Tải bản đầy đủ

Chủ thể gỡ tội một số vấn đề lí luận và thực tiễn

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRẦN THỊ THỦY

CHỦ THỂ GỠ TỘI - MỘT SỐ VẤN ĐỀ
LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRẦN THỊ THỦY

CHỦ THỂ GỠ TỘI - MỘT SỐ VẤN ĐỀ
LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng hình sự

Mã số

: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Đỗ Ngọc Quang

Hà Nội – 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1
Chương 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ CHỦ THỂ GỠ TỘI TRONG TỐ
TỤNG HÌNH SỰ .............................................................................................. 6
1.1. Khái niệm chủ thể gỡ tội trong tố tụng hình sự ...................................... 6
1.1.1. Khái niệm gỡ tội trong tố tụng hình sự:............................................ 6
1.1.2. Khái niệm chủ thể gỡ tội trong tố tụng hình sự ................................ 9
1.2. Vai trò, ý nghĩa của chủ thể gỡ tội trong tố tụng hình sự ..................... 13
1.2.1. Vai trò của chủ thể gỡ tội trong tố tụng hình sự ............................. 13
1.2.2. Ý nghĩa của chủ thể gỡ tội trong tố tụng hình sự ........................... 15
1.3. Quá trình phát triển của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về chủ thể
gỡ tội ............................................................................................................ 17
1.3.1. Giai đoạn trước 1945 ...................................................................... 17

1.3.2. Giai đoạn 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự
1988 ........................................................................................................... 19
1.3.3 Giai đoạn 1988 đến khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự 2003 ..... 25
1.4. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về quyền và nghĩa vụ
của chủ thể gỡ tội ......................................................................................... 26
1.4.1. Quyền của chủ thể gỡ tội ................................................................ 26
1.4.2. Nghĩa vụ của chủ thể gỡ tội ............................................................ 28
Chương 2: THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA CHỦ THỂ GỠ TỘI VÀ
NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT .................................................................. 40


2.1. Thực tiễn hoạt động của chủ thể gỡ tội trong tố tụng hình sự từ năm
2010 đến 2014 .............................................................................................. 40
2.1.1. Tình hình chung về số lượng và chất lượng của chủ thể gỡ tội trong
các vụ án hình sự từ năm 2010 đến 2014 ................................................. 40
2.1.2. Những hạn chế, vướng mắc trong hoạt động của chủ thể gỡ tội giai
đoạn 2010 - 2014 ...................................................................................... 47
2.1.3. Những nguyên nhân làm phát sinh những tồn tại vướng mắc trong
hoạt động của chủ thể gỡ tội từ năm 2010 đến 2014 ................................ 58
2.2 Những giải pháp nâng cao hiệu quả của Chủ thể gỡ tội trong tố tụng
hình sự .......................................................................................................... 66
2.2.1. Yêu cầu của Đảng và Nhà nước bảo vệ quyền con người trong tố
tụng hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp ............................................ 66
2.2.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự liên quan đến chủ
thể gỡ tội ................................................................................................... 69
2.2.3. Giải pháp phổ biến tuyên truyền pháp luật trong nhân dân về
quyền bào chữa của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự. ................. 76
2.2.4. Nâng cao số lượng và chất lượng của Người bào chữa .................. 77
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 82


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. số lượng bị can hàng năm từ năm 2010 đến 2014 tại Cơ quan điều
tra các cấp ........................................................................................................ 40
Bảng 2.2. số lượng bị cáo hàng năm từ năm 2010 đến 2014 được đưa ra xét
xử sơ thẩm tại Tòa án nhân dân các cấp ......................................................... 41


LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong hoạt động tư pháp hiện nay, hệ thống các cơ quan tư pháp hình sự
đã đóng góp vai trò không nhỏ trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ là
gìn giữ an ninh trật tự mọi mặt của đời sống xã hội để người dân yên tâm lao
động, sinh hoạt và phát triển kinh tế, góp phần duy trì trật tự và công bằng xã
hội, tạo niềm tin đối với nhân dân vào chính sách pháp luật của Đảng và Nhà
nước, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm nói chung
trong đời sống xã hội.
Tuy nhiên bên cạnh những thành tích đáng ghi nhận của các cơ quan
điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, chúng ta vẫn phải nhìn nhận những những lỗ
hổng trong cơ chế hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, các chủ thể
tiến hành tố tụng, gây nhiều bức xúc phẫn nộ trong dư luận xã hội về tinh thần
trách nhiệm của những người thực thi pháp luật cũng như tính công bằng,
nghiêm minh trong việc thực hiện chính sách Pháp luật hình sự. Bộ luật tố
tụng hình sự ghi nhận và cụ thể hóa bằng những qui định đảm bảo quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân cũng như sự bình đẳng giữa chủ thể buộc tội và
chủ thể gỡ tội trong việc chứng minh tội phạm, và biện hộ tại phiên tòa hình
sự. Trong thực tiễn thi hành Bộ luật tố tụng hình sự trong 10 năm qua đã bộc
lộ sự bất bình đẳng giữa hai nhóm chủ thể mang tính đối trọng mà sức mạnh
quyền lực luôn nghiêng về phía các chủ thể hoạt động tố tụng nhân danh Nhà
nước; vai trò hoạt động của chủ thể gỡ tội rất mờ nhạt trong tiến trình giải
quyết vụ án để từ đó xuất hiện những tiêu cực như có việc “chạy án”, cơ chế
xin, cho trong quá trình giải quyết vụ án hình sự làm mất đi bản chất vốn có
của hoạt động tố tụng hình sự liên quan dến chủ thể buộc tội và chủ thể gỡ tội
vì mục đích hướng tới là sự thật khách quan, chân lý vụ án được sáng tỏ. Có
1


