Tải bản đầy đủ

Chính sách công nghiệp ở một số nước thành viên Liên minh Châu Âu trong những thập niên đầu thế kỷ XXI

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ TÁ KHÁNH

CHÍNH SÁCH CÔNG NGHIỆP
Ở MỘT SỐ NƢỚC THÀNH VIÊN LIÊN MINH CHÂU ÂU TRONG
NHỮNG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI

Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số : 62 31 01 06

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2016


ii
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học
Xã hội Việt Nam


Người hướng dẫn khoa học:
Người hướng dẫn 1: GS.TS. Nguyễn Quang Thuấn
Người hướng dẫn 2: PGS.TS. Nguyễn An Hà

Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại:
…………………………………………………………………………………………
………
Vào hồi…….giờ………phút, ngày…….tháng……..năm 2016

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện: Học viện Khoa học Xã hội


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận án
Trong thập niên cuối thế kỷ XX, với tiến trình liên kết châu Âu, Liên minh Châu
Âu (EU) đã hình thành một chính sách công nghiệp chung dù đã có nhiều chính sách
chung trong các lĩnh vực khác trước đó. Chính sách công nghiệp chung của EU được
đề cập trong Hiệp ước Maastricht 1991 và Hiệp ước Amsterdam 1998 đã mở đầu cho
sự dịch chuyển t chính sách theo chiều dọc vertical dựa nhiều vào sự can thiệp của
nhà nước phổ biến trong giai đoạn 1950 - 1980) sang chính sách theo chiều ngang
horizontal với trọng tâm giảm sự can thiệp của nhà nước và tập trung vào xây dựng
khung pháp l và các chính sách có tác động lan t a, tạo nền tảng cho sự phát triển
công nghiệp của EU trong thế kỷ XXI. Trong nh ng thập niên đầu thế kỷ XXI, cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra năm 2008 đã có tác động lớn tới EU và các
nước thành viên. Cuộc khủng hoảng đang đặt ra một số vấn đề mang tính l thuyết và
thực tiễn cho việc hoạch định chính sách, bao gồm chính sách công nghiệp, cho châu
Âu cũng như nhiều khu vực và quốc gia khác.
Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2008 đã mang đến cho Việt Nam nh ng
thách thức rất lớn đòi h i phải vượt qua, như cấu trúc lại nền kinh tế, duy trì tăng
trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy sản xuất công nghiệp. Xét về góc độ hội
nhập, Việt Nam đã tham gia k kết thành lập nhiều khu vực thương mại tự do FTA
và cũng đã tham gia sâu rộng vào tiến trình liên kết khu vực. Đây sẽ là yếu tố quan
trọng Việt Nam phải cân nhắc khi tiến hành cấu trúc lại nền kinh tế và hoạch định
chính sách kinh tế quốc gia.

Nhiều cuộc thảo luận về chính sách công nghiệp ở Việt Nam và nhiều công trình
nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về phát triển công nghiệp cho Việt Nam đã được
thực hiện, chủ yếu là kinh nghiệm của các nước Đông Á và các nước đang phát triển.
Chính vì vậy, các nghiên cứu về chính sách công nghiệp ở các nước quốc gia công
nghiệp phát triển ở EU sẽ bổ sung nh ng kinh nghiệm và bài học cho quá trình hoạch
định chính sách công nghiệp ở Việt Nam, đặc biệt đặt trong bối cảnh ASEAN cũng
đang hướng đến tiến trình liên kết khu vực chặt chẽ hơn.
Với bối cảnh thế giới mới và nhu cầu kinh nghiệm quốc tế phục vụ phát triển
công nghiệp ở Việt Nam hiện nay, tôi quyết định chọn đề tài: “Chính sách công
nghiệp ở một số nước thành viên Liên minh Châu Âu trong những thập niên đầu
thế kỷ XXI” làm luận án của mình.
2. Mục đích nghi n c u và nhiệm vụ nghi n c u
Nghiên cứu này nhằm mục tiêu phân tích và đánh giá nội dung và kết quả đạt
được của chính sách công nghiệp của Cộng hòa Italia, Cộng hòa Pháp và Vương
quốc Anh trong nh ng thập niên đầu thế kỷ XXI, t đó rút ra bài học kinh nghiệm
cho Việt Nam.


2
Để đạt được mục tiêu trên, luận án có các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
+ Làm rõ cơ sở l luận và thực tiễn của chính sách công nghiệp ở ba quốc gia
được nghiên cứu;
+ Làm rõ nh ng nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hoạch định chính sách công
nghiệp cũng như đánh giá kết quả thực hiện chính sách công nghiệp;
+ Rút ra một số kinh nghiệm góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện chính
sách công nghiệp tại Việt Nam.
3. Đối tƣợng nghi n c u và phạm vi nghi n c u
- Đối tượng nghiên cứu của luận án: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính
sách công nghiệp của ba quốc gia công nghiệp chủ chốt, thành viên của EU, gồm
Italia, Pháp và Vương quốc Anh.
- Phạm vi nghiên cứu của luận án: Về mặt không gian, luận án giới hạn phạm
vi tại ba quốc gia công nghiệp phát triển ở Tây Âu, thành viên của EU, gồm Italia,
Cộng hòa Pháp và Vương quốc Anh. Về mặt thời gian, phạm vi nghiên cứu của luận
án là chính sách công nghiệp của ba quốc gia công nghiệp phát triển nêu trên trong
thời kỳ t 1992 đến nay kể t Hiệp ước Maastricht về Liên minh châu Âu . Tuy
nhiên, để làm rõ cơ sở của mô hình chính sách công nghiệp trong giai đoạn hiện nay,
luận án sẽ khái quát lịch sử hình thành và phát triển chính sách công nghiệp của các
quốc gia này. Về mặt nội dung, luận án sẽ chỉ giới hạn nghiên cứu trong lĩnh vực
hoạch định chính sách công nghiệp của Cộng hòa Italia, Cộng hòa Pháp và Vương
quốc Anh. Do các quốc gia thành viên chịu sự chi phối của các chính sách chung của
toàn khối, do đó luận án cũng sẽ đề cập đến các vấn đề có liên quan đến chính sách
công nghiệp chung của EU.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghi n c u
- Phương pháp luận: Với tính cấp thiết của luận án, đối tượng nghiên cứu và phạm vi
nghiên cứu, luận án sẽ đi thu thập các số liệu sơ cấp, các công trình nghiên cứu khoa học
trong cùng lĩnh vực nghiên cứu đã được công bố, cùng với các đánh giá của riêng nghiên
cứu sinh để trả lời câu h i nghiên cứu sau:

n s
ịn ìn n

n n
p qu
t ế n o tron b

m ts n
t n v n
ản m
ầu t ế kỷ XXI?

t

U

Giả thuyết nghiên cứu:
G ả t uyết 1: Chính sách công nghiệp của các nước công nghiệp chủ chốt ở EU phải
điều chỉnh t chính sách công nghiệp theo chiều dọc sang chính sách công nghiệp
theo chiều ngang để đáp ứng yêu cầu của quá trình liên kết khu vực.
G ả t uyết 2: Chính sách công nghiệp theo chiều ngang ưu việt hơn chính sách công
nghiệp theo chiều dọc.
G ả t uyết 3: Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển công nghiệp bị hạn chế trong
thời kỳ toàn cầu hóa và liên kết khu vực.


