Tải bản đầy đủ

Các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐÀO TUẤN ANH

CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG THUỘC
MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI GIẾT NGƯỜI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐÀO TUẤN ANH

CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG THUỘC
MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI GIẾT NGƯỜI
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự

Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐỖ ĐỨC HỒNG HÀ

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
NGƯỜI CAM ĐOAN

Đào Tuấn Anh


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TÌNH TIẾT
TĂNG NẶNG THUỘC MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI GIẾT
NGƯỜI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ............................. 7
1.1.

Khái niệm và đặc điểm của các tình tiết tăng nặng thuộc mặt
chủ quan của tội giết người ................................................................ 7

1.1.1. Khái niệm các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người...... 7

1.1.2. Đặc điểm của các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội
giết người ............................................................................................ 10
1.1.3. Phân biệt các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan và các tình
tiết tăng nặng thuộc mặt khách quan của tội giết người ..................... 12
1.2.

Lịch sử hình thành và phát triển của các quy định về tình tiết
tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người .......................... 13

1.2.1. Giai đoạn từ 1945 đến trước năm 1985 .............................................. 13
1.2.2. Giai đoạn từ năm 1985 đến trước năm 1999....................................... 20
1.3.

Nội dung của các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của
tội giết người theo quy định của BLHS năm 1999 ......................... 24

1.3.1. Nội dung của tình tiết “giết người vì lý do công vụ của nạn nhân” ......... 24
1.3.2. Nội dung của tình tiết “giết người để thực hiện hoặc che giấu tội
phạm khác”.......................................................................................... 29
1.3.3. Nội dung của tình tiết “giết người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” ..... 30
1.3.4. Nội dung của tình tiết “thuê giết người” ............................................. 31
1.3.5. Nội dung của tình tiết “giết người vì động cơ đê hèn” ....................... 32


Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TÌNH
TIẾT TĂNG NẶNG THUỘC MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI
GIẾT NGƯỜI .................................................................................... 37
2.1.

Những kết quả đạt được trong thực tiễn áp dụng quy định về
các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người ..... 37

2.1.1. Thực trạng của tội phạm giết người .................................................... 37
2.1.2. Những kết quả đạt được trong thực tiễn áp dụng quy định về tình
tiết “giết người vì lý do công vụ của nạn nhân” .................................... 40
2.1.3. Những kết quả đạt được trong thực tiễn áp dụng quy định về tình
tiết “giết người để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác” ............... 42
2.1.4. Những kết quả đạt được trong thực tiễn áp dụng quy định về tình
tiết “giết người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” ......................... 45
2.1.5. Những kết quả đạt được trong thực tiễn áp dụng quy định về tình
tiết “thuê giết người” ........................................................................... 45
2.1.6. Những kết quả đạt được trong thực tiễn áp dụng quy định về tình
tiết “giết người vì động cơ đê hèn” ..................................................... 46
2.2.

Những hạn chế, bất cập trong quy định và áp dụng quy định về
các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người .......... 49

2.2.1. Những hạn chế, bất cập trong quy định về các tình tiết tăng nặng
thuộc mặt chủ quan của tội giết người ................................................ 49
2.2.2. Những hạn chế, bất cập trong áp dụng quy định về các tình tiết
tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người ............................... 54
2.3.

Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong quy định và áp
dụng quy định về các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của
tội giết người ........................................................................................ 57

2.3.1. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong quy định về các
tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người .................. 57
2.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong áp dụng quy định
về các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người ....... 58


Chương 3: HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC TÌNH TIẾT TĂNG
NẶNG THUỘC MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI GIẾT NGƯỜI .........64
3.1.

Hoàn thiện quy định về các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ
quan của tội giết người ..................................................................... 64

3.1.1. Hoàn thiện quy định về tình tiết “giết người vì lý do công vụ của
nạn nhân”............................................................................................. 64
3.1.2. Hoàn thiện quy định về tình tiết “giết người để thực hiện hoặc
che giấu tội phạm khác” ...................................................................... 66
3.1.3. Hoàn thiện quy định về tình tiết “giết người để lấy bộ phận cơ thể
của nạn nhân” ...................................................................................... 70
3.1.4. Hoàn thiện quy định về tình tiết “thuê giết người” ............................. 71
3.1.5. Hoàn thiện quy định về tình tiết “giết người vì động cơ đê hèn” ....... 72
3.2.

Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về các tình
tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người ................... 73

3.2.1. Nâng cao chất lượng điều tra tội phạm giết người liên quan đến
các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan ......................................... 73
3.2.2. Nâng cao chất lượng truy tố tội phạm giết người liên quan đến
các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan ......................................... 76
3.2.3. Nâng cao chất lượng xét xử tội phạm giết người liên quan đến
các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan ......................................... 80
KẾT LUẬN .................................................................................................... 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 89


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS

: Bộ luật hình sự

CTTP

: Cấu thành tội phạm

TAND

: Tòa án nhân dân

TANDTC

: Toàn án nhân dân tối cao

TNHS

: Trách nhiệm hình sự

VKSND

: Viện kiểm sát nhân dân

VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao
XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu bảng

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1: Thống kê xét xử sơ thẩm hình sự về tội phạm giết
người ở Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2014

