Tải bản đầy đủ

Bài giảng Sức khỏe trường học - Bài 2- Quản lý sức khỏe tại nhà trường và phòng chống một số bệnh thường gặp ở học sinh

BÀI 2
QUẢN LÝ SỨC KHỎE TẠI NHÀ TRƯỜNG
VÀ PHÒNG CHỐNG MỘT SỐ BỆNH
THƯỜNG GẬP Ở HỌC SINH

TS. BS. Đặng Anh Ngọc
Khoa Vệ sinh – Sức khỏe trường học
Viện Y học lao động & Vệ sinh môi trường


MỤC TIÊU
• Thực hiện được việc tính tuổi, phân loại phát
triển thể lực và trình bày được cách phân loại
sức khoẻ học sinh theo từng lứa tuổi, giới
• Xác định được vấn đề sức khoẻ, các bệnh
thường gặp và các yếu tố nguy cơ cần quan tâm,
khảo sát tại mỗi trường/vùng
• Trình bày được các nguyên tắc dự phòng các
bệnh thường gặp và đề xuất được các biện pháp
can thiệp nhằm bảo vệ và nâng cao sức khoẻ
học sinh cho mỗi trường/vùng.



ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăm sóc sức khoẻ học sinh là một công tác có ý nghĩa hết sức
quan trọng vì thế hệ tuổi trẻ hôm nay là tương lai của đất nước.
"Các chương trình sức khoẻ nhà trường có thể cùng một lúc làm
giảm các vấn đề y tế chung, làm tăng hiệu quả của hệ thống giáo
dục và sự phát triển của xã hội, kinh tế trong tất cả các quốc gia"
(LLoyd Koble 1996)


ĐẶT VẤN ĐỀ
• Kế hoạch hành động chương trình sức khoẻ cho mọi
người đến năm 2000, đã được chấp nhận của hội nghị
cấp cao về trẻ em ngày 30-9-1990, đã nêu rõ: " Vì trẻ
em hôm nay là những công dân của thế giới ngày mai,
sự tồn tại, được bảo vệ và phát triển của các em là
điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của nhân loại .«
• " Việc trao cho thế hệ trẻ các kiến thức, các nguồn
đáp ứng với nhu cầu cơ bản của con người để phát
triển đầy đủ tiềm năng của các em phải là một mục
tiêu phát triển của quốc gia"


ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Định nghĩa về sức khỏe
Theo định nghĩa của tổ chức y tế thế giới: Sức khỏe là trạng thái
thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần, xã hội và không phải chỉ
bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật


1.2. Vai trò của y tế trường học trong quản lý sức khỏe
và phòng chống một số bệnh thường gặp ở học sinh

– Các vấn đề bất lợi về sức khỏe không chỉ gây ảnh
hưởng tới tình trạng sức khỏe về thể chất mà còn gây
ảnh hưởng tới khả năng học tập và các hoạt động trong
chương trình chính khóa của học sinh
– Các hoạt động chăm sóc sức khỏe của nhà trường đóng
vai trò rất quan trọng trong việc chăm sóc, phòng chống

các bệnh thường gặp và tăng cường, nâng cao sức khỏe
cho các em


CÁC VẤN ĐỀ SỨC KHỎE CỦA HỌC SINH
Đặc điểm phát triển cơ thể theo lứa tuổi của học sinh
–Mỗi một giai đoạn, một lứa tuổi có sự phát triển về thể
lực, tinh thần, cũng như sự hoàn thiện chức năng của các
cơ quan trong cơ thể.
–Lứa tuổi học đường là độ tuổi trọng yếu trong sự phát
triển con người, là giai đoạn phát triển và hoàn thiện cơ
thể về mặt thể chất và tâm thần,
–Cơ thể trẻ em không phải là hình ảnh của người lớn thu
nhỏ mà có những đặc điểm riêng vì đang trong quá trình
phát triển về mặt hình thái và hoàn thiện về mặt chức năng


Phân loại bệnh
theo nguyên nhân

Bệnh truyền nhiễm

Bệnh không
truyền nhiễm

Lây truyền qua
da, niêm mạc

Bệnh do di truyền,
bẩm sinh

Lây qua đường
tiêu hóa

Bệnh do thoái hóa

Lây qua đường
hô hấp

Bệnh do NN,
MT & lối sống

Lây qua đường
máu và dịch tiết

Bệnh do dinh dưỡng
chế độ dinh dưỡng

Lây qua đường
sinh dục


Bệnh truyền nhiễm
Các bệnh truyền nhiễm là do vi sinh vật gây bệnh như vi khuẩn,
virus, ký sinh trùng hoặc nấm, các bệnh có thể lây lan trực tiếp hoặc
gián tiếp, từ người sang người. Những bệnh động vật truyền sang
người là những bệnh nhiễm khuẩn của động vật mà có thể truyền và
gây bệnh cho người