3
- Phương pháp nghiên cứu:
+ P ơn p p t u t ập t l u: i Sách: sách đang lưu tại thư viện của Viện Nghiên
cứu Châu Âu, lưu trong các thư viện online internet và qua trao đổi trực tiếp với các
học giả đã xuất bản các công trình có liên quan; ii Bài viết tạp chí; iii Các nguồn
trên internet; iv Trao đổi học thuật: trao đổi trực tiếp t các học giả trong lĩnh vực
nghiên cứu
+ P ơn p p xử lý t l u: Trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội: tổng
hợp, phân tích, so sánh và dự báo. Luận án cũng sử dụng cách tiếp cận lịch sử cùng
phương pháp phân tích lịch đại.
5. Những đóng góp của Luận án
T ứ n ất, luận án đã hệ thống hóa được sự hình thành và phát triển của chính sách
công nghiệp ở ba quốc gia công nghiệp chủ chốt của EU, với trọng tâm là các chính
sách công nghiệp của các nước này trong nh ng thập niên đầu thế kỷ XXI.
T ứ
, luận án đã phân tích nh ng ưu tiên hiện nay trong chính sách công nghiệp ở
các nước thành viên EU được nghiên cứu và đánh giá một số kết quả thực hiện.
T ứ b , luận án đã làm rõ vai trò của nhà nước trong bối cảnh toàn cầu hóa, tự do hóa
thương mại và liên kết khu vực.
u
ùn , t thực tiễn về hoạch định chính sách công nghiệp ở ba quốc gia công
nghiệp chủ chốt ở EU, luận án đã rút ra được một số kinh nghiệm, đóng góp cho quá
trình hoạch định chính sách công nghiệp ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về nghĩa l luận: luận án đã bổ sung thêm nh ng hiểu biết về cách tiếp cận
đối với chính sách công nghiệp ở châu Âu thông qua nh ng khái niệm và cách phân
loại chính sách công nghiệp ở khu vực này. Luận án cũng cho thấy cơ sở của sự điều
chỉnh chính sách công nghiệp của EU nói chung và các nước thành viên nói riêng qua
các thời kỳ, đặc biệt là sự dịch chuyển t chính sách công nghiệp theo chiều dọc sang
chính sách công nghiệp theo chiều ngang trước thềm thế kỷ XXI. Việc luận án đề cập
đến vai trò của nhà nước ở EU trong thời kỳ toàn cầu hóa, liên kết khu vực và tự do
hóa thương mại đã đóng góp nh ng luận điểm vào các cuộc tranh luận vẫn đang diễn
ra trên thế giới về vấn đề khả năng và mức độ can thiệp của chính phủ bằng công cụ
chính sách.
Về nghĩa thực tiễn: thông qua nh ng nghiên cứu về cách tiếp cận, nội dung của
chính sách công nghiệp ở Liên minh Châu Âu và các nước thành viên, luận án đã
mang đến nh ng kinh nghiệm cho triển vọng hình thành chính sách công nghiệp
chung trong tương lai của ASEAN. Bằng việc rút ra kinh nghiệm lựa chọn chính sách
trong phát triển công nghiệp ở các nước EU qua các thời kỳ, luận án là nguồn tham
khảo qu báu cho quá trình hoạch định chính sách công nghiệp của Việt Nam. Hiểu
biết nh ng ưu tiên trong chính sách công nghiệp hiện nay của EU và các nước thành


4
viên sẽ giúp Việt Nam nắm bắt được xu hướng phát triển trong tương lai của họ và
gợi mở nh ng lĩnh vực Việt Nam có thể tập trung trong chiến lược phát triển công
nghiệp của mình.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, các trang bìa, mục lục, danh mục các ch viết
tắt, danh mục bảng biểu, danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả luận án,
danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án bao gồm bốn chương:
Chương I: Tổng quan.
Chương II: Một số vấn đề l luận và thực tiễn về chính sách công nghiệp ở Liên minh
Châu Âu.
Chương III: Chính sách công nghiệp ở một số quốc gia thành viên Liên minh Châu
Âu.
Chương IV: Một số vấn đề rút ra và khuyến nghị chính sách cho Việt Nam.


5
CHƢƠNG I
T NG QUAN
1.1. Nghi n c u ngoài nƣớc
N
n ứu n s
n n
pd
ó
lị sử: Một số nghiên cứu đã
thực hiện theo hướng này gồm Ha-Joon Chang (2002) Kicking Away the Ladder:
Development Strategy in Historical Perspective; James Foreman – Peck và Giovanni
Ferderico cùng nhiều tác giả 1999 , European Industrial Policy: the TwentiethCentury Experience.
N
n ứu
n s
n n
pd
ó
t
n
v
ấp v m :
các tác giả trong cuốn Industrial Policy in do Keith Cowling biên tập đã đi phân tích
vai trò và tác động của chính sách công nghiệp đối với khu vực doanh nghiệp nh và
v a (SME).
N
n ứu n s
n n
pd
ó
m t n s
un
EU
v t ến trìn l n kết k u vự : gồm các công trình Micheal Darmer và Laurens
Kuyper (2000), Industry and the European Union: Analysing Policies for Business‟;
Patrizio Bianchi (1998), Industrial Policies and Economic Integration: Learning
from European Experiences
N

n ứu
n s
n n
p tr n bìn d n qu tế, b o ồm ả
n
n p t tr ển: Patrizio Bianchi và Sandrine Labory (2008), International
Handbook on Industrial Policy.
N
ứu

n ứu
luận n:

n s

n n

p

qu

t u

t

n n

n

Về Cộng hòa Italia, Giuseppe Calabrese và Secondo Rolfo 2001 , „SMEs and
Innovation: the Role of the Industrial Policy in Italia‟; Raffaella Conletti (2007)
„Italia and Innovation: Organisational Structure and Publ Pol es‟. Maria
Chiarvesio, Eleonora Di Maria, và Stefano Micelli (2010), „Global Value Chains and
Open Networks: The Case of Italian Industrial Districts‟; Patrizio Bianchi và
Sandrine Labory (2010), „Industrial Policy after the Crisis: the Case of the EmiliaRomagna Region in Italia‟.
Về Cộng hòa Pháp, Jean-Pierre Dormois (1999), „France: The Idiosyncrasies
of Volontarisme‟ trong cuốn European Industrial Policy: The Twentieth-Century
Experience của James Foreman – Peck và Giovanni Federico, 1999; Elie Cohen
(2007), „Industrial Policies in France: the Old and the New‟; Geoffrey Owen (2012)
„Industrial Policy in Europe since the second world war: what has been learnt?‟.
Về Vương Quốc Anh, James Foreman-Peck và Leslie Hannah 1999 , „Britain:
From Economic Liberalism to Socialism – And Back?‟; Martin Chick (1998),
„Industrial Policy in Britain 1945 – 1951: Economic planning, Nationalism, and the


6
Labour governments‟; Ben Gardiner và các tác giả (2012), „Spatially Unballanced
Growth in the British Economy‟; Kaveh Pourvand (2013), „P k n W nners: How
UK industrial policy ensured the success of the aerospace and automobile
ndustr es‟.
1.2. Nghi n c u trong nƣớc
Một số công trình nghiên cứu về chính sách công nghiệp của các nước trên thế
giới và Việt Nam gồm: Viện Kinh tế Thế giới 1994 , “ n s
n n
p tron
nền k n tế t ị tr ờn p t tr ển: n ữn
t ếp ận m ”; Đỗ Hoài Nam chủ
biên) (1996), uyển dị
ơ ấu k n tế n n v p t tr ển
n n trọn
ểm,
mũ n ọn ở V t N m); Kenichi Ohno và Nguyễn Văn Thường chủ biên 2005 ,
Ho n t n
ến l
p t tr ển n n
p V t N m; Pietro Masina (2006)
V etn m‟s Development Str te y tạm dịch: Các chiến lược phát triển của Việt Nam ;
Dwight H. Perkins và Vũ Thành Tự Anh (2010), “Chính sách công nghi p c a Vi t
Nam: Thiết kế
n s
ể phát triển bền vững”; Đề tài cấp bộ: “Chính sách công
n
p tron m ìn tăn tr ởn m ,
oạn 2011-2020”, do Lê Anh Vũ làm
chủ nhiệm đề tài (2011); Đề tài cấp bộ: „ ều
n
n s
p t tr ển
n
P p‟ thực hiện 2011-2012 do Đinh Mạnh Tuấn làm chủ nhiệm; Đỗ Tá Khánh
chủ biên 2013 , „ ều
n
n s
p t tr ển ở V ơn qu
n
oạn
ậu k n oản t
n v suy t o k n tế to n ầu 200 v b

oV t
Nam‟.
1.3. M t số vấn đề đ t ra cho luận án
Các đề tài nêu trên vẫn còn có một số hạn chế như chưa phân tích chính sách
công nghiệp đặt trong bối cảnh mới của quá trình toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng,
với tiến trình tự do hóa thương mại và thiết lập các khu vực mậu dịch tự do chồng
chéo. Các đề tài này chưa làm rõ các động lực điều chỉnh chính sách công nghiệp với
một sự kết nối theo dòng lịch sử, đặc biệt là cập nhật nh ng điều chỉnh chính sách
trong giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính 2008. Với nh ng điểm còn khuyết nêu
trên, luận án này được kỳ vọng sẽ là nguồn bổ sung quan trọng cho cơ sở l luận và
kinh nghiệm quốc tế cho quá trình hoạch định chính sách công nghiệp ở Việt Nam.


