Tải bản đầy đủ

Mối quan hệ giữa Tôn giáo và Chính trị

ĐỀ TÀI: MỐI QUAN HỆ GIỮA TÔN GIÁO VÀ
CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM
Chương 1: Lý luận chung về mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị
1.1
1.2

Khái niệm tôn giáo và chính trị
Mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị trong lịch sử phát triển nhân loại

Chương 2: Mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị ở Việt Nam
2.1 Sự ảnh hưởng của tôn giáo đối với chính trị
2.1.1 Tích cực
2.1.2 Mặt trái của tôn giáo đối với chính trị
2.2 Sự tác động trở lại của chính trị đối với tôn giáo ở Việt Nam
2.2.1 Những tác động tích cực
2.2.2 Những tác động tiêu cực
2.3 Giá trị và ý nghĩa của mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị ở Việt Nam
2.4 Chính sách tôn giáo Việt Nam trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tôn
giáo và chính trị ở thời đại ngày nay
2.5 Những bài học kinh nghiệm


PHẦN NỘI DUNG


Chương 1: Lý luận chung về mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị
1.3

Khái niệm tôn giáo và chính trị

1.1.1 Tôn giáo
Tôn giáo là hệ thống những quan niệm tín ngưỡng, sùng bái một hay
nhiều vị thần linh nào đó và những hình thức lễ nghi thể hiện sự sùng bái ấy.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về tôn giáo. Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng,
về bản chất, tôn giáo chỉ là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã
hội. Trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh”, Ăngghen viết: “ Tất cả mọi tôn giáo
chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu con người của những lực
lượng bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh
trong đó những thế lực trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần
thế ”.
Như vậy, về bản chất, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh ý
thức xã hội, phản ánh hư ảo thực tại xã hội bằng những lực lượng siêu nhiên
nào đó. Về mặt hình thức biểu hiện, tôn giáo bao gồm hệ thống hoàn chỉnh
các quan niệm, ý thức tín ngưỡng, thể hiện tập trung ở lòng tin, tình cảm tôn
giáo, hành vi và hoạt động tôn giáo với những giáo lý, giáo luật, lễ nghi và
giáo hội được tổ chức chặt chẽ.
Tôn giáo xuất hiện rất sớm trong lịch sử xã hội của loài người, hoàn thiện
và biến đổi gắn liền với các nguồn gốc, đó là:
+ Nguồn gốc kinh tế-xã hội
Tôn giáo ra đời trong điều kiện xã hội có trình độ sản xuất còn thấp kém,
con người hầu như lệ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên, bất lực trước các hiện
tượng tự nhiên như thiên tai, bệnh tật, chết chóc,… Con người không hiểu,


không chế ngự được tự nhiên nên sợ hãi và lý giải các hiện tượng tự nhiên
bằng sự suy đoán sai lệch thành các lực lượng siêu nhiên, thần bí. Đó chính là
nguồn gốc ban đầu của tôn giáo.
Bên cạnh cảm giác yếu đuối trước sức mạnh của tự nhiên, khi xã hội bắt
đầu xuất hiện những giai cấp đối kháng, phân hóa giàu nghèo, xung đột bộ
tộc, bộ lạc, áp bức bóc lột,…con người lại cảm thấy bất lực trước những sức
mạnh tự phát của xã hội. Không lý giải được nguồn gốc của sự phân hóa giai
cấp và xã hội ấy, con người lại ảo tưởng vào một thế giới “bên kia” mà

V.I.Lênin đã nói: “Sự bất lực của giai cấp bị bóc lột trong cuộc đấu tranh
chống bọn bóc lột tất nhiên đẻ ra lòng tin vào một cuộc đời tốt đẹp hơn ở thế
giới bên kia”.
Trong cuộc sống hiện nay, dù khoa học và sản xuất ngày càng phát triển,
con người dần thoát khỏi tình trạng lệ thuộc vào tự nhiên, giải thích được các
hiện tượng tự nhiên, đồng thời các quan hệ xã hội cũng vận động, phát triển.
Tuy nhiên, cả tự nhiên và xã hội vẫn còn tồn tại những hiện tượng mà con
người chưa thể hiểu biết đầy đủ, triệt để và chế ngự được. Trong điều kiện xã
hội nhất định, con người – nhất là những người lao động, chưa thể có hạnh
phúc đầy đủ, thực sự như người ta mong muốn. Vì vậy, con người vẫn tin vào
thần linh, thượng đế, vẫn tìm đến tôn giáo với chính sách tôn giáo để sinh
hoạt tinh thần, nhằm thỏa mãn những nhu cầu về tâm linh.
+Nguồn gốc nhận thức
Sự hiểu biết của con người thời nguyên thủy rất nông cạn, mơ hồ, hạn hẹp
về thế giới là một trong những tiền đề hình thành tín ngưỡng, tôn giáo. Sự
lung túng nảy sinh từ sự hạn chế trong trình độ nhận thức của con người đã
dấn đến sự thừa nhận những linh hồn sau khi thân thể chết đi. Cũng bằng cách


