Tải bản đầy đủ

Các biện pháp trừng phạt bằng vũ lực của liên hợp quốc

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THỊ THANH TUYỀN

CÁC BIỆN PHÁP TRỪNG PHẠT BẰNG VŨ
LỰC CỦA LIÊN HỢP QUỐC

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THỊ THANH TUYỀN

CÁC BIỆN PHÁP TRỪNG PHẠT BẰNG VŨ
LỰC CỦA LIÊN HỢP QUỐC
Chuyên ngành: Luật Quốc tế

Mã số: 60 38 01 08

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN BÁ DIẾN

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và
trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các
nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN


MỤC LỤC

Trang
Lời cam đoan
Danh mục chữ viết tắt
LỜI MỞ ĐẦU..................................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: NGUYÊN TẮC, ĐIỀU KIỆN, CƠ SỞ PHÁP LÝ ÁP DỤNG
CÁC BIỆN PHÁP TRỪNG PHẠT BẰNG VŨ LỰC CỦA LIÊN HỢP QUỐC 3
1.1. Tôn chỉ, mục đích và vai trò của Liên hợp quốc trong việc giữ gìn hoà bình,
an ninh thế giới. ..................................................................................................... 3
1.1.1. Tôn chỉ, mục đích của Liên hợp quốc ......................................................... 3
1.1.2 Nguyên tắc hoạt động................................................................................... 4
1.1.3. Vai trò của Liên Hợp Quốc ......................................................................... 4
1.2. Các biện pháp trừng phạt của LHQ trong việc giữ gìn hoà bình, an ninh thế
giới ...................................................................................................................... 7
1.2.1 Biện pháp trừng phạt phi vũ trang ............................................................... 7
1.2.2 Biện pháp trừng phạt bằng vũ lực................................................................ 9
1.3 Cơ sở pháp lý để Hội đồng bảo an áp dụng biện pháp trừng phạt bằng vũ lực
.................................................................................................................... 15

1.4 Nguyên tắc, điều kiện và trình tự thủ tục Hội đồng bảo an áp dụng biện pháp
trừng phạt bằng vũ lực......................................................................................... 19
1.4.1 Nguyên tắc áp dụng biện pháp trừng phạt................................................. 19
1.4.2. Điều kiện để Hội đồng bảo an áp dụng các biện pháp trừng phạt bằng vũ
lực ........................................................................................................................ 22
1.4.3. Quy trình thủ tục áp dụng các biện pháp trừng phạt bằng vũ lực của Hội
đồng bảo an ......................................................................................................... 23
CHƢƠNG 2:THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TRỪNG PHẠT
BẰNG VŨ LỰC CỦA HỘI ĐỒNG BẢO AN .......................................................... 27
2.1. Liên hợp quốc áp dụng trừng phạt bằng vũ lực qua các giai đoạn .............. 27
2.1.1 Thời kỳ chiến tranh lạnh: ........................................................................... 27


2.1.2. Giai đoạn kết thúc chiến tranh lạnh cho đến nay ..................................... 32
2.2. Đánh giá về các biện pháp trừng phạt bằng vũ lực của Liên hợp quốc ....... 57
2.2.1. Tính hợp pháp của các biện pháp trừng phạt bằng vũ lực ....................... 57
2.2.2. Ưu điểm của các biện pháp trừng phạt bằng vũ lực........................................... 62
2.2.3. Hạn chế của các biện pháp trừng phạt bằng vũ lực ................................. 63
CHƢƠNG 3:GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC ÁP DỤNG
CÁC BIỆN PHÁP TRỪNG PHẠT BẰNG VŨ LỰC CỦA LIÊN HỢP QUỐC
............................................................................................................................................ 74
3.1. Những kiến nghị nâng cao hiệu quả của việc trừng phạt bằng vũ lực của
Liên Hợp Quốc .................................................................................................... 74
3.1.1. Liên quan đến Nghị quyết về trừng phạt vũ lực ........................................ 74
3.1.2. Liên quan đến hiệu quả thực thi của các biện pháp trừng phạt bằng vũ lực .. 76
3.1.3 Cải tổ liên hợp quốc tăng cường giữ gìn hoà bình an ninh thế giới.......... 77
3.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình gìn giữ hoàn bình an
ninh quốc gia ....................................................................................................... 83
3.2.1. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trước các biện pháp trừng phạt bằng
vũ lực nói chung .................................................................................................. 83
3.2.2. Vai trò của Liên hợp quốc trong vấn đề tranh chấp Biển Đông............... 84
KẾT LUẬN...................................................................................................................... 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................... 93


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐHĐ

: Đại hội đồng Liên hiệp quốc;

HĐBA

: Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ;

ECOSOC

: Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên Hiệp Quốc;

ASEAN

: Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á;

PLO

: Tổ chức Giải phóng Palestine;

HENSINKI

: Định ước an ninh và hợp tác châu Âu được ký tại
Helsinki ngày 01/8/1975;

La Haye

: Tòa án công lý quốc tế;

Chính phủ độc tài CS

: Chính phủ Siad Barre;

UNITA

: Cơ chế Gián sát về trừng phạt của liên minh quốc gia
vì sự độc lập, toàn vẹn của Angola;

Al-Qaeda

: Tổ chức al-Qaeda (tiếng Ả Rập: ‫ال قاعدة‬, "El-Qā'idah"
hay "Al-Qā'idah") là một tổ chức vũ trang bắt nguồn từ
những

người

Hồi

Giáo

Sunni do Osama

bin

Laden thành lập;
USD

: Đồng đô la Mỹ hay Mỹ kim, USD (tiếng Anh: United
States dollar), còn được gọi ngắn là "đô la" hay "đô",
là đơn vị tiền tệ chính thức của Hoa Kỳ;

Pol Pot

: Chế độ diệt chủng Pol Pot;

PICC

: Chủ tịch Hội nghị quốc tế Paris về Campuchia;

SNC

: Chủ tịch Hội đồng Quốc gia Tối cao của Campuchia;

NGOs

: Tổ chức quốc tế phi chính phủ về nhân đạo;

NATO

: Khối quân sự Bắc Đại Tây Dương;

UNCLOS

Công ước liên hiệp quốc về Luật biển;

DOC

Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông còn gọi
là Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Nam Trung Hoa.


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ khi ra đời cho đến nay, Liên hợp quốc luôn đóng vai trò là tổ chức quốc tế
có ảnh hưởng to lớn nhất trên thế giới. Bằng thẩm quyền được các quốc gia thành viên
trao cho, Liên hợp quốc nói chung & Hội đồng Bảo an nói riêng đã thể hiện vai trò
quan trọng của mình trong việc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế đảm bảo giữ
vững hòa bình, an ninh thế giới cũng như đấu tranh chống các hành vi xâm lược.
Trong số rất nhiều biện pháp được Hội đồng Bảo an sử dụng nhằm thực hiện sứ mệnh
của mình, các biện pháp trừng phạt bằng vũ lực là những biện pháp trừng phạt nghiêm
khắc và với tình hình an ninh quốc tế phức tạp như hiện nay thì đây là biện pháp mà
Liên hợp quốc cũng như cộng đồng quốc tế quan tâm. Đặc biệt, sau khi chiến tranh
lạnh kết thúc, biện pháp này được Hội đồng Bảo an sử dụng phổ biến hơn bất kì thời kì
nào trước đó. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu quan trọng đạt được, trong các
thập niên gần đây, người ta bắt đầu bàn luận nhiều hơn tới những tác động tiêu cực của
các biện pháp trừng phạt bằng vũ lực & đôi lúc khía cạnh tiêu cực này còn trở thành
chủ để bàn tán được quan tâm hơn cả những tác dụng mà các biện pháp này đã đạt
được. Hơn thế nữa, trong một thế giới mà xu thế đối thoại, hợp tác đang ngày càng
mạnh mẽ thì các biện pháp trừng phạt bằng vũ lực với tâm điểm là việc dùng lực lượng
quân sự, vũ khí tối tân đang ngày càng có những ảnh hưởng to lớn đối với không chỉ
quốc gia là mục tiêu của các biện pháp trừng phạt mà còn cả đối với các quốc gia khác.
Chính vì những lý do trên mà việc nghiên cứu những vấn đề xung quanh các biện pháp
trừng phạt bằng vũ lực trở nên vô cùng hấp dẫn. Đây cũng chính là lý do tại sao em
chọn đề tài “các biện pháp trừng phạt bằng vũ lực của Liên Hiệp Quốc” là đề tài
luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề pháp lý & thực tiễn của các biện pháp trừng
phạt bằng vũ lực của LHQ, trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu
quả của việc áp dụng các biện pháp này.
3. Đối tƣợng & phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: những vấn đề pháp lý & thực tiễn của các biện pháp
trừng phạt bằng vũ lực của LHQ.

