Tải bản đầy đủ

Đương sự trong vụ án dân sự : Luận văn ThS. Luật

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐÀO THU HẢI YẾN

ĐƢƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2015

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐÀO THU HẢI YẾN

ĐƢƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ


Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số
: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: TS. LÊ THU HÀ

Hà Nội – 2015

2


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu và trích dẫn trong Luận văn là chính xác và trung thực. Những kết luận
khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
khác.
Hà Nội, ngày 01 tháng 12 năm 2015
Tác giả luận văn

ĐÀO THU HẢI YẾN

3


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 8
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐƢƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN
DÂN SỰ ...................................................................................................... 15
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN
SỰ ................................................................................................................ 15
1.1.1. Khái niệm đƣơng sự trong vụ án dân sự ............................................. 15
1.1.2. Đặc điểm của đƣơng sự trong vụ án dân sự...................................... 19
1.2. CƠ SỞ XÁC ĐỊNH TƢ CÁCH ĐƢƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ
..................................................................................................................... 22
1.3. ĐIỀU KIỆN TRỞ THÀNH ĐƢƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ ... 28
1.3.1. Điều kiện trở thành nguyên đơn .......................................................... 28
1.3.2. Điều kiện trở thành bị đơn .................................................................. 30
1.3.3. Điều kiện trở thành ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ................ 30

1.4. VIỆC GHI NHẬN QUYỀN, NGHĨA VỤ TỐ TỤNG CỦA ĐƢƠNG SỰ
VÀ CƠ CHẾ ĐẢM BẢO THỰC HIỆN ....................................................... 32
1.4.1. Cơ sở của việc ghi nhận quyền và nghĩa vụ của đƣơng sự trong vụ án
dân sự ........................................................................................................... 32
1.4.2. Cơ chế đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của đƣơng sự
trong vụ án dân sự ........................................................................................ 37
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ............................................................................. 40
Chương 2: NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ ĐƢƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN
SỰ ................................................................................................................ 41

4


2.1. CÁC QUY ĐỊNH VỀ NĂNG LỰC CHỦ THỂ CỦA ĐƢƠNG SỰ
TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ ........................................................................... 41
2.1.1. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự....................................................... 41
2.1.2. Năng lực hành vi tố tụng dân sự ......................................................... 42
2.2. QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ TỐ TỤNG CỦA ĐƢƠNG SỰ
TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ ........................................................................... 43
2.2.1. Quyền và nghĩa vụ chung của đƣơng sự ............................................. 43
2.2.2. Các quyền, nghĩa vụ khác của đƣơng sự ............................................. 66
2.2.3. Quyền và nghĩa vụ của từng đƣơng sự ................................................ 70
2.3. VIỆC THỪA KẾ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ TỐ TỤNG CỦA ĐƢƠNG
SỰ ................................................................................................................ 73
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ............................................................................. 75
Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ HOÀN
THIỆN KHUNG PHÁP LÝ VỀ ĐƢƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ... 78
3.1. THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐƢƠNG
SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ ..................................................................... 78
3.1.1. Vƣớng mắc, sai sót của Tòa án trong việc bảo đảm thực hiện các quyền
tố tụng của đƣơng sự .................................................................................... 78
3.1.2. Vƣớng mắc, sai sót của Tòa án trong việc xác định năng lực hành vi tố
tụng dân sự của đƣơng sự ............................................................................. 86
3.1.3. Vƣớng mắc, sai sót của Tòa án trong việc xác định sai hoặc bỏ sót
đƣơng sự ...................................................................................................... 89
3.1.4. Thực tiễn đƣơng sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong vụ án dân sự
..................................................................................................................... 93
3.1.5. Những bất cập của quy định pháp luật về đƣơng sự trong vụ án dân sự
..................................................................................................................... 95

5


3.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LÝ VỀ ĐƢƠNG
SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ ................................................................... 100
3.2.1. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng dân sự về
đƣơng sự trong vụ án dân sự....................................................................... 100
3.2.2. Về kỹ năng, nghiệp vụ của Thẩm phán ............................................. 111
3.2.3. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật tố tụng
dân sự nhằm nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân .............................. 114
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 ........................................................................... 115
KẾT LUẬN ................................................................................................ 117
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................... 119

6


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
XHCN : xã hội chủ nghĩa
BLTTDS: bộ luật tố tụng dân sự
LSĐBS : luật sửa đổi bổ sung
VADS: vụ án dân sự
PLTTGQCVAKT: pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án kinh tế
PLTTGQCTCLĐ: pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp lao động
TANDTC : tòa án nhân dân tối cao
TCCB : tổ chức cán bộ

7


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Để thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ
nghĩa (XHCN); bảo đảm và tôn trọng quyền dân chủ, quyền và lợi ích hợp
pháp của các tổ chức và công dân thông qua các hoạt động và xây dựng lập
pháp cũng nhƣ nâng cao chất lƣợng hoạt động và đề cao trách nhiệm của các
cơ quan tƣ pháp, Nhà nƣớc ta đã và đang có những hoạt động tích cực trong
công cuộc cải cách tƣ pháp. Điều này đƣợc thể hiện thông qua việc Nghị
quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác
tƣ pháp đã đƣợc tổ chức thực hiện với quyết tâm cao, đạt đƣợc nhiều kết quả.
Tiếp đó Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24-5-2005 của Bộ Chính trị về chiến
lƣợc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010,
định hƣớng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của
Bộ Chính trị về chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020 liên tục đƣợc triển
khai thực hiện. Về kết quả tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW,
Bộ Chính trị cũng đã có Kết luận số 92-KL/TW ngày 12-3-2014.
Vấn đề quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể ngày càng đƣợc chú
trọng trong xu hƣớng hội nhập hiện nay. Thực tế, từ trƣớc đến nay Nhà nƣớc
ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể
thực hiện tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, song
song với sự phát triển của nền kinh tế, những biến đổi hàng ngày, hàng giờ
của xã hội, các văn bản pháp luật đƣợc ban hành đã bộc lộ nhiều bất cập, chƣa
đáp ứng kịp thời những yêu cầu của xã hội trong thời kỳ mới.
Đƣơng sự trong vụ án dân sự (VADS) là một trong những chủ thể đặc
biệt quan trọng trong quá trình Tòa án giải quyết VADS, nếu không có đƣơng sự
thì không có VADS. Để bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ

8


quan, tổ chức trong các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh - thƣơng
mại, lao động; đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng
XHCN, phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế khu vực và trên thế giới; trên cơ sở
kế thừa, phát triển và pháp điển hóa những quy định của các văn bản pháp luật tố
tụng dân sự (TTDS) trƣớc đây, Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) đã đƣợc Quốc
hội khóa XI kỳ họp thứ năm thông qua ngày 15-6-2004. Trong đó, đƣơng sự
đƣợc quy định tại Mục 1 Chƣơng VI (từ Điều 56 đến Điều 62) và tại Chƣơng
XX (từ Điều 313 đến Điều 314, Điều 316, 317). Luật sửa đổi, bổ sung (LSĐBS)
BLTTDS cũng đã bổ sung những quy định về đƣơng sự. Quyền và nghĩa vụ của
đƣơng sự đƣợc quy định từ Điều 58 đến Điều 61 Chƣơng VI Phần thứ nhất
"Những quy định chung" của BLTTDS và đƣợc sửa đổi, bổ sung tại các mục từ
khoản 13 đến khoản 16 của Điều 1 LSĐBS BLTTDS. Về cơ bản, LSĐBS
BLTTDS sửa đổi, bổ sung quy định về quyền và nghĩa vụ của đƣơng sự theo
hƣớng bảo đảm hơn nữa quyền tranh luận của các đƣơng sự nói riêng và quyền,
lợi ích của đƣơng sự nói chung; đồng thời sửa đổi, bổ sung một cách khoa học,
chính xác, rõ nghĩa hơn. Một số ví dụ về quyền và nghĩa vụ của đƣơng sự đƣợc
sửa đổi, bổ sung tại LSĐBS BLTTDS: Bổ sung quyền giữ nguyên, thay đổi, bổ
sung hoặc rút yêu cầu theo quy định của BLTTDS; bổ sung quyền đề nghị Tòa
án đƣa ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng; sửa đổi, bổ sung
quyền "Đề xuất với Tòa án những vấn đề cần hỏi ngƣời khác, đƣợc đối chất với
nhau hoặc nhân chứng" thành quyền "Đƣa ra câu hỏi với ngƣời khác về vấn đề
liên quan đến vụ án khi đƣợc phép của Tòa án hoặc đề xuất với Tòa án những
vấn đề cần hỏi ngƣời khác; đƣợc đối chất với nhau hoặc những ngƣời làm
chứng"; bổ sung quyền đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án … LSĐBS
BLTTDS đã khắc phục đƣợc phần nào những hạn chế, bất cập của các quy định
về đƣơng sự trong các văn bản pháp luật trƣớc đó nhƣng vẫn chƣa đầy đủ, thiếu
cụ thể, còn mâu thuẫn. Sau hơn 10 năm thực hiện, BLTTDS hiện hành mặc
dù đã góp phần quan trọng trong việc đảm bảo trình tự và thủ tục TTDS, công

9


khai, tạo điều kiện cho đƣơng sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình
nhƣng vẫn còn bộc lộ những hạn chế, bất cập, có những quy định chƣa phù
hợp với Hiến pháp năm 2013 và một số luật mới ban hành. Vì vậy, việc xây
dựng dự thảo BLTTDS (sửa đổi) là cần thiết. Trong thời gian qua các ý kiến
đóng góp cho dự thảo BLTTDS (sửa đổi) đã phần nào thể hiện đƣợc chủ
trƣơng, đƣờng lối chính sách của Đảng về cải cách tƣ pháp, cụ thể hóa các
quy định của Hiến pháp nhằm đảm bảo sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật,
tăng cƣờng tranh tụng, bảo đảm tính công khai, dân chủ, công bằng, tạo thuận
lợi cho các đƣơng sự tham gia VADS thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong
quá trình tố tụng, bảo vệ đƣợc quyền và lợi ích chính đáng của mình.
Bên cạnh đó, trong thực tế các đƣơng sự gặp rất nhiều khó khăn và
lúng túng khi tham gia tố tụng và thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của
mình.Việc các Tòa án xác định thiếu chính xác thành phần và tƣ cách của
đƣơng sự đã ảnh hƣởng đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của
đƣơng sự khi tham gia VADS.
Trƣớc thực trạng trên, việc tìm hiểu đƣơng sự trong VADS là vấn đề
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng. Việc tìm hiểu đƣơng sự trong VADS
giúp nhìn nhận bao quát, trọn vẹn hơn về đƣơng sự trong VADS, tạo cơ sở trong
việc xác định thành phần, tƣ cách, quyền và nghĩa vụ của đƣơng sự, hỗ trợ cho
quá trình giải quyết VADS, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đƣơng sự.
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài "Đƣơng sự trong vụ án dân sự"
làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thực tế có nhiều công trình nghiên cứu khoa học pháp lý đã
đƣợc công bố có đề cập đến vấn đề đƣơng sự trong VADS. Cụ thể là một số
công trình sau đây:

10


- Công trình nghiên cứu cấp Bộ: "Một số vấn đề về cơ sở lý luận và
thực tiễn của việc xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự", do Tòa án nhân dân tối
cao (TANDTC) thực hiện năm 1996;
- Luận án tiến sĩ luật học: "Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong
Tố tụng dân sự Việt Nam", do nghiên cứu sinh Nguyễn Công Bình thực hiện
năm 2006;
- Luận án tiến sĩ luật học: "Đương sự trong tố tụng dân sự - một số
vấn đề lý luận và thực tiễn", do nghiên cứu sinh Nguyễn Triều Dƣơng thực
hiện năm 2010;
- Luận văn thạc sĩ luật học: "Quyền tự định đoạt của đương sự theo
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam năm 2004", do học viên
Nguyễn Phƣơng Hạnh thực hiện năm 2010;
- Luận văn thạc sĩ luật học: "Quyền và nghĩa vụ của đương sự theo
quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự", do học viên Cao Kim Oanh thực hiện
năm 2011;
- Các sách chuyên ngành đã xuất bản: Giáo trình Luật tố tụng dân sự
của Học viện Tƣ Pháp, do Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm
2007; Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của Trƣờng Đại học Luật Hà
Nội, do Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm 2009; "Bình luận khoa
học một số vấn đề pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng" của tác giả
Lê Thu Hà, "Cẩm nang pháp luật của bị đơn" của tác giả Nguyễn Hữu Ƣớc;
"Pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử" của tác giả Tƣởng Duy Lƣợng,
do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2009.
- Các bài viết đăng trên tạp chí có bài "Cơ sở pháp lý của quyền tự
định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự" của Nguyễn Tiến Trung, đăng trên
Tạp chí Luật học, số 02 năm 1999; "Ai có tư cách là nguyên đơn trong vụ án
dân sự" của Nguyễn Thị Hƣơng, đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân (TAND),
số 01 năm 2000; "Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự

11


trong Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam" của Nguyễn Ngọc Khánh, đăng trên
Tạp chí Nhà nƣớc và pháp luật, số 05 năm 2005; "Người tham gia tố tụng dân
sự" của Nguyễn Việt Cƣờng, đăng trên Tạp chí TAND, số 8 năm 2005;
"Đương sự trong vụ án dân sự" của Nguyễn Việt Cƣờng, đăng trên Tạp chí
Nghề Luật, số 2 năm 2006; "Quyền khởi kiện và việc xác định tư cách tham gia
tố tụng" của Trần Anh Tuấn, đăng trên Tạp chí TAND, số 23 năm 2008 v.v...
Tuy vậy, các công trình nghiên cứu trên đây mới chỉ đề cập đến một số
khía cạnh về đƣơng sự mà chƣa nghiên cứu vấn đề đƣơng sự trong VADS theo
hƣớng đầy đủ, toàn diện và hệ thống. Đối với luận án tiến sĩ luật học "Đương sự
trong tố tụng dân sự - một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của nghiên cứu sinh
Nguyễn Triều Dƣơng là công trình nghiên cứu có đề cập trực tiếp đến vấn đề
này nhƣng lại bao quát trong toàn bộ hoạt động TTDS (bao gồm VADS và
việc dân sự) mà không nghiên cứu chuyên biệt vấn đề đƣơng sự trong VADS.
3. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ khái niệm đƣơng sự
cũng nhƣ việc xác định đúng tƣ cách đƣơng sự, quyền và nghĩa vụ của đƣơng
sự trong VADS; đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành về
quyền và nghĩa vụ của đƣơng sự trong VADS, qua đó đề xuất phƣơng hƣớng,
giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định hiện hành về quyền và nghĩa vụ của
đƣơng sự trong VADS.
Do đó, đề tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về quyền và nghĩa vụ của đƣơng sự
trong VADS bao gồm khái niệm, quá trình phát triển của các quy định về
đƣơng sự, quyền và nghĩa vụ của các đƣơng sự, qua đó có sự so sánh với pháp
luật một số nƣớc quy định về quyền và nghĩa vụ của đƣơng sự.
- Nghiên cứu thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng các quy định của
pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đƣơng sự trong VADS. Xác định các yêu

12


cầu về quyền và nghĩa vụ của đƣơng sự trong VADS và đƣa ra một số kiến
nghị.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn đƣợc nghiên cứu dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà
nƣớc ta về xây dựng nhà nƣớc pháp quyền XHCN, cải cách tƣ pháp ở nƣớc ta
trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó luận văn còn sử dụng phƣơng pháp nghiên
cứu lịch sử, phƣơng pháp phân tích và phƣơng pháp quy nạp, diễn giải…
5. Những điểm mới về khoa học của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu có tính hệ thống, đầy đủ về những
vấn đề có liên quan đến đƣơng sự trong VADS theo quy định pháp luật hiện
hành. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận về đƣơng sự
trong VADS. Từ đó có cơ sở lý luận để phân tích, đánh giá những bất cập của
các quy định của pháp luật hiện hành, thực tiễn thực hiện các quy định của
pháp luật về đƣơng sự trong VADS để làm cơ sở thực tiễn cho việc hoàn thiện
các quy định của pháp luật trong lĩnh vực tƣơng ứng.
Luận văn có những đóng góp mới sau:
- Hoàn thiện khái niệm đƣơng sự trong VADS; làm rõ các đặc điểm
của đƣơng sự, vai trò của đƣơng sự trong VADS.
- Xác định đƣợc quyền và nghĩa vụ của đƣơng sự trong VADS.
- Phân tích, làm rõ những điểm bất hợp lý, bất cập của các quy định
pháp luật hiện hành về đƣơng sự trong VADS.
- Đánh giá đúng thực trạng và thực tiễn thực hiện các quy định của
pháp luật hiện hành về đƣơng sự trong VADS.
- Đề xuất đƣợc một số kiến nghị về việc hoàn thiện và thực hiện các
quy định của pháp luật hiện hành về đƣơng sự trong VADS cho phù hợp với
tiến trình thực hiện cải cách tƣ pháp và xây dựng nhà nƣớc pháp quyền của
Nhà nƣớc ta hiện nay.

