Tải bản đầy đủ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ CỦA HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2011 2015 (Bài NCKH đạt 97/100đ)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:

Công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã của
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015

Thái nguyên, tháng 03 năm 2016

1


MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU..........................................................................................7
1. Lý do chọn đề tài...........................................................................................7
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu...............................................................8
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu...............................................................10
3.1. Mục tiêu nghiên cứu.................................................................................10
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...............................................................10
4.1. Đối tượng nghiên cứu...............................................................................10
4.2. Phạm vi nghiên cứu..................................................................................11
5. Vấn đề nghiên cứu.......................................................................................11

Công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã của huyện Phú Bình hiện
nay được thực hiện như thế nào? Cần có những giải pháp nào để nâng cao
chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã của huyện Phú
Bình, tỉnh Thái Nguyên...................................................................................11
6. Giả thuyết nghiên cứu.................................................................................11
7. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................12
7.1. Phương pháp thu thập thông tin...............................................................12
7.2. Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp...............................................12
8. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài.....................................................................12
9. Bố cục đề tài................................................................................................13
B: PHẦN NỘI DUNG.....................................................................................14
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ
BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC XÃ CỦA HUYỆN PHÚ BÌNH.......................14
1.1. Tiếp cận vấn đề đào tạo và bồi dưỡng công chức.................................................................14
2.1. Khái quát về huyện Phú Bình................................................................................................25
2.2. Số lượng và chất lượng công chức cấp xã của huyện Phú Bình.............................................26
Bảng 2.1. Thống kê số lượng và chất lượng công chức cấp xã của huyện Phú Bình.....................27

2


Bảng 2.2. Thực trạng xác định nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã giai đoạn 20112015.............................................................................................................................................34
Bảng 2.3. Tổ chức công tác đào tạo công chức cấp xã giai đoạn 2011-2015................................40
Bảng 2.4. Tổ chức lớp bồi dưỡng công chức cấp xã giai đoạn 2011-2015....................................43
2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã......................48
2.6. Khuyến nghị..........................................................................................................................53

KẾT LUẬN.....................................................................................................56
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................58

3


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT

CHỮ CÁI VIẾT TẮT

CỤM TỪ ĐẦY ĐỦ


1

ĐTBD

Đào tạo bồi dưỡng

2

CC

Công chức

3

UBND

Ủy ban nhân dân

4

TTg

Thủ tướng

5

HĐND

Hội đồng nhân dân

6

TW

Trung ương

7

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

8

NĐ- CP

Nghị định- Chính phủ

9

CT- XH

Chính trị- Xã hội

10

CNH – HĐH

Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

11

CCHC

Cải cách hành chính

12

TCLLCT

Trung cấp lý luận Chính trị

13

TH.S

Thạc sỹ

14

ĐH

Đại học

15



Cao đẳng

16

TC

Trung cấp

17

SC

Sơ cấp

18

THPT

Trung học phổ thông

19

THCS

Trung học cơ sở

20

TH

Tiểu học

21

CC

Chứng chỉ

22

TH

Tin học

4


DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1. Thống kê số lượng và chất lượng công chức cấp xã của huyện Phú
Bình.................................................................................................................27
Bảng 2.2. Thực trạng xác định nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp
xã giai đoạn 2011-2015...................................................................................34
Bảng 2.3. Tổ chức công tác đào tạo công chức cấp xã giai đoạn 2011-2015. 40
Bảng 2.4. Tổ chức lớp bồi dưỡng công chức cấp xã giai đoạn 2011-2015.....43

5


DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ: 2.1. Mức độ đào tạo và bồi dưỡng phù hợp với vị trí.......................30
việc làm công việc..........................................................................................30
Biểu đồ 2.2. Mức độ nắm bắt kiến thức của công chức cấp xã.......................32
Biểu đồ 2.3. Nhu cầu mong muốn tham gia các khóa học của........................35
công chức cấp xã chưa qua qua đào tạo.........................................................36

