Tải bản đầy đủ

skkn phương pháp vấn đáp trong dạy học môn ngữ văn

Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

A. Đặt vấn đề
I. Lí do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề đã đặt ra từ rất lâu và được
sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà giáo dục, nhất là của các thầy giáo, cô giáo.
Nhưng việc vận dụng đổi mới phương pháp dạy học trong dạy học không phải là
việc dễ dàng thực hiện và đạt được hiệu quả ngay từ đầu. Trước đây, chúng ta
dạy học vẫn theo phương pháp truyền thống với quan niệm : học là quá trình
tiếp thụ và lĩnh hội qua đó hình thành kiến thức, kỹ năng, tư tưởng tình cảm.
Giáo viên(GV) luôn là người truyền thụ toàn bộ những kiến thức, những hiểu
biết của mình về một vấn đề nào đó; còn học sinh(HS) là người ghi nhớ, tiếp thu
mọi lời giảng của GV. Chính vì vậy mà phương pháp đó dẫn đến chỗ HS là
người thụ động và qúa trình nhận thức mang tính chất áp đặt, một chiều. HS học
để đối phó với thi cử và sau khi thi xong những điều đã học thường bị bỏ quên
hoặc ít dùng đến. Hiện nay, phương pháp dạy học truyền thống không còn thích
hợp với mục tiêu giáo dục - đào tạo, hơn thế việc đổi mới chương trình sách
giáo khoa càng cần phải đặt trọng tâm vào việc đổi mới phương pháp dạy học.
Bởi chỉ có đổi mới cơ bản phương pháp dạy học chúng ta mới có thể tạo được
sự đổi mới thực sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo được lớp người năng
động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên

thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức.
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong
Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII(1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa
VIII(1996), được thể chế hóa trong luật giáo dục (2005). Điều 28.2 trong Luật
giáo dục đã ghi : “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,
tự giác chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp
học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến
thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập
cho học sinh “ . Có thể nói cốt lõi của việc đổi mới dạy học là hướng tới hoạt
động học tập chủ động; chống lại thói quen học tập thụ động.
Tuy nhiên, đối với mỗi môn học trong nhà trường tùy theo đặc trưng bộ
môn mà vận dụng việc đổi mới phương pháp sao cho thích hợp, linh hoạt để đạt
mục tiêu cần đạt . Đối với môn Ngữ văn, việc vận dụng phương pháp dạy học
mới vẫn còn hạn chế . GV chỉ say mê khám phá văn bản và khổ công tìm tòi
cách thức lên lớp sao cho hấp dẫn mà không chú ý HS bài đó như thế nào ? Mục
Người thực hiện: Lê Thị Hoa

-

N ăm học: 2012- 2013

1


Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn
đích của giờ dạy học văn theo quan điểm, phương pháp mới không phải người
GV là người truyền thụ lời giảng của mình một cách chủ quan mà mục đích cao
nhất là làm sao để chủ thể HS dưới sự hướng dẫn của GV chủ động khám phá,
tiếp nhận tác phẩm và đồng thời bộc lộ được tình cảm bản thân.
Trong quá trình giảng dạy văn học, có nhiều phương pháp dạy học tích
cực được áp dụng và mỗi phương pháp đều được thử thách qua thời gian. Chẳng
hạn phương pháp thuyết trình; phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết
vấn đề ; phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ; dạy học theo dự án ...
Kết quả của mỗi phương pháp đều có những ưu điểm, nhược điểm riêng. Một
trong những phương pháp dạy học tích cực đưa lại kết quả cao trong học tập,
phát huy được tính chủ thể của HS là phương pháp vấn đáp.
Trong phạm vi bài tập nghiên cứu khoa học này, tôi đi sâu tìm hiểu phương
pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn ở khối trung học phổ thông. Tôi đã
quyết định chọn đề tài này để trước hết là bản thân có điều kiện khái quát nâng
cao chuyên môn sau thời gian nghiên cứu áp dụng và qua đây mong được chia

sẻ với đồng nghiệp cùng quan tâm để góp phần nâng cao chất lượng chuyên
môn và đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn trong phạm vi nhà trường
THPT.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
- Dựa trên một số lí luận cơ bản về triết học, về tâm lí học, về việc đổi
mới phương pháp dạy học văn ... để đề ra một số biện pháp trong phương pháp
dạy học vấn đáp .
- Nhằm mục đích nâng cao chất lượng của giờ học, phát huy tính tích cực,
tự giác chủ động, sáng tạo của HS; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, rèn cho HS bản lĩnh tự tin, khả năng
diễn đạt một vấn đề, gây hứng thú học tập cho HS.
IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tôi đề xuất một số nhiệm vụ của đề
tài:
+ Xác định cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của dạy học vấn đáp (đàm
thoại) .
+ Đề xuất một số biện pháp dạy học vấn đáp trong môn Ngữ Văn.
+ Thực hiện một số công việc trong phương pháp vấn đáp.
Người thực hiện: Lê Thị Hoa

-

N ăm học: 2012- 2013

2


Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn
+ Thiết kế một bài dạy vận dụng phương pháp vấn đáp
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Làm đề tài này, tôi đã vận dụng nhiều phương pháp. Dưới đây là những phương
pháp chủ yếu:
1. Phương pháp thống kê, nêu ví dụ.
2. Phương pháp thực nghiệm qua giảng dạy, dự giờ, bài kiểm tra, bài thi, số
điểm.
3. Phương pháp so sánh.
4. Phương pháp phân loại, phân tích.
5. Phương pháp tổng hợp.