7
CHƢƠNG 2
MỘT SỐ V N ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
CHÍNH SÁCH CÔNG NGHIỆP Ở LIÊN MINH CHÂU ÂU
2.1. Khái niệm về chính sách c ng nghiệp
2.1.1. Khái niệm theo nghĩa rộng
Khái niệm theo nghĩa rộng về chính sách công nghiệp được một số học giả đưa
ra như Adams và Klein, Johnson (1984), Rodrik (2004), và Foreman-Peck và
Federico 1999 …vv. Chính sách công nghiệp được xem là tất cả nh ng gì có ích cho
việc cải thiện tăng trưởng và hoạt động cạnh tranh của tổng thể nền kinh tế hoặc của
các ngành cụ thể trong nền kinh tế. Khái niệm theo hướng này cũng được xem là sự
tìm tòi hướng phát triển công nghiệp dựa trên các lợi thế so sánh và đặc điểm thể chế
của t ng quốc gia.
2.1.2. Khái niệm theo nghĩa hẹp
Các khái niệm theo nghĩa hẹp được một số học giả đưa ra như Tyson và
Zysman (1983), Chang 1994 , Darmer và Kuyper 2000 …. Họ cho rằng mục tiêu
của chính sách công nghiệp là nhằm thúc đẩy sự phát triển ở các ngành hoặc doanh
nghiệp cụ thể nhằm đáp ứng các mong muốn của nhà nước. Chính sách công nghiệp
theo nghĩa này cũng được bao gồm các công cụ pháp l tạo hành lang cho phát triển
công nghiệp và các công cụ ngân sách hỗ trợ phát triển công nghiệp.
2.1.3. Quan điểm c a uận án v khái niệm chính sách công nghiệp
T các khái niệm về chính sách công nghiệp rộng và hẹp nêu trên, luận án cho
rằng khái niệm theo nghĩa rộng và hẹp nên có sự „pha trộn‟ nhằm phản ánh thực tế phát
triển hiện nay trên thế giới. Theo đó, chính sách công nghiệp có thể được xem là một tập
hợp các hoạt động can thiệp của nhà nước bằng công cụ chính sách nhằm tạo ra các thể
chế thúc đẩy sự phát triển của nền công nghiệp của quốc gia trong môi trường cạnh tranh
và hội nhập.
2.2. M t số loại h nh chính sách c ng nghiệp
2.2.1. Chính sách bảo hộ (can thiệp) và chính sách tự do
Trong lịch sử phát triển chính sách công nghiệp trên thế giới, các quốc gia
thường sử dụng hai hình thức hoặc bảo hộ hoặc tự do nhằm thúc đẩy nền công nghiệp
của họ. Ở châu Âu trước đây, đặc biệt là thời kỳ t cách mạng công nghiệp đến trước
thập niên 1990, chính sách công nghiệp thường được phân thành hai nhóm: bảo hộ ở
Đức, Pháp, Italia… và tự do ở Anh, Đan Mạch, Hà Lan…. Ngày nay, các nước công
nghiệp phát triển Phương Tây thường kêu gọi thế giới dịch chuyển sang thực hiện các
chính sách tự do và coi đó là phương cách để đi đến sự thịnh vượng.


8
2.2.2. Chính sách theo chi u dọc và chính sách theo chi u ngang
Chính sách công nghiệp theo chiều dọc vertical industrial policy hay còn gọi
là chính sách ngành (sector policy) được xem là chính sách có sự hỗ trợ của chính
phủ đối với các doanh nghiệp hoặc các ngành cụ thể. Chính sách theo chiều ngang
chú trọng vào các tác động rộng đến các lĩnh vực của nền kinh tế, thay vì chỉ tập
trung vào một số lĩnh vực như chính sách công nghiệp theo chiều dọc.
2.2.3. Chính sách công nghiệp vĩ mô và chính sách công nghiệp vi mô
Chính sách công nghiệp vĩ mô là nh ng hành động có thể dẫn đến sự hình
thành một hệ thống mang tính thể chế để các hoạt động can thiệp của nhà nước diễn
ra trong đó. Trong khi đó, chính sách công nghiệp vi mô là phương tiện để các quyền
được chuyển đổi thành năng lực tham gia của công dân vào sản xuất công nghiệp.
2.3. Chính sách c ng nghiệp chung

Li n minh Ch u

u

2.3.1. N n tảng cơ bản c a chính sách công nghiệp chung
Khái niệm về chính sách công nghiệp lần đầu tiên được EU đề cập trong Hiệp
ước Maastricht về thành lập Liên minh châu Âu 1992 và sau đó được nhắc lại trong
Hiệp ước Amsterdam 1997 . Khái niệm về chính sách công nghiệp của EU có thể
được xếp vào nhóm khái niệm theo nghĩa rộng, khi tập trung vào tính cạnh tranh của
nền công nghiệp. EU hướng chính sách công nghiệp đến mục tiêu “…đảm bảo sự tồn
tại các điều kiện cần thiết cho tính cạnh tranh của công nghiệp của Cộng đồng” EU,
Title XVI: Industry, Article 157, Treaty of Amsterdam). Bên cạnh các chính sách tác
động trực tiếp đến các ngành công nghiệp cụ thể thông qua các công cụ chính sách và
tài chính, chính sách công nghiệp của EU còn chịu tác động của các chính sách đối
nội và đối ngoại có vai trò quan trọng với phát triển công nghiệp.
2.3.2. Một số nội dung chính c a chính sách công nghiệp chung hiện nay
Kể t hiệp ước Maastricht đến nay, chính sách công nghiệp về cơ bản vẫn gi
nguyên bản chất là một chính sách theo chiều ngang. Trong nh ng năm đầu thế kỷ XXI,
chính sách công nghiệp của EU đã được đề cập trong Điều 173 của Hiệp ước về Chức
năng của Liên minh Châu Âu (TFEU), k kết năm 2007 tại Lisbon. Với cơ sở pháp l
trên, trong chiến lược phát triển 10 năm (2010-2020) - Chiến lược Châu Âu 2020 - Ủy
ban Châu Âu EC đã đưa ra sáng kiến “Một chính sách công nghiệp cho kỷ nguyên
toàn cầu hóa” 2010 . Sáng kiến này đã đưa ra cách tiếp cận mới đối với chính sách công
nghiệp chung của EU, theo đó chính sách công nghiệp EU cần được hiểu theo nghĩa
rộng hơn, đó là sử dụng linh hoạt cách tiếp cận hướng theo mục tiêu ngành, trong đó tập
trung vào nh ng ngành trọng điểm có tính cạnh tranh và có tiềm năng phát triển dẫn đầu
trong tương lai.
2.3.3. Mối quan hệ giữa chính sách công nghiệp chung và chính sách công nghiệp
quốc gia
Chính sách công nghiệp quốc gia vẫn có vai trò duy nhất ở một số lĩnh vực cụ
thể như sở h u nhà nước, đào tạo kỹ năng và vốn con người, phát triển khu công