hoàn toàn giống như thế, sự nhân cách hóa các lực lượng tự nhiên làm nảy
sinh các vị thần đầu tiên.
Con người ngày càng nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về thế giới khách
quan, khái quát hóa thành các khái niệm, quy luật. Nhưng càng khái quát hóa,
trừu tượng hóa thì sự vật hiện tượng được con người nhận thức càng có khả
năng xa rời hiện thực và phản ánh sai lệch hiện thực. Sự nhận thức bị tuyệt
đối hóa, cường điệu hóa của chủ thể nhận thức sẽ dẫn đến thiếu khách quan,
mất dần cơ sở hiện thực để trở thành siêu nhiên thần thánh.
Giới tự nhiên là vô cùng tận, nhận thức và khả năng cải tạo tự nhiên của
con người cũng là vô tận nhưng trong những điều kiện lịch sử cụ thể là có
hạn. Mặc dù khoa học đã phát triển cao, song khoa học càng phát triển thì
người ta lại càng phát hiện ra nhiều điều bí ẩn chưa giải thích được, cần tiếp
tục nghiên cứu. Điều gì mà khoa học chưa giải thích được thì người ta thường
phải nhờ đến sức mạnh của linh cảm, của tâm linh, nhờ “đấng sáng tạo” để
tìm ra nguyên nhân cuối cùng của thế giới.
+Nguồn gốc tâm lý
Cảm xúc, tình cảm, tâm trạng của con người trước sức mạnh tự nhiên và
xã hội, trước những khó khăn thử thách trong cuộc sống của cá nhân và cộng
đồng xã hội là một nguyên nhân của sự ra đời, tồn tài và phát triển của tôn
giáo.
Cảm giác về sự phụ thuộc là cơ sở của tôn giáo, sự sợ hãi đẻ ra thần linh,
thượng đế. Mặt khác, lòng biết ơn, tôn kính những người có công cũng dẫn
đến sự ngưỡng mộ đến mức tưởng tượng, suy diễn những người thật, việc thật
thành hình tượng thánh thần, có sức mạnh siêu phàm, có khả năng “cứu rỗi”.
Trong tình cảm, con người luôn có nhu cầu được an ủi, vỗ về khi gặp khó


khăn, hoạn nạn, bất hạnh; tôn giáo chính là sự bù đắp những hụt hẫng, đem
đến cho người ta hạnh phúc hư ảo. C.Mác đã chỉ rõ: “Tôn giáo là tiếng thở dài
của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống
như nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần”.
Như vậy, tôn giáo ra đời, tồn tại và phát triển có nguồn gốc từ những điều
kiện cụ thể của xã hội, trong nhận thức và tâm lý của con người khi đứng
trước những sức mạnh của tự nhiên và xã hội. Nhưng cũng phải thấy rằng sự
tuyên truyền, tác động của giáo hội thông qua các chức sắc, các nhà tu hành
và hệ thống nghi lễ, kết hợp các công cụ và biện pháp khác như kinh tế, văn
hóa, từ thiện,…tới con người và các cộng đồng người, cũng là một nguyên
nhân cho sự tồn tài và phát triển của tôn giáo. Thậm chí trong lịch sử nhân
loại, đã từng xảy ra các cuộc chiến tranh tôn giáo nhằm bảo vệ và phát triển
tôn giáo này, đẩy lùi, hạn chế sự mở rộng và phổ biến của các tôn giáo khác
cũng làm cho tôn giáo phát triển, biến đổi, mở rộng phạm vi ảnh hưởng trên
toàn thế giới.

1.1.2 Chính trị
Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, đấu tranh giai cấp (mà đỉnh cao là
cuộc đấu tranh ấy là đấu tranh nhằm giành, giữ, thực thi quyền lực chính trị,
quyền lực nhà nước cho một giai cấp nhất định); là việc giải quyết mối quan
hệ giữa các giai cấp và giai tầng xã hội trong việc phân bổ các lợi ích (đặc biệt
là lợi ích kinh tế).
Quyền lực chính trị tất yếu luôn thuộc về giai cấp, tầng lớp xã hội đại diện
cho phương thức sản xuất tiên tiến, cho xu hướng tiến bộ của xã hội, cho lợi
ích của quảng đại quần chúng nhân dân.


Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, vấn đề trung tâm, then chốt,
trực tiếp nhất trong chính trị là vấn đề quyền lực nhà nước. Nó là công cụ cơ
bản nhất để giải quyết các quan hệ kinh tế, các quan hệ giai cấp, theo hướng
có lợi cho lực lượng nắm quyền.
Chủ nghĩa Mác – Lênin quan niệm rằng, chính trị của giai cấp vô sản là
thái độ của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh tự giải phóng khỏi ách áp bức
bóc lột, là việc giai cấp vô sản phải vươn lên giành lấy quyền lực nhà nước từ
trong tay các giai cấp bóc lột, là việc sử dụng nhà nước vào sự nghiệp xây
dựng xã hội mới.
Chính trị trong xã hội đương đại không chỉ là quan hệ giữa các giai cấp,
mà còn là quan hệ giữa các cộng đồng (các nhóm lợi ích, các lực lượng xã
hội, các công dân) với nhà nước. Đây tức là quá trình đấu tranh để xác lập các
thể chế, thiết chế quyền lực nhà nước hợp lí, có hiệu quả vì sự ổn định và phát
triển của xã hội, là hoạt động của các chính đảng, các tổ chức đại diện nhóm
lợi ích xã hội trong việc giành, chia sẻ và thực thi quyền lực nhà nước vì lợi
ích khách quan của các lực lượng chính trị, của các cộng đồng công dân.
Sự tham gia của công dân vào các hoạt động chính trị, xã hội được xem
như một giá trị dân chủ và đó cũng là một môi trường để mọi công dân phát
huy tính tích cực chính trị - xã hội của mình với tư cách kà một con người
chính trị. Đặc biệt, trong xã hội công dân – một xã hội văn minh dựa trên nền
tảng pháp luật và được điều hành bởi những nhà lãnh đạo có năng lực và văn
hóa chính trị cao…một xã hội đã được dân chủ hóa và hội đủ những điều kiện
cơ bản nhất để phát triển toàn diện, bền vững với sự tham gia tích cực của
công dân vào công việc của cộng đồng xã hội – đòi hỏi sự đối thoại công khai


và có sự tham gia rộng rãi, phải tạo cơ hội cho mọi công dân có được tiếng
nói trong các quyết định ảnh hưởng đến họ….
1.4

Mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị trong lịch sử phát triển nhân
loại
Mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị luôn được xem là vấn đề phức

tạp, tế nhị, tinh vi và nhạy cảm vào bậc nhất so với các hiện tượng khác thuộc
thượng tầng kiến trúc - xã hội. Từ trước đến nay, nhận thức về mối quan hệ
này đã tạo ra những cuộc tranh luận, không phải là "có hay không có quan
hệ", mà là "quan hệ như thế nào". Các nhà triết học, thần học, tôn giáo học và
chính trị học từ trước đến nay thường đưa ra 3 ý kiến khác nhau về mối quan
hệ này.
Một là, tôn giáo hoá chính trị.
Hai là, chính trị hoá tôn giáo.
Ba là, phi chính trị hoá tôn giáo và thế tục hoá chính trị.
Trong các thời đại lịch sử khác nhau, tính chất, nội dung và hình thức
của mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị đều do những điều kiện kinh tế, xã
hội, văn hóa, chính trị quy định. Vào thời cổ đại, mối quan hệ đó nổi lên là
tình hình tôn giáo đối đầu với chính trị, hoặc chính trị lợi dụng tôn giáo, tùy
theo vị thế của các lực lượng chính trị khác nhau. Thời phong kiến ở châuÂu,
tôn giáo, mà cụ thể là Kitô giáo, là thế lực đứng trên chính trị, chi phối toàn
bộ đời sống xã hội. Chế độ chính trị phổ biến là chính trị thần quyền. Nhưng
đến cuối thời phong kiến, sang thời kỳ tư bản, giữa nhà nước chính trị và giáo
hội nảy sinh cuộc xung đột quyết liệt theo hướng thế tục hoá chính trị và tự trị
hoá tôn giáo. Lúc đó, chính trị muốn thoát khỏi ảnh hưởng của thần học, tôn
giáo đã trở về với bản chất thế tục, thực thi quyền lực chính trị - nhà nước.
Luận điểm "tách nhà nước ra khỏi nhà thờ" của giai cấp tư sản ở những thế kỷ