1


- Phạm vi nghiên cứu: trong phạm vi luận văn, em chỉ tập trung nghiên cứu
các vấn đề liên quan tới đề tài như: cơ sở pháp lý; điều kiện áp dụng; cách thức tiến
hành; thực tiễn áp dụng các biện pháp trừng phạt bằng vũ lực của LHQ và đề xuất
những kiến nghị để khắc phục những bất cập khi Liên hợp quốc sử dụng trừng phạt
bằng vũ lực các quốc gia vi phạm luật quốc tế.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn áp dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu như sau:
-

Phương pháp thống kê;

-

Phương pháp so sánh;

-

Phương pháp phân tích tổng hợp.

5. Nội dung nghiên cứu
Ngoài lời mở đầu, kết luận & tài liệu tham khảo, luận văn được kế cấu thành 3
chương như sau:
-

Chương I: Nguyên tắc, điều kiện, cơ sở pháp lý áp dụng các biện pháp trừng
phạt bằng vũ lực của Liên hợp quốc.

-

Chương II: Thực tiễn áp dụng các biện pháp trừng phạt bằng vũ lực của
Liên hợp quốc.

-

Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các biện pháp
trừng phạt bằng vũ lực của Liên hợp quốc.

2


CHƢƠNG I
NGUYÊN TẮC, ĐIỀU KIỆN, CƠ SỞ PHÁP LÝ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP
TRỪNG PHẠT BẰNG VŨ LỰC CỦA LIÊN HỢP QUỐC
1.1. Tôn chỉ, mục đích và vai trò của Liên hợp quốc trong việc giữ gìn hoà
bình, an ninh thế giới.
1.1.1. Tôn chỉ, mục đích của Liên hợp quốc
Liên hợp quốc ra đời thực sự có ý nghĩa to lớn trong đời sống chính trị quốc tế
trong gần 70 năm qua. Đây là sự kiện quan trọng, đánh dấu sự xuất hiện của các hoạt
động ngoại giao đa phương hiện đại, một bước ngoặt quyết định trong lịch sử phát
triển của nền ngoại giao đa phương nói chung. Sự đóng góp của Liên Hợp Quốc đối
với hòa bình, an ninh thế giới, sự phát triển kinh tế- xã hội của cộng đồng các dân tộc
trong gần 70 năm qua là rất đáng kể. Đặc biệt, trong kỷ nguyên văn minh và toàn cầu
hóa hiện nay, Liên hợp quốc ngày càng khẳng định vai trò to lớn trong quan hệ quốc tế
hiện đại, khả năng hướng tới một tổ chức siêu quyền lực trên thế giới.
Theo Hiến chương Liên Hợp Quốc, các quốc gia sáng lập đã quyết tâm thiết lập
Liên hợp quốc thành một tổ chức quốc tế toàn cầu với mục tiêu hàng đầu là bảo đảm
một nền hoà bình và trật tự thế giới bền vững. Theo Điều 1 của Hiến chương, Liên hợp
quốc được thành lập nhằm 4 mục tiêu: (1) Duy trì hoà bình và an ninh quốc tế; (2)
Thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình
đẳng về quyền lợi giữa các dân tộc và nguyên tắc dân tộc tự quyết; (3) Thực hiện hợp
tác quốc tế thông qua giải quyết các vấn đề quốc tế trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội,
văn hoá và nhân đạo trên cơ sở tôn trọng các quyền con người và quyền tự do cơ bản
cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, màu da, ngôn ngữ và tôn giáo; (4) Xây
dựng Liên hợp quốc làm trung tâm điều hoà các nỗ lực quốc tế vì các mục tiêu chung.
Như vậy, các mục đích được nêu ra ở đây mang tính tổng quát và rộng. Trong
những thời điểm nhất định, quy định này đã gây nên những tranh cãi. Chẳng hạn, các
nước phương Tây thì cho rằng mục đích ưu tiên, thậm chí là tối cao của Liên hợp quốc
là gìn giữ hoà bình và an ninh thế giới.Trong khi các nước thuộc thế giới thứ ba thì lại
nhấn mạnh đến mục đích thúc đẩy hợp tác và giải quyết các vấn đề kinh tế, xã
hội,cũng như mục đích đảm bảo quyền dân tộc tự quyết của Liên hợp quốc.

3


1.1.2 Nguyên tắc hoạt động
Để bảo đảm Liên hợp quốc là một tổ chức quốc tế thực sự phục vụ mục tiêu
chung của cộng đồng quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc cũng quy định các nguyên
tắc hoạt động của tổ chức Liên hợp quốc, các nguyên tắc chủ đạo gồm: (1) Bình đẳng
về chủ quyền quốc gia; (2) Tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị quốc gia;
(3) Cấm đe doạ sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; (4) Không
can thiệp vào công việc nội bộ các quốc gia; (5) Giải quyết các tranh chấp quốc tế
bằng biện pháp hoà bình; (6) Tôn trọng các nghĩa vụ quốc tế và luật pháp quốc tế của
các quốc gia thành viên; (7) Hành động để đảm bảo các quốc gia không phải là thành
viên cũng tuân thủ các nguyên tắc của Hiến chương.
So với Hội quốc liên, Liên hợp quốc chứng tỏ đầy đủ hơn tính chất toàn cầu
(thành phần gồm hầu hết các quốc gia độc lập trên mọi châu lục) và đặc biệt là tính
toàn diện của nó: chương trình nghị sự không bó hẹp vào vấn đề duy trì hoà bình, an
ninh mà bao gồm cả việc thúc đẩy hợp tác vì phát triển kinh tế- xã hội của cộng đồng
các dân tộc. Bản thân hệ thống Liên hợp quốc bao gồm hàng loạt chương trình, quỹ, cơ
quan tổ chức chuyên môn tập trung vào mọi lĩnh vực của đời sống các quốc gia và
quan hệ quốc tế ngoài lĩnh vực chính trị - quốc phòng như: từ tiền tệ đến nông nghiệp,
văn hoá, khoa học–kỹ thuật…Tuy nhiên, sự ra đời của Liên hợp quốc và bản thân Hiến
chương Liên hợp quốc chưa đủ để bảo đảm sự bình đẳng hoàn toàn và triệt để giữa các
quốc gia lớn nhỏ.
1.1.3. Vai trò của Liên Hợp Quốc
Trải qua hơn 70 năm hình thành và phát triển, trở thành tổ chức quốc tế lớn nhất
hành tinh với gần 200 quốc gia thành viên, Liên hợp quốc đã có vai trò to lớn trong tất
cả các lĩnh vực của đời sống quốc tế, bao gồm: Duy trì, bảo vệ hòa bình và an ninh thế
giới; Thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của thế giới và hạnh phúc của nhân loại;
và đảm bảo và thúc đẩy quyền con người, cụ thể như sau:
a. Vai trò của Liên hợp quốc trong việc duy trì hòa bình và an ninh thế giới
Thực tiễn hoạt động của Liên hợp quốc trong hơn 70 năm qua đã cho thấy, vai
trò duy trì hòa bình thế giới của Liên hợp quốc được thể hiện thông qua các khía cạnh sau:
Thứ nhất, Xây dựng khung pháp lý nhằm duy trì hòa bình và an ninh thế giới.

