp.
- Có khả năng cung cấp nguyên liệu tương đối thuận lợi, hoặc tốt hơn là
trực tiếp với nguồn nguyên liệu. Đôi khi do cự ly và yêu cầu bảo quản nguyên
liệu, quy mô xí nghiệp công nghiệp phải thích hợp để đảm bảo hiệu quả.
- Có nguồn lao động cả về số lượng và chất lượng đáp ứng được yêu
cầu sản xuất với chi phí tiền lương thích hợp.
- Có khả năng giải quyết thị trường tiêu thụ sản phẩm cả nội tiêu và
ngoại tiêu.
- Tiết kiệm tối đa đất nông nghiệp đặc biệt là trồng trọt trong việc sử
dụng đất để xây dựng khu công nghiệp.
- Chú ý kết hợp với yêu cầu đảm bảo an ninh quốc phòng trong những
điều kiện cụ thể ở từng khu vực và từng giai đoạn.
Theo các chuyên gia đến từ Nhật Bản, chìa khóa cho sự thành công của
các khu công nghiệp là vị trí, dịch vụ hạ tầng và năng lực quản lý [12]

10


2.2 Khái niệm, đặc trưng của kinh tế hộ
2.2.1. Khái niệm nông hộ
Khi tiến hành nghiên cứu mô hình kinh tế nông hộ nhiều học giả trên
thế giới đã đưa ra quan điểm riêng của mình về nông hộ và kinh tế nông hộ để
làm cơ sở cho việc nghiên cứu. Từ đó xây dựng các đề án để nghiên cứu, phát
triển kinh tế nông hộ. Theo Elis (1988) nông hộ được định nghĩa như sau:
- Hộ nông dân là các hộ, thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất,
sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ
thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia
một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh chưa cao.
Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ bản, tiến hành sản xuất kinh
doanh đựa trên các nguồn lực sẵn có của gia đình nhằm tạo ra thu nhập theo
nhiều hình thức khác nhau, chịu sự tác động của quy luật khách quan trong
quá trình tồn tại và phát triển.
2.2.2 Đặc trưng của kinh tế nông hộ
Kinh tế nông hộ có một số đặc trưng chủ yếu sau:
+ Nông hộ là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn vị
tiêu dùng.
+ Quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng được biểu hiện ở trình độ phát
triển của hộ từ tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hóa hoàn toàn. Trình độ
này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân với thị trường.
+ Ngoài hoạt động nông nghiệp các nông hộ còn tham gia vào hoạt
động phi nông nghiệp với mức độ khác nhau làm khó giới hạn thế nào là một
nông hộ
+ Phương thức tổ chức sản xuất của nông hộ mang tính kế thừa truyền
thống gia đình và không đồng đều giữa các hộ với nhau.

11


+ Nông hộ ngoài việc tham gia vào quá trình tái sản xuất vật chất còn
tham gia vào quá trình tái sản xuất nguồn nhân lực phục vụ cho các ngành sản
xuất.
+ Sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu quản lý và sử dụng các yếu
tố sản xuất. Sở hữu trong kinh tế hộ là sở hữu chung, tất cả mọi thành viên
trong hộ đều có quyền sở hữu tư liệu sản xuất vốn có cũng như những tài sản
khác của hộ. Mặt khác do dựa trên cơ sở kinh tế chung và có ngân quỹ nên
các thành viên trong hộ đều ý thức trách nhiệm rất cao và việc bố trí sắp xếp
công việc trong hộ cũng rất linh hoạt và hợp lý cho từng người, từng việc tạo
nên việc thống nhất cao trong tổ chức sản xuất của hộ.
+ Sự gắn bó giữa lao động quản lý và lao động sản xuất. Trong nông
hộ, mọi thành viên thường gắn bó chặt chẽ với nhau theo quan hệ huyết
thống. Hơn nữa kinh tế hộ lại tổ chức ở quy mô nhỏ, người quản lý điều hành
sản xuất đồng thời cũng là người tham gia lao động sản xuất. Cho nên tính
thống nhất giữa lao động quản lý và lao động sản xuất rất cao.
+ Kinh tế nông hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh cao. Do kinh
tế hộ có quy mô nhỏ nên bao giờ cũng thích nghi nhanh hơn so với các hình
thức sản xuất khác có quy mô lớn hơn, thí dụ như các xí nghiệp sản xuất …
do vậy mà có thể mở rộng sản xuất khi có điều kiện thuận lợi và thu hẹp sản
xuất khi gặp các điều kiện bất lợi.
+ Có sự gắn bó chặt chẽ giữa quá trình sản xuất với lợi ích của người
lao động. Trong quan hệ kinh tế hộ mọi người gắn bó với nhau không chỉ trên
cơ sở cùng huyết thống mà còn trên cơ sở kinh tế nên dễ dàng đồng tâm hiệp
lực xây dựng và phát triển kinh tế hộ, tạo sự liên kết chặt chẽ hơn giữa kết
quả sản xuất và lợi ích của người lao động. Lợi ích kinh tế là động lực thúc
đẩy hoạt động của mỗi cá nhân, là nhân tố nâng cao hiệu quả sản xuất kinh tế
của hộ.