B. Nội dung
CHƯƠNG I : NHỮNG CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA PHƯƠNG PHÁP
VẤN ĐÁP TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN.
1. Cơ sở tâm lí học.
Nhận thức thế giới xung quanh, tìm hiểu những sự vật, hiện tượng xảy ra
xung quanh mình là một nhu cầu không thể thiếu của con người. Đây là một
trong ba mặt cơ bản của đời sống, của tâm lí con người (Nhận thức - Tình cảm
- Hành động). Nhờ có nhận thức mà chúng ta không chỉ phản ánh hiện thực
xung quanh mình mà cả hiện thực của bản thân nữa, không chỉ phản ánh cái bên
ngoài, cái hiện tại mà cả cái bên trong, cái sẽ tới và các quy luật phát triển của
hiện thực.
Mục tiêu của nhà trường phổ thông nói chung và mục tiêu của trường
THPT nói riêng là hình thành nhân cách của HS, phát triển toàn diện và trưởng
thành về mặt xã hội của HS. Trong nhà trường phổ thông, HS được giáo dục
bằng nhiều phương pháp, nhiều ngành học... trong đó bộ môn Ngữ văn được coi
là một môn học chủ công trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách.
Nhân cách là toàn bộ những đặc điểm, phẩm chất tâm lí cá nhân quy định
giá trị xã hội và hành vi của họ. HS là một nhân cách trong chừng mực nào đó
mà các phẩm chất xã hội ở đó được phát triển để nó trở thành chủ thể có ý thức
đối với mọi hoạt động công ích của mình. Như vậy có nghĩa là một trong những
con đường để hình thành và phát triển nhân cách là con đường hoạt động của
chính HS. Con đường tác động có mục đích tự giác của xã hội bằng giáo dục
đến HS sẽ trở nên vô hiệu hoá nếu như HS không tiếp nhận, không hưởng ứng
những tác động đó, không trực tiếp tham gia vào các hoạt động nhằm phát triển
Người thực hiện: Lê Thị Hoa

-

N ăm học: 2012- 2013

3


Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn
tâm lí, hình thành nhân cách. Chính vì vậy qua giờ học vấn vận dụng phương
pháp vấn đáp, HS có dịp bù đắp những tri thức mà mình chưa được biết, chưa
hiểu hoặc hiểu chưa rõ, để tự mình tiếp nhận và hoàn thiện mình về tư tưởng,
đạo đức và hành vi trong học tập và trong cuộc sống.
2. Cơ sở nhận thức.
Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc người nhưng sự
phản ánh này không phải giản đơn, thụ động mà là quá trình biện chứng dựa trên
hoạt động tích cực của chủ thể trong quan hệ đối với khách thể. Nhưng không
phải con người nào cũng đều là chủ thể của nhận thức. Con người trở thành chủ
thể khi nó tham gia vào hoạt động xã hội nhằm biến đổi và nhận thức khách thể.
Trong nhà trường HS chính là chủ thể của hoạt động nhận thức; còn khách thể
chính là những tri thức kinh nghiệm của nền văn minh nhân loại. Theo cơ sở
triết học: con người tự làm ra mình bằng chính hoạt động của mình nhưng cái
quan trọng là làm ra cái đó như thế nào và bằng cách nào?
Đối với môn Ngữ văn HS đến trường để học tập thực chất là để tiếp nhận,
chiếm lĩnh những giá trị của tác phẩm văn chương. Vì mục đích ấy, HS tự đọc
lấy tác phẩm, tự chiếm lĩnh lấy tác phẩm, nắm bắt được cái hồn của tác phẩm.
GV chỉ là người hướng dẫn, chỉ bảo cho HS những hướng tiếp cận tác phẩm sao
cho có hiệu quả nhất, HS từ đó mà tự chiếm lĩnh tác phẩm. Đồng thời cùng với
sự chiếm lĩnh tác phẩm ấy, HS dưới những câu hỏi gợi mở, dẫn dắt của GV mà
trình bày những suy nghĩ, cách hiểu của mình về vấn đề đặt ra trong tác phẩm.
Chính vì những vấn đề đó mà rất cần có một giờ học vấn đáp để qua giờ
học ấy HS có thể khẳng định họ thật sự là những chủ thể sáng tạo trong quá
trình nhận thức bằng chính hoạt động của mình.
3. Cơ sở văn học.
Nếu hình tượng hội hoạ được xây dựng bằng đường nét, màu sắc; âm
nhạc được xây dựng bằng nhịp điệu, giai điệu, âm thanh...thì hình tượng văn học
được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ. Do lấy ngôn từ làm chất liệu cho nên
hình tượng văn học chỉ tác động vào trí tuệ, tâm hồn, tình cảm gợi nên sự liên
tưởng và tưởng tượng trong tâm trí người đọc. Nhờ liên tưởng và tưởng tượng
trên những nét tương đồng giữa thế giới âm thanh và hình ảnh, giữa thế giới hữu
hình và thế giới vô hình trở thành hiện hình qua phương tiện ngôn ngữ.
Thực chất của vấn đề phát huy chủ thể HS trong giờ Ngữ văn là khêu gợi,
kích thích và nuôi dưỡng, phát triển ở HS nhu cầu đồng cảm và khát vọng nhận
Người thực hiện: Lê Thị Hoa

