Tải bản đầy đủ

Trạm xử lý nước ngầm quận 2

Lời Cảm Ơn

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt phần đồ án môn học này. Nhóm đã nhận được sự giúp đỡ
của rất nhiều người. Trong đó, nhóm xin gửi lời cảm ơn tới:
Nhóm xin cám ơn thầy – GVHD: PGS.TS. Huỳnh Phú đã cung cấp cho nhóm
những kiến thức quý giá và quan trọng trong suốt quá trình học vừa qua và đã tận
tình hướng dẫn, chỉ bảo cho nhóm trong suốt quá trình làm đồ án. Để hôm nay
nhóm có thể hoàn thành tốt đề tài đồ án này.
Cảm ơn nhà trường đã tạo điều kiện cho nhóm được tiếp xúc với đồ án. Đây
như một tiền đề giúp nhóm tiếp cận với chuyên ngành của mình.
Đồng thời, xin cảm ơn các bạn trong lớp 13DMT02 đã giúp đỡ và đóng góp ý
kiến cho nhóm hoàn thành tốt hơn đề tài này.
Mặc dù đã rất cố gắng hoàn thành đồ án, nhưng do khối lượng kiến thức khá
lớn và thời gian làm đồ án trùng với thời khóa biều học nên không tránh khỏi
những thiếu sót, mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn .
Một lần nữa nhóm xin chân thành cảm ơn.

GVHD: PGS.TS.HUỲNH PHÚ
Nhóm 6 – 13DMT02


Trang1/55


Danh Mục Hình Ảnh

DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1: Bản đồ khu dân cư quận 2.................................................................................9
Hình 2.2: Nhiệt độ không khí trung bình các tháng của khu vực Quận 2.......11
Hình 2.3: Lượng mưa trung bình các tháng của khu vực Quận 2

GVHD: PGS.TS.HUỲNH PHÚ
Nhóm 6 – 13DMT02

11

Trang2/55


Danh Mục Bảng

DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Thành phần tính chất nước ngầm tại Quận 2.............................................27
Bảng 2.2: Dây chuyền công nghệ phù hợp với khu dân cư.........................................30
Bảng 2.3: Thông số kích thước thùng quạt gió...............................................................38
Bảng 2.4: Thông số kích thước bể lắng đứng tiếp xúc.................................................44
Bảng 2.5: Thông số kích thước bể trung gian..................................................................45
Bảng 2.6: Thông số kích thước bể lọc nhanh...................................................................51
Bảng 2.7: Thông số kích thước bể chứa nước sạch.......................................................51
Bảng 3.1: Chi phí hoá chất và điện năng cho 1m 3 nước..............................................57

GVHD: PGS.TS.HUỲNH PHÚ
Nhóm 6 – 13DMT02

Trang3/55


Mục Lục

MỤC LỤC
PHỤ LỤC HÌNH........................................................................................................................................................ 2

PHỤ LỤC BẢNG....................................................................................................................................................... 3

GVHD: PGS.TS.HUỲNH PHÚ
Nhóm 6 – 13DMT02

Trang4/55


Lời mở đầu

LỜI MỞ ĐẦU
I)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Quận 2 được thành lập ngày 01 tháng 4 năm 1997 trên cơ sở tách ra từ 05 xã
Bình Trưng, Thạnh Mỹ Lợi, Cát Lái, An Khánh, An Phú thuộc huyện Thủ Đức theo
Nghị định số 03/NĐ-CP ngày 06/01/1997 của Chính phủ.
Tổng diện tích tự nhiên của quận 2 là 5017 ha. Ngày đầu mới thành lập, diện
tích đất nông nghiệp chiếm 2.543,8 ha. Đến năm 2005, diện tích đất nông nghiệp còn
1.611 ha, đất dân cư chiếm 1.402 ha. Các phường có diện tích nhỏ là phường Thủ
Thiêm với 150 ha, phường An Khánh với 180 ha và phường Bình An 187 ha. Địa hình
quận 2 bao gồm cả gò và bưng, kênh rạch chiếm 24,7% tổng diện tích tự nhiên, phần
lớn địa hình thấp trũng, có độ cao trung bình khoảng từ 1,5m đến 3m với mực nước
biển, độ dốc theo hướng Bắc – Nam. Đây là vùng bưng trũng, bị nhiễm phèn, mặn,
thường ngập nước lúc triều cường, nên sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn,
muốn có năng suất và hiệu quả cao phải đầu tư lớn. Những năm trước đó, Thành phố
có chủ trương phát triển ra hướng Đông Bắc, nên 03 xã giáp ranh nội thành là An Phú,
Thủ Thiêm, An Khánh đang trong quá trình quy hoạch đô thị, 02 xã Bình Trưng,
Thạnh Mỹ Lợi là xã nông nghiệp, nằm xa trung tâm huyện Thủ Đức nên ít được đầu
tư. Do vậy khi thành lập quận, Quận 2 gặp rất nhiều khó khăn vì định hướng phát triển
chưa rõ ràng, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội yếu kém, quy hoạch chưa rõ ràng nên
lòng dân chưa yên, chưa an cư và chưa an tâm lập nghiệp.
Quận 2 có vị trí và nhiều điều kiện thuận lợi để hình thành một đô thị mới. Là
đầu mối giao thông về đường bộ, đường sắt nội đô, đường thủy nối liền Thành phố
với các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, có tiềm năng về quỹ đất xây
dựng, mật độ dân số còn thưa thớt, được bao quanh bởi các sông rạch lớn, môi trường
còn hoang sơ…Ngày 07/12/1998, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Quyết định số
6577/QĐ-UB-QLĐT phê duyệt quy hoạch chung quận 2 đến năm 2020, theo quy
hoạch thì chức năng và động lực phát triển chủ yếu là “Trung tâm Dịch vụ - Thương
mại – Công nghiệp – Văn hóa – Thể dục thể thao” với quy mô dân số ổn định khoảng
600.000 dân, quy hoạch chung còn xác định các chỉ tiêu kỹ thuật đô thị, các khu chức
năng chủ yếu, đó là cơ sở căn bản cho định hướng quy hoạch phát triển kinh tế - xã
hội Quận 2, hiện quận đang hoàn tất đồ án điều chỉnh quy hoạch chung quận 2 theo
nhiệm vụ điều chỉnh quy hoạch đã được thành phố phê duyệt tại Quyết định số
3165/QĐ-UBND vào năm 2011. Ngày 27/12/2005, Ủy ban nhân dân thành phố ban
hành Quyết định số 6565/QĐ-UBND và Quyết định số 6566/QĐ-UBND về phê duyệt
điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng Khu trung tâm đô thị mới Thủ Thiêm tỷ lệ
1/5000 và phê duyệt quy hoạch chi tiết Khu trung tâm đô thị mới Thủ Thiêm tỷ lệ
1/2000.Cùng với sự phát triển về mọi mặt nhu cầu về nguồn nước sạch và đạt tiêu
chuẩn củng được đặt ra.

GVHD: PGS.TS.HUỲNH PHÚ
Nhóm 6 – 13DMT02

Trang5/55


Lời mở đầu
Do đó việc đầu tư xây dựng một trạm xử lý nước cấp để cung cấp nước sạch
cho Khu dân cư quận 2 là một yêu cầu cấp thiết cần được tiến hành đồng thời với quá
trình hình thành và phát triển bền vững của khu dân cư và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

II)

MỤC TIÊU ĐỀ TÀI

Thiết kế hệ thống xử lý nước cấp cho Khu dân cư quận 2. Công suất 10.000
m /ngày đêm.
3

III) ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI ĐỀ TÀI
1) Đối tượng nghiên cứu
Công nghệ xử lý nước cấp cho Khu dân cư

2) Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn trong việc tính toán thiết kế hệ thống xử lý nước cấp cho Khu
dân cư quận 2

IV) NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Xác định đặc tính nước cấp. Lưu lượng, thành phần, tính chất nguồn nước cung
cấp cho khu vực nghiên cứu.
Lựa chọn và đề xuất dây chuyền công nghệ xử lý nước phù hợp với yêu cầu.
Tính toán thiết kế các công trình đơn vị trong hệ thống xử lý nước ngầm.
Dự toán chi phí xây dựng và chi phí vận hành trạm xử lý nước.

V)

PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập các tài liệu về cụm công nghiệp, tìm
hiểu thành phần tính chất nước ngầm và các số liệu cần thiết khác.
Phương pháp nghiên cứu: Tìm hiểu những công nghệ xử lý nước ngầm cho các
cụm công nghiệp qua các tài liệu chuyên ngành.
Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu: Thống kê, tổng hợp các số liệu thu
thập và phân tích để đưa ra công nghệ xử lý phù hợp.
Phương pháp so sánh: So sánh ưu, nhược điểm của công nghệ xử lý hiện có và
đề xuất công nghệ xử lý nước ngầm phù hợp.
Phương pháp toán: Sử dụng công thức toán học để tính toán các công trình đơn
vị trong hệ thống xử lý nước ngầm, dự toán chi phí xây dựng, vận hành trạm xử lý.
Phương pháp đồ hoạ: Dùng phần mềm AutoCad để mô tả kiến trúc công nghệ
xử lý nước ngầm.