6


A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng nhất, yếu tố
quyết định trong phát triển của mỗi cơ quan, đơn vị và mỗi địa phương.Công
chức cấp xã là bộ phận đặc thù, liên quan trực tiếp đến nhân dân do vậy việc
phát triển nguồn nhân lực có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ chăm lo đời sống nhân dân.
Trong điều kiện kinh tế thế giới không ngừng biến đổi, xu thế hội nhập
WTO ngày càng sâu rộng và cạnh tranh ngày càng găy gắt và khốc liệt thì nguồn
nhân lực là yếu tố quyết định đến thành công của một tổ chức.
Chính quyền hành chính cấp xã có vị trí, vai trò quan trọng trong hệ
thống chính trị, là nơi truyền tải mọi chủ trương, đường lối của Đảng chính
sách của Nhà nước đến ngươì dân. Do đó cần phải có một đội ngũ công chức
đủ bản lĩnh chính trị, có đạo đức cách mạng và trang bị những kiến thức cơ
bản về chuyên môn nghiệp vụ, quản lý Nhà nước, lý luận chính trị….Để đáp
ứng yêu cầu công việc đòi hỏi các cơ quan hành chính nhà nước phải nâng
cao chất lượng đội ngũ công chức. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ "Cán
bộ là cái gốc của mọi công việc" "Công việc thành công hay thất bại đều do
cán bộ tốt hay kém". Thật vậy câu nói đấy của Bác vẫn luôn là tư tưởng chỉ
đạo để các thế hệ mai sau học hỏi và noi gương.
Phú Bình là một huyện trung du miền núi của tỉnh Thái nguyên, có điều
kiện tự nhiên rất thuận lợi để phát triển kinh tế, xã hội. Hiện nay công tác đào
tạo và bồi dưỡng chính quyền cấp xã của huyện Phú Bình hoạt động ngày
càng có hiệu lực và hiệu quả.Trong những năm qua huyện Phú Bình đặc biệt
chú trọng đến công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã nên đạt được
những kết quả to lớn như sau: 96,3% công chức cấp xã có trình độ chuyên
môn từ trung cấp trở lên phù hợp với chức danh đảm nhiệm theo tiêu chuẩn
quy định; 92% công chức cấp xã thực hiện bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu hàng
7


năm về chuyên môn, nghiệp vụ chức danh đảm nhiệm.; 87% công chức cấp
xã có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên; 100% công chức cấp xã được
bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, điều hành theo vị trí công
việc; 100% người hoạt động không chuyên trách được bồi dưỡng kiến thức
quản lý Nhà nước, lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ đối với chức danh
đảm nhiệm.
Bên cạnh những thành tự đạt được thì công tác đào tạo và bồi dưỡng
công chức vẫn còn một số bất cập như sau: Đào tạo và bồi dưỡng công chức
chưa đồng bộ giữa số lượng, chất lượng và cơ cấu, nội dung đào tạo, bồi
dưỡng còn thiếu cân đối giữa việc trình độ lý luận chính trị với kỹ năng
chuyên môn nghiệp vụ; một số lĩnh vực chưa sâu, còn nhiều lý thuyết, ít kiến
thức thực tiễn; chưa quan tâm nhiều đến đào tạo kiến thức quản lý chuyên
ngành, lĩnh vực; việc mở các lớp bồi dưỡng theo chuyên đề có phần hạn chế.
Chất lượng đào tạo (nhất là hệ tại chức) chưa cao, một số công chức đang
chạy theo bằng cấp. Đào tạo chưa gắn liền với quy hoạch, đào tạo và sử dụng
chưa ăn khớp với nhau.Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác đào tạo và bồi
dưỡng công chức còn thiếu thốn, chưa đáp ứng được yêu cầu, khu vực ăn
uống và nghỉ ngơi của công chức còn nhiều hạn chế.
Xuất phát từ những lý do trên,tác giả chọn đề tài “Công tác đào tạo và
bồi dưỡng công chức cấp xã của huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”, làm
đề tài nghiên cứu khóa luận của mình. Thông qua việc nghiên cứu đề tài,
đồng thời chỉ ra những hạn chế của công tác này. Từ đó làm tiền đề góp phần
đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị góp phần nâng cao chất lượng của
công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã của huyện Phú Bình.
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về vấn đề đào tạo, bồi dưỡng công chức trong cơ quan nhà
nước nói chung và công chức cấp xã nói riêng đã có nhiều công trình đề cập
đến vấn đề này. Chẳng hạn như:

8


Đề tài “Đổi mới đào tạo, bồi dưỡng công chức cơ quan Tổng Liên đoàn
Lao động Việt Nam giai đoạn hiện nay” của Lê Khắc Á, đề tài đã đề cập lý
luận chung về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong giai đoạn hiện nay
nói chung và đào tạo, bồi dưỡng công chức Tổng liên đoàn Lao động Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay nói riêng, và không những thế tác giả còn đưa
ra được thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hiện nay. Đồng thời
đề tài còn đóng góp được những giải pháp thiết thực cho công tác đào tạo, bồi
dưỡng công chức trong giai đoạn hiện nay.
Hay đề tài “Đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra ngànhTư pháp theo
yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam” của tác giả Nguyễn
Hữu Thanh. Đề tài đã góp phần làm phong phú thêm lý luận về công tác đào
tạo, bồi dưỡng công chức nói chung và đào tạo, bồi dưỡng ngành tư pháp nói
riêng, từ đó giúp cho công chức đang trực tiếp làm công tác thanh tra trong
ngành tư pháp và những người làm nhiệm vụ quản lý công tác đào tạo, bồi
dưỡng rút ra nhận thức chung về vấn đề này để nâng cao chất lượng, hiệu quả
trong công tác thanh tra.
Vấn đề “Cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức cấp xã người dân tộc Khmer ở tỉnh Trà Vinh” của Trần Đức Độ, đề tài
trên có nhiều quan điểm và giải pháp nêu trong luận văn và áp dụng nhằm
tăng cường nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực CBCC người dân
tộc Khmer ở tỉnh Trà Vinh nói riêng, các tỉnh trong nước nói chung. Tuy
nhiên đề tài trên chưa bám sâu vào cơ sở lý luận để phân tích vấn đề.
Đặc biệt là đề tài “Đào tạo cán bộ, công chức của tỉnh Cần thơ” được
Trần Ngọc Điệp chọn làm đề tài nghiên cứu, bảo vệ tại Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 1999 đã đưa ra được cái nhìn tổng quan về tình
hình đào tạo công chức ở tỉnh Cần Thơ. Tuy nhiên đề tài trên mang tính tổng
quát nên đôi khi không quan tâm được hết các nội dung trong vấn đề nghiên
cứu, các nội dung chưa cụ thể, rõ ràng.

9


Ngoài ra đề tài “Nhận diện công tác đào tạo nguồn nhân lực tại công ty
trách nhiệm hữu hạn MTV My linh Thái Nguyên” của Vương Quang Luân,
cử nhân ngành Khoa học quản lý khóa 8. Thông qua nghiên cứu tác giả đã
đưa ra thực trạng, giải pháp nhằm nâng chất lượng đào tạo, nguồn nhân lực tại
công ty này.
Tóm lại có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến đào tạo, bồi dưỡng
công chức. Tuy nhiên đề tài nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp
xã tại UBND huyện Phú Bình thì chưa có tác giả nào đề cập tới. Do đó đề tài
có tính mới về không gian nghiên cứu. Đề tài của tác giả sẽ kế thừa những
thành quả mà các công trình nghiên cứu trên đã đạt đươc, đồng thời qua phân
tích tài liệu, kết quả có được từ điều tra, khảo sát để làm rõ vấn đề nghiên cứu
của đề tài.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài hướng đến tìm hiểu thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng công
chức cấp xã của huyện Phú Bình, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng
công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái
Nguyên.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã;
- Tìm hiểu thực trạng về đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã;
- Đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị góp phần hoàn thiện hệ thống
đào tạo, bồi dưỡng cho công chức cấp xã ở huyện Phú Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã của huyện Phú Bình,
tỉnh Thái nguyên.

10


4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về thời gian nghiên cứu: từ tháng 01/2016 đến tháng
03/2016;
- Phạm vi thời gian khảo sát số liệu: 2011- 2015;
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Công tác đào tạo bồi dưỡng công chức
của huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên;
5. Vấn đề nghiên cứu
Công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã của huyện Phú Bình
hiện nay được thực hiện như thế nào? Cần có những giải pháp nào để nâng
cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã của huyện Phú
Bình, tỉnh Thái Nguyên.
6. Giả thuyết nghiên cứu
Công tác đào tạo, bồi dưỡng CC cấp xã của huyện Phú Bình, hiện nay
được thực hiện theo kế hoạch, chỉ tiêu về số lượng cấp trên giao, xuất phát từ
nhu cầu thực tế, theo quy hoạch số lượng, chất lượng CC cấp xã của huyện và
bước đầu đạt được những kết quả nhất định:
Để công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã của huyện Phú
Bình ngày càng có chất lượng thì cần chú trọng đến một số biện pháp sau đây:
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về công tác
đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã;
- Xây dựng chương trình, kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng khoa học dựa
trên nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng công chức thực tế.
- Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và công chức cấp xã về
chức năng, vai trò của công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức của huyện
Phú Bình, tỉnh Thái nguyên.
- Huyện Phú Bình cần chú trọng, quan tâm đến các công chức đang
trong danh sách được huyện cử đi đào tạo và bồi dưỡng theo Kế hoạch để
công chức hoàn thành được khóa học, mang lại hiệu quả cao nhất.

