Tải bản đầy đủ

Tội trốn thuế theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố hà nội)

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

TRN TH HOA

TộI TRốN THUế
THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2015


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

TRN TH HOA

TộI TRốN THUế
THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM

(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)
Chuyờn ngnh: Lut Hỡnh s v T tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: TS. NG QUANG PHNG

H NI - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của bản thân. Các số liệu, trích dẫn có nguồn gốc rõ
ràng tuân thủ đúng nguyên tắc; kết quả nghiên cứu
trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trước đây.
Hà Nội, tháng 9 năm 2015
Tác giả luận văn

Trần Thị Hoa


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI TRỐN THUẾ
THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ............... 7
1.1.

Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội trốn thuế ..................... 7

1.1.1. Khái niệm tội trốn thuế ........................................................................ 7
1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội trốn thuế ................................................. 8
1.2.


Các tình tiết định khung tăng nặng đối với tội trốn thuế ............. 25

1.2.1. Các tình tiết tăng nặng theo khoản 2 Điều 161 BLHS ....................... 25
1.2.2. Các tình tiết tăng nặng theo khoản 3 Điều 161 BLHS ....................... 26
1.3.

Các hình phạt đối với tội trốn thuế ................................................ 27

1.3.1. Hình phạt tiền ..................................................................................... 29
1.3.2. Hình phạt cải tạo không giam giữ ...................................................... 30
1.3.3. Hình phạt tù có thời hạn ..................................................................... 30
1.4.

Phân biệt tội trốn thuế với một số tội phạm về kinh tế khác ....... 31

1.4.1. Phân biệt tội trốn thuế với tội buôn lậu .............................................. 31
1.4.2. Phân biệt tội trốn thuế với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản .................. 32
1.4.3. Phân biệt tội trốn thuế với tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu
hành séc giả, các giấy tờ có giá khác ................................................. 33
1.5.

Tổng quan về tội trốn thuế trong pháp luật hình sự Việt
Nam từ năm 1945 đến năm 1999 .................................................... 36

1.5.1. Từ năm 1945 đến năm 1985............................................................... 36
1.5.2. Từ năm 1985 đến năm 1999 ............................................................... 39


Chƣơng 2: THỰC TIẾN XÉT XỬ TỘI TRỐN THUẾ TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI .......................................................... 41
2.1.

Những yêu cầu bảo đảm việc xét xử tội trốn thuế đúng
pháp luật ........................................................................................... 41

2.1.1. Phải định tội danh đúng...................................................................... 41
2.1.2. Quyết định hình phạt đúng ................................................................. 45
2.2.

Kết quả xét xử tội trốn thuế trên địa bàn thành phố Hà Nội....... 55

2.2.1. Kết quả đạt được trong công tác xét xử tội trốn thuế......................... 55
2.2.2. Những vi phạm, sai lầm trong công tác xét xử tội trốn thuế.............. 56
Chƣơng 3: NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG VI PHẠM SAI LẦM
VÀ CÁC GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO VIỆC XÉT XỬ TỘI
TRỐN THUẾ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ............. 65
3.1.

Nguyên nhân của những vi phạm, sai lầm trong công tác xét
xử tội trốn thuế trên địa bàn thành phố Hà Nội ........................... 65

3.1.1.

Hệ thống pháp luật còn chưa đồng bộ, quy định còn chưa đầy đủ ......... 65

3.1.2. Năng lực của người tiến hành tố tụng còn hạn chế ............................ 68
3.2.

Dự báo tình hình tội trốn thuế trên địa bàn thành phố Hà Nội........ 69

3.3.

Các giải pháp đảm bảo việc xét xử tội trốn thuế trên địa bàn
thành phố Hà Nội đúng pháp luật .................................................. 71

3.3.1. Hoàn thiện pháp luật và hướng dẫn thi hành pháp luật...................... 71
3.3.2. Tăng cường công tác kiểm tra và phát triển án lệ .............................. 74
3.3.3. Nâng cao năng lực của người tiến hành tố tụng và luật sư ................ 76
3.3.4. Một số giải pháp khác ........................................................................ 78
KẾT LUẬN .................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 82
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 86


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ABC:

Ngân hàng thương mại Á châu

BLHS:

Bộ luật hình sự

CAND:

Công an nhân dân

CTTP:

Cấu thành tội phạm

GTGT:

Giá trị gia tăng

HĐQT:

Hội đồng quản trị

HĐXX:

Hội đồng xét xử

TNHH:

Trách nhiệm hữu hạn

TNHS:

Trách nhiệm hình sự

VKSND:

Viện kiểm sát nhân dân

VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
XHCN:

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng

Tên bảng

Bảng 2.1. Tình hình thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố
Hà Nội đối với tội trốn thuế từ năm 2010 đến năm 2014
Bảng 2.2. Hình phạt chính áp dụng đối với các bị cáo phạm tội
trốn thuế

Trang
86

86

Bảng 2.3. So sánh tội trốn thuế và các tội xâm phạm trật tự quản lý
kinh tế trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2010 đến
năm 2014