13


6. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn là tài liệu tham khảo cho việc sửa đổi, hoàn thiện các quy
định của pháp luật TTDS về đƣơng sự trong VADS và thực hiện chúng tại các
Tòa án. Ngoài ra, luận văn còn là tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, học
tập về pháp luật TTDS ở các cơ sở đào tạo Luật học tại Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về đƣơng sự trong vụ án dân sự.
Chương 2: Nội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt
Nam hiện hành về đƣơng sự trong vụ án dân sự.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân
sự về đƣơng sự trong vụ án dân sự và kiến nghị.

14


Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ ĐƢƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ

1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ

1.1.1. Khái niệm đƣơng sự trong vụ án dân sự
Trong các VADS thì đƣơng sự là ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ; tham
gia VADS với mục đích là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc
trong một số trƣờng hợp tuy họ không có quyền, lợi ích liên quan đến VADS
nhƣng lại tham gia tố tụng để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nƣớc,
lợi ích của ngƣời khác. Hoạt động tố tụng của đƣơng sự trong VADS có thể
dẫn đến việc làm phát sinh, thay đổi hoặc đình chỉ vụ án, họ là một thành phần
chủ yếu của VADS, nếu không có đƣơng sự thì không có VADS tại Tòa án.
Các chủ thể đƣợc xác định là đƣơng sự trong VADS trƣớc hết phải là
chủ thể của các quan hệ pháp luật nội dung (dân sự, hôn nhân và gia đình,
kinh doanh, thƣơng mại, lao động). Do các chủ thể trong quan hệ pháp luật
nội dung phong phú và đa dạng nên các chủ thể có thể đƣợc xác định là
đƣơng sự cũng đƣợc mở rộng. Tuy nhiên, không phải mọi chủ thể của quan
hệ pháp luật nội dung đều có thể trở thành đƣơng sự trong các VADS. Khi các
chủ thể trong các quan hệ pháp luật nội dung tôn trọng lợi ích của nhau, thực
hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ pháp lý với nhau thì sẽ không dẫn đến việc
khởi kiện và không có hoạt động tố tụng giải quyết thì các chủ thể của các
quan hệ pháp luật nội dung này không trở thành đƣơng sự trong VADS.
Các nhà luật học có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm đƣơng
sự. Theo Đại Từ điển tiếng Việt, "đƣơng sự là ngƣời, là đối tƣợng trong một
vụ việc nào đó đƣợc đƣa ra giải quyết" [43, tr. 346]. Trong cuốn Từ điển Luật
học đƣợc xuất bản năm 1999 thì "đƣơng sự là ngƣời có quyền, nghĩa vụ đƣợc
giải quyết trong một khiếu nại hoặc một vụ án" [33, tr. 165]. Theo cuốn Từ

15


điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tƣ pháp) thì đƣơng sự đƣợc
hiểu là:
Cá nhân, pháp nhân tham gia tố tụng dân sự với tƣ cách là
nguyên đơn hoặc bị đơn, hoặc ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan. Đƣơng sự là một trong các nhóm ngƣời tham gia tố tụng dân
sự tại Tòa án nhân dân trong các vụ kiện về dân sự, kinh doanh,
thƣơng mại, hôn nhân gia đình và lao động [41, tr. 278].
Nhƣ vậy, về lý luận đƣơng sự là những ngƣời tham gia vào quá trình
giải quyết VADS vì họ có quyền, nghĩa vụ đƣợc giải quyết trong VADS. Xuất
phát từ đó Điều 56 BLTTDS đã đƣa ra khái niệm đƣơng sự trong VADS nhƣ
sau: "Đƣơng sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan tổ chức bao gồm:
Nguyên đơn, bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan" [17].
Đối chiếu khái niệm đƣơng sự đƣợc quy định tại BLTTDS với các quy
định của pháp luật về TTDS qua các giai đoạn lịch sử khác nhau có thể nhận thấy:
Pháp luật TTDS Việt Nam đƣợc hình thành và phát triển ngay sau khi
Nhà nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Ngày 10/10/1945, Chủ tịch
chính phủ lâm thời đã ra Sắc lệnh số 47/SL cho giữ tạm thời các luật lệ hiện
hành của chế độ cũ, viện dẫn đến việc áp dụng các quy định tố tụng thủ tục tại
Nghị định của toàn quyền Đông Dƣơng và Bộ luật tố tụng thủ tục Pháp.
Ngoài ra, Nhà nƣớc ta còn ban hành hàng loạt các Sắc lệnh trong đó cho phép
Tòa án áp dụng thủ tục tố tụng để giải quyết tranh chấp dân sự, ví dụ: Sắc
lệnh 13/S ngày 24/01/1946 về tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán;
Sắc lệnh số 112/SL ngày 28/6/1946 bổ sung Sắc lệnh 51/SL; Sắc lệnh số
130/SL ngày 19/7/1946 quy định thể thức thi hành án; Sắc lệnh số 85/SL ngày
22/5/1950 cải cách bộ máy Tƣ pháp và luật tố tụng; Sắc lệnh số 159/SL ngày
07/11/1950 quy định vấn đề ly hôn [42]. Tuy nhiên, có một thực tế trong giai
đoạn đầu các văn bản TTDS chủ yếu quy định chung về thủ tục TTDS mà
không quy định cụ thể về đƣơng sự.