37

Bảng 2.2: Số liệu xét xử các tội phạm xâm phạm tính mạng
con người giai đoạn 2010 - 2014

39

Bảng 2.3: Số liệu về tội chống người thi hành công vụ giai
đoạn 2010 - 2014

40


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hiến pháp năm 2013 quy định: Công dân có quyền được sống và quyền
bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm. Đó là cơ sở
Hiến định đồng thời thể hiện thái độ của xã hội, Nhà nước trong công tác đấu
tranh, phòng chống tội phạm giết người.
Theo BLHS hiện hành, những tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan
của tội giết người được quy định tại khoản 1 Điều 93 bao gồm năm trường
hợp: giết người vì lý do công vụ của nạn nhân, giết người để thực hiện hoặc
che giấu tội phạm khác, giết người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân, thuê
giết người, giết người vì động cơ đê hèn.
Trong thời gian qua, tội phạm giết người thuộc các trường hợp trên
ngày một gia tăng với nhiều thủ đoạn tinh vi xảo quyệt và phức tạp. Các quy
định về xử lý tội phạm giết người với những tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ
quan chưa có giải thích hướng dẫn rõ ràng gây khó khăn cho quá trình áp
dụng pháp luật. Đây là kẽ hở để một số cán bộ có thẩm quyền xử lý tội phạm
lợi dụng tiêu cực, dẫn đến việc nhiều đối tượng phạm tội bị xử lý không
tương xứng với tính chất mức độ của hành vi phạm tội hoặc bỏ lọt tội phạm.
Trước tình hình đó, ngày 24/08/2005 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị
quyết số 48/NQ/TW về chiến lược và hoàn thiện pháp luật Việt Nam đến năm
2010, định hướng đến năm 2020. Vì vậy, tìm ra giải pháp chiến lược để đấu
tranh phòng chống tội phạm giết người với những tình tiết tăng nặng thuộc
mặt chủ quan là việc làm cấp bách.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tội giết người trong luật hình sự
Việt Nam. Tuy nhiên, các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết
người chưa được nghiên cứu chuyên sâu ở bậc luận văn tốt nghiệp thạc sỹ luật

1


học chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự. Vì vậy, học viên lựa
chọn đề tài “Các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người”
nhằm đi sâu nghiên cứu tội giết người với những tình tiết tăng nặng thuộc mặt
chủ quan trên cơ sở lý luận và thực tiễn. Qua đó, đưa ra những kiến nghị để
hoàn thiện quy định của pháp luật và có nghiên cứu thực tiễn xét xử tội này
trong những năm gần đây làm đề tài luận văn thạc sỹ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong thời gian qua, đề cập đến các khía cạnh khác nhau của đề tài
luận văn đã có một số đề tài khoa học, sách chuyên khảo, luận văn thạc sỹ,
luận án tiến sỹ và các bài báo. Sau đây, học viên nêu một số công trình
nghiên cứu tiêu biểu, có liên quan mật thiết hoặc một phần đến đề tài luận
văn mà mình lựa chọn.
Nhóm các công trình khoa học
Dưới góc độ pháp lý, một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về tội giết
người có liên quan đến các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan như: “Tội
giết người và đấu tranh phòng, chống tội phạm giết người ở Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay” của TS. Đỗ Đức Hồng Hà, Nxb. Tư pháp, 2008; Phùng
Thế Vắc - Trần Văn Luyện: “Bình luận khoa học BLHS 1999”, Nxb. Công an
nhân dân, Hà Nội, 2001; Đề tài "Cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao
chất lượng công tác kiểm sát điều tra án giết người", Ban chủ nhiệm: Trần
Phong Thanh - Nguyễn Duy Hồng - Đỗ Xuân Tựu, Hà Nội, 1995.
Bên cạnh đó, các bài báo khoa học được công bố có liên quan đến đề
tài như: Một số quan điểm khác nhau về định nghĩa và đối tượng tác động
của tội giết người của Đỗ Đức Hồng Hà - 2004 - TC Tòa án nhân dân, Tòa
án nhân dân tối cao, 2004, Số 13, tr.15-17; Phân biệt tội giết người với một
số tội phạm khác xâm phạm tính mạng của con người của Đỗ Đức Hồng
Hà - TC Tòa án nhân dân - 2/2003 - Số 2 - Tr.13-15; Vấn đề lỗi của người
bị hại liên quan đến việc xác định tội danh đối với người phạm tội khi xét