trước, và sau đó, C.Mác, Ăngghen, Lênin phát triển lên, có thể xem là biểu
hiện tiêu biểu của khuynh hướng này. Còn trong tôn giáo này, phong trào cải
cách tôn giáo diễn ra với tính chất là phi chính trị hoá tín ngưỡng.
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các loại tôn giáo lớn trên thế giới
ngày càng chuyển hoá phức tạp và lộ dần xu hướng phân hoá, mâu thuẫn. Đặc
biệt, càng ngày các tôn giáo mang tầm thế giới, xuyên lục địa càng xích gần
chính trị, xuất hiện xu thế chính trị hoá tôn giáo.
Mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị được tập trung biểu hiện: chính
– giáo hợp nhất, chính – giáo phân ly và chính – giáo hòa hợp.
Thứ nhất, chính – giáo hợp nhất, tức là nhà nước và giáo hội - nhà thờ hợp
làm một.
Thứ hai, chính - giáo phân ly. Đây là hình thức ngược lại với chính giáo
hợp nhất. Dưới hình thức chính giáo phân ly, nhà thờ - giáo hội tách khỏi nhà
nước.
Thứ ba, chính - giáo hòa hợp. Có thể coi đây là hình thức mang tính tổng
hợp và hình thức này cũng có các mô thức khác nhau:
Mô thức thứ nhất, thần học tôn giáo có vai trò chủ đạo trong hệ tư tưởng trị
nước, đồng thời là nguồn gốc của pháp luật.
Mô thức thứ hai, về quan phương, nhà nước là thế tục, nhưng nhà nước khai
thác, sử dụng những tư tưởng thần học phù hợp để phục vụ mục đích của
mình. Giáo hội và các đoàn thể tôn giáo đồng thuận cùng nhà nước. Giáo sĩ,
nhà tu hành trong những chừng mực nhất định tham gia vào công quyền. Tôn
giáo được huy động vào các hoạt động, nhất là các hoạt động xã hội. Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay có thể xếp vào mô thức
này.
Chương 2: Mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị ở Việt Nam
2.1 Sự ảnh hưởng của tôn giáo đối với chính trị


2.1.1 Tích cực
Tôn giáo có sự đóng góp tích cực cho sự nghiệp đấu tranh và bảo vệ độc lập
dân tộc.
Trải qua các triều đại, từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, trên con đường đấu tranh
dựng nước và giữ nước, quốc gia Đại Cồ Việt, rồi Đại Việt không ngừng được
củng cố, trưởng thành và vững mạnh. Để có một đất nước hùng cường, bên
cạnh việc đấu tranh chống xâm lược, bảo vệ độc lập, một vấn đề đặt ra không
kém phần quan trọng là đấu tranh cho nền thống nhất vững chắc của đất nước.
Đã từ lâu đời, đại gia đình các dân tộc chung sống ổn định trên lãnh thổ thuộc
quốc gia Đại Việt đã biết chụm nhau lại, đoàn kết thành một khối để tồn tại và
phát triển “đoàn kết là sức mạnh”, chân lý đó không còn là một bài học đầu
miệng, mà đã thấm vào xương tủy và biến thành hành động đối với mọi thành
viên trong xã hội. Chân lý ấy đã nhào nặn lên tâm hồn, đức tính và những giá
trị tinh thần của dân tộc Việt Nam.
Trong sức mạnh tinh thần ấy, thực tiễn đã chứng minh khẳng định có tư
tưởng chủ đạo của đạo Phật, mà các vị vua Trần là những Phật tử thuần thành,
là những thiền sư, đã trị nước với tâm vô ngã, vị tha của đạo Phật. Nhờ vậy đã
hội tụ được những tướng sĩ tài ba thao lược, dân và quân một lòng yêu nước
thương nhà, đồng tâm đoàn kết. Tinh thần từ bi đoàn kết của đạo Phật kết hợp
với tinh thần nồng nàn yêu nước của dân tộc Việt Nam rõ ràng không chỉ làm
nên một bản lĩnh ý chí chiến đấu mà còn là nền tảng của chính sách ngoại giao
mềm dẻo, đức độ, cao thượng tạo nên sức mạnh tổng hợp của dân tộc. Phật
giáo với tư tưởng truyền thống ái quốc bấy giờ với những ông vua đời Trần mà
hàng đầu là các vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông. Đó là
những ông vua đã biết lấy lòng dân làm lòng mình, lấy ý muốn của dân làm ý