thể nói những tiêu cực trong hoạt động tư pháp hình sự “giống như những
con chuột đang đục khoét, phá vỡ sự vững chắc của thành trì công bằng xã
hội”. Do đó một vụ án được giải quyết có khách quan, công bằng, đúng pháp
luật hay không chủ yếu dựa vào lương tâm đạo đức nghề nghiệp cũng như
trình độ nhận thức, áp dụng pháp luật của đội ngũ những người tiến hành tố
tụng. Nếu Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng thiếu lương
tâm, đạo đức nghề nghiệp, yếu kém về kiến thức pháp luật sẽ ảnh hưởng trực
tiếp đến việc giải quyết vụ án. Việc phát hiện ra những vụ án oan sai xảy ra
rất lâu sau mới được phát hiện và xử lí một cách muộn màng đang trở thành
vấn đề nhức nhối trong lĩnh vực tư pháp hình sự . Mặc dù nhà nước có những
qui định về hoạt động bồi thường Nhà nước đối với những công dân bị oan sai
trong các vụ án nhưng hệ lụy của nó là không hề nhỏ đối với mỗi nạn nhân,
những con người chịu cảnh ngồi tù oan suốt nhiều năm trời, đó không chỉ là
danh dự, nhân phẩm cũng như những quyền công dân khác bị can thiệp một
cách thô bạo. Đó cũng là kết quả tất yếu của cơ chế hoạt động bất bình đẳng
giữa chủ thể buộc tội và chủ thể gỡ tội trong hoạt động tố tụng hình sự. Chính
vì những lý do đó tác giả chọn đề tài: “Chủ thể gỡ tội – một số vấn đề lí luận
và thực tiễn” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong thời gian vừa qua, đã có một số bài viết khoa học và công trình
nghiên cứu về vấn đề nâng cao năng lực tham gia tố tụng của chủ thể gỡ tội
như: Phạm Hồng Hải, Mô hình lí luận Tố tụng hình sự Việt Nam – Sách
chuyên khảo – Hà Nội: Nhà Xuất bản Công an nhân dân, 2003; Lê Tiến Châu,
Mô hình, hình thức tố tụng hình sự và bảo vệ quyền con người, Tạp chí Nhà
nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật số 08/2008; Lê Thanh Biểu,
Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp , Tạp chí
Kiểm sát. Viện kiểm sát nhân dân tối cao số 18 + 20/2008; Nguyễn Trương
2


Tín, Một số vấn đề lý luận định hướng xây dựng mô hình tố tụng hình sự Việt
Nam, tạp chí Tòa án nhân dân. Tòa án nhân dân tối cao, số 15/2009; Nguyễn
Đức Mai, Đặc điểm mô hình tranh tụng và phương hướng hoàn thiện mô hình tố
tụng hình sự Việt Nam , tạp chí Tòa án nhân dân. Tòa án nhân dân tối cao số
23/2009; Lê Hữu Thể, Nguyễn Thị Thủy, Hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt
Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp , Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội;
Lương Thị Mỹ Quỳnh, Tìm hiểu mô hình tố tụng thẩm vấn và những kiến nghị
hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam, Khoa học Pháp lý. Trường Đại học
Luật thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Thị Thủy, Các mô hình tố tụng hình sự
điển hình trên thế giới và xu hướng hoàn thiện mô hình tố tụng hình điển hình trên
thế giới và xu hướng hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự ở nước ta hiện nay, tạp
chí Kiểm sát. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, số 09/2011; Hoàng Thị Sơn, Bùi
Kiên Điện, Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam, Hà Nội. Nhà xuất bản Công an
nhân dân 1999; Phạm Hồng Hải, Vị trí của Luật sư bào chữa trong phiên tòa xét
xử, tạp chí Luật học số 4/1999; Nguyễn Đức Thuận, Vai trò của Luật sư trong tố
tụng hình sự. Tạp chí dân chủ và Pháp luật số 03/2002; Vũ Tiến Đạm, Luật sư có
quyền phát biểu lời bào chữa sau khi Đại diện viện kiểm sát luận tội không, Tạp
chí dân chủ và Pháp luật của Bộ Tư Pháp số 06/1998; Phạm Văn Bộ, Quyền bào
chữa của Bị can, Bị cáo trong tố tụng, Tòa án nhân dân tối cao, số 10/1999;
Nguyễn Thanh Bình, Quyền bào chữa của Bị can, Bị cáo trong tố tụng hình sự
hình sự Tòa án nhân dân tối cao số 01/2000; Lê Quang Đạo, Quyền con người
trong tố tụng hình sự Việt Nam, Tạp chí kiểm sát. Viện kiểm sát nhân dân tối cao
số 08/2001; Nguyễn Đức Mai, Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự, tạp
chí luật học số 01/1996 v.v... .
Có thể thấy chúng ta đã có một số lượng đáng kể công trình nghiên cứu
về mô hình tố tụng hình sự trong đó có những đánh giá, phân tích sâu để nhìn
thấy tổng thể địa vị pháp lý, năng lực hoạt động của Cơ quan tiến hành tố
3