Bệnh truyền nhiễm
1. Bệnh lây truyền qua da và niêm mạc: bao gồm như chấy,
chốc lở, đau mắt đỏ, ghẻ, và bệnh nấm ngoài da… mầm
bệnh lây lan qua 2 phương thức:
• Tiếp xúc trực tiếp da/niêm mạc – da/niêm mạc
• Tiếp xúc gián tiếp qua các vật dụng.
2. Bệnh lây truyền qua đường tiêu hóa bao gồm Giardia,
campylobacteria, viêm gan A, viêm gan E, các loại KST
đường ruột, rotavirus, salmonella, và Shigella …
• Đường trực tiếp « phân » – tay – miệng
• Đường gián tiếp thông qua vật phẩm, thực phẩm bị ô
nhiễm


3. Bệnh lây truyền qua đường hô hấp thường gặp là thủy
đậu, bệnh cúm, bệnh sởi, vi khuẩn viêm màng não, bệnh
lao, và ho gà… lây truyền có thể qua
• Trực tiếp qua hoạt động tiếp xúc, do hít phải các hạt dịch
tiết có mầm bệnh.
• Gián tiếp qua tay hoặc các vật dụng bị ô nhiễm bởi dịch
tiết có mầm bệnh.
4. Bệnh lây truyền qua đường máu và dịch tiết: như HIV,
viêm gan B, D, C; sốt xuất huyết, sốt rét …
• Trực tiếp do tiếp xúc với máu hoặc dịch tiết
• Gián tiếp qua sử dụng chung bơm kim tiêm và một số
bệnh lây lan do côn trùng
5. Bệnh lây truyền qua đường tình dục là các bệnh lây lan
qua việc tiếp xúc của hoạt động tình dục.


Bệnh không truyền nhiễm
Các bệnh không truyền nhiễm là những bệnh mà nguyên nhân sinh
bệnh thường không do sinh vật gây bệnh và không có khả năng
truyền bệnh từ người này sang người khác, mặc dù một số loại bệnh
có thể được truyền lại cho trẻ em theo phương thức thừa kế di
truyền


Bệnh không truyền nhiễm
1. Các bệnh di truyền và bẩm sinh
Đây là các bệnh, các rối loạn có từ khi mới sinh.
– Các bệnh bẩm sinh phát sinh ngay từ khi còn là bào thai
trong tử cung - ví dụ, bệnh mắc phải do mẹ bị mắc một số
bệnh truyền nhiễm khi mang thai, như bệnh rubella, có thể
dẫn đến một số thiếu sót về tim, chậm phát triển trí tuệ hoặc
một số dị tật khác khi trẻ được sinh ra.
– Các bệnh di truyền: nguyên nhân do sai sót trong thông tin
di truyền bao gồm:
+ Sự thay đổi trong số nhiễm sắc thể, như hội chứng Down
+ Khiếm khuyết ở một gen duy nhất gây ra do đột biến.
+ Rối loạn dẫn đến sự sắp xếp lại các thông tin di truyền.


2. Các bệnh do thoái hóa
Là các bệnh liên quan đến quá trình thoái hóa của các cơ
quan và tổ chức.
– Bệnh thường gặp chủ yếu ở người trưởng thành và người
cao tuổi. Như các bệnh tim mạch, khớp, Alzheimer ….
–Cũng có thể phát sinh ở người trẻ tuổi. Ví dụ bệnh thoái
hóa khớp có thể xảy ra ở những vận động viên chuyên
nghiệp.


3. Các bệnh do nghề nghiệp và yếu tố môi trường, lối sống
• Bệnh liên quan đến nghề nghiệp
+ Bệnh nghề nghiệp
+ Bệnh liên quan đến nghề nghiệp hoặc bệnh có tính
chất nghề nghiệp
• Bệnh liên quan đến yếu tố môi trường
• Bệnh liên quan đến lối sống
4. Các bệnh do thiếu dinh dưỡng và chế độ dinh dưỡng
• Bệnh do thiếu dinh dưỡng
• Bệnh do chế độ dinh dưỡng bất hợp lý


Một số bệnh thường gặp ở học sinh
Sinh viên tự đọc và nghiên cứu


Một số bệnh thường gặp cần đi sâu
Trên quan điểm của YTTH, trong các bệnh thường gặp ở
học sinh có thể chia làm 3 nhóm bệnh:
-Bệnh học đường: Cận thị, Cong vẹo cột sống, Rối nhiễu
tâm trí.
-Bệnh liên quan đến lứa tuổi: Bệnh răng miệng, bệnh thấp
khớp/ tim, suy dinh dưỡng, béo phì …
-Bệnh liên quan đến cộng đồng và môi trường địa lý
vùng/miền: Sốt rét, bướu cổ đơn thuần …