16


Sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi, năm 1954 Miền Bắc hoàn
toàn giải phóng, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, Nhà nƣớc ta cũng rất quan
tâm tới việc xây dựng pháp luật. Đáng kể là sau khi Hiến pháp 1959 và Luật tổ
chức TAND năm 1960 đƣợc ban hành, TANDTC đã cho xây dựng nhiều văn
bản hƣớng dẫn cụ thể trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự, ví dụ:
Thông tƣ số 614/DS ngày 24-4-1963 hƣớng dẫn một số thủ tục tố tụng cho Tòa
án địa phƣơng, Thông tƣ số 03/NCPL ngày 03-3-1966 về trình tự giải quyết việc
ly hôn, Thông tƣ số 25/TATC ngày 30-11-1974 hƣớng dẫn về hòa giải trong
TTDS. Trong số các văn bản pháp luật này, ở mức độ khác nhau đều có quy
định về đƣơng sự trong VADS. Mặc dù vậy những quy định này chỉ có thể dừng
lại ở việc hiểu đƣơng sự là các bên tham gia vào VADS bao gồm: nguyên đơn,
bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Qua đó có thể thấy các quy định
về đƣơng sự trong VADS trƣớc năm 1989 còn tản mạn, chƣa đƣợc hệ thống hóa
thành điều khoản riêng quy định về thành phần đƣơng sự và thiếu cụ thể.
Tuy nhiên, từ năm 1989 Nhà nƣớc ta đã ban hành nhiều văn bản pháp
luật TTDS nhƣ Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự (PLTTGQCVADS)
năm 1989. Đây là văn bản pháp luật đầu tiên pháp điển hóa những quy định
về thủ tục giải quyết VADS, đặc biệt là đã đề cập trực tiếp đến khái niệm
"đƣơng sự". Điều 19 của PLTTGQCVADS (1989) quy định:
Công dân, pháp nhân tham gia tố tụng với tƣ cách là nguyên
đơn, bị đơn hoặc ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong
trƣờng hợp Viện kiểm sát khởi tố hoặc tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi
ích chung thì ngƣời có quyền lợi đƣợc bảo vệ có thể tham gia tố
tụng với tƣ cách nguyên đơn [36].
Đến năm 1994, Nhà nƣớc ta tiếp tục ban hành Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án kinh tế (PLTTGQCVAKT), năm 1996 ban hành Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (PLTTGQCTCLĐ). Hai pháp lệnh
này đã bổ sung thêm quy định về đƣơng sự, PLTTGQCVAKT quy định

17


"đƣơng sự là cá nhân, pháp nhân" (Điều 20); PLTTGQCTCLĐ quy định
"đƣơng sự là cá nhân, tập thể lao động, tổ chức sử dụng lao động" (Điều 19).
Với quy định nhƣ vậy, các tổ chức không có tƣ cách pháp nhân nhƣ tổ hợp tác
xã, doanh nghiệp tƣ nhân, doanh nghiệp hợp doanh… không phải là đƣơng
sự. Do đó, quy định nhƣ trên không bao quát đƣợc tất cả các chủ thể tham gia
quan hệ dân sự đã đƣợc quy định trong Bộ luật dân sự (BLDS). Đồng thời chƣa
liệt kê hết các chủ thể và chƣa diễn đạt chính xác về thành phần đƣơng sự.
Năm 2004, BLTTDS ra đời đã khắc phục đƣợc những thiếu sót trong
các pháp lệnh tố tụng và bao quát đƣợc các chủ thể tham gia quan hệ dân sự
đƣợc quy định trong BLDS. Khoản 1 Điều 56 BLTTDS quy định "Đƣơng sự
trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn,
ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan" [17]. Nhƣ vậy, rút gọn lại thì đƣơng
sự trong BLTTDS là cá nhân, cơ quan và tổ chức.
Đƣơng sự là cá nhân bao gồm công dân Việt Nam, ngƣời có quốc tịch
nƣớc ngoài, ngƣời không có quốc tịch. Điều này đồng nghĩa với việc đƣơng
sự có thể là công dân Việt Nam hoặc không.
Đƣơng sự là cơ quan bao gồm các cơ quan nhà nƣớc, đơn vị vũ trang
nhân dân. Cơ quan tham gia VADS thông qua ngƣời đại diện theo pháp luật
hoặc đại diện theo ủy quyền. Thông thƣờng một cơ quan gồm nhiều bộ phận
cấu thành, về nguyên tắc nếu những bộ phận cấu thành này không có quyền
độc lập về tài sản thì các bộ phận này không thể tham gia tố tụng với tƣ cách
đƣơng sự. Tuy nhiên, đối với những bộ phận trong cơ quan nhƣng lại có
quyền độc lập về tài sản, có quyền tham gia các quan hệ dân sự với tƣ cách
độc lập thì bộ phận này có thể có quyền tham gia TTDS độc lập.
Bên cạnh đó, theo quy định của BLTTDS thì đƣơng sự trong VADS
còn là tổ chức. Từ điển tiếng Việt giải thích "tổ chức là tập hợp ngƣời có trật
tự, có nề nếp, hoạt động vì những quyền lợi chung, nhằm mục đích chung".
Tổ chức có thể có các dạng sau:

18


Pháp nhân: Là tổ chức có đủ bốn điều kiện quy định tại Điều 94 BLDS.
Theo quy định tại Điều 110 BLDS, pháp nhân bao gồm các loại tổ chức sau
đây: Đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện; các tổ chức khác có đủ điều kiện quy định tại
Điều 94 BLDS. Cần chú ý: Pháp nhân bao gồm các loại tổ chức đó chứ không
phải các loại tổ chức đó đều là pháp nhân, các tổ chức phải có đủ bốn điều
kiện quy định tại Điều 94 BLDS mới là pháp nhân.
Tổ chức không phải là pháp nhân (khoản 3 Điều 62 BLTTDS): là các
tổ chức quy định tại Điều 1 (trừ cơ quan nhà nƣớc) nhƣng không có đủ các điều
kiện quy định tại Điều 94 BLDS. Tuy nhiên, các tổ chức này hoàn toàn độc lập,
không phụ thuộc vào một cá nhân, pháp nhân hoặc tổ chức nào khác về tài sản,
có tƣ cách riêng, nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc
lập, đƣợc thành lập và hoạt động theo một quy tắc nhất định và đƣợc pháp luật
công nhận (công nhận tổ chức đó nhƣng không công nhận là pháp nhân). Các
tổ chức không phải là pháp nhân thông thƣờng là: các loại hình doanh nghiệp
tƣ nhân và công ty hợp danh, tổ hợp tác. Ngoài ra, tổ chức không phải là pháp
nhân còn bao gồm: các hội cựu chiến binh, hội khuyến nông, khuyến ngƣ,
khuyến học đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền cho phép thành lập, đăng
ký hoặc công nhận nhƣng không có tƣ cách pháp nhân (không có đủ các điều
kiện quy định tại Điều 94 BLDS), không có con dấu; các tổ chức tôn giáo nhỏ
không đƣợc ghi nhận là pháp nhân trong quyết định cho phép thành lập.
Như vậy, đương sự trong VADS là các cá nhân, cơ quan, tổ chức có
quyền, nghãi vụ được Tòa án xem xét trong VADS, tham gia tố tụng để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
1.1.2. Đặc điểm của đƣơng sự trong vụ án dân sự
Mục đích của đƣơng sự tham gia VADS là để bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của chính mình, trong khi đó những đối tƣợng khác tham gia VADS

19


là để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời khác hoặc để hỗ trợ cho
hoạt động tố tụng. Khi tham gia VADS, đƣơng sự có những đặc điểm sau:
- Đương sự trong VADS là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung có
quyền, lợi ích bị xâm phạm hoặc cần được xác định trong VADS. Sự liên quan
về quyền, lợi ích của đương sự đối với quá trình giải quyết VADS có thể trực
tiếp hoặc gián tiếp.
Tiền đề của việc trở thành đƣơng sự trong VADS là trƣớc đó các chủ
thể đã tham gia vào một quan hệ pháp luật nội dung (quan hệ dân sự, quan hệ
hôn nhân và gia đình, quan hệ kinh doanh thƣơng mại, quan hệ lao động); họ
đều có quyền, lợi ích gắn liền với các quan hệ đó. Lợi ích đó có thể là lợi ích
vật chất phát sinh từ tài sản hoặc là các lợi ích tinh thần phát sinh từ các giá trị
nhân thân nhƣ danh dự, uy tín, nhân phẩm… Khi có tranh chấp phát sinh từ
các quan hệ nội dung, các chủ thể tham gia vì để bảo vệ quyền, lợi ích của
mình đã đƣa ra các yêu cầu thông qua việc khởi kiện yêu cầu Tòa án giải
quyết. Đƣơng sự muốn khởi kiện thì trƣớc hết họ phải chứng minh rằng họ có
quyền, lợi ích cần đƣợc giải quyết trong vụ án đó. Vì vậy, về nguyên tắc, cá
nhân và tổ chức để trở thành đƣơng sự trong VADS thì phải có quyền và lợi
ích liên quan đến việc giải quyết VADS.
Quyền, lợi ích của đƣơng sự đối với quá trình giải quyết VADS có thể
liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp. Khi Tòa án giải quyết VADS thì Tòa án sẽ
xem xét quyết định đến quyền và nghĩa vụ cho các đƣơng sự, đây chính là sự
liên quan trực tiếp. Có trƣờng hợp khi giải quyết VADS, Tòa án có thể không
giải quyết đến quyền lợi của ngƣời này ngay trong VADS, nhƣng kết quả giải
quyết VADS là cơ sở quan trọng xác định quyền, lợi ích của họ trong các mối
quan hệ pháp luật có tính phái sinh từ quan hệ đã đƣợc Tòa án giải quyết. Mối
quan hệ đó có thể hiểu nhƣ sau: chẳng hạn, khi ngƣời bị thiệt hại khởi kiện
pháp nhân để đòi bồi thƣờng thiệt hại do ngƣời của pháp nhân gây ra trong
khi thực hiện nhiệm vụ của pháp nhân giao thì Tòa án chỉ giải quyết buộc

20


pháp nhân bồi thƣờng cho ngƣời bị thiệt hại mà không giải quyết việc buộc
ngƣời của pháp nhân phải bồi hoàn cho pháp nhân. Tuy nhiên, việc Tòa án
quyết định mức bồi thƣờng của pháp nhân là bao nhiêu sẽ là cơ sở xác định
nghĩa vụ hoàn lại cho ngƣời của pháp nhân đối với khoản tiền mà pháp nhân
đã bồi thƣờng trƣớc đó.
- Đương sự là chủ thể được Tòa án chấp nhận tham gia vào quá trình
giải quyết VADS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đương sự có
thể mong muốn tham gia hoặc buộc phải tham gia vào hoạt động tố tụng do
việc "khởi động" vụ án của nguyên đơn hoặc người yêu cầu và được Tòa án
thụ lý giải quyết.
Tham gia vào quá trình tố tụng trƣớc hết là để các đƣơng sự bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Vì vậy, đƣơng sự cần đƣa ra yêu cầu,
nêu ra các ý kiến đồng thời cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu, ý
kiến của mình là hợp pháp và có căn cứ với mong muốn để Tòa án giải quyết
bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình giải quyết các
VADS. Đối với các cá nhân, tổ chức hay các chủ thể khác mà khởi kiện hoặc
yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời khác thì ngƣời khởi
kiện, ngƣời yêu cầu tham gia với tƣ cách là đại diện của đƣơng sự, còn đƣơng
sự là chủ thể đƣợc bảo vệ quyền lợi.
- Đương sự là chủ thể bình đẳng với nhau trong quan hệ tố tụng, có
thể tham gia tố tụng độc lập hoặc thông qua người đại diện. Những quyền và
nghĩa vụ tố tụng của đương sự mà pháp luật quy định là cơ sở để các đương
sự có điều kiện thuận lợi như nhau khi tham gia vào VADS nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình về mặt nội dung.
Pháp luật quy định các quyền, nghĩa vụ chung của đƣơng sự, nhƣng các
đƣơng sự ở các tƣ cách tố tụng khác nhau lại có quyền, nghĩa vụ khác nhau.
Khi có đủ điều kiện về năng lực chủ thể, bao gồm năng lực pháp luật và
năng lực hành vi tố tụng thì đƣơng sự có thể tham gia độc lập trong VADS. Tuy