tụng, những vấn đề lý luận và thực tiễn chưa được đề cập trực tiếp trong một
công trình nghiên cứu cụ thể nào.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn là làm rõ về phần lí luận đó là những cơ sở pháp
lý liên quan đến các qui định về chủ thể gỡ tội, quyền và nghĩa vụ của chủ
thể gỡ tội theo các qui định của hệ thống các văn bản qui phạm pháp luật để
từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị trong áp dụng pháp luật.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên luận văn có những nhiệm vụ nghiên
cứu chủ yếu sau:
- Nghiên cứu một cách có hệ thống những quy định của pháp luật qui
định về quyền và nghĩa vụ của chủ thể gỡ tội trong hoạt động tố tụng hình sự.
- Nghiên cứu tình hình thực hiện thẩm quyền, và nghĩa vụ của các chủ
thể gỡ tội trong thực tiễn, nên lên những thành tựu mà pháp luật ghi nhận,
thành công trong hoạt động làm sáng tỏ sự thật khách quan, vai trò trong tiến
trình giải quyết vụ án một cách khách quan, triệt để, đúng pháp luật. Đồng
thời cũng nêu lên những hạn chế tồn tại, nguyên nhân dẫn đến những hạn chế
và nêu giải pháp khắc phục.
- Dựa trên cơ sở nghiên cứu 2 vấn đề trên, đưa ra những giải pháp nhằm
hoàn thiện các quy định về thẩm quyền của chủ thể gỡ tội trong tất cả các giai
đoạn tố tụng trong hệ thống pháp luật tố tụng hình sự và đề xuất những giải
pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thẩm quyền này trên thực tiễn
3.3. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh đến việc
thực hiện hoạt động của chủ thể gỡ tội mà trực tiếp là chính những người bị

4


buộc tội và các luật sư tham gia tố tụng hình sự theo qui định của pháp luật
trong thực tế trong khoảng thời gian từ 2010 đến 2014.
4. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch
sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước
và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp
quyền. Ngoài ra, luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể và đặc thù của
khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so
sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp
thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự và
luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn.
5. Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện lý
luận và thực tiễn có hệ thống, những nguyên nhân và trở ngại từ luật thực định
ảnh hưởng tới năng lực hoạt động của chủ thể gỡ tội trong quá trình giải quyết vụ
án hình sự ; bên cạnh đó, luận văn chỉ ra những tồn tại, bất cập trong các quy định
của pháp luật cũng như trong thực tiễn đang gây khó khăn cho hoạt động bào
chữa, chứng minh vô tội của chủ thể gỡ tội, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu
quả hoạt động của chủ thể gỡ tội trong giải quyết vụ án hình sự, đảm bảo cho việc
giải quyết vụ án một cách khách quan, đúng pháp luật.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1. Nhận thức chung về chủ thể gỡ tội trong tố tụng hình sự
Chương 2. Thực tiễn hoạt động của chủ thể gỡ tội và những giải pháp
nâng cao hiệu quả hoạt động của chủ thể gỡ tội trong tố tụng hình sự

5


Chương 1.
NHẬN THỨC CHUNG VỀ CHỦ THỂ GỠ TỘI
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm chủ thể gỡ tội trong tố tụng hình sự
1.1.1. Khái niệm gỡ tội trong tố tụng hình sự:
Gỡ tội là một trong những chức năng cơ bản và quan trọng cùng tồn tại
với chức năng buộc tội và chức năng xét xử; là điều kiện cần và đủ để giải
quyết vụ án hình sự. Hoạt động gỡ tội lấy sự tồn tại của hoạt động buộc tội là
điều kiện cho sự hoạt động và phát triển. Do đó hoạt động buộc tội của cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền được coi như một trục chính thu hút các hoạt
động tố tụng khác trong đó có hoạt động gỡ tội. Tuy nhiên hoạt động gỡ tội
lại là điều kiện quan trọng giúp cho Tòa án kiểm tra một cách đầy đủ nhất các
chứng cứ, các tình tiết vụ án góp phần đản bảo cho Tòa xét xử đúng người,
đúng tội và đúng Pháp luật. Hơn thế nữa hoạt động gỡ tội luôn gắn với quyền
con người, quyền công dân được Hiến pháp ở nhiều quốc gia trên thế giới tôn
trọng và bảo vệ. Hiến pháp Việt Nam 2013 đã có nhiều qui định nhấn mạnh
đến quyền công dân trong đó có quyền được xét xử một cách công bằng, đúng
pháp luật, quyền được gỡ tội hay còn gọi là quyền bào chữa của Bị can, Bị
cáo. Khoản 4 điều 31 Hiến pháp 2013 quy định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm
giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc
người khác bào chữa”. Điều 11 của Bộ luật tố tụng hình sự khẳng định bằng
qui định Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo:
“Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác
bào chữa. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy
định của Bộ luật này”.
6