VI) Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Xây dựng trạm xử lý nước ngầm đạt quy chuẩn Việt Nam giải quyết được vấn
đề nước sạch cho cụm công nghiệp – khu dân cư.
Góp phần nâng cao ý thức về vệ sinh môi trường và nước sạch cho nhân viên
cũng như Ban quản lý cụm công nghiệp.
Khi trạm xử lý hoàn thành và đi vào hoạt động sẽ là nơi để các doanh nghiệp,
sinh viên tham quan, học tập.

GVHD: PGS.TS.HUỲNH PHÚ
Nhóm 6 – 13DMT02

Trang6/55


Chương 1: Tồng quan và các phương pháp xử lý nước ngầm

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CÁC PHƯƠNG
PHÁP XỬ LÝ NƯỚC NGẦM
I)

TỔNG QUAN VỀ NƯỚC NGẦM

Việt Nam là quốc gia có nguồn nước ngầm khá phong phú về trữ lượng và tốt
về chất lượng. Nước ngầm tồn tại trong các lỗ hỏng và các khe nứt của đất đá, được
tạo thành trong giai đoạn trầm tích đất đá hoặc sự thẩm thấu, thấm của nguồn nước
mặt, nước mưa… nước ngầm có thể tổn tại cách mặt đất vài mét, vài chục mét hay
hàng trăm mét
Đối với hệ thống cấp nước tập trung quy mô nhỏ và vừa thì nguồn nước ngầm
thường được lựa chọn nếu thành phần không quá xấu. Bởi vì các nguồn nước mặt
thường hay bị ô nhiễm và lượng khai thác phải phụ thuộc vào sự biến động theo mùa.
Trong khi đó, nguồn nước ngầm ít bị ô nhiễm bởi các động của con người. Chất lượng
nước ngầm thường tốt hơn nước mặt xét trên các khía cạnh độ đục và vệ sinh của
nước
Ngoài ra các nguồn nước ngầm hầu như không chứa rong tảo, một trong những
thành phần gây ô nhiễm nguồn nước. Thành phần đáng quan tâm trong nước ngầm là
các tạp chất hoà tan do ảnh hưởng của điều kiện địa tầng, thời tiết, nắng mưa, các quá
trình phong hoá sinh hoá trong khu vực. Ở những vùng có điều kiện phong hoá tốt, có
nhiều chất bẩn và lượng mưa lớn thì nước ngầm dễ bị ô nhiễm bởi các chất khoáng
hoà tan, các chất hữu cơ, mùn lâu ngày theo nước mưa thấm vào đất. Ngoài ra, nước
ngầm cũng có thể bị nhiểm bẩn bởi tác động của con người. Các chất thải của con
người và động vật, các chất thải sinh hoạt, chất thải hoá học và việc sử dụng phân bón
hoá học,… tất cả những loại chất thải đó theo thời gian nó sẽ ngấm vào nguồn nước,
tích tụ dần và làm ô nhiễm nguồn nước ngầm. Đã có không ít nguồn nước ngầm do
tác động củacon người đã bị ô nhiễm bởi các hợp chất hữu cơ khó phân huỷ, các vi
khuẩn gây bệnh, nhất là các hoá chất độc hại như các kim loại nặng, dư lượng thuốc
trừ sâu và không loại trừ các chất phóng xạ.

II)

ƯU, NHƯỢC ĐIỂM KHI SỬ DỤNG NƯỚC NGẦM

1) Ưu điểm
Nước ngầm là tài nguyên thường xuyên, ít chịu ảnh hưởng của các yếu tố khí
hậu như hạn hán.
Chất lượng nước tương đối ổn định, ít bị biến động theo mùa như nước mặt.
Chủ động hơn trong vấn đề cấp nước cho các vùng hẻo lánh, dân cư thưa, nhất
là trong hoàn cảnh hiện nay bởi vì nước ngầm có thể khai thác với nhiều công suất
khác nhau.
Để khai thác nước ngầm có thể sử dụng các thiềt bị điện như bơm ly tâm, máy
nén khí, bơm nhúng chìm hoặc các thiết bị không cần điện như các loại bơm tay.
GVHD: PGS.TS.HUỲNH PHÚ
Nhóm 6 – 13DMT02

Trang7/55


Chương 1: Tồng quan và các phương pháp xử lý nước ngầm
Ngoài ra nước ngầm còn đươc khai thác tập trung tại các nhà máy nuớc ngầm, các xí
nghiệp, hoặc khai thác phân tán tại các hộ dân cư. Đây là ưu điểm nổi bật của nước
ngầm trong vấn đề cấp nước nông thôn.
Giá thành xử lý nước ngầm nhìn chung rẻ hơn so với nước mặt.

2) Nhược điểm
Một số nguồn nước ngầm ở tầng sâu được hình thành từ hàng trăm, hàng nghìn
năm và ngày nay nhận được rất ít sự bổ cập từ nước mưa. Và tầng nước này nói chung
không thể tái tạo hoặc khả năng tái tạo rất hạn chế. Do vậy trong tương lai cần phải
tìm nguồn nước khác thay thế khi các tầng nước này bị cạn kiệt.
Việc khai thác nước ngầm với qui mô và nhịp điệu quá cao cũng sẽ làm cho
hàm lượng muối trong nước tăng lên từ đó dẫn đến việc tăng chi phí cho việc xử lý
nước trước khi đưa vào sử dụng.
Khai thác nước ngầm với nhịp điệu cao sẽ làm cho mực nước ngầm hạ thấp
xuống, một mặt làm cho quá trinh nhiễm mặn tăng lên, mặt khác làm cho nền đất bị
võng xuống gây hư hại các công trình xây dựng-một trong các nguyên nhân gây hiện
tượng lún sụt đất.
Khai thác nước ngầm một cách bừa bãi cũng dễ dẫn tới tình trạng ô nhiễm
nguồn nước ngầm.

III) CÁC THÔNG SỐ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG
1) Các chỉ tiêu vật lý
a) Độ đục
Nước nguyên chất là một môi trường trong suốt và có khả năng truyền ánh
sáng tốt, nhưng khi trong nước có các tạp chất huyền phù, cặn rắn lơ lửng, các vi sinh
vật và cả các hoá chất hoà tan thì khả năng truyền ánh sáng của nước giảm đi. Dựa
trên nguyên tắc đó mà người ta xác định độ đục của nước.
Có nhiều đơn vị đo độ đục, thường dùng : mg SiO2/l, NTU, FTU.
Nước cấp cho ăn uống độ đục không vượt quá 5 NTU. Nước mặt thường có độ
đục 20 – 100 NTU, mùa lũ có khi cao đến 500 – 600 NTU.
Theo tiêu chuẩn Việt Nam, độ đục được xác định bằng chiều sâu lớp nước thấy
được gọi là độ trong, ở độ sâu đó người ta có thể đọc được hàng chữ tiêu chuẩn. Đối
với nước sinh hoạt độ đục phải lớn hơn 30 cm.
b) Độ màu (tính bằng độ màu coban)
Được xác định theo phương pháp so màu với thang độ màu Coban.
Độ màu của nước bị gây bởi các hợp chất hữu cơ, các hợp chất sắt và mangan
không hoà tan làm nước có màu nâu đỏ, các chất mùn humic gây ra màu vàng còn các
loại thuỷ sinh tạo cho nước có màu xanh lá cây. Nước bị nhiễm bẩn nước thải công
nghiệp hay sinh hoạt có màu đen.
c) Mùi, vị của nước
Các chất khí và các chất hoà tan trong nước làm cho nước có mùi vị. Nước
thiên nhiên có thể có mùi đất, mùi tanh, mùi thối hoặc mùi đặc trưng của các hoá chất

GVHD: PGS.TS.HUỲNH PHÚ
Nhóm 6 – 13DMT02

Trang8/55


Chương 1: Tồng quan và các phương pháp xử lý nước ngầm
hoà tan trong nó như mùi Clo, Amoniac, Sunfua hydro… Nước có thể có vị mặn,
ngọt, chát… tuỳ theo thành phần và hàm lượng muối hoà tan trong nước.
d) Hàm lượng cặn không tan (mg/l)
Được xác định bằng cách lọc một thể tích nước nguồn qua giấy lọc, rồi đem
sấy ở (105-110oC)
Hàm lượng cặn trong nước ngầm thường nhỏ 30-50mg/l, chủ yếu do cát mịn
trong nước gây ra.
Hàm lượng trong nước sông lớn dao động 20-5000 mg/l, có khi lên đến
30.000mg/l.
e) Hàm lượng chất rắn trong nước
Gồm có chất rắn vô cơ (các muối hoà tan, chất rắn không tan như huyền phù
đất, cát…), chất rắn hữu cơ ( gồm các vi sinh vật, vi khuẩn, động vật nguyên sinh, tảo
và các chất rắn hữu cơ vô sinh như phân rác, chất thải công nghiệp…). Trong xử lý
nước khi nói đến hàm lượng chất rắn, người ta đưa ra các khái niệm:
Tổng hàm lượng cặn lơ lửng TSS(Total Suspended Solid) là trọng lượng khô
tính bằng miligam của phần còn lại sau khi bay hơi 1 lít mẫu nước trên nồi cách thuỷ
rồi sấy khô ở 1030C tới khi có trọng lượng không đổi, đơn vị là mg/l.
Cặn lơ lửng SS (Suspended Solid) , phần trọng lượng khô tính bằng miligam
của phần còn lại trên giấy lọc khi lọc 1 lít mẫu nước qua phễu, sấy khô ở 103 0C-1050C
tới khi có trọng lượng không đổi, đơn vị là mg/l.
Chất rắn hoà tan DS (Disolved Solid) bằng hiệu giữa tổng lượng cặn lơ lửng
TSS và cặn lơ lửng SS : DS = TSS – SS
Chất rắn bay hơi VS (Volatile Solid) là phần mất đi khi nung ở 550 0C trong
một thời gian nhất định. Phần mất đi là chất rắn bay hơi, phần còn lại là chất rắn
không bay hơi.