12


Kinh tế nông hộ là đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ nhưng hiệu quả. Sản
xuất với quy mô nhỏ không đồng nghĩa với lạc hậu và năng suất thấp. Kinh tế
nông hộ vẫn có khả năng cho năng suất lao động cao hơn các xí nghiệp nông
nghiệp có quy mô lớn. Đặc biệt, kinh tế nông hộ là hình thức kinh tế hợp nhất
với đặc điểm sản xuất nông nghiệp mà đối tượng sản xuất chủ yếu là cây
trồng và vật nuôi. Thực tế phát triển sản xuất nông nghiệp trên thế giới đã
chứng minh cho chúng ta thấy rõ: Kinh tế nông hộ có quy mô nhỏ chủ yếu sử
dụng lao động gia đình gắn bó với vật nuôi và cây trồng là đơn vị sản xuất có
hiệu quả.
“Trong lịch sử phát triển kinh tế quốc dân, thời kỳ nào vai trò của hộ
gia đình cũng rất quan trọng, vì nó không những là “tế bào” của xã hội, là
đơn vị sản xuất và đảm bảo cuộc sống cho tất cả các thành viên trong gia
đình, mà còn là chủ thể tiêu dùng rất đa dạng của nền kinh tế. Nhưng trước
xu thế quốc tế hóa nền kinh tế đang diễn ra nhanh chóng hiện nay, phải nhận
rõ những khó khăn để có thêm những chính sách có tính chất đột phá nhằm
tạo động lực mới, thật sự mạnh mẽ cho kinh tế hộ phát triển” [14]
2.3 Vấn đề ruộng đất và nông dân trong nền kinh tế thị trường
Đất đai là điều kiện đầu tiên kiên quyết cho mọi hoạt động của con
người, đặc biệt ruộng đất nó gắn liền với nông dân. Giải quyết vấn đề ruộng
đất, tức là giải quyết mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ của người sử dụng
đất nông nghiệp, trong đó chủ yếu là mối quan hệ giữa quyền sở hữu và
quyền sử dụng.
Trong nông nghiệp, đất đai được coi là tư liệu sản xuất đặc biệt và
không thể thay thế vì nó vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động.
Đất đai là đối tượng lao động trong nông nghiệp vì nó chịu tác động của con
người để có môi trường tốt cho sinh vật phát triển. Đất đai là tư liệu lao động
vì nó phát huy tác động như một công cụ lao động. Con người dùng đất đai để