Từ những qui định của bản Hiến Pháp và những qui định của Bộ luật Tố
tụng hình sự, có thể thấy gỡ tội chính là một quyền chủ thể khi tham gia tố
tụng hình sự và được Nhà nước đảm bảo thực hiện. Tuy nhiên, hiện nay chưa
có khái niệm cụ thể về gỡ tội, nên dựa trên sự đối lập với khái niệm chức
năng buộc tội. Nếu hiểu chức năng buộc tội còn gọi là chức năng truy cứu
trách nhiệm hình sự, là một dạng hoạt động tố tụng hình sự nhằm phát hiện
kẻ phạm tội, chứng minh lỗi của người đó, bảo đảm phán xử và hình phạt đối
với người đó, thì chức năng gỡ tội cũng là một dạng hoạt động tố tụng hình
sự; được tiến hành bởi những chủ thể được pháp luật cho phép; cũng có
quyền sử dụng tất cả những biện pháp mà pháp luật không cấm. Tất cả mọi
hoạt động gỡ tội đều nhằm mục đích chống lại, bác bỏ, phủ nhận lời buộc tội
hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội trong vụ án [28]
Có thể hiểu, gỡ tội là một dạng hoạt động tố tụng hình sự vì: trong hoạt
động tố tụng hình sự luôn tồn tại 3 dạng hoạt động: Hoạt động buộc tội, hoạt
động gỡ tội và hoạt động xét xử. Trong đó hoạt động buộc tội là một trục
chính thu hút hoạt động gỡ tội và hoạt động xét xử, được bắt đầu từ khi có
quyết định khởi tố bị can khi có căn cứ cho rằng một người đã thực hiện hành
vi phạm tội và tìm các chứng cứ từ nhiều nguồn khác nhau chứng minh người
đó thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm…Tuy nhiên để vụ án được
giải quyết một cách khách quan trên cơ sở pháp luật đòi hỏi phải có hoạt
động gỡ tội. Do đó gỡ tội cũng là một dạng hoạt động tố tụng hình sự, là điều
kiện để Tòa án kiểm tra đầy đủ nhất các chứng cứ, các tình tiết của vụ án góp
phần đảm bảo cho phán quyết của tòa đúng người, đúng tội, đúng hình phạt.
Cũng như hoạt động buộc tội, hoạt động gỡ tội được tiến hành bởi chủ
thể được pháp luật cho phép. Bộ luật tố tụng hình sự qui định những người có
quyền tự mình bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa là: Người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo, người bào chữa là những người được pháp luật cho phép thực
7


hiện hoạt động gỡ tội. Thời điểm được pháp luật cho phép được tính từ khi
Cơ quan tiến hành tố tụng có quyết định tạm giữ đối với Người bị tạm giữ,
quyết định khởi tố Bị can đối với Bị can, quyết định truy tố và quyết định đưa
vụ án ra xét xử đối với Bị cáo và cấp giấy chứng nhận Người bào chữa đối
với Người bào chữa trong vụ án.
Để thực hiện nhiệm vụ gỡ tội, chủ thể gỡ tội cũng có quyền sử dụng tất
cả các biện pháp mà pháp luật không cấm. Các chủ thể được pháp luật công
nhận có quyền gỡ tội được quyền sử dụng tất cả các biện pháp mà pháp luật
không cấm như: hoạt động tìm chứng cứ, lấy lời khai của nhân chứng, xem
xét biên bản liên quan đến vụ án, có quyền biết mình bị khởi tố, truy tố, xét
xử về tội gì bằng cách được xem quyết định khởi tố, quyết định truy tố, quyết
định đưa vụ án ra xét xử…Tuy nhiên pháp luật cũng có những giới hạn mà
người có quyền gỡ tội không được làm trong hoạt động tố tụng hình sự, mọi
biện pháp mà pháp luật cho phép thực hiện đáp ứng tương đối đầy đủ các điều
kiện của hoạt động gỡ tội
Tất cả mọi hoạt động đều nhằm mục đích chống lại, bác bỏ, phủ nhận lời
buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội trong vụ án.
Trong hoạt động tố tụng hình sự những chủ thể được pháp luật cho phép có quyền
sử dụng tất cả các biện pháp mà pháp luật không cấm phục vụ mục đích chống lại,
bác bỏ, phủ nhận lời buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình trong
vụ án. Đây cũng là chức năng bảo vệ cá nhân trước những cáo buộc từ hoạt động
buộc tội nhân danh Nhà nước và mục tiêu cuối cùng là giúp cho Tòa án đưa ra
phán quyết hợp tình, hợp lý đúng pháp luật đối với người bị buộc tội.
Như một chức năng tố tụng, ở đâu có buộc tội thì ở nơi đó có gỡ tội gỡ
tội được pháp luật ghi nhận là một quyền chủ thể khi tham gia tố tụng hình
sự, họ có quyền thực hiện những hành vi hợp pháp để chứng minh mình vô
tội tương ứng với nghĩa vụ chứng minh tội phạm của cơ quan tiến hành tố
8


tụng, người tiến hành tố tụng [6]. Qua đó người có quyền chứng minh vô tội
sử dụng những qui định pháp luật cho phép để tiến hành những hoạt động cần
thiết như việc dẫn chiếu những qui định pháp luật cụ thể là Bộ luật hình sự,
Tố tụng hình sự và những qui định pháp luật khác có liên quan, đồng thời đưa
ra những chứng cứ, lý lẽ, lập luận để bác bỏ những căn cứ phía bên buộc tội
đưa ra trước tòa án, hoặc những căn cứ làm cơ sở cho việc chuyển tội danh
nhẹ hơn tội danh mà phía buộc tội đưa ra, hoặc căn cứ đề nghị tòa án xem xét
giảm nhẹ hình phạt theo luật định. Hoạt động này được cho là hoạt động phức
tạp giống với hoạt động điều tra của các cơ quan tiến hành tố tụng bắt đầu từ
khâu xác định các nguồn chứng cứ từ hiện trường vụ án, hồ sơ tài liệu liên
quan đến vụ án, nhân chứng, chứng minh thiệt hại, và các tình tiết, khía cạnh
khác … vì mục đích nhằm tái hiện lại sự thật khách quan đã xảy ra trên thực
tế và đối chiếu với qui định của pháp luật, lấy đó làm cơ sở cho lập luận
không có hành vi phạm tội, hoặc lấy đó làm căn cứ để chuyển tội danh có
mức hình phạt áp dụng nhẹ hơn tội danh mà bên buộc tội nêu ra phục vụ cho
hoạt động tranh luận trước tòa án, hoặc đưa ra những căn cứ dựa trên đặc
điểm về nhân thân, các tình tiết khách quan và chủ quan trên thực tế dẫn đến
hành vi phạm tội và dựa theo qui định của pháp luật đề nghị tòa án xem xét
giảm nhẹ hình phạt áp dụng cho bị cáo trước tòa .
Với tất cả những điều đã nêu trêm có thể hiểu: Gỡ tội là một dạng hoạt
động tố tụng hình sự của chủ thể được pháp luật cho phép, có quyền sử dụng
tất cả các biện pháp mà pháp luật không cấm để chống lại, bác bỏ, phủ nhận
lời buộc tội của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự của người bị buộc tội trong vụ án”
1.1.2. Khái niệm chủ thể gỡ tội trong tố tụng hình sự
Như ban đầu đã nói hoạt động buộc tội là hoạt động đi trước, hoạt động
gỡ tội gỡ tội là hoạt động đi sau. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Pháp
9