4


Với tư cách là một tổ chức quốc tế trung tâm, Liên hợp quốc có vai trò rất lớn
trong việc xây dựng khung pháp lý nhằm duy trì hoà bình và an ninh thế giới.
Thứ hai, Giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế.
Thứ ba, duy trì hòa bình và đấu tranh chống xâm lược theo quy định tại chương
VII của Hiến chương.
Thứ tư, tiến hành các hoạt động gìn giữ hòa bình.
Thứ năm, ngăn ngừa và trừng trị nạn khủng bố.
Thứ sáu, xét xử tội phạm chiến tranh.
Thứ bảy, thực hiện các chương trình giải trừ quân bị.
b. Vai trò của Liên hợp quốc trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội của thế giới.
Tại hội nghị cấp cao thiên niên kỷ năm 2000 và hội nghị cấp cao năm 2005 kỷ
niệm 60 năm ngày thành lập LHQ được tổ chức tại trụ sở LHQ ở Niu Oóc, các vị lãnh
đạo các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam đã khẳng định rõ vai trò quan
trọng của LHQ, coi tổ chức toàn cầu này là nền tảng không thể thiếu cho một thế giới
hòa bình, thịnh vượng và công bằng hơn.
Trước hết, sứ mệnh cao cả của LHQ được ghi rõ trong những dòng đầu tiên của
Hiến chương LHQ là sự phản ánh nguyện vọng cháy bỏng của các dân tộc mới trải qua
những mất mát chưa từng có trong chiến tranh thế giới thứ hai - đó là ngăn ngừa một
cuộc chiến tranh thế giới mới. Nhận thức sâu sắc về sự cần thiết của một cơ sở toàn
diện cho hòa bình, các quốc gia thành viên đề ra mục đích hàng đầu của LHQ là duy
trì hòa bình và an ninh quốc tế. Đồng thời xác định những mục đích quan trọng khác
cho các hoạt động của LHQ là tăng cường quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc, thúc đẩy
hợp tác để giải quyết các vấn đề quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hóa, nhân đạo và bảo
đảm quyền con người. Các quốc gia cũng trao cho LHQ vai trò là trung tâm điều hòa
các hành động của các dân tộc hướng theo những mục đích đó.
Trong lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, việc tạo môi trường kinh tế, thương
mại, tài chính quốc tế bình đẳng và quan tâm thích đáng đến lợi ích của các nước đang
phát triển là ưu tiên trong hoạt động của LHQ. Trong đó có việc nhằm thúc đẩy vòng
đàm phán Doha hiện nay về thương mại vì sự phát triển. Từ năm 1960, Đại hội đồng
Liên hợp quốc đề ra các chiến lược phát triển cho từng thập kỷ nhằm huy động hợp tác

5


quốc tế cho các mục tiêu phát triển chung, nhất là ở các nước đang phát triển. Bên
cạnh đó, các tổ chức LHQ đã có sự hỗ trợ trực tiếp về vốn, tri thức cho các nỗ lực phát
triển kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục và y tế của các nước này. Tại diễn đàn này, các
quốc gia đã ký kết hơn 500 điều ước quốc tế đa phương quan trọng trong nhiều lĩnh
vực của giao lưu quốc tế, trong đó có Công ước về Luật biển (năm 1982), đưa ra
khuyến nghị định hướng cho các chủ đề của luật pháp quốc tế và xây dựng chuẩn mực
cho các lĩnh vực chuyên môn khác nhau.
Tại hội nghị cấp cao thế giới năm 2005, các nhà lãnh đạo các quốc gia đã nhất
trí về ý nghĩa sống còn của việc xây dựng một hệ thống đa phương hữu hiệu, lấy LHQ
làm trung tâm nhằm đối phó với những thách thức đa dạng, toàn cầu như hiện nay. Tại
các hội nghị thiên niên kỷ năm 2000, hội nghị cấp cao năm 2005 và mới đây nhất là
phiên thảo luận cấp cao chung khóa 62 LHQ có sự tham dự của Thủ tướng Chính phủ
Nguyễn Tấn Dũng của Việt Nam. Các vị lãnh đạo các quốc gia đã đề ra những định
hướng lớn cho công việc của LHQ trong thời gian tới. Ðó là thúc đẩy mạnh mẽ việc
xây dựng các mối quan hệ quốc tế công bằng, lành mạnh dựa trên cơ sở luật pháp quốc
tế và các nguyên tắc của Hiến chương LHQ. Đóng góp tích cực vào việc thu hẹp
khoảng cách phát triển giữa các nước, trong đó có việc thực hiện các mục tiêu phát
triển thiên niên kỷ; để toàn cầu hóa trở thành một lực lượng tích cực đối với toàn thể
nhân dân thế giới; thực hiện cải tổ toàn diện LHQ. Hiện nay, LHQ đang triển khai
nhiều biện pháp cụ thể theo các định hướng này. Thực tế cho thấy những nhân tố quyết
định thành công các hoạt động của LHQ là ý chí chính trị của các quốc gia và sự tôn
trọng những nguyên tắc của Hiến chương LHQ.
c. Vai trò của Liên hợp quốc trong việc đảm bảo quyền con ngƣời
Trong lĩnh vực bảo đảm, thúc đẩy quyền con người, vai trò của Liên hợp quốc
được thể hiện như sau:
Thứ nhất,xây dựng được một khung pháp lý thống nhất liên quan đến các
chuẩn mực về quyền con người.
Với tư cách là diễn đàn quốc tế lớn nhất trên thế giới, hơn 70 năm qua, Liên
hợp quốc đã có những đóng góp to lớn cho sự tiến bộ chung của nhân loại, trong đó có
quyền con người. Nỗ lực của Liên hợp quốc trong việc ghi nhận và hỗ trợ thực thi
quyền con người được thể hiện thông qua một số mốc lịch sử đáng lưu ý sau:

6


Ngày 26/06/1945, Hiến chương Liên hợp quốc, văn kiện quan trọng nhất của tổ
chức này, được thông qua tại San Francisco (Hoa Kỳ). Ngay tại khoản 03 điều 01Liên
hợp quốc đã nhấn mạnh đến vai trò “thúc đẩy và khuyến khích sự tôn trọng quyền con
người và các quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người mà không phân biệt chủng tộc,
giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo”. Hiến chương cũng kêu gọi tất cả các quốc gia hành
động và cùng phối hợp với Liên hợp quốc để đạt được việc tôn trọng và thực hiện
quyền con người trên phạm vi toàn thế giới.
Thứ hai, xây dựng được những cơ chế giám sát, thúc đẩy việc thực hiện và bảo
vệ những quyền này,
Lần đầu tiên, vấn đề quyền con người trở thành một mục tiêu hành động của
Liên hợp quốc và là một nội dung điều chỉnh của luật quốc tế hiện đại. Trong những
năm gần đây, Liên hợp quốc đã tuyên bố quyền con người phải trở thành đối tượng
của Liên hợp quốc và cần phải được xem xét trong tất cả các lĩnh vực trách nhiệm của
tổ chức lớn nhất hành tinh này. Quyền con người được lồng ghép vào tất cả các
chương trình liên quan như gìn giữ hòa bình, quyền trẻ em, sức khỏe, phát triển xã hội,
xóa đói nghèo, các quyền của người bản địa...
1.2. Các biện pháp trừng phạt của LHQ trong việc giữ gìn hoà bình, an
ninh thế giới
1.2.1 Biện pháp trừng phạt phi vũ trang
Tại điều 41 Hiến chương Liên hợp quốc đã ghi nhận: Hội đồng bảo an có thẩm
quyền quyết định những biện pháp nào phải được áp dụng mà không liên quan tới việc
sử dụng vũ lực để thực hiện các NQ của Hội đồng và có thể yêu cầu các thành viên
Liên hợp quốc áp dụng những biện pháp ấy. Các biện pháp này có thể là cắt đứt toàn
bộ hay từng phần quan hệ kinh tế, đường sắt, đường hàng hải, hàng không, bưu chính,
điện tín, vô tuyến điện và các phương tiện liên lạc khác, kể cả cắt đứt quan hệ ngoại
giao”. Như vậy, các biện pháp trừng phạt phi vũ trang có thể là các biện pháp về kinh
tế, tài chính, ngoại giao…
Từ đây, có thể đưa ra định nghĩa tương đối khái quát về các biện pháp trừng
phạt phi vũ trang của Hội đồng bảo an như sau: “Trừng phạt phi vũ trang là việc Hội
đồng bảo an sử dụng các biện pháp kinh tế, tài chính, ngoại giao hay các biện pháp

