Tải bản đầy đủ

KỊCH bản văn học PHIM tài LIỆU “VANG mãi làn điệu THEN TRÊN MIỀN sơn cước

KỊCH BẢN VĂN HỌC PHIM TÀI LIỆU
“VANG MÃI LÀN ĐIỆU THEN TRÊN MIỀN SƠN CƯỚC”

Đoàn làm phim khởi hành từ Hà Nội khi mặt trời mới mọc, trải qua
một chặng đường dài 230km để đến thôn Tân Hợp, xã Tân An, huyện Chiêm
Hóa, tỉnh Tuyên Quang khi mặt trời đã đứng bóng trên cao. Chúng tôi đi
theo chỉ dẫn của người dân trong làng tìm đến được một ngôi nhà sàn truyền
thống đó là gia đình dân tộc Tày - ông Hà Thuấn, một nghệ nhân hát Then
lão làng trong vùng. Ở Tuyên Quang, nhắc đến nghệ nhân Hà Thuấn, khắp
thôn trên bản dưới ai cũng biết. Với ông, “đời không biết then như chim
không biết hót, như cây xanh không hoa lá, như cá không suối sông”. (Phân
cảnh này có quay cảnh đoàn làm phim đi trên đường đèo dốc, tới xã Tân An
và tìm đường đến gia đình nhân vật, cảnh mọi người chào hỏi nhau và ông
Hà Thuấn hát một câu Then thay cho lời chào tới đoàn làm phim).
Dù đã bước sang tuổi “thập cổ lai hy” nhưng tình yêu, lòng đam mê,
nhiệt huyết với điệu Then của dân tộc Tày với ông vẫn mặn mà và sâu sắc
lắm. Không chỉ là người biết hát, biết đàn, ông còn là người chuyên sưu tâm,
sáng tác các bài then mới, đặc biệt, ông còn là người truyền ngọn lửa nhiệt
huyết ấy đến với bao thế hệ người dân trong làng, ngoài huyện, dưới tỉnh.
Hát then là một loại hình âm nhạc truyền thông của người Tày. Hát
then của người Tày là bày tỏ lòng biết ơn con người với thế giới bên ngoài.

Mỗi điệu then thể hiện cung bậc cảm xúc khác nhau. Có lúc then trang trọng,
tôn nghiêm trong lễ Cầu Trời, có khi then rộn ràng, tươi vui trong lễ hội đón
xuân, mừng cơm mới, mừng đám cưới,.. Then đi cùng người trọn vòng đời
buồn vui, khổ đau, hạnh phúc. Một thế giới văn hóa của người tày, Nùng trải
rộng trên dải đất rộng lớn từ Hà Giang, Cao Bằng, đến Lạng Sơn, Thái
Nguyên, Bắc Cạn, Tuyên Quang,… và bây giờ then theo người ta truyền vào
1


cả vùng núi Tây Nguyên. Hát Then đang được nhà nước nghiên cứu, lập hồ
sơ và được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới.
(Phân cảnh này sử dụng hình ảnh hát Then ở quá khứ và ở hiện tại).
Nghe hát then nơi núi rừng, bên con suối nhỏ, quanh bếp lửa hồng có
cảm giác đặc biệt, không dễ sân kháu ca kịch nào cũng có được. Chính cảm
giác say mê mẩn ấy cho ta cảm hết vẻ mượt mà, chất trữ tình đằm thắm trong
nhiều điệu của hát then.
Học hát then từ năm 12 tuổi đến nay đã quá nửa đời người nghệ nhân
Hà Thuấn ngọn lửa đam mê, tình yêu mãnh liệt ấy với làn điệu then vẫn cháy
rực trong lòng ông. Nhìn ông lướt những ngon stay trên đàn, rồi cất cao tiếng
hát, mắt nhắm nghiền, thả hồn theo tiếng đàn đủ để thấy ông “mê” hát Then
đến chừng nào. Bà Nhạc, vợ ông tâm sự: “Nhiều hôm ông tập hát mà quên ăn,
có những đêm ông thức trắng ngồi sáng tác, dàn dựng chương trình”. (Cảnh
phỏng vấn vợ nghệ nhân).
Tham gia biết bao cuộc thi, các buổi giao lưu, liên hoan văn nghệ lớn,
nhỏ trong và ngoài tỉnh, lần nào ông cũng mang giải thưởng cao về cho gia
đình, cho thôn bản, đoàn thể.
Điển hình như năm 2007, tại Liên hoan dân ca dân vũ nhạc cụ dân tộc
Tuyên Quang, tiết mục “Lọong thuông” do ông dàn dựng và biểu diễn đã đạt
giải xuất sắc. Ngoài ra, ông còn đạt giải A trong buổi Liên hoan hát then, đàn
tính lần thứ 2 (10/2007) ở Cao bằng với tiết mục “Tán Bioóc”. Năm 2010, đạt
giải suất sắc với tiết mục “Cung bướm lượn tháng ba” tại Liên hoan các câu
lạc bộ đàn hát dân ca và gia đình văn nghệ. (Sử dụng hình ảnh tư liệu nghệ
nhân Hà Thuấn biểu diễn ở các cuộc thi, và hình ảnh giấy khen, giấy chứng
nhận của ông ở tại gia đình).
Ông được hội văn nghệ dân gian công nhận là Nghệ nhân dân gian.
Ông tâm sự, phần thưởng lớn nhất trong các lần biểu diễn là ông đã đưa hát
Then đến với cộng đồng. ( Hình ảnh giấy chứng nhận của ông treo ở nhà).
2