2) Các chỉ tiêu hoá học
a) Độ pH của nước
pH là chỉ số đặc trưng cho nồng độ ion H+ có trong dung dịch, thường được
dùng để biểu thị tính axit và tính kiềm của nước.
Độ pH của nước có liên quan dạng tồn tại của kim loại và khí hoà tan trong
nước. Độ pH có ảnh hưởng đến hiệu quả tất cả quá trình xử lý nước. Độ pH có ảnh
hưởng đến các quá trình trao chất diễn ra bên trong cơ thể sinh vật nước. Do vậy rất
có ý nghĩa về khía cạnh sinh thái môi trường.
b) Độ kiềm
Độ kiềm toàn phần là tổng hàm lượng của các ion bicacbonat, cacbonat,
hydroxyl và anion của các muối axít yếu. Do hàm lượng các muối này rất nhỏ nên có
thể bỏ qua.
Ở nhiệt độ nhất định, độ kiềm phụ thuộc vào độ pH và hàm lượng khí CO 2 tự
do có trong nước. Độ kiềm là chỉ tiêu quan trọng trong công nghệ xử lý nước. Để xác
định độ kiềm dùng phương pháp chuẩn độ mẫu nước thử bằng axit clohydric.

GVHD: PGS.TS.HUỲNH PHÚ
Nhóm 6 – 13DMT02

Trang9/55


Chương 1: Tồng quan và các phương pháp xử lý nước ngầm
c) Độ cứng của nước
Là đại lượng biểu thị hàm lượng các ion Ca2+ và Mg2+ có trong nước. Trong xử
lý nước thường phân biệt ba loại độ cứng:
+ Độ cứng toàn phần: biểu thị tổng hàm lượng các ion Canxi, Magie có trong
nước.
+ Độ cứng tạm thời : biểu thị tổng hàm lượng các ion Canxi, Magie trong các
muối cacbonat (hydrocacbonat canxi, hydrocacbonat magie) có trong nước.
+ Độ cứng vĩnh cửu: biểu thị tổng hàm lượng các ion Canxi, Magie trong các
muối axit mạnh của Canxi và Magie.
Dùng nước có độ cứng cao trong sinh hoạt sẽ gây lãng phí xà phòng do Canxi
và Magie phản ứng với các axit béo tạo thành các hợp chất khó tan. Trong sản xuất,
nước cứng có thể tạo lớp cáu cặn trong các lò hơi hoặc gây kết tủa ảnh hưởng đến chất
lượng sản phẩm.
d) Khí Hidro Sunfua (H2S)
Là sản phẩm của quá trình phân huỷ các hợp chất hữu cơ, phân rác có trong
nước thải. Khí làm cho nước có mùi trứng thối khó chịu. Với nồng độ cao khí mang
tính ăn mòn vật liệu.
e) Các hợp chất Nitơ
Là kết quả của quá trình phân huỷ các hợp chất hữu cơ trong tự nhiên, các
chất thải và các nguồn phân bón mà con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa vào nguồn
nước. Các hợp chất này thường tồn tại dưới dạng amoniac, nitric, nitrat và cả dạng
nguyên tố nitơ (N2). Tuỳ theo mức độ có mặt của các hợp chất niơ mà ta có thể biết
được mức độ ô nhiễm nguồn nước. Khi nước mới bị nhiễm bẩn bởi phân bón hoặc
nước thải, trong nguồn nước có NH3, NO2-, NO3-. Sau một thời gian NH3, NO2- bị oxy
hoá thành NO3-. Nếu nước chứa NH3 và nitơ hữu cơ thì coi như nước mới bị nhiễm
bẩn và nguy hiểm. Nếu nước chủ yếu có NO 2- thì nước đã bị ô nhiễm thời gian dài
hơn, ít nguy hiểm hơn. Nếu nước chủ yếu có NO3- thì quá trình oxy hoá đã kết thúc.
Ở điều kiện yếm khí NO3- sẽ bị khử thành N2 bay lên. Amoniac là chất gây
nhiễm độc trầm trọng cho nước, gây độc cho loài cá.
Việc sử dụng rộng rãi các nguồn phân bón hoá học cũng làm cho hàm lượng
amoniac trong nước tự nhiên tăng lên. Trong nước ngầm và nước đầm lầy hay gặp
NO3- và amoniac hàm lượng cao. Nếu trong nước uống chứa hàm lượng cao NO 3thường gây bệnh xanh xao ở trẻ nhỏ có thể dẫn đến tử vong.
f) Clorua
Tồn tại ở dạng Cl- ở nồng độ cho phép không gây độc hại, nồng độ cao
(>250mg/l) nước có vị mặn. Nguồn nước ngầm có thể có hàm lượng clo lên tới
500÷1000 mg/l. Sử dụng nước có hàm lượng clo cao có thể gây bệnh thận. Nước chứa
nhiều ion Cl- có tính xâm thực đối với bêtông. Ion Cl- có trong nước do sự hoà tan
muối khoáng, do quá trình phân huỷ các hợp chất hữu cơ.
g) Các hợp chất của Axit Silic

GVHD: PGS.TS.HUỲNH PHÚ
Nhóm 6 – 13DMT02

Trang10/55


Chương 1: Tồng quan và các phương pháp xử lý nước ngầm
Trong thiên nhiên thường có các hợp chất của axit silic, mức độ tồn tại của
chúng phụ thuộc vào độ pH của nước. Ở pH< 8-11 silic chuyển hoá dạng HSiO 3-, các
hợp chất này có thể tồn tại dạng keo hay dạng ion hoà tan.Sự tồn tại của các hợp chất
này gây lắng đọng cặn silicat trên thành ống, nồi hơi, làm giảm khả năng vận chuyển
và khả năng truyền nhiệt.
h) Sunfat (SO42-)
Ion sunfat thường có nguồn gốc khoáng chất hay nguồn gốc hữu cơ. Nước có
hàm lượng sunfat hơn 250mg/l có tính độc hại cho sức khoẻ người sử dụng.
i) Sắt và Mangan
Trong nước ngầm sắt tồn tại ở dạng Fe2+, kết hợp với gốc SO42-, Cl-. Đôi khi
tồn tại dưới dạng keo của axit humic hoặc silic. Khi tiếp xúc với oxy không khí tạo ra
Fe3+ dễ kết tủa màu nâu đỏ. Nước mặt thường chứa sắt ở dạng Fe 3+, tồn tại keo hữu cơ
hoặc cặn huyền phù. Với hàm lượng sắt > 0,5 mg/l: nước có mùi tanh khó chịu, vàng
quần áo, hỏng sản phẩm dệt.
Mangan có trong nước ngầm dưới dạng Mn2+. Nước có hàm lượng mangan
khoảng 1mg/l sẽ gây trở ngại giống như khi sử dụng nước có hàm lượng sắt cao. Công
nghệ khử mangan thường kết hợp với khử sắt trong nước. Mangan thường gặp trong
nước ngầm nhưng ít hơn sắt nhiều, ít khi lớn hơn 5 mg/l.
j) Các hợp chất Photpho
Trong nước tự nhiên các hợp chất ít gặp nhất là photphat, khi nguồn nước bị
nhiễm bẩn bởi rác và các chất hữu cơ trong quá trình phân huỷ, giải phóng ion PO43-,
có thể tồn tại dưới dạng H2PO4-, HPO42-, PO43-, Na3PO43-.
Photpho không thuộc loại độc hại với con người nhưng sự tồn tại của chất này
với hàm lượng cao trong nước sẽ gây cản trở cho quá trình xử lý, đặt biệt là hoạt động
của bể lắng.
k) Các hợp chất Florua
Nước ngầm ở giếng sâu hoặc ở các vùng đất có chứa cặn apatit thường có
hàm lượng các hợp chất florua cao ( 2÷2,5 mg/l), tồn tại dạng cơ bản là canxi florua
và magie florua.
Các hợp chất florua khá bền vững, khó bị phân huỷ ở quá trình tự làm sạch.
Hàm lượng florua trong nước cấp ảnh hưởng đến việc bảo vệ răng. Nếu thường xuyên
dùng nước có hàm lượng florua lớn hơn 1,3 mg/l hoặc nhỏ hơn 0,7 mg/l đều dễ mắc
bệnh loại men răng.
l) Các chất khí hoà tan
Các chất khí hoà tan thường gặp trong nước thiên nhiên là khí cacbonic, oxy
và sufurhydro.Trong nước ngầm khi pH < 5,5 thì nước chứa nhiều CO2. Hàm lượng
CO2 hoà tan trong nước cao thường làm cho nước có tính ăn mòn bêtông ngăn cản sự
tăng pH của nước.
Trong nước ngầm khí H2S là sản phẩm của quá trình khử diễn ra trong nước.
Nó cũng xuất hiện trong nước ngầm mạch nông khi nước ngầm nhiễm bẩn các loại
GVHD: PGS.TS.HUỲNH PHÚ
Nhóm 6 – 13DMT02