7


khác không sử dụng tới lực lượng vũ trang nhằm tác động một cách gián tiếp hay trực
tiếp tới chủ thể bị trừng phạt theo các quy định hiện hành của luật pháp quốc tế”.
Theo định nghĩa này, có thể nêu ra đặc trưng của các biện pháp trừng phạt phi
vũ trang do Hội đồng bảo an áp dụng như sau:
-

Được Hội đồng bảo an thông qua trên cơ sở các nghị quyết có tính bắt buộc

đối với các quốc gia thành viên;
-

Đây là những biện pháp không liên quan tới việc sử dụng vũ lực nhằm thực

hiện các nghị quyết của Hội đồng bảo an.
Khác với biện pháp trừng phạt vũ trang hay các biện pháp khác được Hội đồng
bảo an sử dụng nhằm thực hiện mục tiêu gìn giữ hòa bình và an ninh thế giới.Các biện
pháp trừng phạt phi vũ trang có phạm vi rất rộng. Theo quy định tại điều 41 Hiến
chương Liên hợp quốc “Những biện pháp trừng phạt có thể gồm việc đình chỉ một
phần hay toàn bộ những quan hệ kinh tế, đường sắt, hàng hải, hàng không, bưu chính,
điện tín, vô tuyến điện & các phương tiện liên lạc khác, cũng như việc cắt đứt quan hệ
ngoại giao”. Trên thực tế, các biện pháp trừng phạt thường áp dụng bao gồm:
-

Cấm xuất khẩu, nhập khẩu những hàng hóa nhất định;

-

Phong tỏa tài sản của các ngân hàng, cá nhân, tổ chức của quốc gia đó tại

nước ngoài mà có liên quan tới các họat động đe dọa hòa bình và an ninh thế giới;
-

Cấm mọi giao dịch kinh tế, thương mại của quốc gia đó với các quốc gia khác;

-

Cấm, hạn chế việc đi lại của công dân quốc gia đó;

-

Cấm, hạn chế thực hiện các họat động giao thông với bên ngoài bằng những

phương tiện nhất định;
-

Yêu cầu các nước thành viên Liên hợp quốc không được mua bán, chuyển

giao một cách trực tiếp hay gián tiếp bất kì loại hàng hóa, công nghệ nào liên quan tới
các họat động đe dọa hòa bình và an ninh thế giới của quốc gia vi phạm cũng như các
loại hàng hóa xác định khác, ngoại trừ các nhu yếu phẩm thiết yếu cho đời sống;
phong hóa, đóng băng các quỹ, các trợ giúp về mặt tài chính.
Việc chấp hành những quy định này của các nước thành viên phải được báo cáo
bằng văn bản lên Hội đồng bảo an trong khoảng thời gian xác định kể từ ngày nghị
quyết của Hội đồng bảo an được thông qua.

8


1.2.2 Biện pháp trừng phạt bằng vũ lực
Tại Điều 42 của Hiến chương Liên hợp quốc với quy định miêu tả về nội hàm
của thuật ngữ “trừng phạt bằng vũ lực”, cụ thể như sau: “Nếu Hội đồng bảo an nhận
thấy những biện pháp nói ở điều 41 là không thích hợp, hoặc tỏ ra là không thích hợp,
thì Hội đồng bảo an có quyền áp dụng mọi hành động của hải, lục, không quân mà
Hội đồng bảo an xét thấy cần thiết cho việc duy trì hoặc khôi phục hoà bình và an
ninh quốc tế. Những hành động này có thể là những cuộc biểu dương lực lượng,
phong toả và những cuộc hành quân khác, do các lực lượng hải, lục, không quân của
các quốc gia thành viên Liên hợp quốc thực hiện”.
Theo Điều 2 và Điều 4 Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 “Các thành viên
của Liên hợp quốc từ bỏ đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế
nhằm chống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất kỳ
quốc gia nào, cũng như sử dụng bất kỳ cách thức nào khác, trái với các mục tiêu của
Liên hợp quốc”. Tuy nhiên, Hiến chương lại không đưa ra định nghĩa về “sử dung vũ
lực”. Trong phán quyết ngày 27/06/1986, Tòa quốc tế LaHay đã suy từ nguyên tắc
không sử dụng vũ lực để khẳng định quốc gia có nghĩa vụ “không tổ chức hay khuyến
khích tổ chức các lực lượng không chính quy hoặc các băng nhóm vũ trang, đặc biệt là
các băng nhóm đánh thuê nhằm mục đích xâm nhập vào lãnh thổ một nước khác cũng
như không tổ chức hay khuyến khích các hoạt động nội chiến hay các hoạt động khủng
bố trên lãnh thổ một nước khác, không giúp đỡ hay tham gia các hoạt động kể trên
hoặc cho phép các tổ chức hoạt động trên lãnh thổ nước mình nhằm thực hiện các
hoạt động trên, nếu các hoạt động được nêu trong đoạn này có liên quan đến đe dọa
hoặc sử dụng vũ lực”.
Theo nguyên tắc này và trên cơ sở phân tích các văn kiện của Liên hợp quốc,
các quy phạm luật quốc tế và thực tiễn quốc tế, “sử dụng vũ lực” trước tiên được hiểu
là sử dụng lực lượng vũ trang để chống lại quốc gia có độc lập chủ quyền. Việc một
quốc gia sử dụng vũ lực vi phạm nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế trước hết là việc
quốc gia sử dụng lực lượng vũ trang tấn công vào lãnh thổ quốc gia khác nhằm mục
đích xâm lược lâu dài hoặc chiếm đóng trong một thời gian nhất định nhằm buộc quốc
gia khác phải phục tùng mình, phục vụ cho lợi ích của mình. Việc sử dụng các phương
tiện khác như kinh tế, chính trị cũng có thể được coi là sử dụng vũ lực trong nguyên