lệnh tổ chức điều tra hình sự quy định các cơ quan tiến hành tố tụng. Tại Điều
3 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự qui định : “Cơ quan điều tra tiến hành
điều tra tất cả các tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật tố tụng hình
sự quy định để xác định tội phạm và người đã thực hiện hành vi phạm tội, lập
hồ sơ, đề nghị truy tố; tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội và yêu cầu các
cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa”.
Điều 12 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định:
“Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra
và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra,
nhằm bảo đảm:
1. Mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời,
không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội;
2. Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị hạn
chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do,
danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật;
3. Việc điều tra phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác, đúng
pháp luật; những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra phải được phát
hiện, khắc phục kịp thời và xử lý nghiêm minh”.
Đối chiếu với những qui định nêu trên chúng ta có thể thấy chủ thể buộc
tội theo luật tố tụng hình sự là: Ở giai đoạn điều tra là Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát. Tương ứng với chủ thể buộc tội là chủ thể gỡ tội, mỗi hệ thống pháp
luật của mỗi nước khác nhau qui định về chủ thể gỡ tội khác nhau: ví dụ theo
Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự Nhật Bản thì chủ thể gỡ tội là: “Người bị tình
nghi, bị cáo có thể lựa chọn bất kỳ Luật sư bào chữa bất kỳ lúc nào” [22].
Theo điều Điều 16 Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga thì người bị tình
nghi, bị can được bảo đảm quyền bào chữa; theo đó, người bị tình nghi và bị
10


can được bảo đảm quyền bào chữa, họ có thể tự mình bào chữa hoặc nhờ sự
giúp đỡ của nguời bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp [37]. Theo Bộ luật
Tố tụng hình hình sự Việt Nam, chủ thể gỡ tội chỉ có thể là bị can, bị cáo và
người bào chữa của bị can, bị cáo. Trong đó chức năng chính của họ là bác
bỏ một phần hoặc toàn bộ lời buộc tội từ phía chủ thể buộc tội hoặc giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự của Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong vụ án hình sự
thông qua hoạt động gỡ tội của họ.
Người bị tạm giữ, theo Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự, là người bị bắt
trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định
truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định
tạm giữ. Người bị tạm giữ có quyền: Được biết lý do mình bị tạm giữ; Được
giải thích về quyền và nghĩa vụ; Trình bày lời khai; Tự bào chữa hoặc nhờ
người khác bào chữa; Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; Khiếu nại về việc tạm
giữ, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành
tố tụng. Người bị tạm giữ có nghĩa vụ thực hiện các quy định về tạm giữ theo
quy định của pháp luật.
Bị can, theo Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự là người đã bị khởi tố về
hình sự, Bị can có những quyền sau: Quyền được biết mình bị khởi tố về tội
gì; Được giải thích về quyền và nghĩa vụ; trình bày lời khai; đưa tài liệu, đồ
vật, yêu cầu; Đề nghị thay đổi Người tiến hành tố tụng, Người giám định,
Người phiên dịch theo quy định của Bộ luật Ttố tụng hình sự; Tự bào chữa
hoặc nhờ người bào chữa; Được nhận quyết định khởi tố; Quyết định áp dụng,
thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; Bản kết luận điều tra; quyết
định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, bản cáo trạng, quyết định truy tố và các
quyết định tố tụng khác theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự; Có quyền
khiếu nại quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan hoặc người có thẩm
quyền; Bị can phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm
11