Trang11/55


Chương 1: Tồng quan và các phương pháp xử lý nước ngầm
nước thải. Hàm lượng khí H 2S hoà tan trong nước nhỏ hơn 0,5 mg/l đã tạo cho nước
có mùi khó chịu và làm cho nước có tính ăn mòn kim loại.
m) Các kim loại có độc tính cao
+ Arsen (As)
+ Crom (Cr)
+ Thuỷ ngân ( Hg)
+ Chì (pb)

3) Các chỉ tiêu vi sinh
Trong nước thiên nhiên có rất nhiều loại vi trùng và siêu vi trùng, trong đó có
các loại vi trùng gây bệnh rất nguy hiểm là: kiết lị, thương hàn, dịch tả, bại liệt… việc
xác định sự có mặt của các vi trùng gây bệnh này thường rất khó khăn và mất nhiều
thời gian. Trong thực tế việc xác định số vi khuẩn trong nước thường là xác định
E.coli vi đặc tính của nó có khả năng tồn tại cao hơn các vi trùng gây bệnh khác. Do
đó, sau khi xử lý, nếu trong nước không còn phát hiện thấy E.coli chứng tỏ các loài vi
trùng khác cũng đã bị tiêu diệt, mặt khác việc xác định loại vi khuẩn này đơn giản và
nhanh chóng.
a) Vi trùng gây bệnh
Vi sinh vật gây bệnh có mặt trong nước gây tác hại cho mục đích sử dụng nước
trong sinh hoạt. Các vi sinh vật này vốn không bắt nguồn từ nước, chúng cần vật chủ
để sống kí sinh phát triển và sinh sản. Một số vi sinh vật gây bệnh sống một thời gian
khá dài trong nước và là nguy cơ truyền bệnh tiềm tàng.
+ Vi khuẩn: Các loại vi khuẩn trong nước thường gây các bệnh về đường ruột
như
+ Vi khuẩn Shigella spp: chủ yếu gây nên các triệu chứng lỵ. Biểu hiện bệnh
từ tiêu chảy nhẹ đến nghiêm trọng như đi tiêu ra máu, mất nước, sốt cao và bị
co rút thành bụng. Các triệu chứng này có thể kéo dài 12-14 ngày thậm chí
hơn.
+ Vi khuẩn Salmonella typhii : gây sốt thương hàn.
+ Vi khuẩn Vibrio cholerae: tác nhân gây nên các vụ dịch tả trên toàn thế giới.
Dịch tả gây bởi Vibrio cholerae thường được lan truyền rất nhanh qua đường
nước.
+ Virus: Các bệnh do virus gây ra thường mang tính triệu chứng và cấp tính với
giai đoạn mắc bệnh tương đối ngắn, virut sản sinh với mức độ cao, liều lây
nhiễm thấp và giới hạn động vật chủ. Gồm:
+ Virus Adenovirus bệnh khuẩn xâm nhập từ khí quản: virus đậu mùa, thuỷ
đậu, virus zona,..
+ Virus Poliovirus : virus bại liệt
+ Hepatitis -A Virus (HAV) : virus viêm gan siêu vi
+ Reovirus, rotavirus, norwalk virus : viêm dạ dày ruột
+ Động vật đơn bào ( protozoa): các loại động vật đơn bào dễ dàng thích nghi với
điều kiện bên ngoài nên chúng tồn tại rất phổ biến trong nước tự nhiên. Trong điều
kiện môi trường không thuận lợi, các loại động vật đơn bào thường tạo lớp vỏ kén bao
GVHD: PGS.TS.HUỲNH PHÚ
Nhóm 6 – 13DMT02

Trang12/55


Chương 1: Tồng quan và các phương pháp xử lý nước ngầm
bọc (cyst), rất khó tiêu diệt trong quá trình khử trùng. Vì vậy thông thường trong quá
trình xử lý nước sinh hoạt cần có công đoạn lọc để loại bỏ các động vật đơn bào ở
dạng vỏ kén này.
+ Giardia spp : nhiễm trùng đường ruột
+ Cryptospridium spp : gây bệnh thương hàn, tiêu chảy
Nguồn gốc của vi trùng gây bệnh trong nước là do nhiễm bẩn rác, phân người
và động vật. Trong người và động vật thường có vi khuẩn E.coli sinh sống và phát
triển. Đây là loại vi khuẩn vô hại thường được bài tiết qua phân ra môi trường. Sự có
mặt của E.Coli chứng tỏ nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi phân rác và khả năng lớn tồn
tại các loại vi khuẩn gây bệnh khác, số lượng nhiều hay ít tuỳ thuộc vào mức độ
nhiễm bẩn. Khả năng tồn tại của vi khuẩn E.coli cao hơn các vi khuẩn gây bệnh khác.
Do đó nếu sau xử lý trong nước không còn phát hiện thấy vi khuẩn E.coli chứng tỏ
các loại vi trùng gây bệnh khác đã bị tiêu diệt hết. Mặt khác, việc xác định mức độ
nhiễm bẩn vi trùng gây bệng của nước qua việc xác địng số lượng số lượng E.coli đơn
giản và nhanh chóng. Do đó vi khuẩn này được chọn làm vi khuẩn đặc trưng trong
việc xác định mức độ nhiễm bẩn vi trùng gây bệnh của nguồn nước.
b) Các loại rong tảo
Rong tảo phát triển trong nước làm nước bị nhiễm bẩn hữu cơ và làm cho
nước có màu xanh. Nước mặt có nhiều loại rong tảo sinh sống trong đó có loại gây hại
chủ yếu và khó loại trừ là nhóm tảo diệp lục và tảo đơn bào. Hai loại tảo này khi phát
triển trong đường ống có thể gây tắc ngẽn đường ống đồng thời làm cho nước có tính
ăn mòn do quá trình hô hấp thải ra khí cacbonic.

4) Tiêu chuẩn chất lượng nước cấp cho sinh hoạt và ăn uống
Người ta thường sử dụng nước mặt và nước ngầm để cấp nước uống và sinh
hoạt. Chất lượng nước ngầm thường tốt hơn chất lượng nước bề mặt do ít thay đổi hơn
theo thời gian và thời tiết, dây chuyễn công nghệ cũng đơn giản hơn, cần ít hoá chất
hơn và chất lượng sau xử lý cũng tốt hơn. Tuy nhiên nguồn nước ngầm không phải là
vô hạn, nên nếu chỉ sử dụng nước ngầm thì đến một lúc nào đó sẽ gây ảnh hưởng xấu
đến địa tầng của khu vực.
Nước sau xử lý cần đảm bảo an toàn cho sử dụng. Các tiêu chuẩn, quy chuẩn
phải đảm bảo an toàn về sức khoẻ, mùi vị, thẩm mỹ, và phù hợp càng nhiều càng tốt
các tiêu chuẩn quốc tế. Nước cấp sinh hoạt phải đảm bảo không có vi sinh vật gây
bệnh, nồng độ các chất độc, các chất gây bệnh mãn tính phải đạt tiêu chuẩn. Độ trong,
độ mặn, mùi vị và tính ổn định phải cao.
Một số quy chuẩn về nước ăn uống sinh hoạt được ban hành kèm theo Thông
tư số 04:2009/BYT ngày 17 tháng 6 năm 2009 của Bộ Trưởng Bộ Y tế như QCVN
01:2009/BYT, QCVN 02:2009/BYT…

IV) Tổng quan về các phương pháp xử lý nước ngầm

GVHD: PGS.TS.HUỲNH PHÚ
Nhóm 6 – 13DMT02

Trang13/55


Chương 1: Tồng quan và các phương pháp xử lý nước ngầm
Đối với nguồn nước cần xử lý là nước ngầm, thì quá trình khử sắt trong nước
ngầm là chủ yếu. Trong nước ngầm, thường tồn tại ở dạng ion sắt có hoá trị II là thành
phần của các muối Fe(HCO3)2, FeSO4 . Hàm lượng sắt có trong các nguồn nước ngầm
thường cao và phân bố không đồng đều trong các lớp trầm tích.