-

N ăm học: 2012- 2013

4


Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn
thức cái mới qua hình tượng, tính cách nhân vật. Và cũng qua đó việc học tác
phẩm văn học thực sự trở thành một hoạt động cá thể hoá sâu sắc đi từ nhận
thức khách quan hình tượng đến chỗ tự nhận thức; do đó có khát vọng sống và
hành động theo nhân vật lí tưởng. Chính vì vậy trong giờ học văn rất cần có sự
trao đổi giữa GV và HS, giữa HS và GV để qua giờ học ấy thu được kết quả cao
hơn và cũng qua giờ học ấy HS có dịp bộc lộ mình, tự khẳng định mình, đồng
thời GV cũng có cơ hội để nắm được trình độ tiếp nhận của HS.
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI
Qua quá trình dạy học, kinh nghiệm của bản thân, quá trình dự giờ của đồng
nghiệp , tôi nhân thấy :
- Một số GV chủ yếu vẫn dạy theo phương pháp dạy học truyền thống:
GV sử dụng các phương pháp diễn giảng truyền thụ toàn bộ những kiến thức
một chiều ; còn HS là người ghi nhớ, tiếp thu mọi lời giảng của GV. Giờ học trở
nên khô khan, trầm, thậm chí căng thẳng, HS tham gia học bài một cách chiếu
lệ. Rõ ràng điều đó dẫn đến chất lượng, hiệu quả giờ học không cao.
- Còn một số GV có vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong
giờ học song chưa hiệu quả, còn hình thức. Chẳng hạn vận dụng phương pháp
vấn đáp : GV đặt ra những câu hỏi yêu cầu HS trả lời song chưa tạo ra được
không khí tranh luận sôi nổi giữa HS với nhau hay giữa HS với GV.
- Một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên là một số GV nhận
thức chưa rõ bản chất của việc dạy học văn. Dạy học văn trong nhà trường
không đơn thuần là giảng văn, phân tích văn học mà là dạy đọc văn bản, đó là
quá trình đối thoại giữa HS, GV và tác giả đằng sau văn bản . Đó là hình thức
giao tiếp, đối thoại vượt thời gian, không gian, không phải là truyền thụ một
chiều. Bên cạnh đó một số GV vẫn còn nhiều ngộ nhận về lí thuyết và lúng túng
trong biện pháp thực thi việc cải cách, đổi mới phương pháp dạy học vấn đáp .
Chẳng hạn các phương pháp đổi mới là gì ? Khi đổi mới phương pháp dạy học
thì vai trò của người thầy có bị hạ thấp không ? Câu hỏi như thế nào là đổi mới?
Bao nhiêu câu hỏi là vừa ?.....
- Ngoài ra, GV chuẩn bị bài dạy chưa thật kĩ, đặc biệt là chưa xây dựng
được hế thống câu hỏi phù hợp với bài dạy, chưa chú ý tới việc chuẩn bị bài học
của HS, chưa phân loại đối tượng HS trong từng lớp ... GV chưa ý thức rõ về
dạng câu hỏi, mức độ yêu cầu của câu hỏi dẫn đến khâu tổ chức dạy học tìm
hiểu bài học thiếu tính khoa học, tình trạng GV hỏi một đằng HS trả lời một nẻo
hoặc trả lời không đúng trọng tâm yêu cầu.
Người thực hiện: Lê Thị Hoa

-

N ăm học: 2012- 2013

5


Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn
Chính vì vậy, vần đề vận dụng đổi mới phương pháp dạy và học văn càng
được quan tâm hơn bao giờ hết đặc biệt là phương pháp vấn đáp. Tuy nhiên,
việc đổi mới phương pháp dạy học văn không có nghĩa là gạt bỏ các phương
pháp truyền thống mà phải vận dụng một cách hiệu quả các phương pháp dạy
học hiện có theo quan điểm dạy học tích cực kết hợp các phương pháp hiện đại.
CHƯƠNG III: NỘI DUNG DẠY HỌC VẤN ĐÁP (ĐÀM THOẠI).
I. QUAN NIỆM VỀ DẠY HỌC VẤN ĐÁP (ĐÀM THOẠI).
1. Thế nào là phương pháp vấn đáp?
Phương pháp vấn đáp là phương pháp trong đó GV đặt ra các câu hỏi để
HS trả lời , hoặc tranh luận với nhau và với cả GV, qua đó HS lĩnh hội được nội
dung bài học. Phương pháp vấn đáp, đàm thoại khác với thuyết trình ở chỗ nội
dung cần truyền thụ không được thể hiện qua lời giảng của người dạy mà được
thực hiện bởi hệ thống câu trả lời của người học, dưới sự gợi mở bởi các câu hỏi
của người dạy đề xuất. Các câu hỏi này được tổ chức thành một hệ thống phù
hợp với nội dung bài học, đối tượng HS.
2. Mục đích và yêu cầu của phương pháp vấn đáp
Mục đích của phương pháp vấn đáp là nâng cao chất lượng giờ học bằng
cách tăng cường hình thức hỏi đáp, đàm thoại giữa GV và HS, rèn cho HS lĩnh
tự tin, khả năng diễn đạt một vấn đề trước tập thể. Muốn thực hiện điều đó, đòi
hỏi GV phải xây dựng được hệ thống câu hỏi phù hợp với yêu cầu bài học, hấp
dẫn, sát đối tượng, xác định được vai trò chức năng của từng câu hỏi, mục đích
hỏi , các yếu tố kết nối hệ thống câu hỏi. Câu hỏi phải khơi gợi được hứng thú
tham gia hoạt động của HS và phải được chuẩn bị một cách chu đáo và thực sự
khoa học, không thể tùy hứng, vụn vặt, thiếu hệ thống, đặc biệt là không có tác
dụng dẫn dắt HS thâm nhập và cắt nghĩa văn bản. Câu hỏi không cần nhiều
nhưng phải là những câu hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt, có tình huống
buộc HS phải suy nghĩ và có hứng thú bộc lộ cảm nghĩ của mình. Ngoài ra
người GV cần dự án các phương án trả lời của HS để có thể thay đổi hình thức,
cách thức mức độ hỏi, có thể dẫn dắt qua các câu hỏi phụ tránh đơn điệu nhàm
chán, nặng nề bế tắc; tạo hứng thú học tập cho HS và tăng hấp dẫn của giờ học .