9


tắc cấm dùng vũ lực nếu ảnh hưởng của nó dẫn đến kết quả là các biện pháp quân sự
được áp dụng. Chúng ta có thể gọi các biện pháp gián tiếp sử dụng vũ lực hoặc các
biện pháp phi vũ trang.
Thông qua việc phân tích thuật ngữ “vũ lực”, “sử dụng vũ lực”, kết hợp với
việc làm rõ nội hàm của thuật ngữ “trừng phạt” và các quy định tại điều 42 của Hiến
chương Liên hợp quốc năm 1945 có thể hiểu: “Trừng phạt bằng vũ lực của Liên hợp
quốc là việc Liên hợp quốc sử dụng các lực lượng vũ trang, bao gồm hải, lục, không
quân của các quốc gia thành viên Liên hợp quốc tiến hành những cuộc biểu dương lực
lượng, phong toả và những cuộc hành quân khác khi xét thấy các biện pháp trừng phạt
phi vũ trang không thích hợp hoặc tỏ ra không thích hợp nhằm nhằm tác động một
cách trực tiếp hoặc gián tiếp tới chủ thể bị trừng phạt theo các quy định hiện hành của
luật quốc tế”.
Nhằm duy trì và bảo vệ hòa bình và an ninh quốc tế, biện pháp “trừng phạt
bằng vũ lực” đã được Hội đồng Bảo an áp dụng trong nhiều trường hợp chẳng hạn như
trường hợp của Iraq năm 1990; Somalia năm 1992; Nam Tư cũ năm 1993; Ruvanda
năm 1994, Cộng Hòa Trung Phi năm 1997…
a. Các đặc trƣng cơ bản của biện pháp “trừng phạt bằng vũ lực”
Với cách hiểu như trên, các biện pháp “trừng phạt bằng vũ lực” bao gồm các
đặc trưng sau:
Thứ nhất, chủ thể có quyền ra quyết định áp dụng các biện pháp trừng phạt là
Hội đồng bảo an Liên hợp quốc- cơ quan có trách nhiệm chính trong việc gìn giữ hòa
bình và an ninh thế giới, hành động nhân danh các quốc gia thành viên. Theo đó, để áp
đặt chế độ trừng phạt bằng vũ lực theo quy định của Hiến chương Liên hợp quốc, từ
giai đoạn tạo cơ sở pháp lý đến lúc triển khai thực hiện, Hội đồng bảo an được Liên
hợp quốc giao cho quyền hạn này.
Thứ hai, chủ thể trực tiếp tiến hành các biện pháp trừng phạt là quân đội (bao
gồm tất cả các lực lượng vũ trang từ hải, lục cho đến không quân) do các quốc gia
đóng góp vào Liên hợp quốc; quân đội riêng của các quốc gia thành viên hoặc của
quân đội của các tổ chức khu vực, tiêu biểu như tổ chức quân sự Bắc Đại Tây Dương.
Thứ ba, đối tượng bị áp dụng các biện pháp trừng phạt vũ trang có thể là một
quốc gia, một nhóm quốc gia, hay một tổ chức liên chính phủ.

10


Thứ tư, về tính chất: “Trừng phạt bằng vũ lực” mang tính chất cưỡng chế, bắt
buộc thi hành và tính tập thể. Trong đó, tính cưỡng chế, bắt buộc thi hành được thể
hiện ở việc biện pháp nàyđược Hội đồng Bảo an thông qua trên cơ sở các nghị quyết
có tính bắt buộc đối với các quốc gia thành viên. Khi lệnh trừng phạt của Hội đồng bảo
an đối với một chủ thể nào đó có hiệu lực thì bất kì thành viên nào của Liên hợp quốc
cũng phải tuân thủ một cách triệt để và phải như nhau không phụ thuộc vào quan hệ cụ
thể của họ đối với quốc gia vi phạm. Tính tập thể được thể hiện ở việc những biện
pháp này do nhiều quốc gia cùng đồng loạt áp dụng và tiến hành theo một cơ chế
thống nhất.
Thứ năm, về điều kiện áp dụng: Các biện pháp “trừng phạt bằng vũ lực” chỉ
được thực hiện trong trường hợp xét thấy các biện pháp trừng phạt phi vũ trang không
thích hợp hoặc tỏ ra không thích hợp. Với quy định này, Hội đồng bảo an Liên hợp
quốc không loại trừ việc áp dụng các biện pháp trừng phạt phi vũ trang.Do đó, trong
quá trình áp dụng các biện pháp trừng phạt bằng vũ lực, Hội đồng bảo an Liên hợp
quốc có thể vẫn tiến hành áp dụng các biện pháp trừng phạt phi vũ trang như: Cấm
xuất khẩu, nhập khẩu những hàng hóa nhất định;Phong tỏa tài sản của các ngân hàng,
cá nhân, tổ chức của quốc gia đó tại nước ngoài mà có liên quan tới các họat động đe
dọa hòa bình và an ninh thế giới; Cấm mọi giao dịch kinh tế, thương mại của quốc gia
đó với các quốc gia khác; Cấm, hạn chế việc đi lại của công dân quốc gia đó; Cấm,
hạn chế thực hiện các họat động giao thông với bên ngoài bằng những phương tiện
nhất định; Yêu cầu các nước thành viên Liên hợp quốc không được mua bán, chuyển
giao một cách trực tiếp hay gián tiếp bất kì loại hàng hóa, công nghệ nào liên quan tới
các họat động đe dọa hòa bình, an ninh thế giới của quốc gia vi phạm cũng như các
loại hàng hóa xác định khác, ngoại trừ các nhu yếu phẩm thiết yếu cho đời sống;
phong hóa, đóng băng các quỹ, các trợ giúp về mặt tài chính…
Thứ sáu: về các hình thức thể hiện: Tùy vào mức độ, hành vi nguy hiểm cho xã
hội và tổng thể thiệt hại đã gây ra mà biện pháp “trừng phạt bằng vũ lực” thể hiện dưới
các hình thức khác nhau như: tấn công quân sự; biểu dương lực lượng; phong toả; bao
vây; cấm vận vũ khí…
b. Mục đích, vai trò của các biện pháp trừng phạt bằng vũ lực của Liên Hợp Quốc
Thực tiễn áp dụng các biện pháp trừng phạt bằng vũ lực của liên hợp quốc cho thấy
mục đích, vai trò của những biện pháp này được thể hiện trên những khía cạnh sau:

11


Thứ nhất, “Trừng phạt bằng vũ lực” là công cụ để thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của Hội đồng bảo an trong quá trình duy trì hòa bình và an ninh thế giới. Để có thể
thực hiện được chức năng của mình trong việc duy trì hòa bình và an ninh thế giới,
Hội đồng bảo an đã áp dụng rất nhiều biện pháp khác nhau dựa trên những quy định
chung của luật quốc tế, quy chế họat động của Hội đồng bảo an và đặc biệt là dựa trên
diễn biến của tình hình cụ thể, chẳng hạn: Nhằm giải quyết các tranh chấp hoặc tình
thế nếu kéo dài có thể ảnh hưởng tới hòa bình và an ninh thế giới, Hội đồng bảo an có
thể tự mình hoặc theo yêu cầu của các quốc gia liên quan hoặc trên cơ sở đề nghị của
Tổng thư ký hoặc Đại hội đồng: i) Yêu cầu các bên giải quyết tranh chấp bằng phương
pháp hòa bình như đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, sử dụng các tổ
chức hoặc điều ước khu vực, hoặc bằng các biện pháp tự chọn khác; ii) Tiến hành điều
tra; iii) Kiến nghị các thủ tục hoặc phương thức giải quyết thích đáng. Bên cạnh đó,
trên cơ sở xác định những trường hợp đe dọa hòa bình, phá hoại hòa bình hoặc có hành
vi xâm lược, Hội đồng bảo an sẽ quyết định các biện pháp cần thiết nhằm duy trì hòa
bình và an ninh thế giới, trong đó có biện pháp “trừng phạt bằng vũ lực”. Như vậy có
thể khẳng định: “Trừng phạt bằng vũ lực” là một trong những công cụ để Hội đồng
bảo an Liên hợp quốc thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của mình. Thông qua biện
pháp này, Hội đồng bảo an có có thể buộc các quốc gia vi phạm phải tuân thủ các cam
kết quốc tế, đồng thời loại bỏ được các hành xâm hại hoặc đe dọa hòa bình và an ninh
thế giới.
Thứ hai, với tính chất là những biện pháp cưỡng chế của Liên hợp quốc, các
biện pháp trừng phạt bằng vũ lực được sử dụng nhằm mục đích đảm bảo thi hành các
nghị quyết của của Hội đồng bảo an nói riêng và Liên hợp quốc nói chung. Mục tiêu
này xuất phát từ thực tế là các Nghị quyết của của Hội đồng bảo an có hiệu lực pháp lý
bắt buộc và các quốc gia thành viên có nghĩa vụ phải tuân thủ đầy đủ, phù hợp với
hiến chương Liên hợp quốc. Tuy nhiên, không phải lúc nào quy định này cũng được
các quốc gia thành viên tuyệt đối tuân thủ và sự vi phạm chính là cơ sở để Hội đồng
bảo an ban hành những biện pháp cần thiết nhằm điều chỉnh thái độ và cách ứng xử
của các chủ thể sao cho phù hợp với luật pháp quốc tế. Bằng việc trực tiếp tác động tới
lợi ích của quốc gia vi phạm, các biện pháp trừng phạt bằng vũ lực tác động tới hành
vi, ứng xử của các quốc gia, đặt các quốc gia vào một trong hai chọn lựa là tiếp tục vi
phạm những nguyên tắc, quy định của Hiến chương Liên hợp quốc nói riêng và luật
quốc tế nói chung và phải gánh chịu những hậu quả bất lợi từ các biện pháp trừng phạt