1) Quá trình khử sắt

+

+

+

+

Hiện nay có nhiều phương pháp khử sắt của nước ngầm, có thể chia thành 3
phương pháp sau:
+ Khử sắt bằng phương pháp làm thoáng
+ Khử sắt bằng phương pháp dung hoá chất
+ Các phương pháp xử lý khác
a) Khử sắt bằng phương pháp làm thoáng
Thực chất của phương pháp khử sắt làm thoáng là làm giàu Oxy trong nước,
tạo điều kiện để Fe2+ oxy hoá thành Fe3+, sau đó thực hiện quá trình thuỷ phân để tạo
thành hợp chất ít tan Fe(OH)3, rồi bể lọc giữ lại. Làm thoáng có thể là làm thoáng tự
nhiên hay làm thoáng nhân tạo.
Trong nước ngầm, sắt II bicacbonat là muối không bền vững, thường phân ly
theo dạng sau:
Fe(HCO)3  2HCO3- + Fe2+
Nếu trong nước có oxy hoà tan, quá trình oxy hoá và thuỷ phân diễn ra như
sau:
4Fe2+ + O2 + 10H2O  4Fe(OH)3 + 8H+
Các yếu tố ảnh hưởng khi khử sắt bằng phương pháp làm thoáng
Quá trình chuyển hoá Fe2+ thành Fe3+ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: pH,O2, hàm
lượng sắt của nước ngầm, CO2, độ kiềm, nhiệt độ, thời gian phản ứng. Ngoài ra tốc độ
oxy hoá Fe2+ còn phụ thuộc vào thế oxy hoá khử tiêu chuẩn E0.
Các phương pháp làm thoáng:
Làm thoáng đơn giản ngay trên bề mặt lớp vật liệu lọc: nước cần khử sắt được làm
thoáng bằng giàn phun mưa ngay trên bề mặt lọc. Chiều cao giàn phun mưa thường
lấy cao khoảng 0,7m; lỗ phun có đường kính 5-7mm; lưu lượng tưới vào khoảng
10m3/giờ. Lượng oxy hoà tan trong nước sau làm thoáng ở nhiệt độ 25 oC lấy bằng
40% lượng oxy hoà tan bão hoà (ở 25oC lượng oxy hoà tan bão hào bằng 8,1 mg/l).
Làm thoáng bằng giàn mưa tự nhiên: nước cần làm thoáng được tưới lên giàn làm
thoáng một bậc hay nhiều bậc với các sàn rải sỉ hoặc tre gỗ. Lưu lượng tưới và chiều
cao tháp cũng lấy như trường hợp trên. Lượng oxy hào tan sau làm thoáng lấy bằng
55% lượng oxy hoà tan bão hoà. Hàm lượng CO2 sau làm thoáng giảm 50%.
Làm thoáng cưỡng bức: có thể dùng tháp làm thoáng cưỡng bức với lưu lượng tưới
từ 30-40 m3/giờ, lượng không khí tiếp xúc lấy từ 4-6 m 3 cho 1m3 nước. Lượng oxy
hoà tan sau làm thoáng bằng 70% lượng oxy hoà tan bão hoà. Hàm lượng CO 2 sau làm
thoáng giảm 75%.
b) Khử sắt bằng phương pháp dùng hoá chất

GVHD: PGS.TS.HUỲNH PHÚ
Nhóm 6 – 13DMT02

Trang14/55


Chương 1: Tồng quan và các phương pháp xử lý nước ngầm
+ Khử sắt bằng các chất oxy hoá mạnh: các chất oxy hoá mạnh thường sử dụng để khử
sắt: Cl2, KMnO4, O3… Khi cho các chất oxy hoá mạnh vào nước, phản ứng diễn ra
như sau:
2 Fe 2+ + Cl 2 + 6 H 2 O → 2 Fe(OH ) 3 + 2Cl − + 6 H +

3Fe 2+ + KMnO4 + 7 H 2 O → 3Fe(OH ) 3 + MnO 2 + K + + 5 H +

Trong phản ứng, để oxy hoá 1mg Fe 2+ cần 0,64 mg Cl2 hoặc 0,94 KMnO4 và
đồng thời độ kiềm của nước giảm đi 0,018 mgđl/l. Phương pháp này sử dụng kết hợp
đồng bộ với làm thoáng để tăng hiệu quả oxy hoá sắt trong nước.
+ Khử sắt bằng vôi: phương pháp khử sắt bằng vôi thường không đứng độc lập, mà kết
hợp với các quá trình làm ổn định nước hoặc làm mềm nước. Khi cho vôi vào nước,
quá trình khử sắt xảy ra theo phản ứng sau:
4 Fe( HCO3 ) 2 + O2 + 2 H 2O + 4Ca(OH ) 2 → 4 Fe(OH )3 ↓ +4Ca( HCO3 ) 2

Sắt(III) hydroxit được tạo thành, dễ dàng lắng đọng trong bể lắng và giữ lại hoàn toàn
trong bể lọc.
c) Các phương pháp khử sắt khác
+ Khử sắt bằng trao đổi ion: cho nước đi qua lớp vật liệu lọc có khả năng trao đổi ion.
Các ion H+ và Na+ có trong thành phần của lớp vật liệu, sẽ trao đổi với các Fe 2+ có
trong nước. Kết quả Fe2+ được giữ lại trong lớp VLL.
+ Khử sắt bằng điện phân: dùng các cực âm bằng sắt, nhôm, cùng các cực dương bằng
đồng… và dùng điện cực hình ống trụ hay hình sợi thay cho tấm điện cực hình trụ
phẳng.
+ Khử sắt bằng phương pháp vi sinh vật: cấy các mầm khuẩn sắt trong lớp cát lọc của bể
lọc. Thông qua hoạt động của các vi khuẩn, sắt được loại bỏ khỏi nước.

2) Quá trình lắng
Lắng là giai đoạn làm sạch sơ bộ trước khi đưa nước vào bể lọc để hoàn thành
quá trình làm trong nước. Trong công nghệ xử lý nước, quá trình lắng xảy ra rất phức
tạp, chủ yếu lắng ở trạng thái động. Các hạt cặn không tan trong nước là những tập
hợp không đồng nhất (kích thước, hình dạng, trọng lượng riêng khác nhau) và không
ổn định (luôn thay đổi hình dạng, kích thước trong quá trình lắng do chất keo tụ).
Theo phương chuyển động của dòng nước qua bể, người ta chia ra các loại bể lắng
sau:
+ Lắng tĩnh và lắng theo từng mể kế tiếp: thường gặp trong các hồ chứa nước, sau trận
mưa nước chảy vào hồ mang theo cặn lắng làm cho nồng độ cặn trong hồ tăng lên,
nước đứng yên, cặn lắng tĩnh xuống đáy.
+ Bể lắng có dòng nước chảy ngang cặn rơi thẳng đứng hay còn gọi là bể lắng ngang;
cấu tạo bể lắng ngang gồm 4 bộ phận chính: bộ phận phân phối nước vào bể, vùng
lắng cặn, hệ thống thu nước đã lắng, hệ thống thu và xả cặn. Căn cứ vào biện pháp
nước đã lắng, người ta chia bể lắng ngang thành 2 loại: bể lắng ngang thu nước ở cuối
và bể lắng ngang thu nước đều trên mặt. Bể lắng nước ở cuối thường kết hợp với bể
GVHD: PGS.TS.HUỲNH PHÚ
Nhóm 6 – 13DMT02

Trang15/55


Chương 1: Tồng quan và các phương pháp xử lý nước ngầm
phản ứng có vách ngăn hoặc bể phản ứng có lớp cặn lơ lửng. Bể lắng ngang thu nước
bề mặt thường kết hợp với bể phản ứng có lớp cặn lơ lửng.
+ Bể lắng có dòng nước đi từ dưới lên, cặn rơi từ trên xuống gọi là bể lắng đứng: bể
lắng đứng thường kết hợp với bể phản ứng xoay hình trụ (hay còn gọi là ống trung
tâm). Theo chức năng làm việc, bể chia làm 2 vùng: vùng lắng có dạng hình trụ hoặc
hình hợp ở phía trên và vùng chứa nén cặn có dạng hình nón hoặc hình chóp ở phái
dưới.
+ Bể lắng trong có lớp cặn lơ lửng: trong bể lắng nước đi từ dưới lên qua lớp cặn lơ
lửng được hình thành trong quá trình lắng, cặn dính bám vào lớp cặn, nước trong thu
trên bề mặt, cặn thừa đưa sang ngăn nén cặn, từng thời kỳ xả ra ngoài. Bể lắng có lớp
cặn lơ lửng dùng để lắng cặn có khả năng keo tụ.
+ Lắng trong các ống tròn hay trong các hình trụ vuông, lục lăng đặt nghiêng so với
phương ngang 60o: nước từ dưới lên, cặn trượt theo đáy ống từ trên xuống gọi là bể
lắng lamen hay còn gọi là bể lắng có lớp mỏng, dùng chủ yếu để lắng nước đã trộn
phèn.

3) Quá trình lọc
Quá trình lọc là cho nước đi qua lớp VLL với một chiều dày nhất định đủ để
giữ lại trên bề mặt hoặc giữa các khe hở của lớp VLL các hạt cặn và các vi trùng có
trong nước. Hàm lượng cặn còn lại trong nước sau khi qua bể lọc phải đạt tiêu chuẩn
cho phép. Sau một thời gian làm việc, lớp VLL bị chít lại, làm tốc độ lọc giảm dần.
Để khôi phục lại khả năng làm việc của bể lọc, ta phải tiến hành rửa lọc, có thể rửa
bằng nước hoặc bằng gió hoặc bằng gió nước kết hợp.
a) Tốc độ lọc chia ra
+ Bể lọc chậm: có tốc độ lọc 0,1 ÷ 0,5 m/h
+ Bể lọc nhanh: có tốc độ lọc
5 ÷ 15 m/h
+ Bể lọc cao tốc: có tốc độ lọc 36 ÷ 100 m/h
b) Theo chế độ dòng chảy chia ra
+ Bể lọc trọng lực: như lọc hở, lọc không áp.
+ Bể lọc áp lực: bể lọc kín, quá trình lọc xảy ra nhờ áp lực nước phía trên VLL.
Thông số quan trọng nhất ảnh hưởng đến chất lượng nước lọc là vận tốc lọc và
thời gian lọc nước hiệu quả.