Người thực hiện: Lê Thị Hoa

-

N ăm học: 2012- 2013

6


Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn
3. Các nhân vật tham gia trong giờ học vấn đáp.
a. Giáo viên trong giờ học vấn đáp.
Thực tế cho thấy, trong một thời gian dài trước khi cải cách giáo dục người
ta đã từng quan niệm học văn là một quá trình thầy đọc, giảng, cảm thụ còn trò
chỉ là những cỗ máy ghi chép. Theo cách dạy học truyền thống, người giáo viên
trong giờ học là người quyết định một cách toàn diện chất lượng dạy học và
được coi là chủ thể của hoạt động dạy. Thế nhưng, trước yêu cầu ngày càng cao
của xã hội và sự bùng nổ về tri thức, thông tin đã đặt người học trước một nhiệm
vụ mới khó khăn hơn. Bản chất của sự học ngày nay đã thay đổi. Học bao giờ
cũng phải đi đôi với hành “học và hành phải kết hợp chặt chẽ…phải gắn liền
với thực tế những đòi hỏi của dân tộc, xã hội” giáo viên không còn đóng vai trò
đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, GV trở thành người thiết kế, tổ chức,
hướng dẫn các hoạt động độc lập, hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm
lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo
yêu cầu của chương trình. Điều này đòi hỏi người giáo viên phải đầu tư công
sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mời có thể thực hiện bài
lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong
các hoạt động tìm tòi tranh luận của HS. GV phải có trình độ chuyên môn sâu,
rộng, có trình độ sư phạm mới có thể tổ chức hướng dẫn các hoạt động của HS.
Với giờ đọc - hiểu văn bản Ngữ văn, GV là người điều khiển, hướng dẫn để
HS tự khám phá ra vẻ đẹp của văn bản văn học. Người GV phải chuẩn bị kĩ nội
dung bài học như xác định rõ mục tiêu bài học, tiến trình tổ chức dạy học . Đặc
biệt là quá trình tổ chức hướng dẫn dạy - học bài mới. GV phải xây đựng được
một hệ thống câu hỏi vấn đáp phù hợp với nội dung bài học. Câu hỏi phải khơi
gợi được hứng thú tham gia hoạt động của HS và phải được chuẩn bị một cách
chu đáo và thực sự khoa học, không thể tùy hứng, vụn vặt, thiếu hệ thống, đặc
biệt là không có tác dụng dẫn dắt HS thâm nhập và cắt nghĩa văn bản. Câu hỏi
không cần nhiều nhưng phải là những câu hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt,
có tình huống buộc HS phải suy nghĩ và có hứng thú bộc lộ cảm nghĩ của mình.
Có thể nói xây dựng được hệ thống câu hỏi vấn đáp có chất lượng có tác dụng
gợi dẫn HS thâm nhập khám phá tác phẩm là một nghệ thuật đòi hỏi sự công
phu và tài năng thực sự của GV.
Theo kinh nghiệm của tôi, đối với mỗi câu hỏi, người GV phải xác định được
mức độ, mục đích, nội dung và hình thức câu hỏi, cũng như tính hệ thống, dẫn
dắt của môĩ câu hỏi. Cũng phải lưu ý một điều là tùy vào tình huống thực tế, vào
đối tượng HS mà người GV có thể thay câu hỏi hoặc bổ sung các câu hỏi cho
Người thực hiện: Lê Thị Hoa