21


nhiên, trong trƣờng hợp đƣơng sự là ngƣời chƣa thành niên hoặc đƣơng sự là
tổ chức có tƣ cách pháp nhân thì ngƣời đại diện của đƣơng sự có thể thay mặt
đƣơng sự để tham gia vào quá trình giải quyết VADS nhằm thực hiện những
quyền và nghĩa vụ của đƣơng sự. Trƣờng hợp đƣơng sự có lý do không thể trực
tiếp tham gia tố tụng, họ có thể ủy quyền cho ngƣời khác thay mặt mình tham
gia tố tụng, trừ một số trƣờng hợp pháp luật quy định không đƣợc ủy quyền.
- Đương sự là chủ thể có quyền tự định đoạt việc thực hiện các quyền
và nghĩa vụ của mình, là cơ sở để phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quá trình
giải quyết VADS.Chỉ có đương sự mới có quyền tự định đoạt trong việc thực
hiện các quyền và nghĩa vụ về tố tụng.Các chủ thể tố tụng khác có nghĩa vụ
tôn trọng và bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự.
Tòa án giải quyết VADS thực chất là giải quyết các yêu cầu của
đƣơng sự. Chỉ khi các chủ thể này đƣa ra yêu cầu thì Tòa án mới giải quyết
nên khi các chủ thể đó thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu hay đƣa ra ý kiến
của mình thì hoạt động tố tụng bị thay đổi hoặc chấm dứt.
1.2. CƠ SỞ XÁC ĐỊNH TƢ CÁCH ĐƢƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ

Pháp luật TTDS của các quốc gia trên thế giới, đa số đều quan niệm
đƣơng sự bao gồm các tƣ cách là nguyên đơn và bị đơn. BLTTDS Liên Bang
Nga tại Điều 43 quy định: ngƣời tham gia TTDS bao gồm các bên (nguyên
đơn và bị đơn), ngƣời thứ ba (ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan), Kiểm
sát viên, ngƣời yêu cầu Tòa án bảo vệ, Pháp luật TTDS của Hoa Kỳ thì xác
định thành phần đƣơng sự bao gồm hai bên nguyên đơn và bị đơn. Trong khi
đó BLTTDS của Cộng hòa Pháp không đƣa ra định nghĩa đƣơng sự nhƣng
qua quy định tại Điều 1 và Điều 323 thì có thể hiểu đƣơng sự bao gồm
nguyên đơn, bị đơn. BLTTDS của Việt Nam hiện hành quy định về thủ tục
giải quyết các VADS nên đƣơng sự đƣợc quan niệm bao gồm: nguyên đơn, bị
đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

22


Tƣ cách của đƣơng sự do vị trí của họ khi khởi kiện quyết định chứ
không phải do bản chất của quyền lợi viện dẫn quyết định. Tƣ cách đƣơng sự
phản ánh mối quan hệ giữa các chủ thể trong TTDS. Vì vậy, việc xác định tƣ
cách tố tụng của đƣơng sự giúp cho quá trình giải quyết VADS chính xác,
khách quan, đồng thời bảo vệ đƣợc các quyền và lợi ích hợp pháp của đƣơng
sự. Việc xác định tƣ cách của đƣơng sự dựa trên những cơ sở sau đây:
- Xác định tư cách của đương sự trên cơ sở xác định chủ thể có quyền
khởi kiện, bị khởi kiện.
Khi giải quyết VADS, Tòa án cần xác định chính xác một số vấn đề
nhƣ: chủ thể khởi kiện có quyền khởi kiện hay không? Họ khởi kiện để bảo
vệ quyền lợi và lợi ích của mình hay của ngƣời khác? Họ có quyền khởi kiện
đối với ai? Để xác định đƣợc ai có quyền khởi kiện cần phải căn cứ vào bản
chất của mỗi quan hệ pháp luật đang đƣợc xem xét, giải quyết và đối chiếu
với các quy phạm pháp luật nội dung tƣơng ứng.
Khoa học pháp lý cho thấy tùy thuộc vào các căn cứ khác nhau có thể
có nhiều cách phân loại quyền khởi kiện (hay tố quyền) khác nhau trong các
quan hệ pháp luật. Ví dụ: căn cứ vào bản chất quyền lợi hành xử thì tố quyền
đƣợc phân chia thành tố quyền đối vật, tố quyền đối nhân, tố quyền hỗn hợp.
Việc phân loại này có ý nghĩa trong việc xác định tƣ cách của đƣơng sự trong
VADS.
Đối với trƣờng hợp quyền nhân thân bị xâm hại thì tố quyền nhân thân
không thuộc các cách phân loại trên. Tố quyền nhân thân tuy đƣợc đồng hóa
với tố quyền đối nhân nhƣng việc sử dụng tố quyền nhân thân chỉ hạn chế với
một số chủ thể mang quyền mà nhà lập pháp ấn định. Vì vậy, đối với trƣờng
hợp có việc khởi kiện liên quan đến quyền nhân thân thì nguyên đơn cần đƣợc
xác định là ngƣời có quyền nhân thân đó. Ví dụ: trong vụ kiện ly hôn thì
nguyên đơn là vợ hoặc chồng ngƣời đã khởi kiện xin ly hôn; nguyên đơn
trong vụ kiện xác định cha mẹ cho con là ngƣời con và ngƣợc lại; nguyên đơn
là ngƣời cha, mẹ trong vụ kiện xác định con cho cha mẹ.