13


trồng cấy và chăn nuôi, vì vậy không có đất thì không có sản xuất nông
nghiệp [25].
Luật đất đai năm 1993, luật đất đai năm 1998, luật đất đai năm 2003 và
nhiều chỉ thị về đất đai như chỉ thị 100 CT-TW ngày 31/10/1981 về cải tiến
công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm người lao động trong
HTX nông nghiệp; Chỉ thị 33 CT-TW ngày 28/03/1988 về việc thi hành luật
đất đai; Chỉ thị 47 CT-TW ngày 31/08/1988 về giải quyết một số vấn đề cấp
bách về ruộng đất; Nghị quyết TW5 khóa III ngày 10/06/1993 về tiếp tục đổi
mới và phát triển nông thôn đã mang lại quyền lợi về ruộng đất gắn liền với
quyền sử dụng và quyền sở hữu đất cho nông dân. Điều đó giúp cho người
nông dân yên tâm sản xuất. Những văn bản luật và dưới luật đã gắn người
nông dân với đất đai vì thế sản xuất nông nghiệp ngày càng phát triển [16]
Ngày nay, sự hội nhập kinh tế quốc tế, vận động theo nền kinh tế thị
trường thì nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các nhà máy, xí nghiệp
mới ra đời và phát triển. Đây là một xu hướng phát triển tất yếu nảy sinh các
vấn đề như đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, nông dân ngày càng ít
ruộng đất để sản xuất sẽ dẫn tời thời gian nhàn rỗi trong dân tăng lên, dư thừa
lao động trong nông thôn ngày một nhiều, ảnh hưởng đến đời sống của một
bộ phận người lao động nông nghiệp nông thôn. Đây là vấn đề cần phải có
giải pháp giải quyết, tháo gỡ kịp thời. Để đáp ứng sự thay đổi và điều chỉnh
theo hướng an sinh xã hội, thời gian gần đây Chính phủ đã ban hành một số
nghị định về các vấn đề liên quan đến thu hồi và bồi thường đất sản xuất nông
nghiệp của nông dân như sau:
+ Thông tư số 69/2006/TT-BTC của Bộ tài chính ngày 02/08/2006 về
sửa đổi bổ sung cho Thông tư số 116/2004/TT-BTC, cụ thể là sửa đổi, bổ
sung một số điều khoản: điểm 3 mục 3 phần I về chi trả bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư; điểm 3.1 mục 3 phần II về giá đất để tính bồi thường, chi phí đầu

14


tư vào đất còn lại; mục 2 phần IV về hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo
việc làm; mục 3 và mục 4 phần VII về mức chi cho công tác tổ chức thực hiện
bồi thường, hỗ trợ tái định cư: “Không quá 2% tổng số kinh phí bồi thường,
hỗ trợ của dự án” [2]
+ Thông tư 14/2008/TTLB-BTC-BTNMT của Bộ Tài chính và Bộ Tài
nguyên và Môi trường ngày 31/01/2008 về hướng dẫn thực hiện một số điều
của Nghị định 84/2007/NĐ-CP: hướng dẫn về hỗ trợ đối với đất nông nghiệp
xen kẽ trong khu dân cư, đất vườn, đất ao xen kẽ với đất ở trong khu dân cư;
hướng dẫn kinh phí chuẩn bị hồ sơ Địa chính cho khu đất bị thu hồi bao gồm
kinh phí do nhà đầu tư trả sẽ được quyết toán vào vốn đầu tư của dự án, kinh
phí do Nhà nước trả sẽ được quyết toán vào nguồn kinh phí hoạt động của Tổ
chức phát triển quỹ đất hoặc cơ quan Tài nguyên – Môi trường hoặc Văn
phòng đăng ký quyền sử dụng đất; hướng dẫn lập, thẩm định và xét duyệt
phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, phương án bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư và việc lập thêm “Hội đồng thẩm định” khi cần thiết.
+ Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 về quy hoạch sử dụng
đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái định cư về cơ bản được tóm
tắt như sau: Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu
hồi được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng; nếu không có đất để
bồi thường thì được bồi thường bằng tiền tính theo giá đất cùng mục đích sử
dụng. Xác định giá đất sát với giá thị trường tại thời điểm quyết định thu hồi
đất.
Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được bồi
thường bằng đất được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm theo 1
trong các hình thức:
- Hỗ trợ bằng tiền từ 1,5 – 5 lần giá đất nông nghiệp đối với toàn bộ
diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi;