4) Quá trình khử trùng nước
Khử trùng nước là khâu bắt buộc cuối cùng trong quá trình xử lý nước ăn uống
sinh hoạt. trong nước thiên nhiên chứa nhiều VSV các loại. Sau các quá trình xử lý cơ
học, nhất là nước sau khi qua lọc, phần lớn các VSV gây bệnh đã được giữ lại. Song
để tiêu diệt hoàn toàn các VSV gây bệnh, cần phải tiến hành khử trùng nước. Hiện nay
có rất nhiều biện pháp khử trùng nước hiệu quả như:
+ Khử trùng bằng các chất oxy hoá mạnh: như Clo, Hợp chất Clo, Ozon, KMnO4.
+ Khử trùng nước bằng tia tử ngoại: là các tia có bước sóng ngắn có tác dụng diệt trùng
rất mạnh. Khi chiếu các tia này trong nước, các tia này sẽ tác dụng lên lớp protein của
màng tế bào VSV, phá vỡ cấu trúc và khả năng trao đổi chất dẫn đến VSV bị tiêu diệt.

GVHD: PGS.TS.HUỲNH PHÚ
Nhóm 6 – 13DMT02

Trang16/55


Chương 1: Tồng quan và các phương pháp xử lý nước ngầm
+ Khử trùng bằng siêu âm: dùng dòng siêu âm với cường độ có tác dụng trong khoảng
thời gian nhỏ nhất là 5 phút, sẽ có thể tiêu diệt toàn bộ vi sinh có trong nước.
+ Khử trùng bằng phương pháp nhiệt: đun nước ở nhiệt độ 100 oC sẽ có thể tiêu diệt
phần lớn các vi khuẩn có trong nước, trừ nhóm vi khuẫn khi gặp nhiệt độ cao khi
chuyển sang dạng bào tử.
+ Khử trùng bằng ion bạc: Ion bạc có thể tiêu diệt phần lớn vi trùng có trong nước. Với
hàm lượng 2 đến 10 iong/l đã có tác dụng diệt trùng. Tuy nhiên hạn chế của phương
pháp này là: nếu trong nước có độ màu cao, có chất hữu cơ, có nhiều loại muối… thì
ion bạc không phát huy được khả năng khử trùng
+ Yếu tố ảnh hưởng: hiệu quả khử trùng là một hàm của cácc yếu tố sau:
• Dạng và liều lượng chất khử trùng
• Dạng và nồng độ của VSV
• Thời gian tiếp xúc trong bể
• Đặc trưng của nước

GVHD: PGS.TS.HUỲNH PHÚ
Nhóm 6 – 13DMT02

Trang17/55


Chương 2: Tính toán công trình đơn vị.

CHƯƠNG 2: TÍNH TOÁN CÔNG TRÌNH ĐƠN VỊ
I)
VỊ TRÍ CÔNG TRÌNH
1) Vị trí địa lý
Quận 2 nằm ở phía Đông của thành phố Hồ Chí Minh, trên tả ngạn sông Sài
Gòn. Phía Bắc giáp quận Thủ Đức, Bình Thạnh (qua sông Sài Gòn và sông Rạch
Chiếc). Phía Nam giáp quận 7, huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai (qua sông Sài Gòn và
sông Đồng Nai). Phía Đông giáo quận 4, quận 1, quận Bình Thạnh (qua sông Sài Gòn).
Từ năm xã thuộc huyện Thủ Đức: An Phú, An Khánh, Thủ Thiêm, Bình Trưng và
Thạnh Mỹ Lợi. Quận 2 chia thành 11 phường gồm: An Phú, Thảo Điền, An Khánh,
Bình An, Thủ Thiêm, An Lợi Đông, Bình Trưng Đông, Bình Trưng Tây, Thạnh Mỹ
Lợi và Cát Lái.

Hình 2.1: Bản đồ khu dân cư quận 2

2) Địa hình
Địa hình quận 2 bao gồm cả gò và bưng, kênh rạch chiếm 24,7% tổng diện tích
tự nhiên, phần lớn địa hình thấp trũng, có độ cao trung bình khoảng từ 1,5m đến 3m
với mực nước biển, độ dốc theo hướng Bắc – Nam.
Là một bộ phận của đồng bằng ngập triều ven sông Sài Gòn. Đây là một vùng
đất ngập nước đặc biệt, là nơi mà ta gặp được sự cùng tồn tại các loài thực vật nước
ngọt và nước lợ. Kết quả khảo sát thổ nhưỡng cho thấy đây là vùng đất phèn tiềm tàng,
hàm lượng clo trong dịch đất không cao nhưng có sự giảm dần từ bờ sông vào nội
đồng đã chứng tỏ có sự xâm nhiễm mặn.
Trên thực tế, nước lợ từ hạ lưu có thể đi ngược trên dòng sông chính và vượt
quá khu vực bán đảo Thủ Thiêm khi triều cường, nhưng mạng lưới lạch triều nông đã
làm chậm quá trình xâm nhập của nước lợ vào nội đồng, và nước lợ sẽ không dừng ở
lâu trong nội đồng cho tới pha triều rút tiếp theo.
GVHD: PGS.TS.HUỲNH PHÚ
Nhóm 6 – 13DMT02

Trang18/55


Chương 2: Tính toán công trình đơn vị.
Mặt khác, đất giàu hữu cơ và thảm thực vật đầm lầy dày đặc đã duy trì lượng
nước ngọt và điều này cản trở nước lợ xâm nhập xa vào đồng ngập. Đây là ví dụ rất rõ
ràng cho thấy mối cân bằng mong manh giữa các đặc điểm địa mạo và thuỷ chế là
facto chính đáng kiểm soát các hoạt động của đất ngập nước Thủ Thiêm và vì lý do
này mà thực vật nước ngọt có thể mọc ở ngay sau dải hẹp thực vật nước lợ nằm dọc
theo các lạch triều trong vùng đất ngập nước này.

3) Đặc điểm tự nhiên
Khu vực quận 2 thuộc vùng khí hậu thành phố Hồ Chí Minh là khu vực khí hậu
nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, trong năm có hai mùa tương phản nhau rõ rệt:
+ Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11.
+ Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
Khí hậu tương đối ổn định, diễn biến thay đổi từ năm này qua năm khác nhỏ.
Không có thiên tai do khí hậu, không gặp thời tiết quá lạnh hay quá nóng (thấp nhất
khoảng 1300C và cao nhất khoảng 4000C), không có gió Tây khô nóng, ít trường hợp
mưa quá lớn (lượng mưa cực đại không quá 200 mm). Hầu như không có bão.
Nhiệt độ không khí trung bình năm là 2700C.
Độ ẩm không khí trung bình là 82%.
Có 02 hướng gió chính:
• Từ tháng 01 đến tháng 06 là gió Đông - Nam với tần suất 20% - 40%, gió Đông
(20%) và gió Nam (37%).
• Từ tháng 07 đến tháng 12 hướng gió thịnh hành là gió Tây - Nam. Đây là thời kỳ có
tốc độ gió mạnh nhất trong năm, tốc độ gió trung bình là 2-3 m/s, lớn nhất là 36 m/s
(1972). Khu vực có nền đất tương đối cao, hoàn toàn không chịu ảnh hưởng chế độ
thủy triều trên sông rạch.

4) Điều kiện khí hậu
a) Khí hậu
Khí hậu mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm với 2 mùa rõ rệt: mùa mưa,
từ tháng 5-11, mùa khô từ khoảng tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau.
Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.800 - 2.000mm, với số ngày có mưa là 120 ngày.
Tháng mưa nhiều nhất là tháng 9, trung bình 335mm, năm cao nhất có khi lên đến
500mm, tháng ít mưa nhất là tháng 1, trung bình dưới 50mm và nhiều năm trong tháng
này không có mưa.
Chế độ gió tương đối ổn định, không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão và áp
thấp nhiệt đới. Về mùa khô gió thịnh hành chủ yếu là hướng Đông, Đông - Bắc, về
mùa mưa gió thịnh hành chủ yếu là hướng Tây, Tây - Nam. Tốc độ gió bình quân
khoảng 0.7m/s, tốc độ gió lớn nhất quan trắc được là 12m/s thường là Tây, Tây - Nam.
Chế độ không khí ẩm tương đối cao, trung bình 80-90% và biến đổi theo mùa.
Độ ẩm được mang lại chủ yếu do gió mùa Tây - Nam trong mùa mưa, do đó độ ẩm
thấp nhất thường xảy ra vào giữa mùa khô và cao nhất vào giữa mùa mưa. Giống như
nhiệt độ không khí, độ ẩm trong năm ít biến động.

GVHD: PGS.TS.HUỲNH PHÚ
Nhóm 6 – 13DMT02

Trang19/55


Chương 2: Tính toán công trình đơn vị.
Với khí hậu nhiệt đới mang tính chất cận xích đạo, nền nhiệt độ cao quanh năm,
ẩm độ cao và nguồn ánh sáng dồi dào, rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt
là trồng cây công nghiệp ngắn và dài ngày. Khí hậu Quận 2 tương đối hiền hoà, ít thiên
tai như bão, lụt…
Nhìn chung khí hậu ở khu quy hoạch có tính ổn định cao, không gặp thời tiết bất
thường như bão lụt, nhiệt độ quá nóng hoặc quá lạnh.