11


- Tường cường đầu tư kinh phí, xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị
hiện đại để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã.
7. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhiều bằng nhiều phương pháp nghiên cứu khác
nhau nhưng trong đề tài của tác giả sử dụng một số phương pháp như;
7.1. Phương pháp thu thập thông tin
Trên cơ sở các tài liệu thu thập thông qua sách, giáo trình, báo, đài,
công văn, quyết định,kế hoạch và Internet, sau khi đã phân tích xử lý, tiến
hành tổng hợp các ý, luận điểm chính, nội dung từng vấn đề liên quan đến
công tác đào tạo, bồi dưỡng để từ đó nhận diện cụ thể hơn về công tác đào tạo
và bồi dưỡng công chức cấp xã của huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
7.2. Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp
Trên cơ sở thu thập các tài liệu tiến hành phân tích, tổng hợp làm tiền
đề cho đưa ra các nhận xét cụ thể trong từng nội dung, thực trạng góp phần
nâng cao chất lượng công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã của
huyện Phú Bình.
7.3. phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Tổng số công chức cấp xã 206 công chức trên tổng số 222 công chức
được giao theo biên chế. Căn cứ vào số lượng công chức đã, đang và học
song của 5 xã (Bàn Đạt, Kha Sơn, Bảo Lý, Tân Kim, Tân Thành) có số lượng
công chức đi học nhiều nhất để làm nghiên cứu cho bảng hỏi phục vụ cho đề
tài nghiên cứu khóa luận.
+ Số phiếu tiến hành phát: 40 phiếu( mỗi xã phát 8 phiếu)
+ Số phiếu thu về là: 40 phiếu
+ Số phiếu hợp lệ: 40 phiếu
+ Số phiếu không hợp lệ: 0 phiếu
8. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
8.1. Ý nghĩa về mặt lý luận

12


Bằng việc hệ thống hóa các khái niệm liên quan đến đề tài, góp phần làm
phong phú thêm hệ thống lý luận về công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức.
8.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Những khuyến nghị đề cập trong khóa luận có thể giúp cho cơ quan
hành chính cấp huyện áp dụng vào thực tiễn góp phần nâng cao chất lượng và
số lượng cơ cấu công chức, duy trì và phát triển tổ chức ổn định.
Kết quả khảo sát có thể được trích dẫn làm tài liệu tham khảo cho
những đề tài có cùng hướng nghiên cứu, và những độc giả quan tâm tới vấn
đề này.
9. Bố cục đề tài
Ngoài những nội dung như: Lời cảm ơn, Danh mục từ viết tắt, Mục lục,
Phần mở đầu, Phần kết luận, Danh mục các tài liệu tham khảo, Danh mục
bảng đề tài khóa luận có kết cấu 2 chương:
Chương 1:Một số vấn đề lý luận về công tác đào tạo và bồi dưỡng công
chức cấp xã;
Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã
của huyện Phú Bình giai đoạn 2011-2015.

13


B: PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO
VÀ BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC XÃ CỦA HUYỆN PHÚ BÌNH
1.1. Tiếp cận vấn đề đào tạo và bồi dưỡng công chức
1.1.1. Khái niệm đào tạo và bồi dưỡng
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng công
chức trong giai đoạn cách mạng mới, Đảng ta đã chủ trương: Đẩy mạnh đào
tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã, thị trấn với chương trình nội dung sát hợp;
chú trọng đào tạo công chức. Đảng ta coi việc đào tạo, bồi dưỡng công chức
là việc thường xuyên được ưu tiên trong sự nghiệp đổi mới theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2010
của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức đã định nghĩa: “ Đào tạo là
quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy
định của từng cấp học, bậc học”.Các cấp, bậc đào tạo đối với công chức theo
quy định của Nghị định nói trên gồm có: đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng,
đại học cho những công chức đã được bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ lãnh đạo,
quản lý mà chưa đáp ứng được trình độ đào tạo theo quy định và đào tạo sau
đại học.Tóm lại đào tạo là quá trình trang bị một cách có hệ thống kiến thức
cơ bản theo một chương trình có mục tiêu nhất định, nhằm hình thành và phát
triển các tri thức, kỹ năng, kỹ sảo, nghề nghiệp của mỗi cá nhân. Đào tạo
được xem là quá trình làm cho người ta trở thành có năng lực theo tiêu chuẩn
nhất định và có khả năng nhận được một sự phân công lao động. Quá trình
đào tạo, tùy theo mỗi cấp học mà mục tiêu đào tạo phải có một chương trình,
nội dung và thời gian tương ứng, cuối khóa học, nếu người được học đáp ứng
những yêu cầu thì được cấp bằng tốt nghiệp.Hay nói cách khác: Hoạt động
đào tạo làm cho người CC trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn
nhất định, còn hoạt động bồi dưỡng làm tăng thêm năng lực, phẩm chất.