sát; trong trường hợp vắng mặt không có lý do chính đáng thì có thể bị áp
giải; Nếu bỏ trốn thì bị truy nã. Theo khoản 1 Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự
thì Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự. Ngoài những thông tin pháp lý
liên quan đến nhân thân của bị can, trong quyết định khởi tố bị can phải nêu
rõ khởi tố về tội gì, theo điều khoản nào trong BLHS , thời gian, địa điểm, và
những tình tiết khác của hành vi phạm tội. Nếu bị can bị khởi tố về những tội
danh khác nhau thì quyết định khởi tố phải ghi rõ những tội danh và điều
khoản áp dụng trong BLHS.
Bị cáo, theo Điều 50 Bộ luật tố tụng hình sự, là người đã bị tòa án quyết
định đưa ra xét xử; Bị cáo có quyền được nhận quyết định đưa vụ án ra xét
xử, quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, quyết
định đình chỉ vụ án , bản án, quyết định tòa án và các quyết định tố tụng khác
theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Bị cáo có quyền tham gia phiên
tòa; được giải thích về quyền và nghĩa vụ; Đề nghị thay đổi người tiến hành tố
tụng, người giám định, người phiên dịch ; quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu
cầu; quyền tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa; trình bày ý kiến tranh luận
tại phiên tòa; nói lời sau cùng trước khi nghị án; kháng cáo bản án, quyết định
của tòa án; khiếu nại về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan ,
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Bị cáo phải có mặt theo giấy triệu tập
của Tòa án, trong trường hợp vắng mặt không có lý do chính đáng thì có thể
bị áp giải; nếu bỏ trốn thì bị truy nã. Như vậy theo khoản 1 của điều 50 Bị cáo
được hiểu là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Từ khi có quyết
định của Tòa án đưa bị can ra xét xử thì người đó được gọi là Bị cáo. Nếu
chưa có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì bị can vẫn chưa được gọi là Bị cáo,
mặc dù trên thực tế hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng, quyết định truy tố đó đã
được gửi cho tòa án.

12


Người bào chữa là Luật sư; Người đại diện hợp pháp của người bị tạm
giữ, tạm giam, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân. Theo Bộ luật tố tụng
hình sự quy định tại Điều 58 người bào chữa có quyền: có mặt khi lấy lời khai
của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu được điều tra viên đồng ý thì
được hỏi người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra
khác, được xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và
các quyết định có liên quan đến người mà mình bào chữa, thu thập tài liệu đồ
vật tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan tổ chức cá nhân theo
yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật của nhà
nước, bí mật công tác, đưa tài liệu; đồ vật; yêu cầu, đọc, ghi chép và sao chụp
những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc
điều tra theo quy định của Pháp luật, được tham gia hỏi, tranh luận tại phiên
tòa, khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan, Người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng…
Từ khái niệm gỡ tội trong tố tụng hình sự và dẫn chiếu những qui định
về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của Người tham gia tố tụng trong Bộ luật
tố tụng hình sự chúng ta có thể rút ra khái niệm về chủ thể gỡ tội như sau:
Chủ thể gỡ tội là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bào chữa tham gia tố
tụng hình sự để phủ nhận toàn bộ hoặc một phần sự buộc tội của từ phía chủ
thể buộc tội, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình trong
vụ án hình sự.
1.2. Vai trò, ý nghĩa của chủ thể gỡ tội trong tố tụng hình sự
1.2.1. Vai trò của chủ thể gỡ tội trong tố tụng hình sự
Chủ thể gỡ tội đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết vụ án hình
sự. Vai trò của chủ thể gỡ tội thể hiện rõ nhất là trong việc bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người bị tình nghi (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo)
13


trong suốt quá trình tố tụng và góp phần bảo vệ quá trình tố tụng được chính
xác, khách quan. Vai trò của chủ thể gỡ tội khi tham gia vào quá trình tố tụng
không chỉ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tình nghi mà còn
góp phần bảo vệ quá trình tố tụng được diễn ra chính xác, khách quan không
làm oan người vô tội không để lọt tội phạm.
Vai trò của chủ thể gỡ tội thể hiện trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo: Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là
người bị tình nghi trong vụ án hình sự. Vì họ chỉ là người bị tình nghi chứ
không phải tội phạm nên pháp luật cũng quy định cho người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo những quyền và nghĩa vụ nhất định trong quá trình giải quyết vụ
án, và một trong những quyền quan trọng là quyền được tự bào chữa hoặc nhờ
chủ thể khác gỡ tội cho mình.
Chủ thể gỡ tội tham gia vào các hoạt động tố tụng để bảo vệ tính chính
xác của quá trình tố tụng. Hoạt động lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị
can là hoạt động điều tra nhằm thu thập chứng cứ từ lời khai của người bị tạm
giữ, bị can. Khi lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can thì Điều tra viên
phải giải thích cho người bị tạm giữ, bị can về quyền và nghĩa vụ của họ rồi
mới được tiến hành hỏi cung. Khi lầy lời khai, hỏi cung cần phải đảm bảo
nguyên tắc khách quan, toàn diện, đầy đủ, nghiêm cấm việc bức cung hoặc
dùng nhục hình. Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên bức cung, dùng nhục hình
đối với người bị tạm giữ, bị can phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định
của Bộ luật hình sự. Chủ thể gỡ tội tham gia vào vụ án hình sự với vai trò
chính là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo. Trong quá trình tham gia giải quyết vụ án hình sự những hoạt động tố
tụng mà chủ thể gỡ tội là được quyền tham gia là: có mặt khi lấy lời khai, có
mặt trong những hoạt động điều tra,… Trong quá trình lấy lời khai người bị
tạm giữ, hỏi cung bị can sự góp mặt của người bào chữa ở giai đoạn này góp
14