9
nghiệp và mua sắm quốc phòng. Trong khi đó phần lớn chính sách được chia sẻ gi a
EU và quốc gia, chủ yếu tập trung vào các chính sách thúc đẩy đổi mới, nghiên cứu
và phát triển. Một số chính sách thuộc thẩm quyền riêng của EU tập trung ở các lĩnh
vực bao trùm toàn cộng đồng như thiết lập thị trường chung, kiểm tra tính cạnh tranh
hay các vấn đề liên quan đến thương mại chung.
2.4. M t số nh n tố chính tác đ ng đến hoạch đ nh chính sách c ng nghiệp
quốc gia Li n minh Ch u u
2.4.1. Toàn cầu hóa
Chính sách công nghiệp ngày nay chịu sự tác động to lớn của quá trình toàn
cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ với việc thành lập một mạng lưới chằng chịt các khu
vực mậu dịch tự do, gi a các quốc gia với quốc gia, gi a các quốc gia với tổ chức
liên kết khu vực, hoặc gi a các khu vực với các khu vực. Khi xây dựng chính sách,
mỗi nhà nước sẽ phải tham chiếu với các quy định chung của các khối liên kết mà đất
nước đó đã tham gia. Bên cạnh đó, sự dịch chuyển dòng vốn đầu tư không ng ng của
các tập đoàn đa quốc gia đã tạo ra sự cạnh tranh ngày càng gay gắt gi a các quốc gia.
2.4.2. Quá trình liên kết khu vực
Quá trình liên kết châu Âu thành công trong việc hình thành nên một Thị
trường đơn nhất Single market và một Liên minh kinh tế và tiền tệ (EMU) cùng với
sự ra đời của đồng tiền chung – đồng Euro. Với bước tiến này, toàn bộ các nước
thành viên đã trở thành một thị trường hợp nhất, nơi hàng hóa, vốn và lao động được
dịch chuyển tự do. Sự tái phân công lao động trong một thị trường lớn với 28 nước
thành viên đã tạo cho EU trở thành một thực thể kinh tế lớn bậc nhất toàn cầu.
2.4.3. Các chính sách chung c a Liên minh Châu Âu
Cùng với quá trình nhất thể hóa, EU cũng hình thành và liên tục củng cố các
chính sách chung của toàn Liên minh, như chính sách Đối ngoại và An ninh chung,
chính sách nông nghiệp chung, chính sách cạnh tranh, chính sách vùng, chính sách
lương, chính sách thuế, chính sách sử dụng đất, chính sách năng lượng… Chính sách
công nghiệp của EU hiện nay hướng đến chính sách theo chiều ngang, với việc chú
trọng đến tác động lan t a trong nền kinh tế của chính sách. Do vậy, việc hoạch định
chính sách quốc gia thành viên phải tuân thủ, không mâu thuẫn với các chính sách
chung của EU.
2.4.4. Vai trò c a nhà nước trong một n n kinh tế mở
Đây là một vấn đề l luận quan trọng có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển
nói chung và phát triển công nghiệp nói riêng của một quốc gia, bởi suy cho cùng
chính sách công nghiệp là một sản phẩm của nhà nước, một công cụ để nhà nước
thúc đẩy phát triển nền kinh tế. Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn
cầu năm 2008 đã cho thấy vai trò của nhà nước trong thực tiễn của nền kinh tế thị
trường. Trước sự sụp đổ của các ngân hàng, tập đoàn tài chính và các nhà sản xuất
công nghiệp lớn, chính phủ của nhiều quốc gia trên khắp thế giới, đặc biệt là các


10
quốc gia vẫn được xem là phát triển theo mô hình thị trường tự do, đã thực hiện nhiều
gói cứu trợ lớn.
2.4.5. Cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại
Cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện nay là một nhân tố có tác động mạnh mẽ đến
phương thức sản xuất công nghiệp trên toàn thế giới. Các kết quả nghiên cứu khoa học
đã được đưa vào ứng dụng trong sản xuất công nghiệp rất nhanh nhằm mang lại nh ng
lợi thế về kinh doanh cho các nhà sản xuất công nghiệp trong bối cảnh cạnh tranh gay
gắt do quá trình toàn cầu hóa mang lại. Các yêu cầu về bảo vệ môi trường và phát triển
bền v ng hiện nay cũng đặt ra nhu cầu phải đổi mới công nghệ sản xuất công nghiệp.
Các quốc gia muốn trở nên thịnh vượng hơn hoặc duy trì lợi thế cạnh tranh của mình
đều đang tập trung đầu tư cho các công nghệ có triển vọng tạo lợi thế cạnh tranh trong
sản xuất công nghiệp trong tương lai.


11
CHƢƠNG III
CHÍNH SÁCH CÔNG NGHIỆP Ở MỘT SỐ NƢỚC THÀNH VIÊN LIÊN
MINH CHÂU ÂU
3.1. Chính sách c ng nghiệp

C ng h a Italia

3.1.1. Sơ ược sự h nh thành và phát triển chính sách công nghiệp ở Ita ia đến
iệp ước Maastricht
Tự do và bảo h : chính sách công nghi p c a Italia trong thời kỳ ầu c a quá trình
công nghi p ó ến 1945: Sau khi thống nhất đất nước vào năm 1861, Italia đã bước
vào thời kỳ phát triển công nghiệp có tính tự do cao. Tuy nhiên, sau hai thập kỷ phát
triển tự do, các chính sách bảo hộ bắt đầu được ban hành với mục tiêu xây dựng Italia
thành một cường quốc.
Tự do ó t ơn mại và sự phát triển c a doanh nghi p n n c ở Italia t 1 45
ến 1 0: Nền kinh tế của Italia trong giai đoạn này là một nền kinh tế “hỗn hợp”,
nơi có sự tồn tại của cả khu vực tư nhân và khu vực nhà nước. Chính phủ sử dụng các
doanh nghiệp nhà nước làm đầu tàu dẫn dắt nền kinh tế, làm động lực để tạo sự tăng
trưởng. Các doanh nghiệp nhà nước trong nh ng năm 1950 hoạt động rất năng động.
Kh ng hoảng kinh tế và sự chuyển
ng chính sách t ầu 1 0 ến 1992: Các
chiến lược xây dựng sức mạnh quốc gia “National Champions” đã thất bại, với nh ng
chi phí rất lớn. Với tư tưởng Tân tự do và tiến trình thống nhất châu Âu, thập niên 90
đã chứng kiến một xu hướng phổ biến trong chính sách kinh tế của Italia là tư nhân
hóa và tự do hóa.
3.1.2. Chính sách công nghiệp ở Ita ia t
Sự uyển
niên 2000

n

n s

t s uH p

iệp ước Maastricht đến na
Maastricht ến n ữn năm ầu t ập

Thập kỷ 1990 đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong chính sách công nghiệp ở
Italia với sự ra đời của Hiệp ước Maastricht về việc hình thành một liên minh châu
Âu. Việc hoạch định chính sách nói chung và chính sách công nghiệp nói riêng của
Italia phải tuân thủ các nguyên tắc chung của EU. Cùng với chính sách công nghiệp
chung, chính sách công nghiệp của Italia t sau Hiệp ước Maastricht đã chuyển sang
chính sách công nghiệp theo chiều ngang.
ơn trìn „Industr 2015‟:

n s

n n

p

oạn 2007-2015

Để đối phó với nh ng thách thức trong bối cảnh mới nh ng năm đầu thế kỷ
XXI, Italia đã đưa ra chương trình “Industria 2015”, được thông qua năm 2006 và thực
hiện t 2007 – 2015. Chương trình này có mục tiêu tổng quát là đưa công nghiệp trở
thành yếu tố trung tâm trong nhận thức mới về nền kinh tế thực, trong đó có sự kết hợp
gi a sản xuất công nghiệp truyền thống và sự hình thành các dịch vụ và công nghệ
mới, khai thác sự phối hợp gi a các doanh nghiệp sản xuất, các cơ quan nghiên cứu và


12
các tổ chức tài chính tư nhân. “Industria 2015” có hai mục tiêu cụ thể gồm: i phát triển
các hoạt động công nghiệp trong lĩnh vực công nghệ cao; ii nâng cấp và tăng cường
sức mạnh cho các doanh nghiệp nh và v a qua nghiên cứu, phát triển công nghệ,
giảm chi phí sản xuất, thúc đẩy đầu tư và tăng quy mô sản xuất. Chương trình có ba
lĩnh vực nghiên cứu có tính chiến lược gồm: hiệu quả sử dụng năng lượng, giao thông
bền v ng sustainable mobility và phát triển công nghệ mới cho các sản phẩm “Sản
xuất ở Italia” (Made in Italia).
3.1.3. Một số kết quả phát triển công nghiệp c a Italia
Bước vào thế kỷ XXI, Italia vẫn duy trì được vị trí là nước công nghiệp đứng
thứ 5 trên thế giới và đứng thứ 2 tại EU, sau Đức. Mặc dù vẫn gi được thứ hạng cao
trong nền sản xuất công nghiệp trên thế giới nhưng Italia đã chịu sự sụt giảm về cả tỷ
trọng trong nền công nghiệp thế giới và cả giá trị gia tăng trong sản xuất công nghiệp.
Italia chỉ gi được 74 thị phần xuất khẩu hàng hóa công nghiệp vào năm 2013 khi
so với năm 2000. Giá trị gia tăng của các ngành sản xuất công nghiệp của nước này
cũng giảm 12,8 vào năm 2012 khi so với năm 2008. Chương trình Industria 2015
chưa mang lại nh ng kết quả rõ rệt. Các chỉ số về giá trị gia tăng của các ngành sản
xuất công nghiệp đã giảm dần đều trong khoảng thời gian 2008 – 2012. Trong khi đó,
thị phần xuất khẩu vẫn tụt giảm 26 trong giai đoạn 2000 – 2013, tức là t khi chưa
thực hiện Chương trình cho đến khi Chương trình sắp kết thúc.
3.2. Chính sách c ng nghiệp