Cận thị
• Về phương diện quang học mắt như một chiếc máy ảnh.
• Để nhìn rõ một vật đòi hỏi mắt phải điều tiết để hình ảnh
rơi đúng trên võng mạc..
• Khi mắt có tình trạng mất cân bằng giữa lực hội tụ của
mắt và trục nhãn cầu, làm hình ảnh của vật không rơi
đúng võng mạc, đây là những khiếm khuyết về quang học
và được gọi là tật khúc xạ.
• Tật khúc xạ được chia làm 2 loại là tật khúc xạ hình cầu
và tật khúc xạ không phải hình cầu


1. Tật khúc xạ hình cầu:
• Cận thị: là tình trạng mà hình ảnh
của vật được hội tụ ở phía trước
võng mạc, muốn nhìn rõ vật phải
đưa vật lại gần mắt.
• Viễn thị: là tình trạng mà hình ảnh
của vật được hội tụ ở phía sau võng
mạc, muốn nhìn rõ vật phải đưa vật
ra xa mắt.
2. TKX không phải hình cầu
• Loạn thị: là tình trạng hệ quang học
của mắt có công suất khúc xạ không
đồng đều trên các kinh tuyến khác
nhau, hình ảnh của vật không hội tụ
ở một điểm.


• Cận thị:
 Cận thị là một tật khúc xạ thường gặp ở học sinh và là một
trong những bệnh được xếp vào nhóm bệnh học đường.
 Cận thị trên phương diện lâm sàng được chia làm 2 loại:
• Cận thị đơn thuần: hay còn gọi là tật cận thị, ở loại này chỉ
có biểu hiện về tật khúc xạ nhưng cấu trúc nhãn cầu vẫn
bình thường trên lâm sàng mức cận thị thường < 6 D
• Cận thị bệnh: ở loại này ngoài
biểu hiện của tật khúc xạ, nhãn
cầu đã có những biến đổi về mặt
cấu trúc. Trên lâm sàng mức
độ cận thị thường > 6 D.


Nguyên nhân sinh bệnh
Yếu tố khác
-Thể trạng
-Dinh dưỡng

Di truyền

môi trường
ĐK sống
-Môi trường
sống hạn
chế tầm nhìn

Cận thị

VSTH

Thói quen, lối sống
Thói quen
-Sử dụng
mắt nhiều
-Thời gian
nghỉ ngơi ít
-Tư thế xấu
khi học,đọc

Hoạt động
thể chất
Ít tham gia
các hoạt
động thể
thao,vui chơi
ngoài trời

ĐK học tập
- Chiếu sáng
-Bàn ghế
-Sách vở
-Gánh nặng
học tập


Cong vẹo cột sống
Cong vẹo cột sống (biến dạng cột sống) là tình trạng cột sống
bị nghiêng, lệch về một phía hoặc bị cong về phía trước hay
phía sau, do đó không còn giữ được các đoạn cong sinh lý
như bình thường của nó vốn có.
• Cột sống bao gồm 33 - 34 đốt sống (7 đốt cổ, 12 đốt ngực, 5
đốt thắt lưng, 5 đốt cùng và 4-5 đốt cụt) được nối với nhau
bằng các đĩa đệm, khớp và dây chằng, tạo thành khung
nâng đỡ cơ thể.
• Trong tư thể đứng thẳng:
 Nếu nhìn từ sau về trước, cột sống là một đường thẳng.
 Nếu nhìn nghiêng, cột sống có 2 đoạn cong uốn ra trước là
cổ và thắt lưng, 2 đoạn cong uốn ra phía sau là ngực và
cùng - cụt. ..


Vẹo

1- gù

Cong:
2- còng
3- ưỡn

4- bẹt


Các loại cong vẹo cột sống
1. Vẹo cột sống:
• Về hình dạng có vẹo cột sống hình C thuận, C ngược, S
thuận và S ngược.
• Về cấu trúc có vẹo cột sống có cấu trúc và không có cấu
trúc.
2. Cong cột sống:
• Gù: là đoạn ngực cong quá mức ra sau
• Ưỡn: là đoạn lưng cong quá mức ra trước
• Còng: là đoạn lưng giảm mức cong và đoạn ngực cong
quá mức ra sau.
• Bẹt: là các đường cong sinh lý giảm so với bình
thường ..
k


Nguyên nhân sinh bệnh
Bẩm sinh
Bệnh lq
đến CS

Yếu tố khác
-Thể trạng
-Dinh dưỡng

CVCS
Thói quen, lối sống
Thói quen

-Tư thế xấu
khi ngồi, đi
đứng.

-Thời gian
nghỉ ngơi ít

Hoạt động
thể chất
Ít tham gia
các hoạt
động thể
thao,vui chơi
ngoài trời

VSTH
ĐK học tập
-Bàn ghế
-Chiếu sáng
-Cặp sách
-Gánh nặng
học tập

MT học tập
Thiếu không
gian vui chơi
hoạt động thể
chất


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×