18 Điều 58 khoản 2 điểm a Bộ luật tố tụng hình sự 2003: “Có mặt khi lấy lời
khai người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu được Điều tra viên đồng ý
thì được hỏi cung người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những hoạt động
điều tra khác; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của
mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa”.
Chủ thể gỡ tội có vai trò trong việc bảo vệ tính khách quan trong quá
trình tố tụng. Bản chất của hoạt động xét xử của Toà án là luôn luôn phải
công minh, mà muốn công minh thì thái độ phải vô tư, khách quan, chống lại
những biểu hiện thiên lệch của những người tiến hành tố tụng và người tham
gia tố tụng là vô cùng quan trọng. Chỉ cần có một chút biểu hiện thiên lệch,
không vô tư là sự thật của vụ án sẽ không được phản ánh đầy đủ, việc áp dụng
pháp luật cũng như các quyết định của Toà án sẽ gây thiệt hại cho lợi ích của
Nhà nước, của tổ chức, mà ảnh hưởng trực tiếp nhất là đến quyền lợi của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Tuy nhiên, khi điều tra, truy tố, xét xử
thường có sự không “cân bằng”, không bình đẳng giữa các Cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và những
người tham gia tố tụng khác do một bên là đại diện công quyền với đầy đủ
sức mạnh của quyền lực, pháp luật, còn một bên là những người bị tình nghi
là phạm tội không có những sức mạnh và điều kiện như vậy. Vì vậy nên chủ
thể gỡ tội có vai trò rất quan trọng khi tham gia vào hoạt động tố tụng hình sự.
1.2.2. Ý nghĩa của chủ thể gỡ tội trong tố tụng hình sự
- Ý nghĩa chính trị
Xã hội công bằng, dân chủ, văn minh được thể hiện thông qua việc ghi
nhận, mở rộng, bảo đảm trên thực tế quyền con người, quyền công dân. Trong
các quyền cơ bản của công dân thì các quyền về chính trị thể hiện rõ nhất tính
dân chủ của chế độ Nhà nước ta. Quyền bào chữa, gỡ tội của người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo thể hiện sự bảo đảm quyền công dân và quyền con người
15


trong quá trình tham gia tố tụng, là chế định thể hiện rõ nét nhất của xã hội
dân chủ.
Thông qua các quy định về quyền bào chữa, gỡ tội tiến bộ, phù hợp với
các chuẩn mực quốc tế của các văn bản luật tố tụng hình sự, có thể thấy được
chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề bảo đảm nhân
quyền của công dân. Việc đảm bảo quyền được gỡ tội của người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo là thể hiện của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa trong sự nghiệp đổi mới của chúng ta. Trong Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa, con người luôn được Đảng và Nhà nước đặt vào vị trí trung
tâm của sự phát triển. Bảo đảm quyền được bào chữa, gỡ tội cho người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo là nội dung quan trọng của chính sách vì con người của
Đảng và Nhà nước ta.
- Ý nghĩa xã hội
Thực hiện và đảm bảo quyền được gỡ tội của người người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo có ý nghĩa xã hội sâu sắc. Thực hiện quyền được gỡ của người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên, ngoài việc thể hiện tính nhân
đạo xã hội chủ nghĩa còn thể hiện tính dân chủ. Sự dân chủ còn thể hiện ở
việc các chủ thể (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp,
người bào chữa) được quyền sử dụng tất cả những biện pháp gì mà pháp
luật không cấm để chống lại, bác bỏ, phủ nhận lời buộc tội của Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình
trong vụ án. Khi bào chữa, người đại diện hợp pháp hoặc người bào chữa cho
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền bình đẳng với các chủ thể khác
trong việc đưa ra chứng cứ và yêu cầu tranh luận tại phiên toà.
- Ý nghĩa pháp lý
Thực hiện quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người
chưa thành niên là nguyên tắc hiến định trong tố tụng hình sự. Nguyên tắc này
16


được phát triển và cụ thể hóa trong các điều luật của Bộ luật tố tụng hình sự
nhằm góp phần điều chỉnh việc giải quyết vụ án trong các giai đoạn khác
nhau của quá trình tố tụng hình sự. Việc thực hiện tốt quyền bào chữa, gỡ tội
của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có tác động tích cực đến chất lượng hoạt
động điều tra, truy tố, xét xử của các Cơ quan tiến hành tố tụng và bảo đảm
cho việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Thực hiện tốt quyền bào
chữa, gỡ tội của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo sẽ đảm bảo hạn chế được tình
trạng oan sai, tránh bỏ lọt tội phạm.
1.3. Quá trình phát triển của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về chủ
thể gỡ tội
1.3.1. Giai đoạn trước 1945
Ở Việt Nam trong hàng nghìn năm lịch sử phong kiến đất nước ta đã
không có sự công bằng, dân chủ trong hoạt động tư pháp. Điều này được thể
hiện rõ nét ở việc dưới chế độ phong kiến, người duy nhất có quyền ban hành
luật là vua và cũng là người bảo vệ dân hiện thân cho sự công bằng, việc xét
xử được thực hiện bởi vua và các quan lại phong kiến. Tuy nhiên bộ Quốc
triều Hình luật đã có những qui định như một điểm mới về việc bảo vệ các
quyền và lợi ích của người phạm tội bằng việc cho phép họ tự bào chữa và
đảm bảo bằng việc tránh biện kỹ lưỡng. Đến lượt Bộ luật Hồng Đức ra đời có
qui định: “những án xét rồi mà còn nghi ngờ thì chuyển qua viện thẩm hình,
hội đồng nghị xét hỏi tội phạm nhân đến khi họ nhận tội, nếu họ không nhận
tội thì cho phép họ tự bào chữa rồi xét lại kỹ cảng…”. Ngoài một vài những
tiến bộ làm tiền cho sự ra đời và được công nhận bào chữa gỡ tội là một
quyền chủ thể gắn liền với quyền con người được Nhà nước bảo vệ thì trong
xã hội phong kiến đó, các thiết chế phản biện pháp luật nói chung và trong
lĩnh vực tư pháp nói riêng không có cơ hội hình thành và phát triển. Khi
người Pháp xâm lược Đông Dương và thiết lập ách thống trị lên mảnh đất
17