2


xử tội giết người/Trần Linh - TC Tòa án nhân dân - 8/2003 - Số 8 - Tr.2123; Quy định về tội giết người trong BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999
của Đỗ Đức Hồng Hà - TC Tòa án nhân dân - 4/2002 - Số 4 - Tr.21-23; Về
giải thích và hướng dẫn áp dụng các quy định của BLHS về tội giết người tồn tại và giải pháp, Đỗ Đức Hồng Hà. TC Tòa án nhân dân - 1/2005 - Số 1
- Tr.04-14; Các tình tiết tăng nặng trong tội giết người phản ánh đối tượng
bị xâm hại là đối tượng cần được bảo vệ đặc biệt của Đỗ Đức Hồng Hà TC Nhà nước và pháp luật - 10/2006 - Số 222 - Tr.52-57; Phương hướng
khắc phục những tồn tại, vướng mắc khi áp dụng một số quy định của pháp
luật hình sự về tình tiết tăng nặng của tội giết người của Đỗ Đức Hồng Hà
- TC Kiểm sát - 12/2006 - Số 23 - Tr.32-38
Nhóm các luận án, luận văn
Cấp độ luận văn thạc sỹ có liên quan đến đề tài nghiên cứu như: Định tội
danh đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người theo pháp luật hình
sự hiện hành Luận văn thạc sĩ luật học Trần Nhật Linh; Người hướng dẫn:
PGS.TS. Phạm Quang Phúc - thành phố Hồ Chí Minh, 2011; Đấu tranh phòng
chống tội phạm giết người theo Điều 93 BLHS tại Thành phố Hồ Chí Minh
Luận văn thạc sĩ Nguyễn Hoàng Tuấn; Người hướng dẫn: PGS.TS Trịnh Văn
Thanh - TP.Hồ Chí Minh, 2008; Tội giết người theo điều 93 BLHS và thực tiễn
xét xử tại thành phố Hồ Chí Minh: Luận văn thạc sĩ luật học/Trần Thị Hồng
Việt; Người hướng dẫn: TS. Trần Văn Độ - thành phố Hồ Chí Minh, 2007; Tội
giết người và đấu tranh phòng, chống tội phạm giết người ở Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay của TS. Đỗ Đức Hồng Hà - Đại học Luật Hà Nội, 2008…
Nhìn chung, các công trình, bài viết trên chủ yếu đề cập đến việc đánh
giá thực trạng và hoàn thiện pháp luật về tội giết người và thực tiễn áp dụng
trên địa bàn cả nước mà chưa có điều kiện nghiên cứu sâu tội phạm giết người
với những tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan.

3


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ những quan điểm về
tội phạm và hình phạt trên phương diện lý luận, thực tiễn đấu tranh và phòng,
chống tội phạm giết người với những tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan
thông qua thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân trong những năm gần đây. Học
viên sẽ đi sâu phân tích những hạn chế, bất cập trong quy định và thực tiễn áp
dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện
quy định của pháp luật cũng như đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả áp
dụng quy định về các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Từ mục đích nêu trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Xây dựng và nghiên cứu cơ sở lý luận về các tình tiết tăng nặng thuộc
mặt chủ quan của tội giết người.
- Phân tích, so sánh các quy định pháp luật, đánh giá mức độ hoàn thiện
các quy định của pháp luật hiện hành.
- Nêu quá trình hình thành và phát triển của khoa học pháp luật hình sự
Việt Nam về những trường hợp giết người có tình tiết tăng nặng thuộc mặt
chủ quan.
- Phân tích, đánh giá việc thực hiện các quy định của pháp luật trong
thực tiễn.
- Đề xuất phương hướng hoàn thiện và các giải pháp áp dụng trong thực tế
các quy định pháp luật và áp dụng thống nhất pháp luật của chế định này.
4. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài
4.1. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Tội giết người có tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan được nghiên
cứu bởi nhiều ngành khoa học khác nhau như khoa học điều tra hình sự, tố
tụng hình sự, xã hội học, tâm lý tội phạm, tội phạm học… Trong phạm vi luận

4


văn này, học viên đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn tội giết người
có tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan được quy định tại các điểm d, g, h,
m, q khoản 1, Điều 93 BLHS bao gồm: giết người vì lý do công vụ của nạn
nhân, giết người để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác, giết người để lấy
bộ phận cơ thể của nạn nhân, thuê giết người, giết người vì động cơ đê hèn.
Luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp
luật trong lĩnh vực này tại hệ thống TAND từ năm 2010 đến 2014.
4.2. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan
của tội giết người và thực tiễn áp dụng các tình tiết này được quy định tại các
điểm d, g, h, m, q khoản 1 Điều 93 BLHS 1999 bao gồm: giết người vì lý do
công vụ của nạn nhân, giết người để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác, giết
người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân, thuê giết người, giết người vì động cơ
đê hèn theo pháp luật hiện hành và lịch sử pháp luật Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để có được kết quả trình bày trong luận văn, học viên đã sử dụng các
phương pháp sau:
- Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng: Tiến hành
nghiên cứu trên cơ sở quá trình hình thành và phát triển, các mối liên hệ, quan
hệ của quy định về tội giết người có tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan ở
Việt Nam.
- Phương pháp vận dụng các quan điểm của Đảng và Nhà nước nói chung
và pháp luật hình sự nói riêng trong quá trình xây dựng, áp dụng pháp luật.
- Phương pháp phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp: Đây là những
phương pháp quan trọng và được học viên sử dụng chủ yếu trong quá trình
thực hiện luận văn của mình.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Luận văn sử dụng phương pháp
thống kê, sưu tầm và phân tích các vụ án đã được Tòa án nhân dân xét xử về