Tiếng Then làm cho con người quên ăn, chim ngừng hót, súc vật trên
rừng phải ngẩn ngơ, gió ngừng thổi, mây ngừng bay. Giai điệu của hát Then
mênh mang, chưa đựng nỗi lòng của người hát. Khi các chàng trai, cô gái
nghe thấy tiếng Then của nhau mà hiểu được nỗi lòng của nhau. (Cảnh quay
núi rừng, ruộng nương, dòng nước chảy róc rách bên khe suối và khi đó ông
Thuấn cùng những người hát Then trong làng mặc trang phục dân tộc đánh
đàn tính và hát Then ở đó).
Trải qua thời gian, tiếng Then không hề mất đi tính đặc trưng vốn có
mà càng làm cho sức sống của người Tày càng căng tràn, giúp cho mỗi duyên
tình giữa con người với thiên nhiên ngày càng thêm mặn mà, cuộc sống ngày
càng sinh sôi. (Hình ảnh người dân lao động, sinh hoạt hòa với thiên nhiên
rất vui vẻ, nói cười bên điệu Then của dân tộc Tày).
Nói đến hát Then không thể không nhắc đến cây đàn tính. Then là điệu
nhạc, là món quà của trời đất đã trao gửi cho người Tày. Ông Mông Trí Thức,
một người làm đàn tính có tiếng ở Tuyên Quang chia sẻ: “Hát then mà không
có đàn tính như mùa xuân không có hoa đào nở, như miếng cau thiếu lá trầu
xanh”. Hát Then và cây đàn tính gắn bó với nhau như cội với cành, như chân
với tay. Tiếng đàn không có tiếng hát, nghe mà buồn tẻ làm sao. Tiếng hát mà
thiếu đi cây đàn, như đôi cánh con chim không đủ dài để bay kên với cây, với
gió. Cây đàn tính và điệu hát Then là hình ảnh văn hóa tiêu biểu của người
Tày xưa nay.
Đàn tính là dụng cụ để đệm khi hát then, được làm từ ba loại vật liệu dễ
tìm là quả bầu khô làm bầu đàn, cần đàn làm bằng gỗ dâu hay thừng mục, dây
đàn được làm từ tơ tằm, có them ba núm chốt ngang qua khe máng đầu để
mắc dây đàn và con ngựa trên mặt hộp, con ngựa có ba khía đặt đỡ ba dây.
Đàn tính được làm theo tỷ lệ, kích thước “Song tăm tẩu, cẩu căm cản” (tức:
hai nắm bầu, chin nắm cần).