87


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là khoản đóng góp bắt buộc theo pháp luật của mỗi người dân với
đất nước, không hoàn trả trực tiếp ngang giá, nhưng được dùng để trang trải
cho các chi phí vì lợi ích chung của toàn xã hội như đường xá, cầu cống, bệnh
viện, trường học… Bất kì một quốc gia nào tại bất kì thể chế chính trị nào
cũng cần phải xây dựng một hệ thống thuế khoán hoàn chỉnh và hợp lý bởi
thuế có vai trò đặc biệt quan trọng. Thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước
nhằm huy động tập trung một phần của cải vật chất xã hội vào ngân sách Nhà
nước; Là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nên kinh tế và đời
sống xã hội; góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và
công bằng xã hội.
Với vai trò quan trọng như vậy, các quy định liên quan đến thuế, nghĩa
vụ đóng thuế được quy định chặt chẽ trong các văn bản pháp luật do Quốc hội
ban hành, như: Luật quản lý thuế 2006 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2012);
Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật quản lý thuế và luật sửa đổi bổ sung một số
điều của Luật quản lý thuế. Nghị định 91/2014 /NĐ-CP ngày 01/10/2014 của
Chính Phủ sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế.
Thông tư số 156/TT – BTC ngày 6/11/2013 hướng dẫn thi hành một số điều
Luật Quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế
và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ…
Trong xu thế đất nước ngày càng phát triển, thuế lại càng đóng một vai
trò quan trọng hơn nữa. Tuy nhiên, một bộ phận người dân không nhận thức
được tầm quan trọng cũng như trách nhiệm, nghĩa vụ của mình đối với Nhà
nước mà tìm đủ mọi cách để trốn thuế. Điều này sẽ gây ra một thiệt hại lớn
cho nguồn ngân sách nhà nước và làm mất đi sự công bằng của xã hội, đặc
biệt là sự bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh, sản xuất.
1


Thành phố Hà Nội là Thủ đô của cả nước, là Trung tâm chính trị, văn
hóa, kinh tế, nơi các hoạt động sản xuất, kinh doanh phát triển không ngừng,
nhiều doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân được thành lập và hoạt động kinh doanh
nhằm mục đích sinh lời. Hoạt động sản xuất, kinh doanh của các tổ chức, cá
nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách
nhà nước thông qua việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Tuy nhiên, bên cạnh đa
số doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội nhận
thức được nghĩa vụ đóng thuế của mình thì vẫn có không ít đối tượng trốn
thuế với thủ đoạn ngày càng tinh vi và xảo quyệt. Tùy tính chất, mức độ vi
phạm mà người có hành vi trốn thuế phải chịu trách nhiệm hành chính hoặc
phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 161 BLHS 1999 (đã sửa đổi, bổ sung
năm 2009) (sau đây gọi là BLHS năm 1999). Trên thực tế hiện nay các hành
vi trốn thuế chủ yếu là bị xử phạt hành chính, việc xử lý hình sự còn hạn chế.
Đồng thời việc xử lý hình sự bên cạnh những kết quả đạt được góp phần răn
đe, giáo dục người phạm tội trốn thuế cũng như những người có ý định trốn
thuế thì cũng còn bộc lộ một số hạn chế, sai lầm do những nguyên nhân khách
quan và chủ quan nhất định.
Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Tội trốn thuế theo luật hình sự Việt
Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)” mang tính
cấp thiết không những về lý luận mà còn là đòi hỏi thực tiễn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Sau khi BLHS năm 1985 được ban hành, tội trốn thuế đã được đề cập
trong các giáo trình, sách pháp lý, đề tài nghiên cứu như: Giáo trình luật hình
sự Việt Nam (phần các tội phạm) của Khoa luật – Đại học Quốc gia Hà Nội,
Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 1997; Giáo trình Luật hình sự Việt
Nam, tập II của trường Đại học luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
1998; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự của Viện Khoa học pháp lý, Bộ tư
pháp, XNB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1987 (tái bản năm 1992,1997).