14


Theo khoản 2 Điều 5, Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của
Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức đã định nghĩa: “Bồi dưỡng là
hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc”. Đây là
một quá trình liên tục nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức, kỹ năng ghề
nghiệp, nâng cao năng lực trên cơ sở của mặt bằng kiến thức đã được đào tạo
trước đó. Trong hoạt động đào tạo và bồi dưỡng công chức, bồi dưỡng có
nhiệm vụ cập nhật trang bị thêm, trang bị mới về kiến thức, kỹ năng thực thi
nhiệm vụ, công vụ của người công chức.
Nghị định số 18/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định hai chế độ bồi
dưỡng sau: Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch; Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng
chuyên ngành. Trong chế độ bồi dưỡng này cần phân biệt: bồi dưỡng theo
tiêu chuẩn chuyên ngành và bồi dưỡng cập nhật theo vị trí việc làm. Bồi
dưỡng là quá trình bổ sung, cập nhật, củng cố kiến thức hoặc tăng thêm kiến
thức mới cho người học. Bồi dưỡng là quá trình làm cho người ta tăng thêm
năng lực, phẩm chất. Bồi dưỡng là công việc được tiến hành sau đào tạo, là
việc bổ sung thêm kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ cho người làm việc
trong quá trình làm việc trên nền tảng của tri thức đã được đào tạo. Kết quả
của khóa bồi dưỡng là người học nhận chứng chỉ sau khi nộp bản báo cáo thu
hoạch hoặc bài thi, kiểm tra. Chứng chỉ được cấp trong đào tạo, bồi dưỡng
công chức là cơ sở để công chức được xếp, hưởng các chế độ chính sách của
những ngạch, chức danh cụ thể theo quy định. Như vậy hoạt động đào tạo và
bồi dưỡng là hai quá trình khác nhau nhưng đề có chung mục đích là cung cấp
kiến thức cho người CC để tăng cường năng lực và hiệu quả trong bộ máy
nhà nước.Nhìn chung, trong điều kiện chất lượng đội ngũ công chức nước ta
còn hạn chế thì đào tạo, bồi dưỡng là giải pháp hữu hiệu nhất góp phần hoàn
thiện cơ cấu cho chính quyền Nhà nước từ Trung ương đến địa phương.
1.1.2. Khái niệm công chức
Khái niệm công chức đã, đang và sẽ luôn tồn tại cùng với sự ra đời và
phát triển của Nhà nước, nhưng quan điểm thế nào là công chức thì còn tồn
15


tại rất nhiều ý kiến khác nhau. Dưới cách hiểu chung: "Công chức là những
công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyên trong cơ quan Nhà
nước, do ngân sách Nhà nước trả lương", mỗi nước đều xây dựng cho mình
những khái niệm riêng phù hợp với quan niệm về hoạt động công vụ, chế độ
chính trị, văn hóa và lịch sử phát triển của họ.
Nền công vụ truyền thống Pháp quy định về công chức khá rõ ràng.
Điều 2 Chương II Quy chế chung về công chức Nhà nước của Pháp năm 1994
xác định: "Công chức là người được bổ nhiệm vào một công việc thường
xuyên với thời gian làm việc trọn vẹn và được biên chế vào một ngạch trong
thứ bậc của các cơ quan hành chính Nhà nước, các cơ quan ngoại biên hoặc
các công sở Nhà nước".
Trong những năm gần đây, một khái niệm khác được thừa nhận là:
"Công chức bao gồm toàn bộ những người được Nhà nước hoặc cộng đồng
lãnh thổ (công xã, tỉnh, vùng) bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên trong một
công sở hay công sở tự quản, kể cả các bệnh viện và được biên chế vào một
ngạch của nền hành chính công". Theo cách hiểu này, công chức Pháp gồm 3
loại: Công chức hành chính Nhà nước, công chức trực thuộc cộng đồng lãnh
thổ và công chức trực thuộc các công sử tự quản.
Ở Anh, khái niệm công chức chỉ bao hàm những nhân viên công tác
trong ngành hành chính.
Ở Mỹ, tất cả các nhân viên trong bộ máy hành chính của chính phủ đều
được gọi chung là công chức, bao gồm những người được bổ nhiệm về chính
trị (còn gọi là công chức chính trị), những người đứng đầu bộ máy độc lập và
những quan chức của ngành hành chính. Quan hệ giữa Chính phủ và công
chức là quan hệ giữa ông chủ và người làm thuê, ngoài việc điều chỉnh theo
Luật hành chính, quan hệ này còn được điều chỉnh bằng hợp đồng dân sự.
Tóm lại chúng ta có thể thấy mỗi quốc gia đều xác định một phạm vi
những người là công chức riêng. Tuy nhiên hầu hết công chức đều mang một
số đặc điểm sau: là công dân nước đó, được tuyển dụng giữ một công việc
16