C ng h a Pháp

3.2.1. Sơ ược sự h nh thành và phát triển chính sách công nghiệp ở Cộng h a
háp đến iệp ước Maastricht
n s
n n
p
P p t t ờ kỳ olbert ến năm 1 45: Thuật ng chính
sách công nghiệp được xem có nguồn gốc t nước Pháp t thế kỷ XVII với chủ
trương nhà nước cần kiểm soát sự phát triển của nền kinh tế, do Jean-Baptiste Colbert
khởi xướng. Trong giai đoạn này, nhà nước Pháp tập trung vào công tác cải thiện hạ
tầng phục vụ cho phát triển và hướng đến các ngành công nghiệp phục vụ quân sự.
Các phân biệt đối xử trong thương mại đã được dùng như một phần của chính sách
công nghiệp.
n s
n n
p
P p t 1 45 ến 1980: Chính sách công nghiệp trong
thời kỳ này tập trung vào các ngành công nghiệp cụ thể, với mục tiêu thay thế nhập
khẩu. Chính phủ Pháp thực hiện chính sách quốc h u hóa, mua cổ phần và buộc sáp
nhập để trở thành các doanh nghiệp có quy mô lớn. T nửa cuối thập kỷ 60, Pháp đã
thực hiện chính sách “Các dự án lớn” nhằm xây dựng các sức mạnh cạnh quốc gia.


13
Chính sách công nghi p c a Pháp t 1 0 ến 1992: Chính sách công nghiệp trong
thời kỳ này ở Pháp bắt đầu có sự nới l ng, theo trào lưu chính sách tự do đang phổ
biến trên thế giới lúc đó. Trong suốt thập kỷ 80, chính kinh tế của Pháp đã có sự điều
chỉnh theo hướng chấm dứt sự can thiệp của nhà nước do bối cảnh mới, sau khi đã
tham gia ký kết Hiệp ước châu Âu đơn nhất (Single European Act).
3.2.2. Chính sách công nghiệp c a Cộng h a háp t Hiệp ước Maastricht đến
nay
n s

n n

p s u 1 2 ến 2004

Với định hướng chính sách công nghiệp của EU, chính sách công nghiệp của
Pháp đã chuyển t chính sách theo chiều dọc tập trung theo ngành sang chính sách
theo chiều ngang. Sự tập trung phát triển các doanh nghiệp lớn có lựa chọn như chính
sách “dự án lớn” trong nh ng năm 1970 đã được thay thế bằng các chính sách có tính
bao trùm, tác động lan t a như phát triển vốn con người, đổi mới, cạnh tranh, lập
pháp và củng cố hoạt động của một số lĩnh vực công nghiệp nhất định thông qua sự
phối hợp theo chiều ngang gi a các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp nhà nước lớn đã
được tư nhân hóa và nhà nước chỉ gi lại nh ng doanh nghiệp trong nh ng ngành
trọng điểm có ảnh hưởng tới an ninh quốc gia như giao thông, năng lượng.
n s

n n

p 2004

Năm 2004, một khung khổ chính sách công nghiệp đã được ra đời và vẫn đi
theo mô hình chính sách công nghiệp theo chiều ngang, bao gồm 5 lĩnh vực được xác
định rõ cùng với các cơ sở l thuyết cho các lĩnh vực đã được lựa chọn, bao gồm: i
cụm công nghiệp hay cụm cạnh tranh: là nơi quy tụ các doanh nghiệp với hy vọng
chúng sẽ bổ trợ cho nhau và tạo nên một mạng lưới, một chuỗi giá trị có khả năng
cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế; ii các dự án công nghệ: được tập
trung theo ngành và có tính chuyên môn hóa; iii) Chính sách SME: xây dựng một hệ
sinh thái doanh nghiệp; iv xây dựng một nền kinh tế tri thức; và v đầu tư vào vốn
con người: tăng cường năng lực của các trường đại học, cơ sở đào tạo.
ơn trìn “N

P p

n n

pm ”

Tháng 9 2013, chính phủ Pháp đã khởi động một chương trình phát triển công
nghiệp mới với tên gọi “Nước Pháp công nghiệp mới” New Industrial France”.
Chương trình này được xem là một cuộc đổi mới lớn trong phát triển công nghiệp ở
Pháp. Chính phủ Pháp đã xác định 34 dự án thúc đẩy sự phát triển của các doanh
nghiệp Pháp hướng đến khả năng cạnh tranh toàn cầu. Các dự án này hướng đến thực
hiện 3 ưu tiên chiến lược của Pháp gồm: chuyển đổi năng lượng và giao thông thân
thiện môi trường, chăm sóc y tế và nền kinh tế phục vụ cuộc sống, và công nghệ số.
3.2.3. Một số kết quả phát triển công nghiệp c a Pháp
Bước vào thế kỷ XXI, Pháp vẫn nằm trong nhóm 7 nước công nghiệp phát
triển hàng đầu thế giới. Xét về mặt sản xuất công nghiệp, Pháp đứng thứ 8 thế giới và
đứng thứ ba ở châu Âu, sau Đức và Italia. Tuy nhiên một xu thế chung cho thấy,


14
trong hơn hai thập kỷ qua, tỷ trọng của Pháp trong sản xuất công nghiệp toàn cầu đã
chịu sự tụt giảm, cả về thị phần và giá trị sản lượng công nghiệp. Mặc dù vậy, Pháp
vẫn tăng cường đầu tư cho R&D và SME. Năm 2009 và 2010, đầu tư cho R&D ở
Pháp là 2,26 . Đối với việc thực hiện chương trình “Nước Pháp công nghiệp mới”,
đến nay chúng ta chưa thấy được các kết quả do nó mới được triển khai t nửa cuối
năm 2013. Bên cạnh đó, 34 dự án được xác định trong Chương trình đều nhằm vào
các công nghệ cao, phục vụ cho tương lai, do vậy hiệu quả của Chương trình nói
chung và các dự án nói riêng sẽ phải mất một thời gian dài n a mới có có thể kiểm
chứng.
3.3. Chính sách c ng nghiệp

Vƣơng quốc Anh

3.3.1. Sơ ược sự h nh thành và phát triển chính sách công nghiệp c a
quốc nh đến iệp ước Maastricht

ương

n s
n n
p
V ơn qu
n t t ế kỷ XIX ến 1 45: Nền tảng cho
chính sách công nghiệp của Vương quốc Anh trong thế kỷ XIX là chủ nghĩa tự do
cạnh tranh và sự thiết lập các thể chế để thị trường vận hành tốt hơn. Trong nửa đầu
thế kỷ XX, Vương quốc Anh đã theo đuổi chính sách công nghiệp định hướng ngành.
Sở h u nhà nước đã được sử dụng như một công cụ nhằm kìm chế thế độc quyền của
các tập đoàn tư nhân trong một số ngành then chốt.
n s
n n
p
V ơn qu
n t 1945 ến 1 0: Mặc dù có nh ng
cam kết tự do thương mại về mặt hình thức nhưng trên thực tế Vương quốc Anh vẫn
áp đặt quota nhập khẩu đối với các ngành công nghiệp sản xuất của nước ngoài nhằm
bảo vệ việc làm trong nước và nhằm đảm bảo vấn đề an ninh. Chính sách sử dụng các
doanh nghiệp sở h u nhà nước vẫn được duy trì và đặc biệt được thúc đẩy mạnh
trong giai đoạn Công đảng năm quyền t 1945 đến 1951.
n s
n n
p
V ơn qu
n t 1980 – 1992: Vương quốc Anh đã
tiến hành cấu trúc lại nền kinh tế theo hướng thực hiện tư nhân hóa và tự do hóa.
Chính sách công nghiệp đề cập ít hơn, thay vào đó là chính sách cạnh tranh. Trong
thời gian này, Vương quốc Anh đã có sự hội nhập sâu hơn vào Cộng đồng Châu Âu.
Chính phủ vẫn quan tâm đến việc tìm kiếm và đầu tư cho các ngành công nghiệp có
tiềm năng trong tương lai nhưng với quy mô đầu tư nh hơn.
3.3.2. Chính sách công nghiệp c a ương quốc nh t Hiệp ước Maastricht đến
nay
Cũng giống như nhiều nước EU khác, chính sách công nghiệp của Vương quốc
Anh đã dịch chuyển t chính sách công nghiệp theo chiều dọc sang chính sách công
nghiệp theo chiều ngang t đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Bắt đầu t thời kỳ nắm
quyền của Thủ tướng Magret Thatcher, Vương Quốc Anh đã tiến hành tư nhân hóa
nhiều tập đoàn kinh tế lớn trong các lĩnh vực ô tô, hàng không, hóa chất…. Chính
phủ không còn theo đuổi việc nắm gi các doanh nghiệp lớn đã được quốc h u hóa
trong thập niên 1960 – 1970, nhằm xây dựng sức mạnh cạnh tranh quốc gia. Tuy