muốn của mình. Những ông vua ấy đã học, hiểu và thi hành giáo lý uyên bác
của đạo Phật, để trở thành những đấng minh quân. Những ông vua Phật ấy đã
điều khiển được sức mạnh tinh thần kỳ diệu tạo nên chiến công vẻ vang.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh “mong đồng bào đoàn
kết thêm chặt chẽ trong cuộc kháng chiến để phụng sự Đức Chúa, phụng sự Tổ
quốc và để thực hiện lời Chúa dạy: “Hoà bình cho người lành dưới trần thế”.
Theo Người, kính Chúa yêu nước thì không nên có ảo tưởng nào đối với bọn
thực dân cướp nước và bọn tay sai, vì chúng đã và đang gieo đau thương tang
tóc, giết hại đồng bào ta không kể Lương hay Giáo. Nỗi đau không của riêng
ai, đồng bào có đạo cần tích cực tham gia kháng chiến để trả thù cho những
người đã hy sinh vì chính nghĩa, vì Tổ quốc. Thực tế, qua hai cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, hầu hết các tổ chức tôn giáo và
đồng bào tôn giáo đã tin theo tiếng gọi của Đảng, của Tổ quốc với tinh thần:
“Không có gì quý hơn độc lập tự do”, nhiều đồng bào tôn giáo sẵn sàng hy sinh
cả tính mệnh vì độc lập tự do của Tổ quốc.
Đại bộ phận tín đồ, chức sắc tôn giáo ở nước ta là người lao động, có tinh
thần yêu nước, gắn bó với dân tộc, tán thành và ủng hộ cuộc đổi mới do Đảng
ta khởi xướng và lãnh đạo. Trong cuộc kháng chiến chống xâm lược, hàng vạn
quần chúng tín đồ tham gia cách mạng, kháng chiến. Hàng nghìn liệt sĩ, thương
binh, hàng trăm bà mẹ Việt Nam anh hung đều là quần chúng tín đồ tôn giáo.
Đại đa số bà con giáo dân và chức sắc tôn giáo đều nhận rõ Đảng và Nhà nước
ta luôn tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tạo điều kiện thuận lợi cho các tôn
giáo và giúp đỡ các hoạt động hành đạo. Chính từ đây, đạo và đời, tôn giáo và
công cuộc bảo vệ, xây dựng chủ nghĩa xã hội luôn gắn bó và hòa hợp.
Trong việc xây dựng gia giáo và ổn định chính trị - xã hội Việt Nam


Muốn cải tạo xã hội, trước hết phải chuyển hóa con người, chuyển vọng
thành chân, chuyển mê thành ngộ. Mà muốn thay đổi con người phải tin rằng
mỗi con người đều có trong mình phật tính. Đó là lời ân cần nhắc nhở của thiền
sư Viên Chứng với vua Trần Thái Tông: “Sơn bản vô Phật, duy tồn hồ
tâm” (Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong tâm ta). Điều quan trọng
là không những chiến thắng đối phương mà còn tự chiến thắng chính mình,
như vua Trần Nhân Tông nói:
“Buông lửa giác ngộ đốt hoại thảy rừng tà ngày trước
Cầm kiếm trí tuệ quét cho không tính thức thuở nay”.
(Cư trần lạc đạo phú)
Phật giáo đã tích cực góp phần tạo dựng cho xã hội đời Trần thành tựu rực
rỡ. Một xã hội được giáo dục bằng giáo lý Ngũ giới (không sát sinh, không
trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu) và Thập thiện (ba
điều thuộc về thân: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, ba điều
thuộc về ý thức: không tham lam, không thù hận, không si mê, bốn điều thuộc
về khẩu: không nói dối, không nói thêu dệt, không nói hai chiều, không ác
khẩu) mà các vua Trần xem đó là khuôn mẫu, là một chuẩn mực sống cho toàn
dân. Điều này đã được chứng minh rất rõ ràng qua phần lịch sử. Phật giáo đời
Trần đã góp phần xây dựng cải tạo gia đình và xã hội, đem lại an vui, hạnh
phúc cho mọi người, hướng đến đời sống chân, thiện, mỹ. Vì cá nhân có an
vui, gia đình, xã hội mới bình an, mà các vua đầu đời Trần đã thể nghiệm và rất
thành công. Giáo lý Ngũ giới hay Thập thiện chẳng phải là vấn đề xa xôi, một
giáo điều nghiêm ngặt, hay những điều mang tính thần thánh cao siêu mà nó rất
thiết thực, rất gần gũi con người, không chỉ ở quá khứ, hiện tại hay tương lai,
mà chừng nào con người còn những nỗi thống khổ, bức bách trong đời sống,
thì khi đó nó vẫn còn có giá trị. Từ đó chúng ta mới thấy rõ giá trị và lợi ích
thiết thực của Ngũ giới hay Thập thiện đối với cuộc sống, thấy rõ tài đức của
các vị vua đời Trần đã giác ngộ, giáo dục người dân sống hạnh phúc, xã hội
được hài hòa, ổn định.