thường xuyên trong cơ quan hành chính Nhà nước, được bổ nhiệm vào một
ngạch nhất định, làm việc trong công sở, chỉ được làm những gì pháp luật cho
phép, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Ở nước ta, khái niệm công chức cũng đã được quan tâm xây dựng và
ngày càng hoàn thiện. Ngày 20/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành
Sắc lệnh 76/ SL về "Quy chế công chức", đây được xem là văn bản pháp luật
đầu tiên có liên quan trực tiếp đến khái niệm này. Quy chế xác định rõ nghĩa
vụ, quyền lợi của công chức, cùng các thể lệ về việc tổ chức, quản trị và sử
dụng các ngạch công chức trong toàn quốc, theo đó "những công dân Việt
Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên
trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức”.
Thời gian sau đó, chúng ta cũng đã có nhiều văn bản đề cập đến công
chức, công vụ và gần đây nhất, trước đòi hỏi của thực tiễn khách quan, ngày
13/11/2008, kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật cán bộ, công
chức. Theo quy định này, "Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển
dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng
Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương, cấp
tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không
phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ
quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan
chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công
lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (sau
đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương
từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý
của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn
vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật".
Theo Luật Cán bộ công chức thì công chức được hiểu là: công chức là
công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức
danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính
17


trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc
Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công
nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không
phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý
của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong
biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ
máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm
từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
(khoản 2, điều 4 của Luật cán bộ công chức). Như vậy trong khuôn khổ của
khóa luận này thuật ngữ công chức được hiểu theo Luật cán bộ công chức.
Tóm lại, dù phạm vi của khái niệm công chức rộng hay hẹp, thì tầm
quan trọng của lực lượng công chức đối với sự phát triển của nền công vụ nói
riêng và của cả đất nước nói chung là không thể phủ nhận. Vấn đề đặt ra là
phải làm thế nào để nâng cao, đổi mới toàn diện chất lượng và hiệu quả làm
việc của đội ngũ này, vì sự phát triển chung của toàn xã hội.
1.1.3. Khái niệm công chức cấp xã
Cấp xã là đơn vị hành chính cuối cùng gần dân nhất, trực tiếp quản lý
các mặt đới sống xã hội. Vì vậy muốn thực hiện quản lý tốt thì phải có những
con người đầy đủ phẩm chất, năng lực, trình độ muốn đạt được những tiêu
chuẩn trên thì phải thông qua công tác đào tạo, bồi dưỡng.
Từ cách hiểu cấp xã như trên, ta có thể hiểu: Công chức cấp xã là công
dân Việt Nam, làm việc và công tác ở một vị trí gần dân nhất, trong bộ máy
chính quyền cấp xã, được tuyển dụng và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp
vụ thuộc UBND cấp xã (gọi chung là công chức cấp xã).
Công chức cấp xã đóng vai trò là người trực tiếp tuyên truyền, phổ biến
các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước đến
nhân dân; tổ chức và vận hành nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách
18


của Đảng, Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, huy động mọi khả
năng phát triển kinh tế- xã hội, tổ chức cuộc sống cho cộng đồng dân cư; nắm
bắt kịp thời, phản ánh đầy đủ những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để Đảng,
Nhà nước có cơ sở khoa học sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các chủ trương,
chính sách có tính khả thi, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước.
Theo Nghị định số 159/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của
Chính phủ thì đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn có 3 loại: Cấp xã loại
1: không quá 25 người; Cấp xã loại 2: không quá 23 người; Cấp xã loại 3:
không quá 21 người.Tương ứng với mỗi đơn vị hành chính ở địa ở địa
phương được quy định như trên là một cấp chính quyền một hệ thống các cơ
quan thành lập nhằm thực hiện chức năng nhiệm vụ của Nhà nước ở một vùng
lãnh thổ nhất định.
Hiện nay, công chức cấp xã tại huyện Phú Bình gồm có các chức danh
sau đây: Trưởng Công an; (21 người); Chỉ huy trưởng Quân sự; (21 người);
Văn phòng - thống kê; (43 người); Địa chính - xây dựng - đô thị và môi
trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và
môi trường (đối với xã);( 42 người); Tài chính - kế toán; (24 người); Tư pháp
- hộ tịch; (29 người); Văn hoá - xã hội.( 42 người).
Bên cạnh, khái niệm “công chức” còn có khái niệm “cán bộ” Theo,
Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008. Luật này
có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010. Khoản 1 Điều 4 quy định
về cán bộ:“ Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm
giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội ở trung ương, ở
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở
quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện),
trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.