15
nhiên, điều này không có nghĩa là chính phủ Anh buông hoàn toàn các lĩnh vực đầu
tàu có ảnh hưởng đến sự phát triển công nghiệp trong tương lai.
Với nh ng điều chỉnh chính sách công nghiệp sau khủng hoảng 2008, định
hướng phát triển công nghiệp trong tương lai của Vương quốc Anh được thể hiện
trong chính sách công nghiệp hiện nay của Chính phủ Anh gồm 5 nội dung chính sau:
i) Thúc đẩy sự phát triển của 11 ngành chủ chốt; ii) Hỗ trợ sự phát triển của 8 công
nghệ quan trọng; iii) Tăng sự tiếp cận tài chính cho doanh nghiệp; iv) Phát triển kỹ
năng cho người lao động trong các lĩnh vực chủ chốt; v) Sử dụng việc mua sắm công
để tạo cơ hội cho các doanh nghiệp và các chuỗi cung cấp của Vương Quốc Anh.
Về khía cạnh tiếp cận tài chính của doanh nghiệp, Chính phủ cam kết đảm bảo
các doanh nghiệp có thể tiếp cận nhiều nguồn tài chính khác nhau. Đối với mua sắm
công, Chính phủ được xem là một nguồn cầu quan trọng của nền kinh tế. Để có thể
hỗ trợ doanh nghiệp nh và v a, Chính phủ cam kết dành 25 ngân sách mua sắm
công cho các doanh nghiệp nh và v a vào năm 2015. Bên cạnh các chính sách cơ
bản trên, Chính phủ Anh còn có các chính sách khác nhằm hỗ trợ phát triển công
nghiệp như: sáng kiến về chuỗi cung cấp sản xuất tiên tiến, các trung tâm Catapult,
và chính sách phát triển vùng.
3.3.3. Một số kết quả phát triển công nghiệp c a ương Quốc nh
Trong hơn một thập niên đầu thế kỷ XXI, Vương Quốc Anh đã trải qua nh ng
thăng trầm trong phát triển kinh tế - gồm cả thời kỳ tăng trưởng, suy thoái và phục
hồi, với một số đặc điểm sau: Thứ n ất, nền công nghiệp của Vương quốc Anh, cụ
thể là sản xuất công nghiệp, có xu hướng suy thoái và chiếm tỷ trọng ngày càng thấp
khi so sánh với ngành dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ tài chính; T ứ
, sự tăng trưởng
kinh tế của Vương quốc Anh có sự bất cân bằng khi xét theo khu vực địa l ; T ứ b ,
trong so sánh với các nước công nghiệp phát triển khác, Vương Quốc Anh đã bị tụt
hạng hoặc chịu sự đe dọa tụt hạng ở một số tiêu chí như đầu tư kinh doanh và thu hút
vốn đầu tư nước ngoài. Sản xuất công nghiệp của Vương Quốc Anh không có sự sụt
giảm về giá trị gia tăng trong nh ng năm gần đây nhưng thị phần trong sản xuất công
nghiệp trên thế giới lại có sự sụt giảm. Chính sách công nghiệp của Vương Quốc Anh
đã chuyển sang thực hiện chính sách theo chiều ngang, tuy nhiên nó vẫn có một số
nội dung có tính chất của chính sách theo chiều dọc, với việc tập trung nguồn lực vào
một số ngành có tính chất chiến lược và có triển vọng đem lại tầm ảnh hưởng lớn
trong tương lai.


16
CHƢƠNG IV
MỘT SỐ V N ĐỀ R T RA VÀ
KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
4.1. M t số vấn đề r t ra t chính sách c ng nghiệp của Italia Pháp và Vƣơng
Quốc Anh
4.1.1. Ch nghĩa bảo hộ ch nghĩa tự do và chính sách công nghiệp
Lịch sử hình thành và phát triển chính sách công nghiệp của Italia, Pháp và
Vương Quốc Anh cho thấy, các quốc gia được xem là tự do và bảo hộ đều đã thành
công trong việc đưa chúng trở thành các quốc gia công nghiệp phát triển. Trong
trường hợp Italia và Pháp, chính sách bảo hộ đã giúp đã giúp hai quốc gia này xây
dựng được nền công nghiệp mạnh và có tính cạnh tranh. Trong trường hợp của
Vương Quốc Anh, chủ nghĩa tự do đã được áp dụng khá nhất quán ngay t đầu, tuy
nhiên trào lưu của thế giới cũng đã khiến Vương Quốc Anh phải có nh ng chính sách
theo hướng bảo hộ trong một giai đoạn. Sau chiến tranh thế giới II, các chính sách
bảo hộ của Italia, Pháp và Vương Quốc Anh đã dần được xóa b cùng với tiến trình
thống nhất khu vực. Chính sách bảo hộ ở cấp quốc gia đã được chuyển sang cấp cộng
đồng, với hàng rào thuế quan cũng như hàng rào phi thuế quan chung. Do đó, khi
xem xét chính sách quốc gia của các nước thành viên EU, chúng ta cần có sự kết nối
với chính sách chung của EU.
4.1.2. Liên kết khu vực toàn cầu h a và chính sách công nghiệp
Phân tích trường hợp ba quốc gia công nghiệp ở EU nêu trên cho thấy, chính
sách công nghiệp của ba quốc gia này đã chịu sự chi phối và phải tuân thủ chính sách
công nghiệp chung của EU. T khi Hiệp ước thành lập Liên minh Châu Âu Hiệp
ước Maastricht ra đời năm 1992, chính sách công nghiệp của ba nước thành viên này
đã có sự hội tụ khi chuyển t chính sách theo chiều dọc sang chính sách theo chiều
ngang. Tuy nhiên, sự lựa chọn chính sách công nghiệp chung của EU t năm 1992
cũng nên được nhìn nhận là hệ quả của việc lựa chọn và điều chỉnh chính sách công
nghiệp ở cấp quốc gia. Việc hoạch định chính sách quốc gia trong giai đoạn hiện nay
ở EU sẽ không nh ng phải tuân theo các định hướng chung của Liên minh mà còn sẽ
phải tuân thủ các hiệp định quốc tế với các đối tác bên ngoài của EU.
4.1.3. Chính sách công nghiệp theo chi u ngang hiệu quả chưa r ràng
Chính sách công nghiệp theo chiều ngang đã được áp dụng tại EU nói chung
và các nước thành viên nói riêng t năm 1992 đến nay, tuy nhiên số liệu vĩ mô về
công nghiệp ở ba nước được nghiên cứu trên đây lại không ấn tượng. Nếu xét trong
một khoảng thời gian t 1990 đến 2010, tức là t khi bắt đầu áp dụng chính sách
công nghiệp theo chiều ngang ở châu Âu thì tỷ trọng sản xuất công nghiệp của Italia,
Pháp và Vương Quốc Anh đã tụt giảm đáng kể trong tổng giá trị sản xuất công
nghiệp của toàn thế giới. Italia đã giảm t mức 5,3 năm 1990 xuống còn 3,5 vào