-

N ăm học: 2012- 2013

7


Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn
phù hợp với tình huống, đối tượng HS và mục tiêu bài học. Chẳng hạn, đứng
trước một vấn đề mà HS khó phát hiện cũng như khó trả lời, người GV cần có
câu hỏi gợi mở để từ đó giúp HS có sự định hướng và trả lời.
b. Học sinh trong giờ học vấn đáp.
Trong cơ chế dạy học văn theo lối cũ, mối liên hệ giữa GV và HS là mối
liên hệ giữa người giảng với người nghe, người truyền thụ với người tiếp thu,
người đưa thông tin với người tiếp nhận, người trình bày với người ghi nhớ.
Như vậy những năng lực chủ quan của bản thân HS không được phát huy. Trong
giờ học văn, HS chỉ có nhiệm vụ, nghe nhớ, và lặp lại điều đã nhớ được qua lời
giảng của GV. HS được xem như là khách thể, một đối tượng thụ động chịu sự
tác động của GV, của tài liệu, của tiến trình giảng dạy mà không thấy rõ HS
cũng là chủ thể năng động trong tiến trình tổ chức dạy học.
Tư tưởng đổi mới dạy học văn hiện nay là coi trọng, chú trọng đến người
học, là phát huy cao độ tiềm năng sáng tạo của người học. Do đó, khi dạy một
bài Ngữ văn, GV không chỉ chú trọng đến văn bản, đến việc dạy cái gì và cách
dạy như thế nào mà còn phải chú ý tới người học sẽ học như thế nào. Sai lầm lâu
nay của cách dạy học cũ là GV chỉ say mê khám phá văn bản và khổ công tìm
tòi cách thức lên lớp sao cho hấp dẫn mà không chú ý HS học bài đó như thế
nào. Xác định đúng đắn vai trò của HS như là một chủ thể cảm thụ trong giờ dạy
học văn sẽ đưa đến những đổi mới cơ bản trong phương pháp dạy học văn.
Trong giờ đọc hiểu văn bản, khi GV vận dụng phương pháp vấn đáp gợi
mở dẫn dắt, HS không chỉ tự cảm thụ, rung cảm, cảm xúc trước cái hay, cái đẹp
mà còn được trao đổi, thảo luận với bạn bè, được tiếp thu tri thức mới và được
tự do phát biểu những suy nghĩ, sáng kiến của mình. Với hệ thống câu hỏi phát
vấn trong giờ học Văn, GV có thể phát huy những năng lực tư duy và phẩm chất
trí tuệ của từng HS. Năng lực độc lập, tự làm việc, óc tìm tòi suy nghĩ, thói quen
giao tiếp xã hội của HS được phát huy một cách tích cực.
Như vậy, trong giờ văn theo phương pháp vấn đáp HS luôn là một chủ thể
trực tiếp tiếp nhận, chiếm lĩnh tác phẩm cũng như GV. Người GV không cảm
thụ hộ mà là người đứng ra tổ chức quá trình HS tiếp nhận, chiếm lĩnh văn bản
văn học. Từ đó, HS được rèn luyện và phát triển một số kĩ năng tự tiếp nhận
văn bản văn học cũng như các vấn đề trong cuộc sống.

Người thực hiện: Lê Thị Hoa

-

N ăm học: 2012- 2013

8


Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn
II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VẤN ĐÁP
- Trong giờ học văn, GV phải là người điều khiển, hướng dẫn để HS tự
khám phá ra vẻ đẹp của văn bản văn học. HS là một chủ thể trực tiếp tiếp nhận,
chiếm lĩnh tác phẩm. HS có điều kiện phát huy những khả năng mới vốn tiềm ẩn
mà lâu nay bản thân các em chưa khám phá, bộc lộ hoặc còn rụt rè, lúng túng...
Từ đó, tạo cho các em sự mạnh dạn, tự tin khi diễn đạt một vấn đề trước tập thể.
- GV cần phải nắm vững bản chất của phương pháp vấn đáp, đặc biệt là
phải phân biệt được các loại, mức độ vấn đáp để từ đó xây dựng hệ thống câu
hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt, có tình huống, khơi gợi được hứng thú
tham gia hoạt động của HS, phù hợp với nội dung bài học .
Qua tài liệu tham khảo và kinh nghiệm của bản thân, tôi nhận thấy có ba
phương pháp (mức độ) vấn đáp: Vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích chứng
minh và vấn đáp tìm tòi, phát hiện, sáng tạo
II.1. Vấn đáp tái hiện : Đây là phương pháp GV đặt ra câu hỏi yêu cầu
HS chỉ cần nhớ lại và tái hiện nội dung bài học. Đây là dạng vấn đáp ở mức độ
bình thường, không đòi hỏi HS phải tư duy mà chỉ cần huy động trí nhớ hoặc
dựa vào văn bản văn học.
Ví dụ 1: GV cho HS tìm hiểu phần tiểu dẫn của đoạn trích Việt Bắc, có
thể đặt câu hỏi: Nêu hoàn cảnh ra đời của bài ? HS dựa vào tiểu dẫn trả lời:
Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Tháng 7- 1954, Hiệp định Giơ-nevơ về Đông Dương được kí kết. Hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải
phóng và bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới . Tháng 10- 1954, những người
kháng chiến từ căn cứ miền núi về miền xuôi, nhân sự kiện có tính lịch sử ấy Tố
Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc.
Ví dụ 2: Khi hướng dẫn HS tìm hiểu những phát hiện của người nghệ sĩ
nhiếp ảnh trongvăn bản Chiếc thuyền ngoài xa(Nguyễn Minh Châu) , GV đặt
câu hỏi vấn đáp tái hiện : Tuy nhiên, ngay khi tâm hồn bay bổng trong những
cảm xúc thẫm mỹ, đang tận hưởng cái khoảng khắc trong ngần của tâm hồn thì
người nghệ sĩ nhiếp ảnh đã kinh ngạc phát hiện ra điều gì tiếp theo ngay sau
bức tranh ? Tâm trạng người nghệ sĩ khi đó như thế nào? .
HS tái hiện : Bước ra từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ là một người
đàn bà xấu xí, mệt mỏi ; một gã đàn ông to lớn, dữ dằn ; một cảnh tượng tàn
nhẫn: gã chồng đánh đập vợ một cách thô bạo ... đứa con thương mẹ đã đánh lại
cha để rồi nhận lấy hai cái bạt tai của bố ngã dúi xuống cát...Chứng kiến cảnh
tượng đó người nghệ sĩ Phùng kinh ngạc đến thẫn thờ. Người nghệ sĩ như chết
lặng, không tin vào những gì đang diễn ra trước mắt.
Người thực hiện: Lê Thị Hoa