5


tội giết người có tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan để làm rõ thực tiễn áp
dụng quy định này.
6. Điểm mới và đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình mới nghiên cứu về các tình tiết tăng nặng thuộc
mặt chủ quan của tội giết người một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống.
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về tội giết người có tình tiết tăng nặng
thuộc mặt chủ quan. Cụ thể:
- Đưa ra được khái niệm, đặc điểm về các trường hợp giết người có tình
tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan theo quy định pháp luật Việt Nam và
những gợi mở cho việc hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam trong thời gian tới.
- Phân tích những dấu hiệu pháp lý đặc trưng cơ bản về một hành vi
giết người với các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan. Luận văn đưa các
luận giải khoa học về mặt nhận thức luận và đánh giá quy định của pháp luật
hiện hành về những trường hợp này.
- Luận văn sẽ nghiên cứu thêm những thành tựu và hạn chế trong
phòng, chống và đấu tranh với tội giết người có tình tiết tăng nặng thuộc mặt
chủ quan theo quy định pháp luật Việt Nam. Từ đó, giúp cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng vận dụng kết quả nghiên cứu vào việc ngăn chặn
và đẩy lùi hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về các tình tiết tăng nặng thuộc mặt
chủ quan của tội giết người trong Luật Hình sự Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định về tình tiết tăng nặng thuộc
mặt chủ quan của tội giết người
Chương 3: Hoàn thiện quy định và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả
áp dụng các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người

6


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG
THUỘC MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI GIẾT NGƯỜI
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm và đặc điểm của các tình tiết tăng nặng thuộc mặt
chủ quan của tội giết người
1.1.1. Khái niệm các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội
giết người
Các tình tiết tăng nặng nói chung và tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ
quan của tội giết người bao gồm: giết người vì lý do công vụ của nạn nhân,
giết người để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác, giết người để lấy bộ
phận cơ thể của nạn nhân, thuê giết người, giết người vì động cơ đê hèn nói
riêng là các tình tiết mà khi xuất hiện sẽ làm cho hành vi phạm tội đó trở lên
nguy hiểm hơn trường hợp thông thường và người thực hiện hành vi đó phải
chịu TNHS nặng hơn trường hợp thông thường.
Theo tác giả Đỗ Đức Hồng Hà, các tình tiết tăng nặng của tội giết
người quy định tại khoản 1, Điều 93 BLHS được chia thành 4 nhóm chủ yếu:
Nhóm 1, các tình tiết phản ánh sự cần được tôn trọng và bảo vệ đặc biệt
đối với đối tượng bị xâm hại bao gồm: giết phụ nữ mà biết là có thai và giết
trẻ em, giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình.
Nhóm 2, các tình tiết phản ánh tính chất của hành vi và mức độ hậu quả
bao gồm: giết nhiều người; giết người đang thi hành công vụ; giết người bằng
cách lợi dụng nghề nghiệp; giết người bằng phương pháp có khả năng làm
chết nhiều người; thuê giết người; giết người có tổ chức.
Nhóm 3, các tình tiết phản ánh tính chất của động cơ và mức độ lỗi của
người phạm tội bao gồm: giết người vì lý do công vụ của nạn nhân; giết người

7


để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác; giết người để lấy bộ phận cơ thể
của nạn nhân; giết người thuê; giết người vì động cơ đê hèn.
Nhóm 4, các tình tiết phản ánh đặc điểm về nhân thân người phạm tội
bao gồm: thực hiện tội phạm một cách man rợ; giết người mà liền trước đó
hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm
trọng; giết người có tính chất côn đồ; giết người thuộc trường hợp tái phạm
nguy hiểm [21, tr.33].
Như vậy, nhóm tình tiết tăng nặng của tội giết người thuộc mặt chủ
quan gồm các tình tiết thuộc nhóm thứ 3 (theo cách phân loại của tác giả Đỗ
Đức Hồng Hà) gồm có: giết người vì lý do công vụ của nạn nhân; giết người
để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác; giết người để lấy bộ phận cơ thể
của nạn nhân; thuê giết người; giết người vì động cơ đê hèn. Các tình tiết này
phản ánh động cơ, mục đích và lỗi của người phạm tội khác với trường hợp
thông thường và chính điều đó làm cho hành vi phạm tội có mức độ nghiêm
trọng hơn so với trường hợp thông thường.
Để tìm hiểu về khái niệm các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan
của tội giết người trước hết chúng ta cần phải tìm hiểu về mặt chủ quan của
tội phạm. Theo lý luận về luật hình sự, hành vi của con người bao giờ cũng là
sự thống nhất giữa những biểu hiện cụ thể bên ngoài thế giới khách quan và
những nội dung tâm lý bên trong (ý chí) của chủ thể thực hiện hành vi đó. Tội
phạm là sự thống nhất giữa hai mặt khách quan và chủ quan. Vì vậy, Luật
hình sự Việt nam không chấp nhận việc quy tội khách quan, nghĩa là truy cứu
TNHS chỉ căn cứ vào những biểu hiện của hành vi nguy hiểm cho xã hội
không kể hành vi đó bắt nguồn từ đâu, diễn biến tâm lý của người thực hiện
hành vi ra sao. Hoạt động định tội phải là sự kết hợp giữa mặt khách quan và
chủ quan, giữa hành vi biểu hiện và thái độ bên trong của người thực hiện