2


Sau khi BLHS năm 1999 ra đời, tội trốn thuế được đề cập trong công
trình: Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm) của Khoa luật –
Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2002; Giáo
trình Luật hình sự Việt Nam của trường Đại học luật Hà Nội, Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội, 2000; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (Phần các
tội phạm) của TS Phùng Thế Vắc, TS Trần Văn Luyện, LS Th.s Phạm Thanh
Bình, Ts Nguyễn Đức Mai, Th.S Nguyễn Sỹ Đại, Th.S Nguyễn Mai Bộ, Nxb
Công an nhân dân, Hà Nội, 2001; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, phần
các tội phạm, tập I (Bình luận chuyên sâu) của Th.S Đinh Văn Quế, Nxb
thành phố Hồ Chí Minh, 2002…Các công trình này đã đề cập đến tội trốn
thuế dưới góc độ pháp lý hình sự, tuy nhiên chỉ dừng lại ở mức nghiên cứu
trong hệ thống pháp luật hình sự chung mà chưa nghiên cứu chuyên sâu về tội
trốn thuế một cách độc lập.
Một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về tội trốn thuế như: Luận án
tiến sĩ Luật học về “Hoạt động phòng ngừa tội phạm trốn thuế theo chức năng
của lực lượng cảnh sát kinh tế”, Hà Nội -2012 của tác giả Nguyễn Hải Hưng Học Viện Cảnh sát nhân dân; Luận án tiến sĩ Luật học “Hoạt động điều tra tội
phạm trốn thuế theo chức năng của lực lượng cảnh sát kinh tế”, Hà Nội- 2014
của tác giả Nguyễn Thành Phúc- Học Viện Cảnh sát nhân dân… Tuy nhiên
các công trình này chủ yếu nghiên cứu về góc độ tội phạm học đối với tội trốn
thuế trong phạm vi hoạt động đấu tranh, phòng chống tội phạm của lực lượng
cảnh sát kinh tế. Có thể nói ở cấp độ Luận văn thạc sỹ, Luận án tiến sỹ chưa
có một công trình nào nghiên cứu tội trốn thuế trên cơ sở nghiên cứu số liệu
thực tiễn trên địa bàn thành phố Hà Nội.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu là hệ thống hóa một số quan điểm về tội trốn

3


thuế, nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn việc áp
dụng các quy định đó trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó tìm ra những hạn
chế của pháp luật cũng như công tác xét xử tội trốn thuế trên địa bàn thành
phố Hà Nội và đưa ra những giải pháp kiến nghị nhằm hạn chế những vi
phạm sai lầm ấy.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là:
- Làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, lịch sử hình thành của tội trốn thuế;
- Nghiên cứu, phân tích những dấu hiệu pháp lý của tội trốn thuế, so sánh
tội trốn thuế với một số tội khác có liên quan từ đó rút ra những tồn tại, hạn chế
của các quy định về tội trốn thuế trong luật thực định Việt Nam cần khắc phục;
- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về
tội trốn thuế, đồng thời phân tích làm rõ những tồn tại, hạn chế xung quanh
việc áp dụng;
- Từ đó đề xuất những hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định của
pháp luật về tội trốn thuế trong Bộ luật hình sự Việt Nam cũng như các giải
pháp đảm bảo cho việc xét xử tội trốn thuế đúng pháp luật.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về
tội trốn thuế, thực tiễn xét xử tội trốn thuế trên địa bàn thành phố Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu tội trốn thuế dưới góc độ pháp lý hình sự, và tình
hình tội trốn thuế trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2010 đến năm 2014.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy
vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư

4


tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
Trong khi thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp cụ thể
và đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích và tổng hợp,
phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy
nạp; phương pháp thống kê, phương pháp logic, phương pháp khảo sát …
6. Ý nghĩa của luận văn
Đây là công trình chuyên khảo, nghiên cứu một cách toàn diện, chuyên
sâu, có hệ thống về tội trốn thuế dưới góc độ pháp lý hình sự. Có thể xem
những nội dung sau đây là những đóng góp về khoa học của luận văn:
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận chung về tội trốn thuế, khái quát
quá trình hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về tội phạm này;
- Làm sáng tỏ những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng của tội trốn
thuế trong pháp luật hình sự hiện hành.
- Nghiên cứu đánh giá làm sáng tỏ tình hình áp dụng pháp luật về tội
trốn thuế (trên địa bàn Hà Nội); những tồn tại, hạn chế của thực tiễn áp dụng
pháp luật về tội phạm này, cũng như nguyên nhân của các tồn tại hạn chế đó;
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn luận văn đã đề ra các giải
pháp hoàn thiện pháp luật thực định, cũng như nâng cao hiệu quả xét xử đối
với tội trốn thuế.
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cần thiết và hữu ích cho
các nhà làm luật cũng như các nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng dạy, nghiên
cứu sinh, học viên, sinh viên thuộc các ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở
đào tạo luật. Luận văn còn tài liệu tham khảo cho các cán bộ đang công tác tại
các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án
hình sự được khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật.

5


7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương
Chương 1. Một số vấn đề chung về tội trốn thuế theo quy định của
luật hình sự Việt Nam.
Chương 2.

Thực tiễn xét xử tội trốn thuế trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Chương 3. Nguyên nhân của những vi phạm sai lầm và các giải pháp
bảo đảm việc xét xử tội trốn thuế trên địa bàn thành phố
Hà Nội đúng pháp luật.