19


Từ khái niệm “công chức” và “cán bộ” được quy định tại văn bản Luật
Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, chúng ta
có thể phân biệt khái niệm “cán bộ”, “công chức”, theo các tiêu chí cơ bản sau:

Khái niệm

Cán bộ

Công chức

Tiêu chí cơ bản
- Vận hành quyền lực nhà nước, - Vận hành quyền lực nhà
làm nhiệm vụ quản lý; nhân nước, làm nhiệm vụ quản lý.
1. Tính chất

danh quyền lực chính trị, quyền - Thực hiện công vụ thường
lực công.
xuyên
- Theo nhiệm kỳ.
- Được bầu cử, phê chuẩn, bổ - Thi tuyển, bổ nhiệm, có
nhiệm, trong biên chế.

2. Nguồn gốc,
trách nhiệm pháp lý

quyết định của cơ quan nhà

- Trách nhiệm chính trị trước nước có thẩm quyền, trong
Đảng, Nhà nước, nhân dân và biên chế.
trước cơ quan, tổ chức có thẩm - Trách nhiệm chính trị, trách
quyền.

nhiệm hành chính của công
chức

3. Chế độ lương
4. Nơi làm việc

Hưởng lương từ ngân sách

Hưởng lương từ ngân sách

nhà nước, theo vị trí, chức danh. nhà nước, theo ngạch bậc.
Cơ quan của Đảng cộng sản

Cơ quan Đảng, nhà nước,

Việt Nam, Nhà nước, tổ chức tổ chức CT-XH, Quân đội,
chính trị, tổ chức chính trị- xã Công an, Toà án, Viện kiểm
20


hội.

sát.

- Năng lực lãnh đạo, điều hành, - Năng lực, trình độ chuyên

5.Tiêu chí

tổ chức, quản lý;

môn nghiệp vụ;

- Tinh thần trách nhiệm;

- Tiến độ và kết quả thực

- Hiệu quả thực hiện nhiệm vụ

hiện nhiệm vụ;

đánh giá

- Tinh thần trách nhiệm và
phối hợp trong thực thi
nhiệm vụ;
- Thái độ phục vụ nhân dân.
Từ khái niệm về đào tạo, bồi dưỡng, khái niệm công chức, công chức cấp

xã, có thể đi đến hiểu mục đích của công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp
xã là: Phát triển năng lực làm việc của công chức cấp xã và nâng cao khả năng
thực hiện công việc thực tế của họ; Giúp công chức cấp xã luôn phát triển để
có thể đáp ứng được nhu cầu nhân lực trong tương lai của tổ chức; Giảm thời
gian học tập, làm quen với công việc mới của công chức cấp xã do thuyên
chuyển, đề bạt, thay đổi nhiệm vụ và đảm bảo cho họ có đầy đủ khả năng làm
việc một cách nhanh chóng và tiết kiệm.
1.2. Nội dung của công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức
Để đảm bảo công tác đào tạo và bồi dưỡng công chức đạt hiệu quả cao.
Đồng thời qúa trình này diễn ra thông suốt theo đúng kế hoạch thì một nội dung
đào tạo gồm 4 bước sau:
Bước 1: Xác định nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng;
Bước 2: Lập kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng;
Bước 3: Thực hiện kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng công chức;
Bước 4: Kiểm tra, đánh giá công tác đào tạo và bồi dưỡng.
Từ những nội dung đó được sơ đồ hóa như sau:

21


1.2.1. Xác định nhu cầu đào tạo công chức
Để xác định nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã của huyện
Phú Bình cần trả lời các câu hỏi sau: Những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho
vị trí công việc? Những kiến thức, kỹ năng cần thiết mà CC hiện có? Những
kiến thức, kỹ năng còn thiếu của CC đối với vị trí công việc? Những khóa học
nào cần tổ chức để khắc phục những thiếu hụt về kiến thức, kỹ năng cho CC?