15


- Hỗ trợ bằng 1 suất đất ở hoặc 1 căn hộ chung cư hoặc 1 suất đất sản
xuất, kinh doanh phi nông nghiệp. Trường hợp người được hỗ trợ có nhu cầu
được đào tạo, học nghề thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề và được
miễn học phí đào tạo cho 1 khóa học đối với các đối tượng trong độ tuổi lao
động. Trong quá trình lập phương án đào tạo, chuyển đổi nghề phải lấy ý kiến
của người bị thu hồi đất thuộc đối tượng chuyển đổi nghề [4]
Như vậy các nông hộ trên địa bàn thị xã Sông Công mà tác giả điều tra
để phục vụ cho phân tích trong đề tài thì vẫn áp dụng các Nghị định trước
Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009.
2.4 Ảnh hưởng của việc phát triển khu công nghiệp đến nông hộ
Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và môi trường trong giai đoạn 20002004, số diện tích đất nông nghiệp cả nước đã được chuyển đổi mục đích sử
dụng là gần 157 nghìn ha, trong đó xây dựng các khu công nghiệp, khu chế
xuất là gần 22 nghìn ha, xây dựng cụm công nghiệp vừa và nhỏ gần 35 nghìn
ha, xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị gần 100 nghìn ha. Theo báo cáo của của
14 tỉnh, thành phố ta có số diện tích đất bị thu hồi và số người bị mất việc làm
như sau, theo bảng dưới đây [20]: như vậy trong giai đoạn 2001-2005, tại 14
tỉnh thành phố có tốc độ CNH nhanh, tổng diện tích đất nông nghiệp đã
chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp là 20.631,4 ha, dự kiến giai
đoạn 2006-2010 tiếp tục chuyển đổi 29.425 ha. Những địa phương có diện
tích thu hồi lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Hà Tây, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Phúc
Yên, Cần Thơ, như vậy cũng qua đây ta thấy cứ thu hồi 1 ha đất nông nghiệp
thì có 13 lao động trước đây làm nông nghiệp phải chuyển sang làm việc
khác, trong đó có một số người chưa tìm được việc làm mới.
Nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH chính là việc chuyển
dịch mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang xây dựng kết cấu hạ tầng,
phát triển công nghiệp, dịch vụ, và xây dựng đô thị tăng nhanh, điều này dẫn

16


đến một bộ phận không nhỏ lao động trong nông nghiệp rơi vào tình trạng
không có việc làm trong khi Nhà nước chưa có chính sách đồng bộ để giải
quyết việc làm cho số lao động nói trên. Do đó thất nghiệp, tăng trưởng kinh
tế, lạm phát là 3 vấn đề quan trọng trong nền kinh tế thị trường đã và đang thể
hiện rõ ở nước ta. Ba chỉ số này phản ánh một cách khái quát nhất, toàn diện
nhất thực trạng nền kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia.
Diện tích đất thu hồi
(ha)
Dự kiến

Số lao động mất việc làm
(người)
Dự kiến

2001-2005 2006-2010 2001-2005
1 Hà Nội
5.208
10.000
104.000
2 Hải Phòng
2.121
2.550
17.600
3 Hà Tây
2.287
2.667
52.838
4 Hải Dương
1.300
1.500
12.000
5 Nam Định
400
500
8.000
6 Thái Bình
631
1.131
17.045
7 Ninh Bình
500
700
2.500
8 Lào Cai
599
451
6.875
9 Vĩnh Phúc
1.200
1.000
8.000
10 Bắc Ninh
3.087
4.150
7.500
11 Đà Nẵng
858,4
377
20.000
12 Phú Yên
1.057
1.386
3.351
13 Đồng Tháp
500
1.000
5.000
14 Cần Thơ
1.013
1.513
1.000
Cộng
20.361,4
29.425
265.709
Nguồn: Bộ tài nguyên và môi trường

2006-2010
100.000
18.500
49.512
14.500
1.000
28.283
3.500
2.175
7.000
9.000
10.000
4.505
8.500
1.600
258.075

Hiện nay thất nghiệp, thiếu việc làm đã và đang là mối quan tâm của
Chính phủ các nước, các tổ chức kinh tế và mọi người trên thế giới. Giải
quyết việc làm cho người lao động đang trở thành vấn đề toàn cầu, là một
thách thức lớn của mỗi quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Ở Việt
Nam, thất nghiệp, thiếu việc làm đang và sẽ là bài toán khó trong quá trình
vận động và phát triển của nền kinh tế trên con đường CNH, HĐH đất nước.