12


hay chấp hành đầy đủ những yêu cầu pháp lý đặt ra để những quyền lợi của mình được
khôi phục.
Thứ ba, “Trừng phạt bằng vũ lực” có vai trò quan trọng trong việc gắn kết các
quốc gia trong việc cùng thực hiện một mục tiêu chung của nhân loại. Điều này cũng
xuất phát từ tính chất bắt buộc của nghị quyết do Hội đồng bảo an ban hành.Theo đó,
khi các biện pháp trừng phạt dưới sự chỉ đạo của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, các
quốc gia chọn một mục tiêu chung.Mục tiêu chung“Trừng phạt bằng vũ lực” mang
tính chất cưỡng chế, bắt buộc thi hành và mang tính tập thể. Trong đó, tính cưỡng chế,
bắt buộc thi hành được thể hiện ở việc biện pháp nàyđược Hội đồng Bảo an thông qua
trên cơ sở các Nghị quyết có tính bắt buộc đối với các quốc gia thành viên và khi lệnh
trừng phạt của Hội đồng bảo an đối với một chủ thể nào đó có hiệu lực thì bất kì thành
viên nào của Liên hợp quốc cũng phải tuân thủ một cách triệt để và phải như nhau,
không phụ thuộc vào quan hệ cụ thể của họ đối với quốc gia vi phạm. Tính tập thể
được thể hiện ở việc những biện pháp này do nhiều quốc gia cùng đồng loạt áp dụng và
tiến hành theo một cơ chế thống nhất dưới sự điều khiển của một cơ chế thống nhất;
Thứ tư, thể hiện sự quyết tâm của cộng đồng quốc tế trong việc lên án, phản
đốicác hành vi phạm luật quốc tế: Bằng việc thông qua một nghị quyết về trừng phạt
của Hội đồng bảo an, các biện pháp trừng phạt bằng vũ lực thể hiện sự lên án, phản đối
mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế đối với hành vi của quốc gia vi phạm. Trước những
hành vi có nguy cơ đe dọa tới hòa bình và an ninh thế giới, tất cả các quốc gia với tinh
thần yêu chuộng hòa bình mong muốn nhanh chóng thống nhất những biện pháp hữu
hiệu để có thể đẩy lùi nguy cơ này, và một Nghị quyết được thông qua chính là sự thể
hiện rõ ràng nhất mong muốn đó. Điều này cũng đồng nghĩa với việc quốc gia vi phạm
sẽ phải đối mặt với rất nhiều bất lợi khi trở thành mục tiêu của sự trừng phạt.
Thứ năm, góp phần nâng cao nhận thức và quyết tâm tôn trọng pháp luật quốc
tế của các chủ thể.Các biện pháp “trừng phạt vũ lực” có những tác động tích cực tới ý
thức các hành vi tôn trọng luật pháp quốc tế của các chủ thể Luật quốc tế. Cụ thể,
những hạn chế đối với các quốc gia mục tiêu được tạo ra trên cơ sở các biện pháp
trừng phạt phi vũ trang chính là lời cảnh báo sâu sắc tới tất cả các chủ thể khác của
Luật quốc tế về một hệ quả xấu có thể xảy ra nếu bất cứ chủ thể nào cố ý vi phạm các
quy định của luật pháp quốc tế. Điều này buộc các chủ thể phải có những cân nhắc thận

13


trọng trước khi có bất cứ hành vi nào có khả năng đe dọa hòa bình và an ninh thế giới.
Đây không chỉ là mục đích riêng của các biện pháp trừng phạt mà là mục đích chung của
tất cả các biện pháp cưỡng chế được quy định trong hiến chương Liên hợp quốc.
c. Mối quan hệ giữa các biện pháp trừng phạt bằng vũ lực và trừng phạt
phi vũ trang trong duy trì hoà bình và an ninh thế giới của Hội đồng bảo an
Chương VII Hiến chương Liên hợp quốc quy định những biện pháp được áp
dụng trong trường hợp hòa bình và an ninh thế giới bị đe dọa, bị phá hoại hoặc có hành
vi xâm lược. Cụ thể, theo quy định tại Điều 39, Hội đồng bảo an có thẩm quyền trong
việc xác định hành vi nào đó là sự đe dọa, phá hoại hòa bình hay xâm lược, từ đó đưa
ra những kiến nghị hoặc quyết định những biện pháp nào nên áp dụng phù hợp với các
Điều 41 và 42 để duy trì hoặc khôi phục hòa bình và an ninh thế giới. Các biện pháp
được nêu ở Điều 41, 42 được chia làm 2 loại: các biện pháp trừng phạt phi vũ trang và
các biện pháp trừng phạt bằng vũ lực. Tuy nhiên, Điều 39 trên lại không xác định rõ
loại và tính chất của kiến nghị mà Hội đồng bảo an có thể thông qua trong các trường
hợp trên. Điều này có nghĩa là Hội đồng bảo an có thể thông qua mọi loại kiến nghị.
Bên cạnh đó, để ngăn chặn tình thế trở nên nghiêm trọng hơn, trước khi đưa ra những
kiến nghị hoặc quyết định yêu cầu các bên đương sự thi hành các biện pháp tạm thời
mà Hội đồng bảo an xét thấy cần thiết hoặc nên làm (Điều 40). Như vậy, trước khi các
biện pháp trừng phạt phi vũ trang hoặc vũ trang được áp dụng thì các biện pháp tạm
thời có thể được áp dụng khi cần thiết.
Để gây áp lực với quốc gia có hành động đe dọa hòa bình, Hội đồng bảo an có
thể ra quyết định yêu cầu các thành viên Liên hợp quốc áp dụng các biện pháp trừng
phạt phi vũ trang được quy định tại Điều 41. Theo quy định tại điều này, các biện pháp
trừng phạt được áp dụng nhằm thi hành nghị quyết của Hội đồng bảo an. Điều này có
nghĩa là trước khi các biện pháp trừng phạt phi vũ trang được áp dụng, Hội đồng đã có
nghị quyết trong đó yêu cầu quốc gia thực hiện những nghĩa vụ nhất định nhưng quốc
gia đó lại không tuân thủ. Sự không tuân thủ này là nguyên nhận cho ra đời một nghị
quyết trừng phạt.
Trong trường hợp xét thấy viêc áp dụng các biện pháp trừng phạt phi vũ lực
trên không có hiệu quả, Hội đồng bảo an có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế

14


bằng vũ lực, bao gồm: biểu dương lực lượng, phong tỏa, các chiến dịch quân sự khác
(Điều 42).
Như vậy, có thể nhận thấy một điều kiện tiên quyết để Hội đồng bảo an có thể
áp dụng các biện pháp trừng phạt bằng vũ lực là trước đó những biện pháp trừng phạt
phi vũ lực đã được áp dụng nhưng tỏ ra không hiệu quả. Mọi trường hợp tiến hành
ngay các biện pháp trừng phạt bằng vũ lực mà bỏ qua các biện pháp trừng phạt phi vũ
lực đều là vi phạm và không được chấp nhận. Bên cạnh đó, mặc dù không được quy
định cụ thể trong Hiến chương nhưng cũng có thể suy luận một cách logic rằng trong
khi các biện pháp trừng phạt vũ trang được áp dụng thì Hội đồng bảo an vẫn có thể
tiếp tục duy trì các biện pháp trừng phạt phi vũ lực.
1.3 Cơ sở pháp lý để Hội đồng bảo an áp dụng biện pháp trừng phạt bằng
vũ lực
Theo quy định tại Điều 42 Hiến chương Liên Hợp quốc năm 1945, trong trường
hợp nhận thấy những biện pháp quy định tại Điều 41 của Hiến chương không thích
hợp hoặc tỏ ra là không thích hợp thì Hội đồng bảo an có quyền áp dụng các biện pháp
quân sự như biểu dương lực lượng; phong toả; thực hiện các biện pháp quân sự khác
bằng việc sử dụng các đơn vị hải quân, lục quân hoặc không quân do các nước thành
viên cử đến. Các biện pháp mà Hội đồng bảo an đưa ra không nhất thiết phải có mức
độ tăng dần và không nhất thiết phải nằm trong danh mục được quy định tại Điều 41
và Điều 42 của Hiến chương Liên hợp quốc.
Trong khuôn khổ pháp lý quốc tế,chế định trừng phạt vì xâm phạm đến hòa
bình và an ninh quốc tế đã được trù định tại các Điều 39, 41 và 42 Hiến chương Liên
hợp quốc. Ngoài ra, biện pháp này còn được ghi nhận trong các điều ước quốc tế mang
tính chất toàn cầu khác như: Công ước quốc tế năm 1966 về các quyền dân sự, chính
trị; Công ước quốc tế năm 1966 về các quyền Kinh tế -Văn hóa-Xã hội; hoặc Tuyên
bố, Nghị Quyết của Hội Đồng Bảo An và Đại hội đồng Liên hợp quốc.
Bên cạnh đó, các biện pháp trừng phạt còn được ghi nhận trong một số văn kiện
của một số tổ chức quốc tế hoặc khu vực, chẳng hạn: Điều 11 Hiệp ước thành lập Liên
minh Châu Âu năm 2006; Nghị quyết số 10198/1/04 REV1 của Hội đồng về các
nguyên tắc cơ bản của việc áp dụng các biện pháp hạn chế ngày 07/06/2004; Tài liệu
của Hội đồng số15114/05 ngày 02/12/2005 về hướng dẫn thực hiện và đánh gía các

15


biện pháp hạn chế (trừng phạt) trong khuôn khổ của các nước ngoài EU và chính sách
bảo mật; …
Trong khuôn khổ pháp luật quốc gia, chế định trừng phạt được quy định trong
rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật của của các quốc gia, trong đó tiêu biểu nhất là
Hoa Kỳ. Quốc gia này đã rất tích cực trong việc áp dụng các biện pháp trừng phạt với
một hệ thống các văn bản như: Đạo luật thuế quan Smooth-Hawley đưa ra năm 1930;
Đạo luật buôn bán với kẻ thù (40 Stat.415); Đạo luật Hiệp định thương mại nhiều bên
năm 1934; Luật Hỗ trợ nước ngoài (FAA) năm 1961; Luật thương mại năm 1974; Luật
các tổ chức tài chính quốc tế năm 1977; Luật về các biện pháp trừng phạt thương mại
năm 1984; Đạo luật về hợp tác phát triển và an ninh quốc tế năm 1985...
Thực tiễn pháp lý quốc tế đã chỉ ra rằng, các căn cứ pháp lý đó đã được ghi
nhận một cách cụ thể tại Điều 38, Quy chế Tòa án Công lý quốc tế, trong đó bao gồm:
i) Điều ước quốc tế song phương và đa phương, tức là “một thỏa thuận quốc tế
được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù
được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan
hệ với nhau và với bất kể tên gọi riêng của nó là gì”, trong đó có ghi nhận về biện pháp
trừng phạt bằng vũ lực;
ii) Các tập quán quốc tế như những chứng cứ thực tiễn chung, được thừa nhận
như những quy phạm pháp luật: Tập quán quốc tế được hiểu là “các quy tắc xử sự
chung, hình thành trong thực tiễn quốc tế và được các chủ thể của luật quốc tế thừa
nhận rộng rãi là quy phạm có tính chất bắt buộc”;
iii) Nguyên tắc chung của luật được các quốc gia văn minh thừa nhận, tức là
“các nguyên tắc pháp lý được cả pháp luật quốc giavà pháp luật quốc tế thừa nhận và
được áp dụng để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia (theo Khoản 1, Điều 38, Quy
chế Tòa án Công lý quốc tế”.
iv) Án lệ: Thực tiễn xét xử của các cơ quan tài phán quốc tế (bao gồm Tòa án và
Trọng tài) đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển của luật quốc tế
nói chung và chế định “trừng phạt bằng vũ lực” nói riêng. Các án lệ này không chỉ làm
rõ, khẳng định những quy định pháp lý của chế định “trừng phạt bằng vũ lực” ở dạng
thành văn hoặc tập quán mà còn là điểm xuất phát để hình thành nên những quy phạm
mới về trừng phạt trên cơ sở phù hợp với tình hình thực tiễn.

16


v) Học thuyết của các chuyên gia có chuyên môn cao nhất về luật quốc tế của
các quốc gia khác nhau: Đó là “những tư tưởng, quan điểm thể hiện trong các công
trình nghiên cứu, tác phẩm và kết luận của các học giả, luật gia” về những vấn đề cơ
bản của chế định “trừng phạt bằng vũ lực”.
vi) Hành vi pháp lý đơn phương của một quốc gia: Đây là sự thể hiện ý chí của
một chủ thể luật quốc tế một cách độc lập. Hành vi pháp lý đơn phương được thể hiện
dưới một số dạng chủ yếu sau: Công nhận; cam kết; phản đối; từ bỏ.
Ngoài các cơ sở pháp lý trên, chế định “trừng phạt bằng vũ lực” còn được ghi
nhận trong nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên Chính phủ. Các văn kiện này có giá
trị hiệu lực không đông nhất, gồm: các nghị quyết có hiệu lực bắt buộc và các nghị
quyết không có hiệu lực bắt buộc đối với các quốc gia thành viên. Trong thực tiễn
quốc tế, khi xác định hoặc giải thích các quy phạm của luật quốc tế nói chung và quy
phạm về “trừng phạt bằng vũ lực” nói riêng, các quốc gia thường viện dẫn đến nghị
quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc và nghị quyết của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc.
Mặc dù được được ghi nhận trong nhiều nguồn khác nhau, song cơ sở pháp lý
trực tiếp điều chỉnh về các biện pháp “trừng phạt bằng vũ lực” của Liên hợp quốc
được ghi nhận một cách cụ thể trong Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945; các Nghị
quyết của Đại hội đồng, đặc biệt là các Nghị quyết của Hội đồng bảo an và hành vi
pháp lý đơn phương của một quốc gia, cụ thể như sau:
Ngay tại Điều 1, Hiến chương Liên hợp quốc đã ghi nhận rằng: Liên hợp quốc
theo đuổi mục đích “Duy trì hoà bình và an ninh quốc tế, và để đạt được mục đích đó,
thi hành những biện pháp tập thể có hiệu quả để phòng ngừa và loại trừ các mối đe dọa
hoà bình, cấm mọi hành vi xâm lược và phá hoại hoà bình khác; điều chỉnh hoặc giải
quyết các vụ tranh chấp hoặc những tình thế có tính chất quốc tế có thể đưa đến sự phá
hoại hoà bình, bằng phương pháp hoà bình theo đúng nguyên tắc của công lý và pháp
luật quốc tế;và nhằm “đảm bảo cho Liên hợp quốc hành động nhanh chóng và hiệu
quả, các thành viên Liên hợp quốc trao cho Hội đồng bảo an trách nhiệm chính trong
sự nghiệp duy trì hòa bình và an ninh quốc tế và thừa nhận khi làm những nhiệm vụ do
trách nhiệm ấy đặt ra thì Hội đồng Bảo an hành động với tư cách thay mặt cho các
thành viên Liên hợp quốc”.
Do Liên hợp quốc không có quân đội riêng nên để góp phần thực thi kịp thời và
hiệu quả biện pháp “trừng phạt bằng vũ lực” trên thực tế, các quốc gia thành viên có