17
năm 2000 và 3,0 vào năm 2010. Pháp cũng đã chịu mức giảm mạnh khi giảm t
4,4 năm 1990 xuống 3,3 năm 2000 và 2,6 năm 2010. Vương Quốc Anh thậm
chí còn giảm mạnh hơn Pháp và Italia, đặc biệt trong giai đoạn t 2000 đến 2010, khi
giảm t mức 4,5 năm 1990 xuống 3,9 năm 2000 và chỉ còn 2,3 năm 2010.
4.1.4. ai tr c a nhà nước trong phát triển công nghiệp
Nhìn lại lịch sử phát triển chính sách công nghiệp của Italia, Pháp và Vương
Quốc Anh, nhà nước đã có vai trò quan trọng trong sư phát triển công nghiệp ở các
nước này. Chính sách bảo hộ bằng các công cụ thuế quan đã giúp các ngành công
nghiệp non trẻ của các nước này phát triển và có khả năng cạnh tranh với các nước
khác trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, sự can thiệp của nhà nước qua việc
quốc h u hóa và sử dụng doanh nghiệp nhà nước nhằm tạo đầu tàu phát triển lại chỉ
mang nh ng thành tựu hạn chế trong giai đoạn ngắn ngủi sau Chiến tranh thế giới II.
Mặc dù có nh ng thành công, sự can thiệp của nhà nước qua công cụ là các doanh
nghiệp nhà nước cuối cùng lại đưa đến nh ng thất bại buộc Italia, Pháp và Vương
Quốc Anh phải điều chỉnh chính sách. Nhà nước hiện nay chỉ gi một phần chi phối
nền công nghiệp thông qua việc gi cổ phần tại các tập đoàn trong các lĩnh vực quan
trọng của nền kinh tế.
4.1.5. Khoa học-công nghệ: lợi thế cạnh tranh trong tương ai
Chính sách công nghiệp của cả 3 quốc gia đều tập trung đầu tư và thúc đẩy sự đổi
mới và phát triển các công nghệ mới. Đây là một đặc điểm chủ yếu của chính sách công
nghiệp theo chiều ngang khi cho rằng các kết quả nghiên cứu khoa học và cải tiến công
nghệ sẽ có các tác động lan t a đến các lĩnh vực khác trong nền kinh tế, trong đó có sản
xuất công nghiệp. Italia đã xác định phát triển công nghiệp trong lĩnh vực công nghệ cao
là một trong hai mục tiêu chính của „Industria 2015‟, trong khi Pháp xác định 34 dự án
trong chương trình Nước Pháp công nghiệp mới với trọng tâm là các ngành công nghệ cao
của tương lai. Trong khi đó, Vương quốc Anh xác định cho mình 8 công nghệ chủ chốt
làm lợi thế cạnh tranh cho mình trong tương lai. Với việc xác định đầu tư vào nghiên cứu
khoa học và phát triển công nghệ thể hiện trong chính sách công nghiệp, ba quốc gia được
nghiên cứu đang hướng đến đến giai đoạn phát triển hậu công nghiệp hóa.
4.2. Chính sách c ng nghiệp Việt Nam hiện nay
4.2.1. Định hướng phát triển công nghiệp hiện nay ở Việt Nam
Chiến lược phát triển công nghiệp của Việt Nam hiện nay nếu xét theo các
quan điểm về chính sách công nghiệp đã đề cập ở Chương 2 thì có thể phân vào
chính sách công nghiệp hỗn hợp, tức là cả chính sách công nghiệp theo chiều ngang
và chính sách sách theo chiều dọc chính sách ngành . Thực tế này được thể hiện
trong định hướng phát triển công nghiệp mới nhất là “Chiến lược phát triển công
nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035” đã được Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt năm 2014. Bên cạnh các giải pháp chung, Nhà nước ưu tiên phát triển
6 nhóm ngành công nghiệp thuộc 3 ngành lớn gồm: chế biến, chế tạo; điện tử và viễn
thông; năng lượng mới và năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, Chiến lược này không đề ra


18
các chỉ tiêu phát triển cho các ngành công nghiệp ưu tiên nêu trên mà chỉ nêu chỉ tiêu
phát triển công nghiệp cho toàn bộ nền kinh tế, ví dụ như tổng độ giá trị sản xuất
công nghiệp giai đoạn đến năm 2020 đạt 12,5-13,0 năm, giai đoạn 2021-2025 đạt
11,0-12,5 năm và giai đoạn 2026-2035 đạt 10,5-11,0 năm. Do vậy, điều này sẽ
dẫn đến tình trạng rất khó đánh giá việc phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên
trong tương lai.
4.2.2. Một số thách thức đối với phát triển công nghiệp ở Việt Nam
T ứ n ất, Việt Nam đã dần trở thành một trung tâm sản xuất công nghiệp với
tốc độ phát triển rất nhanh nhưng nh ng thành quả đạt được phụ thuộc ngày càng lớn
vào khu vực đầu tư nước ngoài. T ứ
, các doanh nghiệp Việt Nam đều đứng ngoài
chuỗi sản xuất toàn cầu ngay tại Việt Nam. T ứ b , mặc dù hàm lượng công nghệ cao
trong xuất khẩu của Việt Nam đã tăng lên nhanh chóng cùng với sự nổi lên của ngành
điện tử dựa vào đầu tư nước ngoài, nhưng nó không đồng nghĩa với việc người lao
động Việt Nam có kỹ năng cao hơn và trình độ công nghệ cao hơn. T ứ t , cải cách
doanh nghiệp nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động vẫn đang là thách thức và
thu hút sự thảo luận ở Việt Nam. T ứ năm, các ngành được lựa chọn cho thấy rõ
mong muốn khai thác các lợi thế cạnh tranh hiện tại của đất nước hơn là có sự tham
chiếu với các quốc gia khác và dựa vào các dự báo về xu hướng phát triển công
nghiệp trong tương lai. u ùn , sự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới đang
đẩy các doanh nghiệp Việt Nam và nền công nghiệp Việt Nam vào thế phải cạnh
tranh bình đẳng trên cả thị trường trong nước và quốc tế.
4.3. M t số khuyến ngh chính sách cho Việt Nam
T kinh nghiệm chính sách công nghiệp của Italia, Pháp và Vương Quốc Anh
cũng như thực trạng phát triển công nghiệp ở Việt Nam hiện nay, một số khuyến
chính sách có thể rút ra cho Việt Nam như sau:
T ứ n ất, t kinh nghiệm của các nước EU được nghiên cứu, Việt Nam có thể
thúc đẩy sự phát triển của SME nói riêng và doanh nghiệp Việt Nam nói chung bằng
cách ưu tiên mua hàng hóa của các doanh nghiệp này khi thực hiện mua sắm công,
sớm thiết lập một thị trường khoa học công nghệ, tiếp tục cải cách hành chính….
T ứ
, nhà nước cần tập trung thu hút đầu tư của các SME đến t EU vào
Việt Nam. Điều này phù hợp với chính sách của EU về khuyến khích các SME mở
rộng kinh doanh ra thị trường thế giới.
T ứ b , Việt Nam cần đẩy nhanh tốc độ cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà
nước đã được xác định nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này
và của cả nền kinh tế.
T ứ t , t kinh nghiệm của một số nước EU nêu trên và thách thức mang tính
thực tiễn đối với lực lượng lao động công nghiệp của Việt Nam hiện nay, Chương
trình mục tiêu quốc gia về đào tạo nghề cần tập trung vào chất lượng hơn là số lượng
học viên.


19
T ứ năm, Việt Nam nên thực hiện hài hòa gi a chính sách công nghiệp theo
chiều dọc và chính sách theo chiều ngang.
u
ùn , ASEAN đang ngày càng thắt chặt liên kết khu vực với việc hình
thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), điều này đ i h i Việt Nam phải cân nhắc
yếu tố liên kết khu vực khi hoạch định chính sách.