6


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI TRỐN THUẾ
THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội trốn thuế
1.1.1. Khái niệm tội trốn thuế
Theo các quy định của pháp luật hiện hành về thuế thì ta có thể thấy
bản chất của thuế là loại quan hệ phân phối gắn với Nhà nước, loại quan hệ
giữa Nhà nước với người nộp thuế. Thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc
mà các tổ chức, cá nhân phải nộp cho Nhà nước khi có các điều kiện nhất
định [36, tr.10]. Tuy nhiên trên thực tế, không phải ai cũng thực hiện đầy đủ
nghĩa vụ thuế cho Nhà nước. Có nhiều hình thức vi phạm về nghĩa vụ thuế,
trong đó trốn thuế là một trong những hành vi vi phạm làm thất thu nguồn
ngân sách Nhà nước.Trốn thuế là không nộp thuế cho nhà nước theo quy định
của pháp luật [18, tr.111]. Là việc người có nghĩa vụ nộp thuế thực hiện các
phương thức mà pháp luật không cho phép để làm giảm số thuế phải nộp hoặc
không phải nộp thuế. Hành vi trốn thuế tùy vào mức độ khác nhau có thể bị
xử phạt hành chính hoặc xử lý hình sự. Vậy khi nào thì hành vi trốn thuế cấu
thành tội trốn thuế? Cũng như các tội phạm kinh tế khác, tội trốn thuế là hành
vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến nền kinh tế quốc dân, gây thiệt hại
cho lợi ích của Nhà nước và xã hội thông qua việc vi phạm các quy định, các
chính sách về thu, nộp thuế.
Tội trốn thuế phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm nói chung,
mà theo PGS.TSKH Lê Cảm, phải thể hiện ở ba bình diện với năm đặc điểm
(dấu hiệu) của nó là: a) bình diện khách quan: tội phạm là hành vi nguy hiểm cho
xã hội; b) bình diện pháp lý: tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự; c) bình
diện chủ quan: tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự và
đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi [4, tr.297].

7


Theo quy định tại BLHS năm 1999 thì:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định
trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện
một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất,
toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh
tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền,
lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp
khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp
luật xã hội chủ nghĩa [21, Điều 8, Khoản 1].
Như vậy theo quy định này thì hành vi trốn thuế cấu thành tội trốn thuế
khi nó được coi là nguy hiểm cho xã hội do BLHS quy định, xâm phạm trật tự
quản lý kinh tế của Nhà nước, do người có năng lực TNHS, đủ tuổi chịu
TNHS và thực hiện với lỗi cố ý.
Từ sự phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm tội trốn thuế như sau: Tội
trốn thuế là hành vi nguy hiểm cho xã hội thể hiện bằng việc không nộp thuế
cho Nhà nước theo quy định của pháp luật do người có năng lực trách nhiệm
hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm
trật tự quản lý kinh tế của nhà nước.
1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội trốn thuế
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, cấu thành tội phạm là tổng hợp
những dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy
định trong luật hình sự [37, tr.74]. Cấu thành tội phạm được coi là khái niệm
pháp lý của loại tội phạm cụ thể, là sự mô tả khái quát loại tội phạm nhất định
trong luật hình sự.
Về mặt lý luận CTTP gồm bốn yếu tố là: khách thể của tội phạm, mặt
khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm.

8


Theo quy định tại điều 161 BLHS năm 1999, các dấu hiệu pháp lý của bốn
yếu tố cấu thành tội trốn thuế bao gồm:
1.1.2.1. Khách thể của tội trốn thuế
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và
bị tội phạm xâm hại [37, tr.86]. Theo luật hình sự Việt Nam, khách thể của tội
phạm là các quan hệ xã hội được xác định tại khoản 1 Điều 8 BLHS 1999.
Mỗi một tội phạm đều gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho một hoặc
một số khách thể nhất định. Khách thể của tội phạm là một trong những căn
cứ quan trọng để đánh giá mức độ, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Tội trốn thuế là một trong những tội được quy định tại Chương XVI
của BLHS với tên gọi: “Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế”. Do đó,
khách thể mà tội trốn thuế xâm hại là trật tự quản lý kinh tế, mà cụ thể là trật
tự quản lý việc thu thuế, nộp ngân sách Nhà nước. Xâm hại đến nền kinh tế
quốc dân, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước. Khách thể trực tiếp của tội
trốn thuế xâm hại đến là các quy định của Nhà nước về trách nhiệm phải đóng
thuế nộp vào ngân sách cho Nhà nước khi tham gia vào các hoạt động kinh
doanh, sản xuất, dịch vụ, …[15, tr.31]
Đối tượng tác động của tội phạm này là các loại thuế mà người phạm tội
có nghĩa vụ phải nộp vào ngân sách Nhà nước. Theo quy định của pháp luật Việt
Nam hiện hành, thông thường các loại thuế mà các chủ thể có thể phải nộp là:
thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu, thuế giá
trị gia tăng, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế thu nhập cá nhân…
1.1.2.2. Mặt khách quan của tội trốn thuế
Bất kể một tội phạm nào khi xảy ra cũng đều có những biểu hiện diễn
ra hoặc tồn tại bên ngoài mà con người có thể trực tiếp nhận biết được. Đó là
hành vi khách quan; hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như mối quan hệ
nhân quả giữa hành vi và hậu quả; các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện

9


hành vi phạm tội (công cụ, phương tiện, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm
tội…). Tổng hợp tất cả các biểu hiện này tạo thành mặt khách quan của tội
phạm. Như vậy mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm,
bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới
khách quan [37, tr.99]. Nó là mặt bên ngoài của sự xâm hại nguy hiểm cho xã
hội, đến khách thể được luật hình sự bảo vệ.
Về Hành vi khách quan
Hành vi khách quan của tội trốn thuế được thể hiện là không chịu nộp
thuế theo quy định; không thực hiện đúng những quy định về chế độ kế toán,
hóa đơn, chứng từ, nộp thuế, quyết toán thuế… Hành vi này thường được thể
hiện ở hành vi khai báo gian dối trong sản xuất, kinh doanh để không phải
đóng thuế hoặc đóng mức thuế thấp hơn nhiều so với mức phải đóng. Như
khai bớt doanh thu, khai man hàng hóa, gian lận trong việc hoạch toán hoặc
có những thủ đoạn gian dối khác để không phải nộp số tiền thuế mà theo quy
định của pháp luật họ phải nộp.
Hành vi trốn thuế chỉ bị coi là tội phạm khi số tiền trốn thuế từ 100
triệu đồng trở lên hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính
về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy
định tại các điều 153, 154, 155, 156, 157, 158, 159, 160, 164, 193, 194,
195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích
mà còn vi phạm.
Tuy nhiên không phải mọi hành vi trốn tránh việc nộp thuế đều bị coi là
tội trốn thuế.Theo quy định của pháp luật, trong thời hạn nhất định người có
nghĩa vụ nộp thuế phải đóng vào ngân sách nhà nước một khoản tiền nhất
định, người nộp thuế không có thủ đoạn gian dối để trốn thuế mà chỉ có hành
vi chây ỳ không chịu nộp thuế thì không phải là hành vi trốn thuế mà tùy theo
từng trường hợp mà người chây ỳ nộp thuế có thể bị xử phạt hành chính theo
quy định của pháp luật.
10


Nếu sau khi đã nộp đủ số tiền thuế cho Nhà nước, nhưng sau đó lại
dùng thủ đoạn gian dối để được hoàn thuế thì hành vi của người phạm tội là
hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ví dụ: Lợi dụng chính sách hoàn thuế giá
trị gia tăng, một số cá nhân, doanh nghiệp đã dùng thủ đoạn gian dối làm thủ
tục hoàn thuế giá trị gia tăng.
Hành vi trốn thuế có thể được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau
nhưng đều có chung một mục đích là không phải nộp một khoản tiền hoặc
nộp ít hơn nhiều số tiền thuế mà họ có nghĩa vụ phải nộp vào ngân sách Nhà
nước. BLHS Việt Nam không mô tả cụ thể hành vi trốn thuế nhưng trong các
văn bản dưới luật đã có hướng dẫn chi tiết thế nào là hành vi trốn thuế.
Theo khoản 1 Điều 1 Thông tư liên tịch số 10/2013/TTLT-BTP-BCATANDTC-VKSNDTC- BTC ngày 26/6/2013 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa
án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ Tài chính hướng dẫn
áp dụng một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài
chính- kế toán và chứng khoán thì người phạm tội trốn thuế là người thực hiện
một trong các hành vi quy định tại Điều 108 của Luật quản lý thuế và thỏa mãn
các dấu hiệu được quy định tại BLHS. Đó là các hành vi liên quan đến các quy
định về lập hóa đơn, chứng từ mua bán hàng hóa, quy định về mở sổ và ghi sổ
kế toán hoặc các quy định về các khoản thu khác, cụ thể:
- Không nộp hồ sơ đăng ký thuế, không nộp hồ sơ khai thuế,
nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ
khai thuế…
- Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan
đến việc xác định số tiền thuế phải nộp;
- Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ hoặc ghi giá
trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của
hàng hóa, dịch vụ đã bán.

11


- Sử dụng hóa đơn, chứng từ bất hợp pháp để hoạch toán
hàng hóa, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ
thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được
miễn, số tiền thuế được giảm, hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ,
số tiền thuế được hoàn
- Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác để xác định
sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn.
- Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà
không khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông
quan trong thời gian 60 ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan
- Cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa
xuất khẩu, nhập khẩu.
- Cấu kết với người gửi hàng hóa để nhập khẩu hàng hóa
nhằm mục đích trốn thuế.
- Sử dụng hàng hóa được miễn thuế không đúng mục đích
quy định mà không khai thuế [23, Điều 108].
Với các hành vi trên mục đích cuối cùng của người trốn thuế là làm giảm
số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm.
Hành vi khai báo gian dối trong trốn thuế là hành vi để phân biệt tội trốn
thuế với hành vi vi phạm hành chính - dây dưa không nộp thuế. Cùng là việc
không nộp thuế theo quy định của pháp luật, xong dây dưa không nộp thuế là
hành vi vi phạm về thu nộp tiền thuế nhưng người phải nộp thuế không có hành
vi gian dối trong việc kê khai thuế, mở, ghi chép sổ sách kế toán cũng như sử
dụng hóa đơn chứng từ….Hành vi dây dưa không nộp thuế chỉ bị coi là hành vi
vi phạm hành chính và bị xử lý bằng các biện pháp hành chính.
Trên thực tế để trốn thuế, người phạm tội thường sử dụng nhiều thủ
đoạn khác nhau như:

12


- Không kê khai thuế
Theo quy định của Luật quản lý thuế thì kê khai thuế là một trong
những hoạt động mà người nộp thuế phải có nghĩa vụ khai, nó giúp cơ quan
chức năng quản lý một cách hiệu quả về thuế của các cá nhân và doanh
nghiệp, nó là cơ sở để cơ quan chức năng tính thuế. Tuy nhiên một số doanh
nghiệp trong hoạt động kinh doanh của mình, một số hoạt động lại không kê
khai thuế nhằm trốn thuế. Chẳng hạn như: Công ty xây dựng Bắc Hà, sau khi
đi vào hoạt động một thời gian, công ty này bán 50 % cổ phần cho một doanh
nghiệp khác thông qua hợp đồng chuyển nhượng vốn. Tuy nhiên lợi nhuận từ
việc chuyển nhượng này không được công ty kê khai thuế. Việc không kê
khai đã giúp công ty trốn 590 triệu đồng tiền thuế thu nhập doanh nghiệp mà
lẽ ra công ty phải kê khai và nộp vào ngân sách nhà nước.
- Bỏ ngoài sổ sách kế toán
Đây là thủ đoạn khá phổ biến hiện nay, theo đó người nộp thuế thường
sử dụng đồng thời hai hệ thống sổ sách kế toán, một hệ thống sổ kế toán nội
bộ phản ánh đầy đủ các giao dịch kinh tế, hệ thống kế toán còn lại chỉ phản
ánh một phần các giao dịch kinh tế để khai thuế. Kiểu hành vi này thường xảy
ra ở các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bán lẻ, ăn uống,
khách sạn, xây dựng dân dụng và sản xuất nhỏ. Rất khó có thể xác định được
số thuế thất thu do hành vi trốn thuế này gây ra vì nếu xác định được thì đã
không xảy ra thất thu thuế. Một số vụ trốn thuế bị phanh phui thời gian qua
cho thấy hành vi này khá phổ biến và gây thất thu ngân sách. Chẳng hạn,
Công ty trách nhiệm hữu hạn Thông tin tín nhiệm và xếp hạng doanh nghiệp
Việt Nam đã trốn thuế 1.028 triệu đồng qua hành vi không ghi sổ kế toán tiền
bán quyền mua căn hộ; Công ty Viễn thông điện lực bán hàng không xuất hóa
đơn, không phản ánh vào sổ kế toán để trốn thuế 37 tỷ đồng [41].

13


- Tạo giao dịch mua hàng, hợp đồng dịch vụ giả mạo nhằm tăng khoản
chi cho doanh nghiệp
Trên thực tế doanh nghiệp không có các khoản chi này nhưng đã tự tạo
ra chứng từ để hợp pháp hóa khoản chi không có thực, vì thế có thể gọi đây là
chi khống. Chi khống thể hiện qua những bảng kê thanh toán giả mạo với chữ
ký giả, hợp đồng lao động giả mạo... và thể hiện ở những hóa đơn đi mua của
cơ sở kinh doanh khác. Bằng hành vi này, doanh nghiệp không chỉ trốn thuế
thu nhập doanh nghiệp mà còn trốn cả thuế GTGT thông qua việc khấu trừ
khống thuế GTGT đầu vào.
Ví dụ vụ án Lê Quốc Quân phạm tội trốn thuế, một trong những thủ
đoạn mà Quân thực hiện nhằm trốn thuế đó là lập khống các hợp đồng tư vấn
môi giới:
Theo bản án số 394/2013/HSST ngày 02/10/2014 của Tòa án nhân dân
thành phố Hà Nội: Lê Quốc Quân đã thuê Phạm Thị Phương làm kế toán
ngoài giờ cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam từ tháng 8
năm 2008 với công việc là làm sổ sách, cân đối sổ sách, báo cáo quyết toán
cho công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam. Để trốn thuế Lê Quốc
Quân đã chỉ đạo Lê Thị Phương lập khống các hợp đồng tư vấn môi giới
thương mại, cụ thể là tìm những người quen có bằng kế toán, tài chính,
chuyên gia kinh tế… rồi lấy thông tin của họ để lập hợp đồng tư vấn môi giới
thương mại khống với công ty. Năm 2010 và 2011 Phương đã lập khống
nhiều hợp đồng với 09 chuyên gia tư vấn để họ ký khống cho công ty. Tại văn
bản số 32640 ngày 12/12/2012 của Cục thuế thành phố Hà Nội kết luận: Công
ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam đã lập khống hồ sơ thuê chuyên
gia trong hai năm 2010 và 2011 với số tiền 1.750.000.000 đồng. Hành vi này
là trốn thuế thu nhập doanh nghiệp 437.500.000 đồng.
Đồng thời, để trốn thuế Quân đã chỉ đạo Phạm Thị Phương mua hóa