8


hành vi. Mặt chủ quan của tội phạm biểu hiện thông qua ba yếu tố: lỗi, động
cơ phạm tội và mục đích phạm tội. Mỗi yếu tố có ý nghĩa khác nhau trong
việc chủ thể thực hiện hành vi phạm tội.
- Lỗi là thái độ tâm lý bên trong của người phạm tội đối với hành vi
nguy hiểm cho xã hội và hậu quả nguy hiểm cho xã hội của mình cũng như
khả năng gây ra hậu quả từ hành vi đó.
- Mục đích phạm tội là kết quả cuối cùng mà người phạm tội mong
muốn đạt được khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Nó xác định
khuynh hướng ý chí và khuynh hướng hành động của người phạm tội.
- Động cơ phạm tội là động lực thúc đẩy người phạm tội thực hiện
hành vi phạm tội.
Các dấu hiệu của mặt chủ quan của tội phạm gồm: lỗi, động cơ và mục
đích phạm tội, trong đó dấu hiệu lỗi bắt buộc phải có trong tất cả các CTTP,
động cơ và mục đích chỉ có trong một số CTTP cơ bản và có trong một số
CTTP tăng nặng hoặc giảm nhẹ. Tức là dấu hiệu bắt buộc để người phạm tội
thực hiện hành vi thuộc trường hợp tăng nặng đó gồm lỗi, động cơ và mục
đích là: giết người vì lý do công vụ của nạn nhân; giết người để thực hiện
hoặc che giấu tội phạm khác; giết người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
thuê giết người; giết người vì động cơ đê hèn.
Chúng ta có thể thấy các tình tiết tăng nặng trên đều phản ánh các dấu
hiệu thuộc mặt chủ quan như động cơ giết người, mục đích giết người. Điều
này làm cho hành vi phạm tội có mức độ nguy hiểm cao hơn đáng kể so với
trường hợp phạm tội thông thường. Chính vì vậy, người phạm tội phạm chịu
mức hình phạt cao hơn.
Từ sự phân tích trên có thể rút ra khái niệm về các tình tiết tăng nặng
thuộc mặt chủ quan của tội giết người như sau:
“Các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người là các tình

9


tiết thuộc về mặt chủ quan như lỗi, động cơ, mục đích phạm tội mà khi người
phạm tội thực hiện hành vi giết người với những yếu tố đó làm cho tội phạm trở
nên nguy hiểm đáng kể hơn so với trường hợp giết người thông thường khác”.
1.1.2. Đặc điểm của các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của
tội giết người
Từ khái niệm các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết
người chúng ta có thể rút ra 4 đặc điểm của các tình tiết này như sau:
Thứ nhất, các trường hợp giết người có tình tiết tăng nặng thuộc mặt
chủ quan có các đặc điểm như tội giết người nói chung. Tức là có hành vi
cố ý gây ra cái chết cho người khác một cách trái pháp luật, do người có
năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS do BLHS quy định (từ đủ 14 tuổi trở
lên) thực hiện [21, tr.14]. Như vậy, các trường hợp giết người có tình tiết
tăng nặng thuộc mặt chủ quan cũng cần phải có dấu hiệu cố ý gây ra cái
chết của người khác một các trái pháp luật. Điều này có nghĩa là lỗi trong
trường hợp phạm tội giết người nói chung và giết người có tình tiết tăng
nặng thuộc mặt chủ quan nói riêng đều đòi hỏi phải là lỗi cố ý có thể là cố
ý trực tiếp, có thể là cố ý gián tiếp. Đây chính là dấu hiệu phân biệt giết
người với các tội phạm khác như vô ý làm chết người; cố ý gây thương tích
dẫn đến hậu quả chết người....
Thứ hai, các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người có
đặc điểm chung là khi xuất hiện các tình tiết này trong tội phạm làm cho hành
vi phạm tội trở nên nguy hiểm cho xã hội hơn so với các trường hợp phạm tội
thông thường. Theo lý luận về luật hình sự đã chỉ ra rằng, các tình tiết tăng
nặng nói chung là các tình tiết phản ánh tính chất nguy hiểm cho xã hội cao
hơn so với các trường hợp phạm tội khác và người phạm tội thuộc các trường
hợp này phải chịu mức TNHS cao hơn so với các trường hợp khác. Theo quy
định tại khoản 1 Điều 93 BLHS năm 1999 thì các tình tiết tăng nặng thuộc mặt