20
KẾT LUẬN
T các kết quả nghiên cứu về chính sách công nghiệp của một số quốc gia
công nghiệp đồng thời là thành viên chủ chốt của EU gồm Cộng hòa Italia, Cộng hòa
Pháp và Vương quốc Anh, đề tài rút ra một số kết luận sau:
1) Chính sách công nghiệp của ba quốc gia đã có sự dịch chuyển t chính sách
công nghiệp theo chiều dọc sang chính sách công nghiệp theo chiều ngang
trong nh ng năm cuối trước thềm thế kỷ XXI. Chính sách công nghiệp của các
quốc gia thành viên được điều chỉnh cùng với sự ra đời của Hiệp ước
Maastricht, trong đó đã lần đầu tiên định hình nên chính sách công nghiệp
chung của EU, với cách tiếp cận theo chiều ngang. Nếu nhìn vào hiện tượng
như vậy, nhiều người rất có thể đi đến kết luận rằng chính sách công nghiệp
quốc gia được điều chỉnh nhằm phù hợp với chính sách chung của EU. Tuy
nhiên, khi phân tích sâu vào lịch sử hình thành và phát triển chính sách công
nghiệp của cả ba nước, chúng ta sẽ nhận thấy rằng chính sách công nghiệp của
các nước thành viên đã được định hình theo chiều dọc trong một thời gian dài,
với sự can thiệp cao của nhà nước. Cuộc khủng hoảng dầu m trong nh ng
năm cuối 1970 đã cho thấy sự hạn chế của mô hình chính sách này khi hàng
loạt các doanh nghiệp vốn được định hướng trở thành sức mạnh quốc gia đã
khủng hoảng. Bên cạnh đó, sự tập trung phát triển theo ngành đã dẫn đến sự
phát triển không đồng đều gi a các vùng trong quốc gia và không khai thác
được sức mạnh của các doanh nghiệp nh và v a. Với hoàn cảnh như vậy, cả
ba quốc gia đã phải tư nhân hóa hàng loạt doanh nghiệp lớn và giảm bớt sự can
thiệp của mình vào nền kinh tế. Do vậy, chính sách công nghiệp chung của EU
cần được nhìn nhận là kết quả của sự đồng thuận gi a các nước thành viên
trong việc định hình chính sách chung của EU và là sự phản ánh xu hướng
chính sách quốc gia trong đó.
2) Chính sách công nghiệp theo chiều ngang đã được triển khai tại EU và ba
nước thành viên được nghiên cứu hơn 20 năm qua, tuy nhiên tính hiệu quả của
chính sách này chưa thực sự rõ ràng nếu „soi‟ vào kết quả phát triển công
nghiệp ở cả ba nước. Mặc dù cả ba nước vẫn thuộc nhóm bảy nước công
nghiệp phát triển hàng đầu thế giới, tuy nhiên tỷ trọng của các nước này trong
sản xuất công nghiệp toàn cầu đã sụt giảm liên tục. Các nước này đã chịu sự
cạnh tranh mạnh mẽ t các nền kinh tế mới nổi, đặc biệt tại khu vực Đông và
Đông Nam Á. Ngoại tr Vương quốc Anh, giá trị gia tăng trong sản xuất công
nghiệp của Italia và Pháp đều giảm mạnh. Châu Âu nói chung và ba nước được
nghiên cứu nói riêng đã đánh mất sức mạnh trong nhiều ngành công nghệ cao
như điện tử vào tay các nước Đông Á như Trung Quốc và Hàn Quốc. Tuy
nhiên, cần lưu rằng, sự sụt giảm sản xuất công nghiệp ở châu Âu cũng một
phần do sự dịch chuyển vốn t châu Âu sang các nước đang phát triển ở Đông


21
và Đông Nam Á nhằm khai thác lợi thế so sánh của các khu vực này và sự dịch
chuyển sang giai đoạn phát triển hậu công nghiệp ở EU.
3) Trong môi trường thống nhất khu vực và toàn cầu hóa kinh tế, sự cạnh tranh đã
trở thành t khóa quan trọng cho các chính sách về kinh tế, trong đó có cả
chính sách công nghiệp. Các công cụ can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế
nói chung và lĩnh vực công nghiệp nói riêng đã phải chịu nhiều hạn chế. Các
quốc gia không thể tiến hành các chính sách bảo hộ sử dụng hàng rào thuế
quan nhằm bảo vệ các ngành công nghiệp còn non trẻ trong nước như trước
n a. Họ cũng không thể thực hiện các khoản tài trợ hoặc có nh ng ưu đãi về
chính sách đối với các doanh nghiệp trong nước nhằm hỗ trợ xuất khẩu. Các
ưu đãi này có thể đẩy hàng hóa của nước đó vào vòng kiện tụng hoặc bị áp
thuế chống phá giá t các quốc gia nhập khẩu. Trong môi trường thống nhất
khu vực như EU, hàng hóa, vốn, dịch vụ và lao động đã được tự do dịch
chuyển gi a các nước thành viên, do đó nguyên tắc không thiên vị và cạnh
tranh đã trở thành nhân tố lưu tâm hàng đầu trong chính sách công nghiệp quốc
gia của các nước thành viên.
4) Vai trò của nhà nước đối với phát triển công nghiệp qua việc sử dụng các
doanh nghiệp nhà nước đã không còn tác dụng như nh ng năm 1950 – 1960,
tuy nhiên nhà nước vẫn nắm gi sự chi phối trong một số ngành công nghiệp
then chốt. Sự thất bại của hàng loạt tập đoàn nhà nước trong thập niên 1970 đã
buộc các các nước châu Âu, trong đó có Italia, Pháp và Vương quốc Anh, phải
chấm dứt sự sở h u đối với các tập đoàn nhà nước. Các nước đã tiến hành tư
nhân hóa các tập đoàn nhà nước nhằm giúp chúng vận hành hiệu quả hơn và
nhà nước chỉ còn tập trung vào việc xây dựng thể chế và hành lang pháp lý
cũng như các định hướng lớn, tạo thuận lợi cho tất cả các ngành công nghiệp
phát triển đồng đều và có sự cạnh tranh. Mặc dù vậy, thực tiễn ba nước nêu
trên cho thấy, chính phủ của cả ba nước đều vẫn gi cổ phần có khả năng phủ
quyết trong các doanh nghiệp lớn đã được cổ phần hóa nhằm chống khả năng
bị thâu tóm t nước ngoài, đảm bảo sự tồn tại của các doanh nghiệp có vai trò
quan trọng đối với an ninh quốc gia hoặc có tiềm năng phát triển trong tương
lai như năng lượng, hàng không…
5) T nh ng kinh nghiệp của Italia, Pháp và Vương quốc Anh, Việt Nam nên tiếp
tục bổ sung, hoàn chỉnh chính sách công nghiệp theo hướng kết hợp gi a chính
sách công nghiệp theo chiều dọc và chính sách công nghiệp theo chiều ngang.
Việt Nam cần xây dựng các chính sách có khả năng ảnh hưởng đến chính sách
và sự phát triển công nghiệp để t đó đạt được hiệu quả cao nhất trong thực
hiện chính sách công nghiệp. Nhà nước có thể thoái vốn tại các doanh nghiệp
nhà nước nhằm mang lại sự hiệu quả trong hoạt động của doanh nghiệp nhưng
nên thực hiện hết sức thận trọng. Nhà nước cũng nên đảm bảo tính cạnh tranh
bình đẳng gi a các thành phần kinh tế và góp phần nâng cao khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp trước sự cạnh tranh do quá trình toàn cầu hóa và khu
vực hóa mang lại. Với việc hội nhập sâu rộng vào khu vực ASEAN và tham


22
gia các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương, Việt Nam cần
cân nhắc các quy định trong các hiệp định này trong việc hoạch định chính
sách công nghiệp nhằm khai thác tối đa nh ng cơ hội mà chúng mang lại.
6) Với giới hạn nghiên cứu chỉ ở ba nước thành viên EU, đề tài chắc chắn không
tránh kh i nh ng hạn chế, thiếu sót, đặc biệt là còn chưa đề cập được một số
kinh nghiệm tốt t các quốc gia công nghiệp khác ở EU như Cộng hòa Liên
bang Đức, Thụy Điển, Tây Ban Nha…vv. Tuy nhiên, nh ng hiểu biết về cơ sở
lý luận về chính sách công nghiệp nói chung và chính sách công nghiệp ở ba
quốc gia cụ thể này sẽ là nền tảng để tác giả tiếp tục nghiên cứu sâu hơn và mở
rộng hướng nghiên cứu về chính sách công nghiệp ở các quốc gia EU khác
cũng như các khu vực khác./.


23
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1. Đỗ Tá Khánh 2015 , “Sự hình thành và phát triển chính sách công nghiệp ở
Cộng hòa Pháp”, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 5 năm 2015, tr.26-35.
2. Đỗ Tá Khánh 2014 , “Chính sách công nghiệp ở Cộng hòa Italia”, Tạp chí
Nghiên cứu Châu Âu, số 10 năm 2014, tr.25-33.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×