3


Ngày đi làm, cứ mỗi khi đêm về hay khi rảnh là nghệ nhân hà Thuấn lại
cầm cây dần tính lên rồi lại miệt mài hát, sáng tác rồi viết lại những bài nhạc
ông đi sưu tầm được từ những cụ ông cụ bà trong làng. Cứ thế, đàn tính và hát
Then gắn bó với nhau và gắn chặt với cuộc đời ông.
Ông lớn lên trong tiếng hát Then của mẹ.Từ thủa ấu thơ, tiếng hát của
bản làng đã thấm vào hôn nghệ nhân Hà Thuấn. (Quay cảnh hiện tại, người
mẹ ru con bên ô cửa sổ nhà sàn).
Được biết, gia đình ông Thuấn có 6 anh em, cả 6 người đều hát then rất
hay. Thậm chí, trứơc khi mất, anh trai ông Hà Thuấn là ông Hà Phan có một
ước nguyện rằng: ba tập bản thảo chép tay các sáng tác của ông được in thành
sách để lưu lại cho thế hệ mai sau.
Niềm đam mê đã ăn sâu vào máu thịt ông từ lúc nào chẳng nhớ nhớ
nữa. Ông Hà Thuấn bỏ nhiều công sức đi sưu tầm và chỉnh lý hàng chục bài
nhạc cổ, nhưng từ khi anh trai ông mất, ông mới bắt đầu sáng tác các làn điệu
Then mới để đưa hát Then đến với công chúng với mong ước giữ gìn, bảo tồn
những làn điệu Then truyền thống vốn là nét độc đáo của đồng bào dân tộc
Tày cho thế hệ trẻ mai sau.
Trong những năm qua, nghệ nhân Hà Thuấn đã miệt mài, cần mẫn sáng
tác được khoảng 60 bài hát Then theo điệu “tằng bốc” (đường cạn) và “tằng
nặm” (đường nước) – đây là hai làn điệu chính hay nhất và độc đáo nhất của
làn điệu Then. Trong quá trình sưu tầm và chỉnh lý những lần điệu then cổ ấy,
có nhiều bài viết bằng chữ Nho nên ông đã dày công học chữ Nho trong một
thời gian dài để dịch và chuyển các bài Then cổ sang hát bằng tiếng Tày, rồi
từ tiếng Tày sang tiếng phổ thông. Không dừng lại ở đó, ông cũng đã có
những sáng tạo độc đáo đưa hát Then đến gần với moi người và có ý nghĩa
thiết thực hơn trong cuộc sống. Ông thiết kế những cây đàn to nhỏ khác nhau
phù hợp với từng người rồi ghi hẳn những nốt nhạc lên cần đàn để mọi người
dễ học và dễ chơi hơn. Do đồng bào nơi đây, nhiều người vẫn chưa nói và đọc
4


chữ phổ thông được nên ông đã sáng tác các bài hát có nội dung tuyên truyền
phổ biến chính sách của nhà nước cho bà con dễ nhớ, dễ thuộc. (Hình ảnh
ông Thuấn ngồi biên soạn nhạc và hát thử bên chiếc bàn làm việc hướng nhìn
ra của sổ thấy cảnh vật thơ mộng).
Ông Hà Thuấn tâm sự: Đời không biết then như chim không biết hót,
như cây xanh không hoa lá, như cá không suối sông. Rồi ông với lấy cây đàn
tính lướt những ngón tay một cách thuần thục trên dây đàn và hát:…. ới la,
bản nọong tón vằn xuân mùa mấư/ Vui đảy mùa bắp khẩu têm sang,… Dịch:
Bản em đón ngày xuân mùa mới/ Vui được mùa ngô lúa đầy sân, trong bài
(Trong bài “bản em đón xuân” do ông Hà Phan – anh trai ông sáng tác).
(Cảnh quay ông hát 2 câu Then khi ngồi ở bàn làm việc).
Ngày xưa hát Then chỉ dùng để cúng bái, giao tiếp với thần linh trong
các dịp lễ hội như lễ cấp sắc, lễ cầu mùa, cầu mưa,… người tacos thể hát cả
giờ đồng hồ, đôi khi là thâu đêm với chỉ một bài. Còn bây giờ ngoài những
làn điệu then cổ còn giữ lại thì các bài Then mới chủ yếu là bài hát ca ngợi
quê hương, tình yêu đôi lứa, tình yêu lao động. Thời lượng các bài hát cũng
ngắn hơn nhiều. (Phân cảnh hát Then ở các dịp lễ cúng , khi cầu mưa, cầu
mùa,… lấy tư liệu ở đài địa phương, trong Hội Lồng Tông vào mùng 8 tháng
Giêng âm lịch hàng năm).
Không chỉ để lại dấu ấn trong sưu tầm, sáng tác và biểu diễn, người ta
còn tìm thấy ở ông như một bảo tàng sống về hát Then nói riêng, văn hóa
người Tày nói chúng. Ông nhớ rõ từng truyền thuyết. từng câu chuyện về hát
then. Như chuyện cây đàn tính sao chỉ có hai dây,… (Phỏng vấn nghệ nhân
Hà Thuấn, ông chia sẻ về truyền thuyết đàn tính chỉ có 2 dây)
Chứng kiến cảnh nhiều làn điệu dân ca truyền thống của các dân tộc
khác bị mai một, rồi mất dần bởi làn sóng kinh tế thị trường, bởi sự tác động
của quá trình giao thoa văn hóa, ông không khỏi trăn trở cho số phận của làn
điệu Then nói riêng và những giá trị văn hóa của cha ông nói chung. (Người
5