17


Theo số liệu báo cáo của các sở Lao động – Thương binh và Xã hội ở
các tỉnh, trong năm 2007 diện tích đất nông nghiệp chuyển đổi mục đích sử
dụng là 4.419ha. Dự kiến thời kỳ 2006-2010 vùng Đông Bắc sẽ chuyển đổi
mục đích sử dụng đất là 24.615ha.
Do tốc độ đô thị hóa nhanh cùng với việc tăng cường đầu tư phát triển
công nghiệp và đô thị ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong
những năm gần đây nên một diện tích lớn đất nông nghiệp đã phải chuyển
sang để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị mới và các công trình kết
cấu kỹ thuật... Việc chuyển mục đích đối với đất nông nghiệp nêu trên đã ảnh
hưởng không nhỏ đến đời sống, việc làm của người bị thu hồi đất. Theo kết
quả điều tra thì trung bình cứ mỗi hộ dân bị thu hồi đất có 1,5 lao động mất
việc làm.
Tại thành phố Hà Nội, chỉ tính trong giai đoạn 3 năm từ 2003 đến 2006
đã có gần 90.000 lao động mất việc làm. Tính đến hết năm 2007, Hà Nội có
khoảng 200.000 người thất nghiệp do mất đất sản xuất. Thành phố đã có
nhiều giải pháp như hỗ trợ đào tạo nghề cho một người trong độ tuổi lao động
là 3,8 triệu đồng, tuy nhiên việc sử dụng khoản hỗ trợ này chưa có hiệu quả.
Tại thành phố Hồ Chí Minh thì trong vòng năm năm trở lại đây, Thành
phố đã triển khai 412 dự án, diện tích đất đã thu hồi của các hộ dân lên tới
60.203.074m2; tổng số hộ bị ảnh hưởng là 53.853 hộ trong đó có 20.014 hộ bị
giải tỏa trắng; tổng dự toán chi phí bồi thường cho các hộ dân khi Nhà nước
thu hồi đất lên tới hơn 12.300 tỷ đồng. Tuy nhiên, nhiều người sau khi nhận
tiền bồi thường, tiền hỗ trợ đã sử dụng vào việc mua sắm phương tiện đi lại,
vật dụng sinh hoạt chứ không chú tâm đến việc học nghề, giải quyết việc làm.
Có gia đình trở nên giầu có sau khi nhận tiền bồi thường (có cả tỷ đồng)
nhưng chỉ sau một vài năm lại rơi vào tình cảnh khó khăn do thất nghiệp.
Trước khi bị thu hồi đất, phần lớn người dân đều có cuộc sống ổn định

18


vì họ có đất sản xuất có tư liệu sản xuất mà đất sản xuất, tư liệu sản xuất đó
được để thừa kế từ thế hệ này cho các thế hệ sau. Sau khi bị thu hồi đất, đặc
biệt là những hộ nông dân bị thu hồi hết đất sản xuất, điều kiện sống và sản
xuất của hộ bị thay đổi hoàn toàn. Mặc dù nông dân được giải quyết bồi
thường bằng tiền, song họ vẫn chưa định hướng ngay được những ngành nghề
hợp lý để có thể ổn định được cuộc sống.
Trong những năm vừa qua cùng với quá trình phát triển KCN, hiện đại
hóa đất nước thì một diện tích lớn đất nông nghiệp ở các vùng nông thôn đã
được chuyển sang đất công nghiệp và đô thị. Người dân không còn đất canh
tác buộc phải chuyển đổi sang các ngành sản xuất khác, trong số đó có ngành
chăn nuôi, đặc biệt là nuôi các loại gia súc, gia cầm như: lợn, gà, trâu,
bò...Mặt khác, do tác động của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần nên
hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ hộ gia đình dần bị xóa bỏ và chuyển dần sang hình
thức chăn nuôi theo quy mô lớn hơn. Chính việc gia tăng số lượng vật nuôi
một cách đột ngột cùng với cơ sở hạ tầng chuồng trại không đảm bảo, trình độ
quản lý của người dân thấp, cộng với ý thức bảo vệ môi trường của người dân
không cao dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước do nước thải, phân thải ra
từ hoạt động chăn nuôi ở nhiều vùng nông thôn nước ta.
Ở các tỉnh miền Trung, theo kết quả khảo sát tại 5 tỉnh (Quảng Bình,
Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi và Ninh Thuận) cho thấy việc nuôi
tôm trên cát phát triển khá nhanh. Năm 1999, nuôi tôm trên cát được bắt đầu
từ một hộ gia đình ở huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận với diện tích 0,5ha.
Đến năm 2002, diện tích nuôi tôm đã lên tới 300ha/14.000ha bãi có khả năng
phát triển. Tính trung bình tổng khối lượng nước cung cấp cho 1ha nuôi tôm
trong 1 vụ khoảng 54.600m3, trong đó có từ 30-50% là nước ngọt, mà phần
lớn là nguồn nước cấp chủ yếu khai thác từ nước ngầm. Việc nuôi tôm trên
cát không chỉ tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước mặt từ nguồn nước

19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×