-

N ăm học: 2012- 2013

9


Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn
⇒ Vấn đáp tái hiện có thể xem là bước đầu khi đi sâu tìm hiểu, khám phá,
phát hiện giá trị của văn bản văn học. Đây còn là cơ sở để giáo viên đặt ra
những câu hỏi nêu vấn đề nhằm hướng dẫn, giúp HS phát hiện giá trị, vẻ đẹp
của văn bản văn học.
II.2. Vấn đáp giải thích, chứng minh . GV phải xây dựng hệ thống câu
hỏi yêu cầu HS phải tư duy, biết vận dụng các thao tác lập luận giải thích(dùng
lí lẽ, lí giải nội dung, bản chất của vấn đề để mọi người cùng hiểu vấn đề ), phân
tích, chứng minh ( chia tách đối tượng thành từng khía cạnh, từng phần xem xét
đánh giá, kết hợp dùng dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề, đối tượng ).
Với phương pháp này, GV tổ chức hướng dẫn HS đi sâu khám phá các
giá trị của tác phẩm văn học nay bản chất vấn đề của bài học . Tuy nhiên vấn đề
đặt ra là GV xây dựng hệ thống câu hỏi vấn đáp giải thích, chứng minh như thế
nào để hấp dẫn HS đồng thời đảm bảo được mục tiêu cần đạt. Theo kinh nghiệm
của bản tôi, người GV nên căn cứ vào mục tiêu cần đạt kết hợp với hệ thống câu
hỏi Hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa, thể loại văn bản, dung lượng bài
học. Ngoài ra, còn phải chú ý đến đối tượng HS từng lớp, từng nhóm, thậm chí
từng cá nhân trong lớp trong lớp về các mặt như lứa tuổi, tâm sinh lý, trình độ,
vốn sống, khả năng nhận thức, khả năng diễn đạt... Trên cơ sở đó GV xây dựng
hệ thống câu hỏi vấn đáp .
Chẳng hạn khi tìm hiểu vẻ hung bạo của con sông Đà trong tùy bút
“Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân, GV nêu câu hỏi: có ý kiến nhận xét
cho rằng : Nguyễn Tuân đã có sự quan sát công phu, tìm hiểu kĩ càng để khắc
họa sự hung bạo trên nhiều dạng vẻ. Em có đồng ý với ý kiến trên không? Vì
sao ?.
HS thảo luận rồi trả lời: Đúng là Nguyễn Tuân đã có sự quan sát công phu, tìm
hiểu kĩ càng để khắc họa sự hung bạo trên nhiều dạng vẻ . Từ đó, HS vận dụng
thao tác giải thích, chứng minh để làm sáng tỏ vấn đề. Kết quả HS trả lời : Sông
Đà được miêu tả chỗ thì chẹt lại như chiếc yết hầu. Lại có những quãng sông
hàng cây số của một thế giới đầy gió gùn ghè, đá giăng đến chân trời và sóng
bọt tung trắng xóa... Tả cái hút nước quãng Tà Mường Vát, những cái hút nước
xoáy tít lôi tuột mọi vật xuống đáy sâu... Những trùng vi thạch trận sẵn sàng
nuốt chết con thuyền và người lái. .. Âm thanh luôn thay đổi...
Chẳng hạn khi tìm hiểu dáng vẻ, diện mạo con sông Hương phía thượng
nguồn trong bút kí : Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường ,
GV nêu câu hỏi : Tại sao nói : Sông Hương tựa như “một bản trường ca của
rừng già” với nhiều tiết tấu hùng tráng, dữ dội. HS căn cứ vào văn bản suy
Người thực hiện: Lê Thị Hoa

-

N ăm học: 2012- 2013

10


Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn
ngẫm thảo luận trả lời : Sông Hương tựa như “một bản trường ca của rừng
già” với nhiều tiết tấu hùng tráng, dữ dội : khi “ rầm rộ giữa bóng cây đại
ngàn”, lúc “ mãnh liệt vượt qua ghềnh thác”, khi “ cuộn xoáy như cơn lốc vào
những đáy vực sâu”, lúc “ dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi
màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. Sông Hương hiện ra tựa “Cô gái Digan phóng
khoáng và man dại” với một “bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong
sáng”.
II.3. Vấn đáp tìm tòi, phát hiện, sáng tạo: Đây là dạng câu hỏi vấn đáp
đòi hỏi HS không chỉ biết giải thích, chứng minh mà hơn thế phải biết khái quát,
phát hiện ra bản chất của vấn đề, tầng lớp nghĩa ẩn của văn bản văn học, hơn thế
HS phát hiện ra những tầng nghĩa mới. Vận dụng những câu hỏi vấn đáp ở mức
độ này, đòi hỏi GV phải lưu ý tới mục đích, hình thức hỏi tránh đưa ra những
câu hỏi mang tính chất đánh đố HS, đặc biệt phải chú ý tới đối tượng tiếp nhận
(HS khả năng nhận thức, tư duy) . Khi đặt ra câu hỏi này GV thường hướng tới
đối tượng là HS khá, giỏi nhằm phát huy khả năng nhận thức, tư duy, sáng tạo
của các em. Tuy nhiên GV có thể đưa ra câu hỏi dẫn dắt gợi mở nhằm giúp các
em có sức học trung bình cũng có thể khám phá, phát hiện và trả lời.
Chẳng hạn khi tìm hiểu mạch cảm xúc, bố cục của văn bản văn học GV
nên đặt câu hỏi dạng này . Ví dụ khi tìm hiểu bố cục bài thơ Tây Tiến(Quang
Dũng), GV nêu câu hỏi : Sau khi nghe xong bài thơ, em hãy căn cứ vào mạch
cảm xúc của bài thơ cho biết bài thơ chia thành mấy đoạn ? Nêu nội dung
chính của từng đoạn ? HS suy ngẫm, thảo luận và trả lời : theo mạch cảm xúc,
bài thơ có thể chia làm 4 đoạn( 4 khổ)
+ Khổ 1: Nhớ núi rừng Tây Bắc, nhớ con đường hành quân.
+ Khổ 2: Nhớ những kỉ niệm về cuộc sống và con người nơi núi rừng
Tây Bắc.
+ Khổ 3: Nhớ đoàn quân Tây Tiến.
+ Khổ 4: Lời thề quyết tâm chiến đấu và lời thề không thể nào quên “
Tây Tiến”
Ví dụ: khi phân tích, tìm hiểu hình tượng rừng xà nu trong tác phẩm cùng
tên của Nguyễn Trung Thành, GV đặt câu hỏi : Ngoài ý nghĩa tạo ra không
gian xác định cho truyện, đem lại chất Tây Nguyên đậm đà cho câu chuyện,
Rừng xà nu, cây xà nu còn mang ý nghĩa nào khác? (có thể gợi mở : có ý kiến
cho rằng cây xà nu còn mang nghĩa tượng trưng. Em có đồng ý với ý kiến trên
không ? Tại sao ? ). Câu hỏi này đòi hỏi HS phải suy ngẫm tìm tòi, phát hiện