Là chổ dựa tinh thần cho quần chúng bị áp bức


Trong những điều kiện lịch sử cụ thể, tôn giáo thậm chí là chổ dựa tinh
thần cho những ước muốn chân chính của quần chúng bị áp bức, phục vụ cho
lợi ích của họ đồng thời phản ánh sự phản kháng của nhân dân lao động chống
bất công và thể hiện khát vọng về cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc hơn….
Vai trò của tôn giáo đối với đoàn kết dân tộc và xây dựng đồng thuận xã hội
Trên nền tảng của sự đoàn kết, hưởng ứng chính sách đổi mới của Đảng và
Nhà nước trong giai đoạn hiện nay, các tôn giáo tham gia tích cực vào khối đại
đoàn kết dân tộc. Biểu hiện rõ nhất là các tôn giáo xác định đường hướng đồng
hành cùng dân tộc, đồng thuận với những mục tiêu chung mà Đảng Cộng sản
Việt Nam đề ra, các tín đồ và chức sắc tôn giáo tích cực tham gia vào các hoạt
động chính trị - xã hội, tham gia xây dựng các cấp chính quyền. Xét về góc độ
văn hoá, các tôn giáo tích cực hưởng ứng, tham gia xây dựng đời sống văn hoá
cơ sở, xây dựng làng văn hoá, xã văn hoá, gia đình văn hoá. Các tôn giáo đã
góp phần quan trọng vào việc kìm hãm sự suy thoái đạo đức dưới tác động mặt
trái của cơ chế thị trường.
Tôn giáo với việc điều chỉnh hành vi con người, phát huy các giá trị và
chuẩn mực xã hội
Các lực lượng xã hội khác, kể cả các đảng phái chính trị hay nhà nước,
việc giám sát đạo đức và bảo vệ đạo đức, đều không thể nào “đọ” được với các
tổ chức tôn giáo. Tôn giáo thuyết giáo về đạo đức, đương nhiên không phải là
pháp luật, không có tính cưỡng chế, nhưng không phải vì thế mà hiệu lực
không bằng pháp luật. Giá trị của nó là từ sâu thẳm nội tâm, nó thúc đẩy con
người hành xử. Đứng trước qui tắc tôn giáo, các tín đồ không nghĩ đến vi
phạm, đến chế tài, đơn giản vì việc thực hiện giáo lý xuất phát từ lương tri sâu
thẳm của họ.
Tôn giáo đang góp phần quan trọng trong việc điều chỉnh hành vi của
con người, tác động tích cực đến các quan hệ xã hội, củng cố và phát huy các
chuẩn mực đạo đức, giá trị xã hội, xây dựng lối sống lành mạnh theo hướng
“tốt đời, đẹp đạo”. Chính vì lý do này, thiết nghĩ, để xây dựng Nhà nước pháp


quyền xã hội chủ nghĩa, nên tham khảo các giáo lý, các quan niệm đạo đức và
đời sống tâm lý tôn giáo.
2.1.2 Mặt trái của tôn giáo đối với chính trị
Hiện nay, ở nước ta xuất hiện các tôn giáo và các hiện tượng tôn giáo
phản văn hóa, các hiện tượng tâm linh thần bí, hoạt động mê tín dị đoan xuất
hiện ở nhiều nơi. Một số nơi lạm dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để hành nghề
mê tín dị đoan với mục đích trục lợi (mua thần, bán thánh), làm những điều sai
trái. Một số tổ chức giáo hội còn nhận tiền trái phép của các tổ chức nước
ngoài,...điều này dễ làm cho tình hình chính trị - xã hội bất ổn định, không có
trật tự, kỷ cương, dễ bị các thế lực thù địch cơ hội tiến hành những âm mưu
thâm độc dùng tôn giáo xâm hại đến đất nước.
Bản thân tín ngưỡng tôn giáo không có nội dung chính trị, song mặt tiêu
cực của tôn giáo là phản kháng hiện thực bằng việc thủ tiêu đấu tranh, cam
chiệu khổ ải, “an bần lạc đạo”,…điều này hoàn toàn phù hợp với lợi ích của
giai cấp bóc lột. Hạnh phúc trong đạo đức tôn giáo là hạnh phúc hư ảo. Tôn
giáo không đề cao cuộc sống trần gian. Mặt khác, nó khuyên con người nhẫn
nhục trước tình cảnh nô lệ, biết sợ hãi trước sức mạnh siêu nhiên. Chính vì vậy,
tôn giáo trở thành công cụ phục vụ đắc lực cho lợi ích của giai cấp thống trị (dù
rằng, lúc đầu tôn giáo không phải là của giai cấp thống trị). Tôn giáo làm cho
nhân dân đắm chìm vào đam mê, làm tê liệt ý chí đấu tranh giai cấp. K. Marx
gọi “tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” là theo nghĩa đó.
Cũng từ đó, giai cấp bóc lột đã lợi dụng tôn giáo để phục vụ cho sự thống
trị của nó. Tính chất chính trị của tôn giáo biểu hiện ở chổ giai cấp thống trị đã
lôi kéo chức sắc và tín đồ phục vụ cho các mưu đồ chính trị, kinh tế của chúng.
Những cuộc chiến tranh tôn giáo như các cuộc “thập tự chinh” thời trung cổ,
các cuộc xung đột dân tộc, các cuộc bạo loạn chống chế độ xã hội chủ nghĩa,…