10


chủ quan của tội giết người bao gồm: giết người vì lý do công vụ của nạn nhân,
giết người để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác, giết người để lấy bộ phận
cơ thể của nạn nhân, thuê giết người, giết người vì động cơ đê hèn có mức hình
phạt từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Khoản 2 Điều 93 quy
định các trường hợp giết người thông thường khác không thuộc khoản 1 Điều
93 thì mức TNHS thấp hơn, chỉ từ 7 năm đến 15 năm. Như vậy, có thể thấy các
tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người có đặc điểm chung
như các tình tiết tăng nặng nói chung trong BLHS. Do đó, khi nghiên cứu về
các tình tiết tăng nặng này phải đặt nó trong mối quan hệ và về phương diện lý
luận tương tự như các tình tiết tăng nặng khác.
Thứ ba, các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người có
liên quan chặt chẽ tới các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm nói
chung. Theo lý luận về CTTP, mặt chủ quan của tội phạm bao gồm ba yếu tố
lỗi, động cơ, mục đích. Song, trong các yếu tố này thì lỗi là dấu hiệu bắt buộc
của CTTP, động cơ và mục đích là dấu hiệu trong một số CTTP.
Các trường hợp giết người có tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan
chính là trường hợp giết người mà xuất hiện các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan
làm cho hành vi phạm tội trở nên nguy hiểm hơn trường hợp khác. Ví dụ như
mục đích không chỉ giết người thông thường mà để nhằm lấy bộ phận cơ thể
của nạn nhân là một trong các trường hợp như vậy. Tình tiết này cho thấy
mục đích của người phạm tội là nguy hiểm hơn so với trường hợp khác, việc
lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân không những gây bức xúc, đau đớn cho
người thân, gia đình nạn nhân mà còn tạo dư luận xấu trong xã hội...
Thứ tư, việc điều tra, truy tố, xét xử đối với các trường hợp giết người
có tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội phạm là rất khó khăn. Vì đây
là các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan – tức mặt bên trong của tội phạm. Thể
hiện trong lỗi, động cơ, mục đích là cái bên trong hoặc cái mà người phạm tội

11


hướng tới, hình dung tới khi thực hiện hành vi phạm tội. Chính vì vậy, việc
xác định đúng người phạm tội có hành vi giết người có tình tiết tăng nặng
thuộc mặt chủ quan hay không đòi hỏi phải có những kinh nghiệm, kỹ năng
nhất định. Đồng thời cần có sự đánh giá tổng hợp các tài liệu chứng cứ khác
nhau để đưa ra được kết luận chính xác. Bởi lẽ, tội phạm là thể thống nhất
giữa mặt bên trong và mặt bên ngoài. Thông qua các biểu hiện bên ngoài của
tội phạm có thể đánh giá được lỗi, động cơ, mục đích (là những yếu tố bên
trong). Do đó, để đảm bảo hiệu quả điều tra, truy tố, xét xử đối với các trường
hợp phạm tội giết người có các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan này cần phải
thực hiện các công việc đó.
1.1.3. Phân biệt các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan và các
tình tiết tăng nặng thuộc mặt khách quan của tội giết người
* Giống nhau
Cả hai tình tiết này đều là các tình tiết thuộc cấu thành tội phạm tăng
nặng của tội giết người.
Các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan và các tình tiết tăng nặng
thuộc mặt khách quan của tội giết người đều là các tình tiết mà khi người phạm
tội thực hiện hành vi giết người với những yếu tố đó làm cho tội phạm trở nên
nguy hiểm đáng kể hơn so với trường hợp giết người thông thường khác.
* Khác nhau
Nếu các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người là
mặt bên ngoài của tội phạm bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra
hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan thể hiện mức độ nguy hiểm đáng
kể hơn so với các trường hợp giết người thông thường khác thì các tình tiết
tăng nặng thuộc mặt khách quan của tội giết người là hoạt động tâm lý bên
trong của người phạm tội thể hiện mức độ nguy hiểm đáng kể hơn so với các
trường hợp giết người thông thường khác.

12


Các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người bao gồm
hành vi giết người; hậu quả làm chết người; mối quan hệ nhân quả giữa hành
vi giết người và hậu quả làm chết người; công cụ, phương tiện, thủ đoạn, thời
gian, hoàn cảnh, địa điểm… thực hiện hành vi giết người còn các tình tiết
tăng nặng thuộc mặt khách quan của tội giết người bao gồm lỗi; động cơ giết
người và mục đích giết người.
Các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người là tiền đề
để xác định các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người; các
tình tiết tăng nặng thuộc mặt khách quan của tội giết người phải thông qua các
tình tiết tăng nặng thuộc mặt khách quan của tội giết người để chứng minh
các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người.
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của các quy định về tình tiết
tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người
Nhìn chung, việc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển về các
tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người chủ yếu liên quan
đến việc nghiên cứu về tội giết người nói chung. Việc nghiên cứu về tội giết
người được chia thành 3 giai đoạn như sau.
1.2.1. Giai đoạn từ 1945 đến trước năm 1985
Nghiên cứu những quy định về tội giết người trong các văn bản: Sắc
lệnh số 26-SL ngày 25/02/1946 trừng trị tội phá hoại công sản; Sắc lệnh số
27-SL ngày 28/02/1946 trừng trị các tội bắt cóc, tống tiền và ám sát; Sắc lệnh
số 133-SL ngày 20/01/1953 trừng trị những tội xâm phạm an ninh đối nội và
an toàn đối ngoại của Nhà nước; Sắc lệnh số 151-SL ngày 12/4/1953 trừng trị
địa chủ chống pháp luật; Thông tư số 442-TTg ngày 19/01/1955 tổng kết án lệ
về một số tội phạm thông thường, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau đây:
Thứ nhất: Trong giai đoạn này, không có văn bản nào quy định riêng
về tội giết người mà tội giết người chỉ được đề cập trong các văn bản quy