dân nghe và hát các thể loại nhạc hiện đại rất đông và một nhóm người học
hát Then rất ít).
Trong các thôn bản bây giờ, những người am hiểu về hát Then không
còn nhiều, thế hệ trẻ thì nhiều người bị mất gốc, không biết nói tiếng dân tộc
mình thì nói gì đến hát Then, thanh niên trẻ bây giờ cũng chỉ tìm đến những
bài nhạc trẻ, nhạc hiện đại chứ không còn hứng thú với nhạc dân tộc nữa.
( Phóng vấn một người trẻ trong làng trong lớp học ở nhà ông Thuấn, vì sao
lại tìm đến với hát Then và học hát Then?)
Ông Thuấn cho hay, nếu màng đến chuyện kinh phí thì ông đã giải
nghệ từ lâu. Ông sưu tầm, giới thiệu làn điệu hát Then là trách nhiệm, là sự tri
ân với hồn cốt dân tộc. (Cảnh quay ông trong lớp truyền dạy hát Then tới các
học trò).
Để những tinh túy của dân tộc không bị mai một, ông đã mạnh dạn mở
các lớp học miễn phí tại nhà. Trời đã không phụ người có lòng. Lớp học của
ông ban đầu chỉ dạy cho các cháu nhỏ trong thôn sau tiếng lành vang xa nhiều
người tìm đến tận nhà xin học. Học trò của ông đủ mọi lứa tuổi và ông cũng
không nhớ nổi mình đã dạy cho bao nhiêu người học hát Then nữa. Từ cái nôi
ấy, có rất nhiều người đã trở thành những cây văn nghệ trụ cột ở các đoàn thể
trong huyện, nhiều người theo học các trường lớp chuyên nghiệp cao hơn nữa.
(Phỏng vấn một người học trò của ông Hà Thuấn về con đường hoc hát Then
và hướng đi trong tương lai của bản thân với dòng nhạc dân tộc này)
Thời gian gần đây, xã, huyện và tỉnh Tuyên Quang đã phối hợp mở
nhiều khóa học hát then nhằm bảo tồn, gìn giữ các giá trị văn hóa của hát
Then. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang đã mời về dậy lớp
đầu tiên về hát Then. Từ đó, mỗi năm một lần, ông được mời xuống tỉnh
truyền dạy cho một lớp hát Then mới của tỉnh.

6


Phỏng vấn Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin huyện Chiêm Hóa về
việc gìn giữ làn điệu hát Then của dân tộc Tày và vấn đề mở lớp học cũng
như đối tượng hướng đến).
Cấp trên ra quyết định thực hiện đề án Làng văn hóa du lịch gắn với
bảo tồn các làn điệu hát Then, hát Cọi ở thôn An Thịnh, xã Tân An. Đó là
những tin mừng phần nào vơi bớt đi gánh nặng trong lòng ông. Niềm vui của
ông hiện lên rõ rệt nhất khi ông ngồi bên thềm trên tay cầm cây đàn tính và
cất cao tiếng hát làn điệu Then của dân tộc Tày. Tiếng hát của ông giờ đã
trong hơn, thanh tao hơn, bay xa đến các bản làng xua đi cái giá lạnh của thời
tiết để đón hơi ấm của đất trời, đón mùa xuân sang.
Dân bản ở xã Tân An nay hầu như ai cũng biết hát Then. Nếu tình cờ
gặp các cô gái trên đường, trên nương, họ có thể cất tiếng hát bất cứ khi nào.
Ở đây, không riêng gia đình nghệ nhân Hà Thuấn, có rất nhiều gia đình khác
nữa cũng đều biết hát Then.
Đường xa, bước đi trong tiếng đàn tính , tiếng hát Then khiến tâm hồn
lâng lâng, quên đi cái chồn chân mỏi gối. Đến cổng nhà đã thấy hình ảnh cháu
bé đang được ông truyền dạy hát Then. Đó là cháu nội Hà Thị Chắt của nghệ
nhân Hà Thuấn. Tiếng hát của bé gái mới độ mười tuổi thật tươi tắn, thánh
thót. Khúc hát “Bản làng đón xuân” của hai ông cháu như đem lại không khí
ấm áp tươi vui mùa xuân nơi rẻo cao.
Với nghệ nhân Hà Thuấn, ông quan niệm, “đời người Tày không biết
Then như chim không có tiếng hót, như cây xanh không hoa lá, như cá không
suối sông…”. Then là cầu nối giữa thế giới tâm linh với con người, giữa trời
cao cả với sự sống dưới mặt đất. Ước mong của người nghệ nhân hát Then,
một bảo tàng sống về nhạc dân tộc này là có thật nhiều người yêu mến gắn bó
với vốn văn hóa cha ông để lại. Đó là sợi dây tình, dây nghĩa gắn bó mọi
người lại với nhau để sống yên vui, giữ gìn nếp nhà, nếp bản.
-Hết7



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×