14


đơn GTGT khống hàng để kê khai nhằm tăng chi phí của doanh nghiệp để
trốn thuế. Thực hiện hành vi này, từ năn 2009 đến 2011 Công ty trách nhiệm
hữu hạn Giải pháp Việt Nam đã sử dụng 61 tờ hóa đơn GTGT khống hàng,
khống doanh số để kê khai, làm tăng chi phí cho công ty với số tiền:
859.050.789 đồng. Toàn bộ số hóa đơn này đã được Phạm Thị Phương đưa
vào kê khai chi phí của Công ty tại Chi cục thuế quận Cầu Giấy và đã trốn
212.262.697 đồng tiền thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên 01 hóa đơn
GTGT năm 2009 với số tiền là 18.150.000 đồng (4.537.500 tiền thuế), do tài
liệu giám định không có báo cáo tài chính, quyết toán thuế thu nhập doanh
nghiệp, do đó không đủ cơ sở để xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp phải
nộp do sử dụng hóa đơn bất hợp pháp. Nên tổng số thuế thu nhập doanh
nghiệp Công ty đã trốn do hoạch toán 60 hóa đơn GTGT bất hợp pháp là
207.725.197 đồng
Tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp Công ty THHH giải pháp Việt
Nam đã trốn do hoạch toán hợp đồng thuê chuyên gia khống và hoạch toán 60
hóa đơn GTGT khống là 645.225.197 đồng.
- Ghi giá bán thấp hơn giá thực tế
Đây là hành vi ghi giá bán trên hóa đơn và kê khai doanh thu tính thuế
thấp hơn giá khách hàng thực tế thanh toán. Hành vi này thường gặp ở các
doanh kinh doanh nhà hàng khách sạn, vận tải tư nhân, xăng dầu, kinh doanh
vật liệu xây dựng, bán ô tô và xe máy, hàng trang trí nội thất... Các công ty
xây dựng, khi thi công các công trình ở các địa phương khác hay xây nhà tư
nhân thường khai báo không trung thực, không kê khai hoặc giấu bớt một
phần công trình. Hành vi này làm giảm thuế GTGT và thuế thu nhập doanh
nghiệp phải nộp.
- Hạch toán kế toán và kê khai thuế sai quy định
Hành vi hạch toán kế toán sai quy định pháp luật nhằm che giấu doanh

15


thu tính thuế, hạch toán tăng chi phí tính thuế thu nhập doanh nghiệp và tăng
thuế GTGT đầu vào được khấu trừ. Kế toán có thể hạch toán giảm trừ doanh
thu thông qua các hình thức giảm giá, chiết khấu không đúng quy định. Kế
toán có thể hạch toán sai tài khoản kế toán để che giấu doanh thu. Chẳng hạn,
khi phát sinh doanh thu bán hàng, lẽ ra phải hạch toán vào tài khoản 511 thì
kế toán lại hạch toán vào các tài khoản kế toán khác, như hạch toán vào tài
khoản 338 (phải trả khác), 138 (phải thu khác)... Một số doanh nghiệp nhượng
bán, trao đổi vật tư không ghi nhận doanh thu mà chỉ hạch toán thay đổi cơ
cấu tài sản lưu động bằng các bút toán nhập, xuất, thu, chi hoặc công nợ phải
thu, phải trả; bán phế liệu không xuất hóa đơn, không ghi nhận doanh thu
hoặc hạch toán giảm chi phí sản xuất.
Các dạng hạch toán sai nhằm tăng chi phí được trừ tính thuế thu nhập
doanh nghiệp và tăng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ chủ yếu là: hạch toán
toàn bộ chi phí mua sắm tài sản cố định, xây dựng cơ bản vào chi phí quản lý
doanh nghiệp; hạch toán vào chi phí được trừ các khoản chi từ thiện…
- Khai sai chủng loại hàng hoá
Để trốn thuế nhập khẩu, nhiều doanh nghiệp cố tình khai sai tên hàng
hóa, chủng loại hàng hóa nhập khẩu nhằm mục đích giảm số thuế phải nộp.
Chủ yếu là khai sai mã số hàng từ mã hàng có thuế suất cao sang mã hàng có
thuế suất thấp. Nhiều trường hợp, người nộp thuế lợi dụng sự phức tạp của
các hàng hóa là các hỗn hợp, các hóa chất khó phân biệt, xác định bằng cảm
quan để khai theo hướng có lợi cho mình. Hay người nộp thuế, trốn thuế bằng
cách nhập khẩu hàng hóa là sản phẩm hoàn chỉnh nhưng lại tháo bớt một số
bộ phận để trở thành hàng hóa chưa hoàn thiện nhằm hưởng thuế suất thấp
của hàng linh kiện;
- Khai sai xuất xứ hàng hóa nhập khẩu
Theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 87/2010/NĐ- CP ngày