22


1.2.2. Lập kế hoạch ĐTBD
Để lập kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng công chức cấp xã của huyện Phú
Bình cần trả lời các câu hỏi sau: Mục tiêu kế hoạch là gì? Nội dung là gì? Ai
thực hiện? thời gian và địa điểm tiến hành? Cách thức thực hiện? Kinh phí?
Kiểm tra đánh giá như thế nào.
1.2.3. Thực hiện kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng công chức
Ở nội dung tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng để thực
hiện được cần trả lời các câu hỏi sau: Có những hoạt động cụ thể nào? Phân
công phối hợp như thế nào cho có hiệu quả? Tổ chức sao cho chi phí phù hợp
để kết quả cao?
Do đó, để thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức, cần phân
tích kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thành các công việc cụ thể: từ ra quyết định
tổ chức khóa học, triệu tập học viên, in ấn tài liệu, mời giảng viên, tổ chức
chọn địa điểm, điều phối chương trình, theo dõi các hoạt động giảng dạy, chi
phí thanh toán, đánh giá, báo cáo sơ tổng kết, thanh quyết toán.
1.2.4. Kiểm tra, đánh giá công tác đào tạo và bồi dưỡng
Ở nội dung kiểm tra, đánh giá công tác đào tạo và bồi dưỡng để công
tác này đạt hiệu quả cần trả lời các câu hỏi sau: đào tạo, bồi dưỡng công chức
có đạt mục tiêu không? Nội dung có phù hợp không? Chương trình có phù
hợp không? Giảng viên có đáp ứng được yêu cầu của chương trình đào tạo,
bồi dưỡng không? Học viên có tham gia vào quá trình đào tạo, bồi dưỡng
không? Công tác tổ chức có tốt không? Học viên học được những gì và họ áp
dụng được những điều đã học vào thực tế công việc không? Hiệu quả của
chương trình đào tạo, bồi dưỡng?
Theo các nhà nghiên cứu, có 4 cấp độ đánh giá chương trình đào tạo
như sau: Đánh giá phản ứng của người học: Họ đánh giá như thế nào về đào
tạo, bồi dưỡng vào các thời điểm trước, trong, cuối khoá đào tạo và vào
23


những thời điểm sau đào tạo; Đánh giá kết quả học tập: Xem xem học viên đã
tiếp thu những gì từ khóa học. Kiểm tra kiến thức, kỹ năng, thái độ và đối
chiếu với những: Xem xem học viên đã tiếp thu những gì từ khóa học. Kiểm
tra kiến thức, kỹ năng, thái độ và đối chiếu với những mục tiêu đã đề ra; Đánh
giá những thay đổi trong công việc: xem người học áp dụng những điều đã
học vào công việc như thế nào. Những thay đổi đối với việc thực hiện công
việc; Đánh giá tác động, hiệu quả của tổ chức: Việc đào tạo có tác động, ảnh
hưởng tới kết quả của tổ chức, hiệu quả của đào tạo, bồi dưỡng như thế nào.
Tùy theo các cấp độ đánh giá mà người ta sử dụng các phương pháp
đánh giá khác nhau để xem xem thực hiện quy trình đào tạo, bồi dưỡng đạt
kết quả đến đâu, hiệu quả như thế nào định số người cần đào tạo. Nhu cầu đào
tạo được xác định dựa trên những phân tích nhu cầu lao động của tổ chức, các
yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cần thiết cho việc thực hiện các công việc và
phân tích trình độ, kiến thức, kỹ năng hiện có của công chức.

24


CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG
CÔNG CHỨC CÔNG CHỨC CẤP XÃ CỦA UBND HUYỆN PHÚ BÌNH

2.1. Khái quát về huyện Phú Bình
Về địa lý: Phú Bình là một huyện trung du của tỉnh Thái Nguyên.
Huyện Phú Bình nằm ở phía nam của tỉnh, trung tâm huyện cách thành phố
Thái Nguyên 26 km, cách thị xã Bắc Ninh 50km. Địa hình của Phú Bình
thuộc nhóm cảnh quan địa hình đồng bằng và nhóm cảnh quan hình thái địa
hình gò đồi.Về dân số: Dân số hiện nay là khoảng là 146.086 người , gồm 9
dân tộc anh em cùng chung sống. Trong đó dân tộc Kinh là đông nhất. Phú
Bình là huyện thuần nông nên dân số nông thôn chiếm trên 90%, mật độ dân
số 586 người/km2 , đứng hàng thứ hai trong tỉnh, sau thành phố Thái Nguyên.
Bộ máy chính quyền cấp xã của huyện Phú Bình có 21 đơn vị hành chính
gồm thị trấn Hương Sơn và 20 xã, trong đó có 7 xã miền núi, với 31xóm (số
liệu năm 2007). Các xã của huyện gồm: Bàn Đạt, Bảo Lý, Dương Thành, Đào
Xá, Điềm Thụy, Đồng Liên, Hà Châu, Kha Sơn, Lương Phú, Nga My, Nhã
Lộng, Tân

Đức, Tân

Hòa, Tân

Khánh, Tân

Kim, Tân

Thành, Thanh

Ninh,Thượng Đình, Úc Kỳ và Xuân Phương.Về nguồn nhân lực của huyện:
khá dồi dào, chất lượng nguồn nhân lực vào loại khá. Đây là thế mạnh đối với
việc phát triển kinh tế xã hội của huyện. Tuy nhiên, huyện cần chú trọng hơn
nữa việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh công tác đào tạo

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×