17


nghĩa vụ cung cấp cho Hội đồng bảo an những lực lượng vũ trang, sự yểm trợ, và mọi
phương tiện khác, kể cả cho quân đội Liên hợp quốc qua lãnh thổ của mình. Việc huy
động lực lượng vũ trang được tiến hành thông qua các thỏa thuận cụ thể giữa Hội đồng
bảo an với các quốc gia thành viên, trong đó ấn định số lượng và binh chủng quân đội,
mức độ chuẩn bị, sự bố trí và tính chất các phương tiện dịch vụ và giúp đỡ trang bị cho
quân đội này.Những thỏa thuận trên phải được các quốc gia ký kết, phê chuẩn theo
đúng trình tự luật định tại mỗi quốc gia đó. Nhằm cố vấn và giúp đỡ Hội đồng bảo an
trong việc thực hiện các hoạt động quân sự, một Ủy ban tham mưu quân sự sẽ được
thành lập, bao gồm các tham mưu trưởng của ủy viên thường trực Hội đồng bảo an hay
đại diện của họ. Ủy ban này hoạt động dưới quyền của Hội đồng bảo an, chịu trách
nhiệm về việc chỉ huy chiến lược tất cả những lực lượng vũ trang thuộc quyền điều
hành của Hội đồng. Trong trường hợp được sự đồng ý của Hội đồng bảo an và sau khi
tham khảo ý kiến của các tổ chức, khu vực hữu quan, Ủy ban tham mưu quân sự có thể
lập ra các tiểu ban khu vực. Để đảm bảo cho Liên hợp quốc có thể áp dụng những biện
pháp quân sự khẩn cấp, các thành viên phải đặt một số phi đội không quân vào tư thế
sẵn sàng chiến đấu nhằm phối hợp các hành động quốc tế có tính chất cưỡng chế. Số
lượng, mức độ chuẩn bị và kế hoạch phối hợp hành động của các phi đội này sẽ được
Hội đồng bảo an, với sự giúp đỡ của Ủy ban tham mưu quân sự, ấn định theo những
thỏa thuận đặc biệt nói trên.
Bên cạnh đó, một yếu tố quan trọng không thể không nhắc tới với tư cách là cơ
sở pháp lý để Hội đồng Bảo an áp dụng các biện pháp “trừng phạt bằng vũ lực” đó là
hành vi pháp lý đơn phương của một quốc gia. Bởi lẽ, không phải trong mọi trường
hợp Hội đồng bảo an đều có thể tiến hành áp dụng biện pháp này. Hơn nữa, các biện
pháp “trừng phạt bằng vũ lực”, suy cho cùng, chính là biện pháp bắt buộc các quốc gia
phải chịu trách nhiệm pháp lý cho hành vi của mình. Theo quy định của luật quốc tế,
cơ sở truy cứu trách nhiệm pháp lý quốc tế là sự vi phạm các cam kết quốc tế đã được
định chế bằng các quy phạm của Luật quốc tế và sự hiện diện của các yếu tố cấu thành
vi phạm pháp luật, bao gồm:
- Có hành vi vi phạm pháp luật quốc tế, đó là “một hành vi hành động hoặc
không hành động, mâu thuẫn với một quy phạm pháp luật quốc tế hiện đang có hiệu
lực”, chẳng hạn như việc quốc gia không thực hiện hoặc thực hiện không đúng cam

18


kết quốc tế hoặc nghĩa vụ quốc tế; làm trái với các văn bản quốc gia đơn phương ban
hành, ngăn cản các quốc gia khác thực hiện quyền lợi chính đáng của họ.
- Hành vi vi phạm luật quốc tế phải gây ra thiệt hại cho chủ thể khác, có thể là
thiệt hại vật chất hoặc phi vật chất;
- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật quốc tế và thiệt hại xảy ra.
Như vậy, cơ sở pháp lý của việc áp dụng các biện pháp “trừng phạt bằng vũ
lực” của Liên hợp quốc là hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia mà suy cho cùng
chính là mức độ vi phạm của hành vi cũng như nguy cơ đe dọa của hành vi đó đối với
hòa bình và an ninh thế giới.
Ngoài ra, cơ sở pháp lý của việc áp dụng các biện pháp “trừng phạt bằng vũ
lực” của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc còn bao gồm các Nghị quyết của Hội đồng
bảo an. Cụ thể, việc không tuân thủ đầy đủ và nghiêm túc Nghị quyết của Hội đồng
bảo an khiến cho nguy cơ và mức độ phá hoại hòa bình và an ninh thế giới gia tăng,
đây là cơ sở để Hội đồng bảo an ban hành lệnh trừng phạt buộc các chủ thể phải thay
đổi thái độ và cách hành xử sao cho phù hợp với các quy định chung của luật quốc tế.
Trong thực tiễn hoạt động của mình, Hội đồng bảo an đã ban hành nhiều Nghị quyết
áp dụng các biện pháp trừng phạt bằng vũ lực, trong đó tiêu biểu nhất là Nghị quyết số
678 của Hội đồng Bảo an thông qua ngày 29/11/1990 cho phép các quốc gia sử dụng
“mọi biện pháp cần thiết” đối với Iraq, trong đó có biện pháp quân sự nếu Iraq không
rút quân khỏi Kuwait trước ngày 15/1/1991. Nghị quyết này đã mở đường cho hàng
loạt các chiến dịch quân sự được Hội đồng bảo an cho phép như: Nghị quyết 794 năm
1992 cho phép can thiệp quân sự tại Somalia; Nghị quyết 836 năm 1993 cho phép
Khối quân sự Bắc Đại Tây Dương (NaTo) can thiệp để bảo vệ các khu vực an ninh của
Nam Tư cũ; Nghị quyết 929 năm 1994 cho phép nước Pháp triển khai chiến dịch
Turquoise ở Ruvanda; Nghị quyết 1125 năm 1997 cho phép các quốc gia tham gia
chiến dịch liên Châu Phi để triển khai các biện pháp cần thiết, kể cả việc sử dụng vũ
lực để đảm bảo an ninh và tự do đi lại của cho các nhân viên của mình tại Cộng hòa
Trung Phi.
1.4 Nguyên tắc, điều kiện và trình tự thủ tục Hội đồng bảo an áp dụng biện
pháp trừng phạt bằng vũ lực
1.4.1 Nguyên tắc áp dụng biện pháp trừng phạt
Nhằm phát huy hiệu quả mục tiêu giữ gìn hòa bình và an ninh thế giới, tạo mọi
điều kiện cần thiết để giữ gìn công lý và tôn trọng những nghĩa vụ do những điều ước

19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×