Hình 2.2: Nhiệt độ không khí trung bình các tháng của khu vực Quận 2

Hình 2.3: Lượng mưa trung bình các tháng của khu vực Quận 2
b) Thủy văn
Khu quy hoạch chịu ảnh hưởng của chế độ thủy văn sông Sài Gòn. Sông Sài
Gòn chịu ảnh hưởng dao động triều bán nhật của biển Ðông. Mỗi ngày, nước lên
xuống hai lần, theo đó thủy triều thâm nhập sâu vào các kênh rạch, gây nên tác động
không nhỏ đối với sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân trong khu vực.
Theo tài liệu địa chất thủy văn khu vực, trên diện tích khảo sát có 5 tầng chứa
nước, từ trên xuống là Pleistocen giữa trên (qp2-3), Pleistocen (qp1), Pliocen trên
(n22)Pliocen dưới (n21),Miocen trên (n13), tầng chứa nước trên cùng Pleistocen giữa
GVHD: PGS.TS.HUỲNH PHÚ
Nhóm 6 – 13DMT02

Trang20/55


Chương 2: Tính toán công trình đơn vị.
trên (qp2-3) có ảnh hưởng trực tiếp đến nền móng công trình. Đây là tầng chứa nước
áp lực yếu, từ trên mặt đến độ sâu 30:35m là lớp cách nước yếu với thành phần bột
cát,bột sét. Bên dưới là lớp chứa nước có thành phần các hạt mịn đến thô chứa ít sỏi
thạch anh. Vào thời gian khảo sát (……….) mực nước quan sát trong hố khoan thay
đổi từ 8,54 đến 9,05 m.
Vào mùa mưa, lượng nước được điều tiết giữ lại trên hồ, làm giảm thiểu khả
năng úng lụt đối với những vùng trũng thấp, nhưng ngược lại, nước mặn lại xâm nhập
vào sâu hơn.
Tuy nhiên, nhìn chung, đã mở rộng được diện tích cây trồng bằng việc tăng vụ
mùa canh tác. Ngoài ra, việc phát triển các hệ thống kênh mương, đã có tác dụng nâng
cao mực nước ngầm trên tầng mặt lên 2-3m, tăng thêm nguồn cung cấp nước phục vụ
cho sản xuất và sinh hoạt của quận 2.
c) Giờ nắng
Quận 2 thuộc khu vực của thành phố Hồ Chí Minh nên sẽ mang tính chất cận
xích đạo.
Nhiệt độ cao và khá ổn định trong năm.
Số giờ nắng trung bình tháng đạt từ 160 đến 270 giờ, độ ẩm không khí trung
bình 79,5%.
Số giờ nắng trung bình 2400 giờ, có năm lên tới 2700 giờ
d) Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình hằng năm là 26,5C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 29C
(tháng 4), tháng thấp nhất 24C (tháng 1). Tổng nhiệt độ hoạt động hàng năm khoảng
9.500 - 10.000C.
e) Hạ tầng kỹ thuật- Hạ tầng xã hội
ß Hạ tầng kỹ thuật
 Đường giao thông
Dự án đường Liên phường số 1 kết nối Khu dân cư phường Bình Trưng Đông
với Khu Trung tâm Hành chính quận 2: thực hiện theo tiến độ đã đề ra theo Kế hoạch
số 68/KH-UBND ngày 18 tháng 3 năm 2014 của Ủy ban nhân dân quận 2.
Dự án nâng cấp, mở rộng đường Nguyễn Duy Trinh và dự án nâng cấp, mở rộng
đường Nguyễn Thị Định: Kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố xem xét bố trí nguồn
vốn để thực hiện dự án.
Dự án nâng cấp, mở rộng đường Lương Định Của: hoàn thành công tác bồi
thường giải phóng mặt bằng trong năm 2014 để kịp bàn giao cho Khu Quản lý giao
thông đô thị số 2 thực hiện.
Dự án nâng cấp, mở rộng đường Trần Não: Ngày 30 tháng 5 năm 2014, Sở Giao
thông Vận tải ban hành Quyết định số 2081/QĐ-SGTVT về phê duyệt dự án đầu tư
nâng cấp, mở rộng đường Trần Não, quận 2, theo đó giao Khu Quản lý giao thông đô
thị số 2 làm chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án với thời gian thực hiện dự án năm 20142015. Theo Thông báo số 253/TB-VP ngày 08 tháng 4 năm 2014 của Văn phòng Ủy
ban nhân dân thành phố về nội dung kết luận của đồng chí Phó Chủ tịch Ủy ban nhân
GVHD: PGS.TS.HUỲNH PHÚ
Nhóm 6 – 13DMT02

Trang21/55


Chương 2: Tính toán công trình đơn vị.
dân thành phố - Nguyễn Hữu Tín cho phép tách công tác giải phóng mặt bằng phục vụ
dự án Nâng cấp, mở rộng đường Trần Não thành dự án riêng và thực hiện độc lập với
dự án chính, do đó trên cơ sở phê duyệt dự án, Ủy ban nhân dân quận 2 sẽ triển khai
công tác bồi thường giải phóng mặt bằng song song với thời gian triển khai thực hiện
thi công dự án Nâng cấp, mở rộng đường Trần Não do tổng diện tích giải phóng mặt
bằng dự án là 106m2 nằm trong ranh hạng mục vỉa hè của dự án.
Dự án Xây dựng đường kết nối từ đường Nguyễn Văn Hưởng đến Xa lộ Hà
Nội: Hoàn thành công tác bồi thường giải phóng mặt bằng trong năm 2014 để kịp bàn
giao cho Khu Quản lý giao thông đô thị số 2 thực hiện.
Dự án nâng cấp, mở rộng đường số 2,3 phường Bình An: Đẩy nhanh công tác
triển khai thi công dự án nâng cấp lắp đặt hệ thống thoát nước đường số 2, 3, phường
Bình An đã được Ủy ban nhân dân quận 2 phê duyệt tại Quyết định số 2311/QĐUBND ngày 23 tháng 5 năm 2014.
Phối hợp các Sở, ngành thành phố trong việc tổ chức thực hiện đầu tư các dự án
giao thông quan trọng trên địa bàn quận bằng vốn ngân sách thành phố, nguồn vốn kêu
gọi đầu tư trên cơ sở chủ trương thành phố đối với từng dự án. Trong đó, tập trung
triển khai xây dựng: đường vành đai phía Đông, đường trục chính vào Khu liên hợp
Thể dục thể thao Rạch chiếc, tuyến Metro số 1, dường Trần Não, Lương Định Của, Đỗ
Xuân Hợp, Nguyễn Văn Hưởng nối dài.
Đôn đốc chủ đầu tư các dự án đầu tư giao thông đẩy nhanh tiến độ thực hiện,
đảm bảo việc kết nối hạ tầng trong khu vực.
 Thoát nước chống ngập
Dự án Bờ kè bảo vệ sông Sài Gòn khu phố 4, phường Thảo Điền: Kiến nghị Ủy
ban nhân dân thành phố xem xét bố trí nguồn vốn để thực hiện dự án.
Đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống thoát nước trên các tuyến đường chưa có hệ
thống thoát nước theo kế hoạch kế nâng cấp các tuyến đường đất đá trên địa bàn
quận2.
Phối hợp với Sở Giao thông - Vận tải, Trung tâm Điều hành chương trình chống
ngập nước thành phố, Khu quản lý giao thông đô thị số 2 tổ chức khảo sát các khu vực
có nguy cơ ngập úng, triển khai thực hiện có hiệu quả chương trình chống ngập nước,
phấn đấu làm giảm cơ bản các khu vực ngập nước trên địa bàn phường Bình An, Bình
Trưng Đông, Bình Trưng Tây, Cát Lái, Thảo Điền, Thạnh Mỹ Lợi.
Phối hợp Trung tâm Điều hành chương trình chống ngập nước thành phố nghiên
cứu lập dự án xây dựng hệ thống cống kiểm soát triều cường ở các sông, rạch ; Xây
dựng bờ kè ở các sông, rạch thuộc địa bàn phường Thảo Điền, Bình An để khắc phục
tình trạng ngập ống do triều cường.
Phối hợp các cơ quan liên quan lập kế hoạch, thực hiện chương trình nạo vét,
khơi thông dòng chảy, vệ sinh mở rộng các cửa xả, cống thoát nước và tuyến sông rạch
chính giải quyết trước mắt vấn đề ngập úng, bảo vệ cảnh quan môi trường.
 Cấp nước
GVHD: PGS.TS.HUỲNH PHÚ
Nhóm 6 – 13DMT02