16


13/8/2010 thì thuế suất thuế nhập khẩu của Việt Nam được phân biệt theo
xuất xứ hàng hóa nhập khẩu. Các doanh nghiệp lợi dụng việc áp dụng thuế
suất ưu đãi đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc
vùng lãnh thổ có thoả thuận ưu đãi đặc biệt với Việt Nam, theo thể chế khu
vực thương mại tự do, liên minh thuế quan …, các chủ hàng hóa cố tình khai
sai xuất xứ hàng hóa nhập khẩu và làm các giấy chứng nhận xuất xứ giả để
được hưởng các mức thuế suất ưu đãi, ưu đãi đặc biệt.
- Ký nhiều hợp đồng kinh tế lòng vòng để trốn thuế thu nhập doanh nghiệp
Lợi dụng chính sách của nhà nước trong việc thu một số loại thuế, các
doanh nghiệp ký các hợp đồng lòng vòng để nhằm trốn thuế. Chẳng hạn như
vụ Nguyễn Đức Kiên trốn thuế: Theo bản án số 219/2014/HSST ngày
09/6/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội: Lợi dụng việc miễn thuế
thu nhập cá nhân trong 6 tháng đầu năm 2009 Trần Đức Kiên đã chỉ đạo,
hướng dẫn thuộc cấp của mình hợp thức hóa thu nhập của Công ty B&B
thành thu nhập của cá nhân, nhằm trốn thuế. Cụ thể như sau:
Công ty Cổ phần đầu tư B&B được thành lập theo giấy chứng nhận
kinh doanh của Sở kế hoạch đầu tư thành phố Hà Nội. Người đại diện theo
pháp luật là Nguyễn Đức Kiên- Chủ tịch HĐQT; Đặng Ngọc Lan (vợ Kiên) –
Tổng giám đốc; Nguyễn Thúy Hương (em gái Kiên) - Ủy viên. Theo chỉ đạo
của Kiên ngày 25/12/2008 Công ty B&B đại diện là Đặng Ngọc Lan đã ký
hợp đồng ủy thác đầu tư tài chính với ngân hàng thương mại Á châu (ACB)
để thực hiện hiện các giao dịch tài chính thông qua việc kinh doanh giá vàng
ngoài lãnh thổ Việt Nam. Cùng ngày bà Lan đại diện công ty B&B ký hợp
đồng ủy thác đầu tư tài chính với Nguyễn Thúy Hương để Công ty B&B nhận
ủy thác đầu tư thay bà Hương và ký Phụ lục hợp đồng với nội dung Nguyễn
Thúy Hương đồng ý để Công ty B&B được ủy thác lại cho ngân hàng ACB

17


thực hiện một phần hoặc toàn bộ việc kinh doanh vàng…. Theo hợp đồng và
phụ lục này năm 2009 Công ty B&B thực hiện các lệnh ủy thác cho ngân
hàng ACB mua bán vàng trạng thái thu được lãi số tiền 100.046.895.705 đồng
và chuyển toàn bộ lợi nhuận kinh doanh của công ty cho bà Nguyễn Thúy
Hương thụ hưởng.
Tuy nhiên, do công ty B&B không đăng ký ngành nghề kinh doanh
nhận ủy thác đầu tư và kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài nên hợp
đồng và phụ lục đã ký giữa bà Hương và công ty B&B là không hợp pháp.
Với hành vi nêu trên Nguyễn Đức Kiên đã trốn thuế thu nhập doanh
nghiệp với số tiền 25.011.723.928 đồng.
* Ngoài ra tội phạm còn sử dụng nhiều thủ đoạn khác để trốn thuế như:
Xin tạm nghỉ kinh doanh, thông báo ngừng hoạt động để được miễn giảm
thuế nhưng trên thực tế vẫn kinh doanh.
Về hậu quả
Hậu quả của hành vi trốn thuế là những thiệt hại cho xã hội bao gồm cả
thiệt hại vật chất và phi vật chất như: những thiệt hại về tài sản, chính trị, văn
hóa xã hội…. Trong đó: hậu quả trực tiếp của hành vi trốn thuế là gây thiệt
hại cho ngân sách nhà nước, làm Nhà nước không thu được một khoản ngân
sách mà lẽ ra phải thu được; các thiệt hại khác khó có thể xảy ra. Hậu quả
gián tiếp có thể xảy ra, vì kính tế quyết định mọi vấn đề chính trị, xã hội nên
việc hao hụt ngân sách Nhà nước có thể kéo theo những hệ quả: chế độ phục
vụ nhân dân bị giảm sút về các mặt như chế độ y tế, giáo dục, đường xá…
làm chậm quá trình phát triển và đi lên của đất nước.
Đối với tội trốn thuế thì hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc phải
có trong CTTP. Việc người phạm tội đã trốn được số tiền định trốn hay chưa
không phải là yếu tố bắt buộc.

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×