Ngay trong nội bộ các tôn giáo cũng có sự cạnh tranh giành quyền lực và lợi
ích giữa các dòng, hệ, phái. Đằng sau các cuộc tranh giành ấy là những lợi ích
của các lực lượng, các tập đoàn chính trị khác nhau. Xung đột, kỳ thị tôn giáo
thực chất là xung đột, tranh giành về lợi ích kinh tế, chính trị của các tập đoàn
xã hội mà tôn giáo chỉ là cái “vỏ bọc” mà thôi.
2.2 Sự tác động trở lại của chính trị đối với tôn giáo ở Việt Nam
2.2.1 Những tác động tích cực
Ngay từ thời phong kiến, tôn giáo đã được các hệ thống chính quyền phong
kiến sử dụng như một công cụ hữu ích để cai trị đất nước và chống xâm lược.
Ví dụ như các triều đình thời Lý, Trần tôn sùng Phật giáo, dùng Phật giáo để
giáo hóa dân chúng, làm yên lòng dân, làm cuộc sống nhân dân hạnh phúc,
bình an, ấm no; tạo nên một sức mạnh đoàn kết đánh tan quân xâm lược, bảo
vệ tự do độc lập cho dân tộc, cho một xã hội hòa bình và ổn định. Hay đối với
chính sách tôn giáo thời Vua Tự Đức, mà nổi bật là việc công nhận Công giáo
đã đem lại nhiều hệ quả tích cực lâu dài cho đời sau, nhân dân Việt Nam có cơ
hội tiếp xúc thêm với một tôn giáo tích cực trên thế giới, có vai trò quan trọng
trong việc giáo dưỡng nhân dân, xoa dịu phần nào những mâu thuẫn trong nhân
dân.
Ngày nay, ở nước ta, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được khẳng định
trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật của Nhà nước, mọi sinh hoạt tín
ngưỡng, tôn giáo bình thường được tôn trọng, tín đồ tôn giáo được tự do thực
hiện tín ngưỡng, tôn giáo của mình. Điều này góp phần tránh tình trạng gây bất
đồng, chống đối của các tín đồ tôn giáo đối với Nhà nước nói riêng và hệ thống
chính trị nói chung, từ đó an ninh chính trị - xã hội được ổn định và ít có khả
năng tranh chấp với tôn giáo.


Hiện nay, đại đa số chức sắc, tín đồ các tôn giáo, nhất là Phật giáo tiếp tục
phát huy truyền thống yêu nước, gắn bó với dân tộc, hăng hái thực hiện các chủ
trương, chính sách mà Đảng và Nhà nước đã đưa ra; tham gia các phong trào
quần chúng ở địa phương, ủng hộ chủ trương đoàn kết thống nhất giáo hội Phật
giáo toàn quốc, gắn bó với hoạt động của mặt trận Tổ Quốc và các đoàn thể,
theo phương châm “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”….
Những thành tựu của Việt Nam đạt được trên lĩnh vực tôn giáo là một bằng
chứng sinh động chứng minh cho chính sách tôn giáo đúng đắn, cởi mở, thực
sự tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân, của Đảng
và Nhà nước Việt Nam. Những kết quả đó buộc Bộ Ngoại giao Mỹ phải đưa
Việt Nam ra khỏi danh sách các nước cần đặc biệt quan tâm về tôn giáo.
2.2.2 Những tác động tiêu cực
Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, các nguồn gốc nảy sinh tôn giáo vẫn tồn tại
và tác động thường xuyên tới sự phát triển của các tôn giáo. Do không nhận
thức đúng đắn quy luật này, cộng với những mặc cảm, định kiến về tôn giáo,
nên trước đây đã có nơi, có lúc, chúng ta có chủ trương, biện pháp đối xử thô
bạo với tôn giáo, tìm cách thu hẹp, hạn chế các hoạt động tôn giáo. Vì vậy đã
gây căng thẳng trong quan hệ giữa chính quyền với tôn giáo, làm mất lòng tin
của quần chúng tín đồ, chức sắc các tôn giáo với Đảng và Nhà nước.
Các thể lực phản động trong và ngoài nước lợi dụng tôn giáo vì mục đích
chính trị của chúng. Vào thế kỷ XVI, Công giáo (Thiên chúa giáo) truyền vào
Việt Nam do các giáo sĩ Bồ đào nha, Tây ban nha và sau là Pháp. Sự truyền
đạo giai đoạn đầu ít gặp trở ngại do tính khoan dung của người Việt Nam và
tính không đối dầu của tôn giáo bản địa nhưng sự truyền đạo đạt kết quả không