này, cùng với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ngày càng mạnh mẽ thì
thiết chế đảm bảo quyền bào chữa cho người bị buộc tội và thiết chế Luật sư
mới từng bước được hình thành và dần phát triển [24].
Ngay sau khi xâm lược Nam Kỳ, thực dân Pháp từng bước thiết lập bộ
máy hành chính để quản lý các vùng đất đã chiếm được, trong đó có việc
hoàn thiện bộ máy tư pháp theo mô hình của Cộng hòa Pháp. Ngày
26/11/1876, Thống đốc Nam Kỳ lúc đó là Chuẩn đô đốc Victor Auguste
Duperré (Nam tước Dupérré) ban hành Nghị định về việc biện hộ cho thân
chủ là người Pháp hoặc người Việt mang quốc tịch Pháp tại tòa án Pháp.
Ngày 30/01/1911, Toàn quyền Pháp tại Đông Dương lúc đó là Antony
Waladislas Klobukowski ký Sắc lệnh thành lập đầu tiên Đoàn luật sư Sài Gòn
và Hà Nội, thành viên là các luật sư đã tốt nghiệp trường Luật ở Pháp, có
quốc tịch Pháp. Ngày 25/5/1930, Toàn quyền Pháp tại Đông Dương lúc đó là
Pierre Marie Antoine Pasquyer ký Sắc lệnh tổ chức Luật sư đoàn ở Hà Nội,
Sài Gòn và Đà Nẵng. Việc ký Sắc lệnh này thể hiện rõ sự chú trọng của Pháp
đối với việc phát triển nghề luật sư tại Việt Nam bởi các quy định trong Sắc
lệnh mở hơn so với các Nghị định trước đó. Mặt khác, về mặt hiệu lực thì Sắc
lệnh có hiệu lực cao hơn so với Nghị định. Cụ thể, Sắc lệnh này mở rộng
thêm cho các luật sư không chỉ biện hộ cho thân chủ có quốc tịch Pháp mà
cho cả thân chủ không có quốc tịch Pháp; không chỉ biện hộ ở tòa án Pháp mà
còn biện hộ cả ở tòa án bản xứ.
Giai đoạn 1930 - 1945 là thời kỳ bùng nổ nghề luật sư ở Việt Nam khi
các luật sư du học tại Pháp trở về nước, cùng với một số lượng đông đảo
những người được đào tạo ngành luật tại Trường Đại học Đông Dương, Hà
Nội. Các luật sư tên tuổi thời kỳ này có thể kể đến là Phan Văn Trường
(1876-1933), Trịnh Đình Thảo (1901-1986), Phan Anh (1912-1990), Trần
Công Tường (1915-1990), Trương Đình Du (1917-1991), Vũ Trọng Khánh
18


(1912-1996), Nguyễn Hữu Thọ (1910-1996), Nguyễn Mạnh Tường (19091997), Nguyễn Văn Hưởng (1910-2001);... [24]. Trong thời gian gần 80 năm
hình thành và phát triển, kể từ năm 1876, thiết chế luật sư và hệ thống pháp
luật của Pháp đã du nhập vào Việt Nam với những nguyên tắc pháp lý hoàn
toàn mới mẻ so với quan niệm luật pháp truyền thống của phương Đông vốn
tồn tại hàng ngàn năm dưới ảnh hưởng của Khổng giáo qua các triều đại
phong kiến. Có thể nói rằng, việc Jean Baptiste Paul Beau cho phép mở
Trường Cao đẳng Luật và Pháp chính đã đặt viên gạch đầu tiên cho một nền
luật học dựa trên những nguyên tắc pháp lý theo quan niệm phương Tây.
1.3.2. Giai đoạn 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự 1988
Ở Việt Nam, sau khi cách mạng tháng tám thành công, chủ tịch Hồ Chí
Minh quan niệm bào chữa là một trong những quyền tự do cơ bản của công
dân nên cần thiết phải duy trì, tổ chức lại cho phù hợp với yêu cầu của cách
mạng trong tình hình mới.
Ngày 13/9/1945 tức 11 ngày nước Việt nam dân chủ công hòa thành lập
Chủ tịch Hồ chí Minh đã ký ban hành sắc lệnh 33c về thiết lập Tòa án quân
sự, trong bản sắc lệnh này cũng có quy định: “Bị cáo có thể tự mình bào chữa
hoặc nhờ người khác bênh vực cho”. Ngày 10/10/1945 chủ tịch Hồ Chí Minh
đã kí sắc lệnh 46 công nhận và cho duy trì các tổ chức đoàn thể luật sư cụ thể
tại điều 2 của Sắc lệnh có quy định: “các Luật sư có quyền bào chữa ở tất cả
các Tòa án hàng tỉnh trở lên và trước Tòa án quân sự”. Ngày 23/11/1945 Nhà
nước ban hành một Sắc lệnh thành lập một đoàn thanh tra đặc biệt trong đó tại
điều 3 quy định: “Một Tòa án đặc biệt được thành lập để xử những nhân viên
của ủy ban nhân dân hay các cơ quan Chính phủ bị Ban thanh tra truy tố” và
trước các tòa án này “ Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ Luật sư bênh vực”.
Ngày 23/8/1946 Nhà nước ban hành Sắc lệnh số 163-SL về việc thành lập
Tòa án binh lâm thời đặt tại Hà Nội, trong đó tại điều 10 cũng có quy định:
19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×