23


Đối với chủ thể khởi kiện có quyền, lợi ích liên quan đến quan hệ
tranh chấp không phải là chủ thể của quan hệ pháp luật có tranh chấp thì việc
xác định đƣơng sự có sự khác biệt. Nếu có sự chuyển giao quyền yêu cầu thì
ngƣời thế quyền trở thành ngƣời có quyền yêu cầu mới và ngƣời này có
quyền khởi kiện để yêu cầu ngƣời có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ, ngƣời
thế quyền trở thành nguyên đơn. Trong trƣờng hợp chuyển giao nghĩa vụ thì
ngƣời thế nghĩa vụ sẽ trở thành ngƣời có nghĩa vụ mới là bị đơn và phải thực
hiện nghĩa vụ đối với ngƣời có quyền.
Ngoài ra, cũng cần lƣu ý trong các trƣờng hợp các bên trong quan hệ
pháp luật đang có tranh chấp, vi phạm đều có quyền kiện nhau thì ai là ngƣời
khởi kiện trƣớc và đƣợc Tòa án thụ lý vụ án trƣớc ngƣời đó đƣợc xác định là
nguyên đơn, ngƣời kia đƣợc xác định là bị đơn.
- Xác định tư cách của đương sự căn cứ vào sự liên quan về quyền,
nghĩa vụ và thời điểm tham gia tố tụng của đương sự đó.
Căn cứ vào sự liên quan về quyền, nghĩa vụ mà việc giải quyết mối
quan hệ giữa nguyên đơn và bị đơn có liên quan đến quyền và lợi ích của chủ
thể thứ ba thì Tòa án cần xác định chủ thể này với tƣ cách là ngƣời có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Ngoài ra, căn cứ vào thời điểm tham gia tố tụng cũng là cơ sở để xác
định tƣ cách tham gia của đƣơng sự là nguyên đơn hay ngƣời có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan. Ví dụ: một ngƣời đang quản lý di sản thừa kế đã có hành
vi tự ý bán một phần di sản thừa kế mà không có sự đồng ý của các đồng thừa
kế khác. Nếu các đồng thừa kế khác cùng đứng ra khởi kiện ngƣời đó thì Tòa
án xác định các đồng thừa kế đó là nguyên đơn. Tuy nhiên, nếu chỉ một trong
các đồng thừa kế kiện ngƣời tự ý bán di sản thừa kế để yêu cầu giải quyết
tranh chấp thừa kế thì Tòa án xác định ngƣời thừa kế có đơn khởi kiện là
nguyên đơn, ngƣời tự ý bán di sản thừa kế là bị đơn, các đồng thừa kế khác
đƣợc Tòa án triệu tập với tƣ cách là ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

24


Trong một số trƣờng hợp đặc biệt, tƣ cách của đƣơng sự có thể thay
đổi khi mà phạm vi giải quyết của Tòa án có sự thay đổi do đƣơng sự thực
hiện quyền tự định đoạt. Ví dụ: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, nguyên đơn rút
toàn bộ yêu cầu khởi kiện nhƣng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố thì
nguyên đơn sẽ trở thành bị đơn và bị đơn sẽ trở thành nguyên đơn hoặc có
trƣờng hợp có sự thay thế ngƣời không phải là bị đơn đích thực.
Nhƣ vậy, căn cứ vào việc xác định chủ thể có quyền khởi kiện, chủ
thể bị kiện, sự liên quan về quyền và nghĩa vụ với việc giải quyết VADS mà
đƣơng sự trong VADS có những tƣ cách: nguyên đơn; bị đơn; ngƣời có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan trong VADS.
- Nguyên đơn trong VADS là cá nhân, cơ quan tổ chức đi kiện hoặc
đƣợc cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền lợi công cộng. Mặc dù, cũng
tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình nhƣ các đƣơng sự
khác nhƣng việc tham gia tố tụng của nguyên đơn mang tính chủ động hơn các
đƣơng sự khác, thể hiện ở việc họ có thể lựa chọn thời điểm khởi đầu VADS
(thời điểm khởi kiện), giới hạn phạm vi xét xử của Tòa án thông qua đơn khởi
kiện vì "Tòa án chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện" (Điều 5 BLTTDS)
(mặc dù sau này còn có thể có yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu của
những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhƣng những yêu cầu này phải có
quan hệ gần gũi với việc khởi kiện ban đầu), có quyền lựa chọn Tòa án trong
một số trƣờng hợp (Điều 36 BLTTDS). Nguyên đơn là ngƣời cho rằng quyền và
lợi ích của mình, của xã hội đang bị xâm phạm, thông thƣờng họ là một phần
trong quan hệ pháp luật nội dung đang tranh chấp. Là một trong những đƣơng sự
quan trọng của VADS, các quy định về nguyên đơn đã đƣợc đề cập từ rất sớm
trong pháp luật TTDS Việt Nam. Tại Công văn số 05/NCPL ngày 29/6/1966 của
TANDTC có nêu "ngƣời có quyền lợi bị xâm phạm ra trƣớc Tòa án với tƣ cách
là nguyên đơn". Tuy nhiên, quy định này còn hạn chế đó là chỉ giới hạn nguyên
đơn là cá nhân mà không có các thành phần khác nhƣ cơ quan, tổ chức. Tiếp
đó, Công văn số 546/DS ngày 7/7/1967 đã nêu: thông thƣờng khi Viện kiểm

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×