Người thực hiện: Lê Thị Hoa

-

N ăm học: 2012- 2013

11


Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn
trên cơ sở những đặc tính của cây xà nu, sự gắn bó mật thiết của nó với nhân dân
Tây Nguyên. Sau một thời gian tìm thảo luận HS trả lời :
Cây xà nu là biểu tượng cho cuộc sống và phẩm chất cao đẹp của người
Xô Man:
+ Cây xà nu chịu thương tích, chết chóc bởi quân thù tàn bạo cũng như
dân làng Xô Man bị chúng giết hại ( Anh Xút, bà Nhan; mẹ con Mai) hoặc phải
mang thương tật suốt đời như anh Tnú.
+ Cây xà nu có sức sống mãnh liệt. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã
có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên
bầu trời ... chúng ham ánh sáng và khí trời, cũng như các thế hệ người Xô Man
kế tiếp nhau đứng dậy chiến đấu kiên cường bất khuất giành lấy sự sống, tự do.
Ví dụ: sau khi hướng dẫn HS tìm hiểu cuộc đời, thân phận nô lệ tăm tối
của nhân vật Mị khi sống trong nhà thống lí(Vợ chồng A Phủ-Tô Hoài) GV đưa
ra câu hỏi vấn đáp tìm tòi : Phải chăng nhà văn Tô Hoài chỉ dừng lại ở cuộc đời
tủi nhục, nô lệ của Mị. Tô Hoài đã phát hiện ra điều gì ở Mị khi sống trong nhà
thống lí ? Câu hỏi có tình chất nêu vấn đề đòi hỏi HS phải tìm tòi, phát hiện :
Tô Hoài không dừng lại ở cuộc đời tủi nhục, nô lệ của Mị mà đã đi sâu khám
phá và phát hiện ra đằng sau cuộc đời tăm tối, tủi nhục kia vẫn tiềm ẩn một cô
Mị ham sống , khát khao tự do hạnh phúc. Từ đó GV tổ chúc hướng dẫn HS đi
sâu phát hiện sức sống tiềm tàng của Mị qua những biểu hiện, chi tiết...
Chẳng hạn khi sau khi GV hướng dẫn HS tìm hiểu những phát hiện bất
ngờ về nghệ thuật cũng như cuộc đời của nghệ sĩ Phùng, GV nêu câu hỏi tìm
tòi ; Qua hai phát hiện của nghệ sĩ Phùng, Nguyễn Minh châu muốn người đọc
nhận thức điều gì về cuộc đời ? HS phát hiện ra ý tưởng nghệ thuật của nhà
văn : cuộc đời không đơn giản, xuôi chiều mà chứa đựng nhiều nghịch lí. Cuộc
sống luôn tồn tại những mặt đối lập, những mâu thuẫn : đẹp - xấu , thiện- ác ...
- Trong quá trình tổ chức, điều khiển, hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản
văn học, GV phải biết vận dụng kết hợp một cách linh hoạt, sáng tạo các loại
câu hỏi vấn đáp trong từng bài học, từng tình huống, đối tượng HS nhằm phát
huy tính tích cực, tự giác chủ động, sáng tạo của HS..
- Để tổ chức một giờ học vấn đáp hoàn chỉnh trong dạy văn, theo tôi, GV
có thể tiến hành theo một số bước cơ bản sau đây:
* Thứ nhất: xác định vấn đề cần vấn đáp (đàm thoại). Thông qua việc
hướng dẫn đọc, GV phải hướng dẫn hay gợi ý cho HS những chi tiết, hình ảnh
tiêu biểu chứa đựng nội dung bao quát cơ bản để trong quá trình đọc HS cảm
nhận được vấn đề mình cần phải trả lời hay tìm hiểu trong giờ học đó. Vấn đề
Người thực hiện: Lê Thị Hoa