Trang22/55


Chương 2: Tính toán công trình đơn vị.
Phối hợp với Công ty Cổ phần Cấp nước Thủ Đức nâng cấp, cải tạo và phát
triển mạng lưới cấp nước sạch nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch cho người
dân trên địa bàn quận 2, tỷ lệ phát triển mạng lưới đến từng khu dân cư tiếp tục đạt
97%.
Phối hợp với Công ty Cổ phần Cấp nước Thủ Đức khảo sát gắn đồng hồ tổng
cho các khu quy hoạch như khu 154ha Bình Trưng Đông – Cát Lái, khu Nam Rạch
Chiếc… chưa có hệ thống cấp nước nhằm giải quyết nguồn cấp nước sạch cho người
dân
 Cấp điện
Phối hợp Công ty chiếu sáng công cộng, Công ty Điện lực Thủ Thiêm nâng cấp,
cải tạo và phát triển hệ thống chiếu sáng công cộng trên các tuyến đường chưa có hệ
thống chiếu sáng hay hệ thống chiếu sáng bị hư hỏng
Phối hợp công ty điện lực Thủ Thiêm ngầm hóa lưới điện hiện hữu trên các trục
đương chính như Đồng Văn Cống, Xuân Thủy, Quốc Hương, Thảo Điền.
 Vệ sinh môi trường
Phối hợp với Sở, ngành báo cáo thành phố ghi vốn chuẩn bị đầu tư xây dựng 01
trạm ép rác kín tại phường Thạnh Mỹ Lợi (thay thế bô rác phường An Lợi Đông đã di
dời để thực hiện đầu tư xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm) theo công nghệ hiện đại,
công suất dự kiến đạt 150 ÷ 300 tấn/ngày, diện tích khoảng 3.042m 2
ß Hạ tầng xã hội
 Giáo dục
Theo dõi, đôn đốc xây dựng hòan chỉnh, đưa vào sử dụng: mở rộng trường
Trung học cơ sở Nguyễn Văn Trỗi quận 2; Trung tâm kỹ thuật hướng nghiệp (khu dân
cư 174ha); Trung tâm giáo dục thường xuyên (khu dân cư 174ha).
Tiếp tục thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng và chuẩn bị các thủ
tục đầu tư xây dựng: Trường mầm non Họa Mi phường An Phú, Trường Trung học
phổ thông chất lượng cao Cát Lái, Trường Trung học cơ sở Thảo Điền, Trường tiểu
học An Phú (khu An Bình), Trường mầm non Bình Trưng Đông, Trường cao đẳng
nghề...
 Y tế
Chuẩn bị các thủ tục để đầu tư xây dựng Trạm y tế phường An Phú trong công
viên cây xanh trên đường Nguyễn Hoàng.
Cải tạo, sửa chữa nhà mẫu chung cư lô C, D khu tái định cư 17,3ha của Công ty
TNHH Nam Rạch chiếc để bố trí Trạm y tế phường Bình Khánh.
Lập dự án, xác định nguồn vốn thực hiện đầu tư dự án xây dựng, mở rộng Bệnh
viện quận 2.
Theo dõi, đôn đốc chủ đầu tư lập thủ tục đầu tư Bệnh viện tại phường An Phú
thuộc dự án 131ha, Bệnh viện - Công ty TNHH Đá xây dựng Bình Dương, Bệnh viện
đa khoa 200 giường Công ty TNHH- Thương mại - Dịch vụ Mỹ Mỹ, Bệnh viện Ngọc
Tâm - Khu 174ha, Bệnh viện đa khoa - Công ty Cổ phần Đầu tư và Dịch vụ thành phố
 Văn hóa- Thể dục thể thao
GVHD: PGS.TS.HUỲNH PHÚ
Nhóm 6 – 13DMT02

Trang23/55


Chương 2: Tính toán công trình đơn vị.
Lập phương án thiết kế Nhà văn hóa Lao động Quận 2 do Liên đoàn lao động
quận 2 làm chủ đầu tư.
Lập thủ tục kêu gọi đầu tư xây dựng Trung tâm văn hóa quận 2 tại vị trí tại khu
công viên cây xanh trong dự án Khu đô thị phát triển An Phú 88,03ha (khu 87ha cũ)
phường An Phú và xây dựng Trung tâm thể dục thể thao quận bằng nguồn vốn xã hội
hóa.
Cải tạo, sửa chữa nhà mẫu phục vụ xây dựng công trình chung cư tái định cư tại
lô C – D, khu 17,3ha do Công ty TNHH Nam Rạch chiếc làm chủ đầu tư để bố trí trụ
sở Ban điều hành khu phố 3 và nhà văn hóa phường.
Xây dựng trụ sở Ban điều hành khu phố 4, phường Bình Trưng Đông và trụ sở
Ban điều hành khu phố 1, phường Cát Lái.
Kiểm tra, đôn đốc Công ty TNHH Một thành viên Đầu tư- Xây dựng Trường
Thịnh đẩy nhanh công tác bồi thường giải phóng mặt bằng khu đất 720 m 2 thuộc dự án
của Công ty để bố trí xây dựng Nhà văn hóa phường Bình An.
 Công viên cây xanh
Phối hợp với Sở Giao thông Vận tải, Khu Quản lý giao thông đô thị số 2 tiếp tục
hoàn thành dự án Công viên vòng xoay chân cầu Sài Gòn, phường Bình An, quận 2
Triển khai xây dựng Công viên- bia tưởng niệm các liệt sĩ đã hi sinh trong trận
đánh bảo vệ Cầu Rạch Chiếc tại phường An Phú, quận 2. Dự kiến hoàn thành trước
ngày 30 tháng 4 năm 2015.
Làm việc, đôn đốc chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng: Khu công
viên thuộc dự án Khu dân cư 17,3ha, phường An Phú; Công viên cây xanh Khu C –
2,6531ha - Khu đô thị An Phú - An Khánh; Công viên - Cty Cổ phần Him Lam; Công
viên dự án của Công ty Cổ phần Thế kỷ 21; Công viên Dự án của công ty TNHH Một
thành viên Dịch vụ công ích quận 2 (sau bệnh viện quận 2).
 Chợ
Lập thủ tục kêu gọi đầu tư xây dựng Chợ An Điền nằm tại giao lộ đường Xuân
Thủy - Nguyễn Văn Hưởng.
Lập thủ tục công tác giải phóng mặt bằng và chuẩn bị các bước để đầu tư xây
dựng chợ Bình Trưng Đông và chợ Bình Trưng Tây đã xác định theo quy hoạch được
duyệt.
ß Nguồn vốn đầu tư công trình hạ tầng kĩ thuật, hạ tầng xã hội
Dự kiến sử dụng vốn ngân sách của thành phố và quận 2, vốn huy động cộng
đồng và các nguồn vốn khác.
Nghiên cứu đề xuất và sử dụng nguồn vốn huy động từ chủ đầu tư và các dự án
có quy mô nhỏ, không thể trực tiếp đầu tư xây dựng công trình hạ tầng xã hội (đối với
dự án nhà ở), hạ tầng kỹ thuật (đối với dự án nhà ở và dự án dịch vụ phức hợp).
Đối với dự án có chủ đầu tư: dùng vốn của chủ đầu tư, vốn vay dài hạn của ngân
hạn.

II)

THÀNH PHẦN TÍNH CHẤT NƯỚC NGẦM TẠI QUẬN 2

GVHD: PGS.TS.HUỲNH PHÚ
Nhóm 6 – 13DMT02

Trang24/55


Chương 2: Tính toán công trình đơn vị.
Thông số

Giá trị

Đơn vị

pH
Độ đục
Độ màu
TDS
SS
Fe2+
Mn2+
Độ kiềm
CO2 tự do
Ca2+
Amoniac

5,9
60
50
60
45
7,25
0,9
64
90
8
0,74

NTU
Pt-Co
mg/l
mg/l
mg/l
mg/l
mg/l
mgCaCO3/l
mg/l
mg/l
mg/l

QCVN
01:2009/BYT
6,5 – 8,5
<5,0
<15,0
<0,5
<0,3
-

Bảng 2.1: Thành phần tính chất nước ngầm tại Quận 2
Qua bảng trên, có thể thấy một số chỉ tiêu nằm ngoài giới hạn cho phép theo quy
chuẩn QCVN 01:2009/BYT
+ Độ đục: 60 (PT-Co)
+ Độ màu: 50 (mg/l)
+ Độ pH: 5,9 (NTU)
+ Fe2+ : 7,25 (mg/l)
+ Mn2+ : 0,9 (mg/l)
Từ kết quả phân tích trên ta thấy chất lượng nước có 3 thành phần cần xử lý là
pH, Fe, Mn. Còn độ đục cao và độ màu cao chính là do phần Sắt và Mangan cao gây
nên, vì Sắt và Mangan trong nước ngầm khi đưa lên khỏi mặt đất bị oxy hóa dễ dàng
thành Fe(OH)3 màu nâu đỏ và MnO2 nâu. Nước có hàm lượng Sắt, Mangan cao
làm cho nước có mùi tanh và có màu vàng, gây ảnh hưởng không tốt đến chất lượng
nước ăn uống sinh hoạt, sản xuất, đòi hỏi cần được loại bỏ trước khi sử dụng.

III) ĐỀ XUẤT CÔNG NGHỆ NƯỚC NGẦM
Việc lựa chọn công nghệ xử lý nước phụ thuộc vào chất lượng và đặc trưng của
nguồn nước thô. Các vấn đề cần đề cập đến khi thiết kế hệ thống xử lý nước bao gồm
chất lượng nước thô, yêu cầu và tiêu chuẩn sau xử lý. Dựa vào các số liệu đã có, so
sánh chất lượng nước thô và nước sau xử lý để quyết định cần xử lý những gì, chọn
những thông số chính về chất lượng nước và đưa ra kỹ thuật xử lý cụ thể. Theo chất
lượng nước nguồn đã có đưa ra các phương án xử lý sau:
+ Phương án 1:

Nước giếng

Vôi

GVHD: PGS.TS.HUỲNH PHÚ
Nhóm 6 – 13DMT02

Clo

Trang25/55


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×