13


định về một nhóm tội cần tập trung trấn áp để bảo vệ chính quyền, công sản
và một số đối tượng đặc biệt nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phản đế,
phản phong. Ví dụ: Điều 4 Mục 2 Sắc lệnh số 133-SL ngày 20/01/1953 trừng
trị những tội xâm phạm an ninh đối nội và an toàn đối ngoại của Nhà nước
quy định: “Kẻ nào phạm những tội vây quét, bắt, giết, tra tấn, khủng bố, hà
hiếp cán bộ và nhân dân, áp bức, bóc lột, cướp phá nhân dân, bắt phu, bắt
lính, thu thuế cho địch, sẽ tuỳ tội nặng nhẹ mà xử phạt như sau: a) Bọn chủ
mưu, tổ chức, chỉ huy sẽ bị xử tử hình hoặc chung thân...”; Điều 6 Sắc lệnh số
151-SL ngày 12/4/1953 trừng trị địa chủ chống pháp luật quy định:
Địa chủ nào phạm một trong những tội sau đây: 1) Cấu kết
với đế quốc, ngụy quyền, gián điệp thành lập hay cầm đầu những tổ
chức, những đảng phái phản động để chống Chính phủ, phá hoại
kháng chiến, làm hại nhân dân, giết hại nông dân, cán bộ và nhân
viên... thì sẽ bị phạt tù từ 10 năm đến chung thân hoặc xử tử hình....
Thứ hai: trong giai đoạn này, hành vi phạm tội giết người được quy định
dưới nhiều hình thức khác nhau như: Ám sát, giết hại, cố ý giết người... Ví dụ,
Điều 1 Sắc lệnh số 27- SL ngày 28/02/1946 trừng trị các tội bắt cóc, tống tiền
và ám sát quy định: “Những người phạm tội bắt cóc, tống tiền, ám sát sẽ bị
phạt từ 2 năm đến 10 năm tù và có thể bị xử tử”; khoản 1 Điều 6 Sắc lệnh số
151-SL ngày 12/4/1953 trừng trị địa chủ chống pháp luật quy định địa chủ nào
phạm một trong những tội sau đây thì sẽ bị phạt tù từ 10 năm đến chung thân
hoặc xử tử hình: “Cấu kết với đế quốc, ngụy quyền, gián điệp thành lập hay
cầm đầu những tổ chức, những đảng phái phản động để chống Chính phủ, phá
hoại kháng chiến, làm hại nhân dân, giết hại nông dân, cán bộ và nhân viên”;
điểm 3 của Thông tư số 442-TTg ngày 19/01/1955 quy định: “Cố ý giết người:
phạt tù từ 5 năm đến 20 năm, nếu có trường hợp nhẹ thì có thể hạ xuống đến 1
năm, giết người có dự mưu có thể phạt đến tử hình”.

14


Thứ ba: quy định về tội giết người trong giai đoạn này đã có sự phân hoá
TNHS cũng như trong đường lối xử lý người phạm tội giết người và thể hiện rõ
nguyên tắc nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, người hoạt động đắc lực, gây
hậu quả nghiêm trọng...; khoan hồng đối với những người bị cưỡng bức, lừa
gạt... Ví dụ: Điều 4 Mục 2 Sắc lệnh số 133-SL ngày 20/01/1953 trừng trị những
tội xâm phạm an ninh đối nội và an toàn đối ngoại của Nhà nước quy định:
Kẻ nào phạm những tội vây quét, bắt, giết, tra tấn, khủng bố,
hà hiếp cán bộ và nhân dân, áp bức, bóc lột, cướp phá nhân dân, bắt
phu, bắt lính, thu thuế cho địch, sẽ tuỳ tội nặng nhẹ mà xử phạt như
sau: a) Bọn chủ mưu, tổ chức, chỉ huy sẽ bị xử tử hình hoặc chung
thân; b) Bọn hoạt động đắc lực làm hại nhiều người sẽ bị phạt tù từ
10 năm trở lên; c) Những kẻ phạm các tội trên mà tội trạng tương đối
nhẹ, sẽ bị phạt tù từ 10 năm trở xuống; Điều 6 Sắc lệnh số 151-SL
ngày 12/4/1953 trừng trị địa chủ chống pháp luật quy định: Những
kẻ bị cưỡng bức hay bị lừa gạt mà phạm tội thì tùy tội nặng nhẹ, thái
độ hối lỗi của họ mà sẽ bị phạt tù từ 10 năm trở xuống [40, tr.178].
Thứ tư: đường lối xử lý người phạm tội giết người có một số điểm đáng
chú ý như sau: 1. Khung hình phạt của tội giết người đã được mở rộng với
nhiều loại là mức hình phạt có tính chất nghiêm khắc khác nhau. Ví dụ: Tại
điểm 3 Thông tư số 442-TTg ngày 19/01/1955 quy định: “Cố ý giết người:
phạt tù từ 5 năm đến 20 năm, nếu có trường hợp nhẹ thì có thể hạ xuống đến
1 năm, giết người có dự mưu có thể phạt đến tử hình”. 2. Hình phạt bổ sung
được quy định và áp dụng đối với người phạm tội giết người nhằm hỗ trợ cho
hình phạt chính và mở thêm khả năng pháp lý cho toà án có thể lựa chọn hình
phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và
nhân thân người phạm tội [40, tr.132]. Ví dụ: Điều 6 Sắc lệnh số 151-SL ngày
12/4/1953 trừng trị địa chủ chống pháp luật quy định:

15


Địa chủ nào phạm một trong những tội sau đây: 1. Cấu kết
với đế quốc, ngụy quyền, gián điệp thành lập hay cầm đầu những
tổ chức, những đảng phái phản động để chống Chính phủ, phá hoại
kháng chiến, làm hại nhân dân, giết hại nông dân, cán bộ và nhân
viên;... thì sẽ bị phạt tù từ 10 năm đến chung thân hoặc xử tử hình,
phải bồi thường thiệt hại cho nông dân, bị tịch thu một phần hay
tất cả tài sản.
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Cách mạng
Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới. Ngày 30/6/1955, Bộ Tư pháp đã có
Thông tư số 19-VHH-HS, yêu cầu các toà án không áp dụng luật lệ của đế
quốc và phong kiến vì “chính sách trừng trị trong chế độ dân chủ nhân dân
khác nhau về căn bản với chính sách trừng trị của chế độ trước”.
Để thực hiện đường lối mà Đảng ta đề ra trong giai đoạn từ năm 1955
đến năm 1976, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và TANDTC đã
ban hành nhiều văn bản hướng dẫn đường lối xử lý tội giết người như: Chỉ thị
số 1025-TATC ngày 15/6/1960 của TANDTC về đường lối xử lý tội giết
người vì mê tín; Chỉ thị số 01-NCCS ngày 14/3/1963 của TANDTC về xử lý
tội giết trẻ sơ sinh; Bản chuyên đề tổng kết thực tiễn xét xử loại tội giết người
ban hành kèm theo Công văn số 452-HS2 ngày 10/8/1970 của TANDTC về
thực tiễn xét xử tội giết người; Báo cáo tổng kết công tác toàn ngành năm
1975 của TANDTC; Công văn số 37 và 38-NCPL ngày 16/01/1976 của
TANDTC; Sắc luật số 03-SL ngày 15/3/1976 của Hội đồng Chính phủ cách
mạng lâm thời và Thông tư số 03-SL-BTP-TT ngày 15/4/1976 của Bộ tư pháp
hướng dẫn thi hành Sắc luật số 03 nói trên quy định các tội phạm và hình phạt
trong đó có tội giết người với nội dung: “Phạm tội cố ý giết người thì bị phạt
tù từ 15 năm đến tù chung thân hoặc bị xử tử hình. Trường hợp có tình tiết
giảm nhẹ thì mức hình phạt có thể thấp hơn” [41, tr.23]. Nghiên cứu quy định

16


về tội giết người trong các văn bản pháp luật này, đặc biệt là Bản chuyên đề
tổng kết thực tiễn xét xử loại tội giết người ban hành kèm theo Công văn số
452-HS2 ngày 10/8/1970 của TANDTC về thực tiễn xét xử tội giết người,
chúng tôi rút ra một số nhận xét sau đây: Thứ nhất, quy định về tội giết người
trong giai đoạn này đã kế thừa những thành tựu lập pháp hình sự của giai
đoạn trước trong việc phân hoá TNHS cũng như trong đường lối xử lý người
phạm tội giết người. Các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết
người chủ yếu như: giết người để che giấu hoặc dễ dàng thực hiện một tội
phạm khác, giết người kèm theo hiếp dâm hoặc giết người kèm theo cướp của
(những trường hợp cụ thể của phạm tội vì động cơ đê hèn). Các tình tiết này
cụ thể như sau:
- Giết người kèm theo một trong những tình tiết tăng nặng đặc biệt sau
đây thì có thể bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình:
Giết người có dự mưu; giết người để che giấu hoặc để dễ dàng thực hiện một
tội phạm khác; giết người kèm theo hiếp dâm, cướp của hay một tội phạm
nghiêm trọng khác; giết người một cách cực kì man rợ; giết nhiều người...
- Giết người kèm theo tình tiết giảm nhẹ đặc biệt sau đây thì bị phạt
thấp hơn 15 năm tù: Giết người trong tình trạng tinh thần bị kích động một
cách mạnh mẽ và đột xuất do hành vi sai trái nghiêm trọng của nạn nhân.
- Giết người trong những trường hợp thông thường, không có tình tiết
tăng nặng cũng không có tình tiết giảm nhẹ thì bị phạt tù từ 5 năm đến 20
năm. Thứ hai, so với giai đoạn trước, quy định về tội giết người trong giai
đoạn này đã có sự phát triển đáng kể trong việc phân hoá TNHS cũng như
trong đường lối xử lý người phạm tội. Cụ thể là: 1. Nhiều tình tiết tăng nặng
và tình tiết giảm nhẹ được bổ sung thêm trong giai đoạn này. Nhưng điểm
đáng chú ý nhất là lần đầu tiên luật hình sự có sự phân biệt tình tiết tăng nặng
chung với tình tiết tăng nặng đặc biệt và tình tiết giảm nhẹ chung với tình tiết
giảm nhẹ đặc biệt.

17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×