-

N ăm học: 2012- 2013

12


Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn
đưa ra vấn đáp với HS có khi chỉ là một hình ảnh, một chi tiết, một khía cạnh
nội dung hay một nhân vật nào đó trong tác phẩm. Nhưng chi tiết hoặc hình ảnh
đó phải tiêu biểu, đóng vai trò then chốt mà qua đó giúp HS nắm được tư tưởng
của đoạn trích hoặc tác phẩm.
* Thứ hai: hướng dẫn học sinh vấn đáp. Đây là một việc làm quan trọng
của GV trong giờ học văn. Khi đã đưa ra một hệ thống câu hỏi, nếu học sinh
không thể tìm ra câu trả lời ngay được thì người GV cần phải dẫn dắt, gợi mở
vấn đề bằng những câu hỏi phụ để từ đó HS tìm ra ý cho câu hỏi chính. Trong
thực tế, HS có thể nắm được nhiều các chi tiết của tác phẩm nhưng chưa biết kết
nối các chi tiết đó để có thể rút ra được các nhận định đánh giá. Đây cũng là lý
do khiến các em rụt rè khi trả lời, vì vậy đòi hỏi GV gợi mở, dẫn dắt.
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.
Khi sử dụng nhuần nhuyễn phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ
văn kết quả chất lượng HS trong lớp tôi dạy đã tiến bộ rõ rệt
- Trong giờ học Văn không khí học tập sôi nổi, đã có sự cộng hưởng cảm
xúc giữa nhà văn - HS - GV. HS tích cực trao đổi thảo luận, hăng hái xung
phong phát biểu xây dựng bài. HS thực sự hứng thú khi được học môn Văn và
tiếp xúc với các tác phẩm văn học. Chất lượng, hiệu quả giờ học được nâng cao
rõ rệt.
- HS được rèn luyện nhiều về tư duy mới trong thảo luận phát vấn đáp,
được rèn luyện cách diễn đạt trình bày phát biểu; các em tỏ ra chủ động, tự tin,
linh hoạt khi diễn đạt trước tập thể. Qua đó, đã hình thành được một số kĩ năng
tự tiếp nhận, chiếm lĩnh tác phẩm văn học cho HS.

Người thực hiện: Lê Thị Hoa

-

N ăm học: 2012- 2013

13


Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn
C. KẾT LUẬN
Áp dụng phương pháp vấn đáp (đàm thoại) trong dạy học môn Văn ở
trường phổ thông là một việc làm cần thiết để nhằm nâng cao chất lượng HS.
Phương pháp dạy học nào thì cũng có mặt tích cực và hạn chế của nó. Nhưng
nói chung theo phương pháp dạy học mới hiện nay lấy HS làm trung tâm thì
việc dạy học theo phương pháp vấn đáp mang lại thành công nhiều hơn.
Việc áp dụng phương pháp vấn đáp vào trong dạy học bộ môn Ngữ Văn
có tác dụng rất lớn trong việc phát triển trí tuệ, tâm hồn của HS, rèn luyện kỹ
năng, phát huy sáng tạo của HS, phát huy hướng tìm tòi, phát hiện trong quá
trình học của HS. Nhưng với phương pháp này đôi khi cũng có hạn chế đối với
các lớp HS yếu, dễ gây mất thời gian.
Mỗi phương pháp đều có thế mạnh riêng. Người GV là người tổ chức hoạt
động dạy và học, vì vậy phải biết tận dụng sức mạnh của mỗi phương pháp để từ
đó đạt hiệu quả cao trong học tập và giảng dạy. Có người đã từng nói: Từ trong
nước chảy ra sẽ là nước, từ trong máu chảy ra sẽ là máu. Người GV phải biết
xuất phát từ cái tâm, sự nhiệt huyết của mình để làm tròn sứ mệnh thiêng liêng
kết nối trái tim với trái tim. Trái tim sẽ mách bảo cách dạy sao cho mỗi ngày,
mỗi tiết thật sự bổ ích và hấp dẫn.
D. Ý KIẾN ĐỀ NGHỊ VẬN DỤNG KINH NGHIỆM.
Thực hiện quá trình đổi mới phương pháp dạy học là công việc phức
tạp, đòi hỏi nhiều công sức tâm huyết của mỗi GV chúng ta. Trong quá trình
thực hiện, đổi mới đòi hỏi phải có sự kết hợp đồng bộ giữa nhiều cấp độ. Chính
vì vậy, tôi xin nêu một vài kiến nghị đề nghị tới các cấp như sau:
- Sở giáo dục nên tiếp tục tổ chức các đợt học tập chuyên đề và tập trung
nhiều hơn đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và tạo điều kiện để các cụm
tổ chức trao đổi kinh nghiệm về phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng
và các bộ môn khác trong nhà trường nói chung.
- Ban chuyên môn nhà trường tiếp tục tăng cường kiểm tra dự giờ thường
xuyên để động viên, thúc đẩy GV đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất
lượng giáo dục.
- Tổ nhóm chuyên môn và mỗi người thầy chúng ta cần quan tâm đúng
mức tới công việc vận dụng việc đổi mới phương pháp dạy học, không chủ quan
Người thực hiện: Lê Thị Hoa

-

N ăm học: 2012- 2013

14


Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn
ỷ vào kinh nghiệm, khả năng dạy vốn có; nếu không chính chúng ta là người lạc
hậu trì trệ.
- Đối với mỗi GV : phải thường xuyên học tập, học hỏi để nâng cao trình
độ chuyên môn, tích cực chủ động đổi mới phương pháp dạy học, tích lũy kinh
nghiệm dạy học.
Trên đây là một vài kinh nghiệm và ý kiến nhỏ của tôi, tất nhiên không
tránh khỏi thiếu sót, rất mong đồng nghiệp chia sẻ và bổ sung, .
Xin chân thành cảm ơn!.
Thanh Hóa, ngày 20 tháng 04 năm 2013
Người viết

Lê Thị Hoa

Người thực hiện: Lê Thị Hoa

-

N ăm học: 2012- 2013

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×