cao. Sau đó Pháp vận động Giáo Hoàng cho phép độc quyền truyền đạo tại
Việt Nam. Hội truyền giáo Pa-ri được thành lập năm 1660 cùng nhà nước Pháp
tuyển chọn, đào tạo giáo sĩ, cử sang hoạt động ở Việt Nam và một số nước
khác.
Cuối thế kỷ XVIII, Giáo hội Công giáo Việt Nam đã có ba địa phận (Đàng
trong, Đàng ngoài và Tây đàng ngoài) với khoảng 3 vạn giáo dân và 70 linh
mục Việt Nam. Dưới triều Nguyễn, lúc đầu sự truyền giáo được nhà Nguyễn
tạo nhiều điều kiện thuận lợi, nhưng sau đó thấy những hoạt động của giáo sĩ
vừa truyền đạo vừa phục vụ cho âm mưu xâm lược của thực dân Pháp nên nhà
Nguyễn đã cấm đạo nhất là từ khi thực dân Pháp bộc lộ rõ ý đồ thôn tính Việt
Nam. Việc cấm đạo gay gắt tạo sự chia rẽ nhất định trong nhân dân, tạo sơ hở
để Pháp lợi dụng đánh chiếm nước ta.
Trong hơn 100 năm dưới chế độ thực dân, chúng luôn lợi dụng Công giáo
để xâm lược và duy trì sự thống trị. Chúng luôn lợi dụng Công giáo để chèn ép
các tôn giáo khác gây chia rẽ giữa các tín đồ Công giáo với tín đồ các tôn giáo
khác hoặc với người không có đạo. Dưới ách thống trị của đế quốc, thực dân,
Giáo hội Công giáo được nhiều đặc quyền đặc lợi. Những tổ chức, giáo sĩ theo
chúng được ưu đãi. Tuy thế , giáo hội Công giáo ở Việt Nam vẫn bị coi là giáo
hội thuộc địa. Có thể thấy điều đó rất rõ sau gần 400 năm truyền đạo vào nước
ta, mãi đến năm 1933 mới có một giáo sĩ Việt Nam được phong làm giám mục.
Do sự thao túng bởi các thế lực bên ngoài, trong cuộc kháng chiến đánh
đuổi đế quốc, thực dân giáo hội đã đứng về phía xâm lược. Năm 1951 Hội nghị
các giám mục Đông dương đã họp và đã đưa ra thư chung cấm người Công
giáo tham gia kháng chiến. Năm 1960, Hội nghị các giám mục miền Nam ra
thư mùa chay, nhắc lại thư chung năm 1951 ngăn cản đồng bào Công giáo
tham gia sự nghiệp giải phóng dân tộc. Măïc dù vậy, một bộ phận chức sắc đã


dung hoà được quyền lợi của dân tộc với tôn giáo và đông đảo tín đồ với ý thức
dân tộc và lòng yêu nước đã đứng về phía kháng chiến và đã đóng góp không
chỉ vật chất, tinh thần mà còn cả xương máu cho cách mạng.
Mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị luôn được xem là vấn đề phức tạp,
tế nhị, tinh vi và nhạy cảm. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế diễn
ra mạnh mẽ, tôn giáo với tư cách là thực thể xã hội có tác động nhiều mặt đến
đời sống chính trị, xã hội của mỗi quốc gia cũng không thể đứng ngoài xu thế
này. Vì vậy, các thế lực thù địch đứng đầu là Mỹ xem đây là “thời cơ vàng” để
đẩy mạnh chiến lược diễn biến hòa bình nhằm xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt
Nam mà biểu hiện rõ nét là tìm cách “chính trị hóa tôn giáo” để từ đó làm cơ sở
cho các hoạt động chống phá cách mạng nước ta.
Mỹ và các thế lực thù địch phản động tuyệt đối hoá sự khác biệt giữa tôn
giáo và chủ nghĩa xã hội, đẩy tới mức trở thành mâu thuẫn đối kháng về mặt tư
tưởng từ đó gia tăng các hoạt động tuyên truyền phá hoại về con đường đi lên
CNXH của đất nước. Hàng năm, Bộ ngoại giao Mỹ đều cho xuất xưởng các
bản báo cáo nhân quyền các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam, nội dung
của bản báo cáo này đều tập trung thổi phồng tình trạng vi phạm nhân quyền vu
khống, nói xấu Việt Nam cấm đoán, vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo. Bên cạnh đó, Mỹ cũng là quốc gia tích cực sử dụng các diễn đàn Liên
hiệp quốc về Quyền con người, vấn đề Dân tộc thiểu số… để làm phong phú
thêm về bức tranh tự do tôn giáo tại Việt Nam dưới lăng kính của mình.
Phản đối riêng, phản đối chính thức công khai và lên án công khai Việt
Nam trên các diễn đàn đa phương quốc tế. Nhiều vấn đề tôn giáo thuộc công
việc nội bộ của Việt Nam được Mỹ quan tâm đặc biệt, gây sức ép về mặt ngoại
giao, áp dụng các biện pháp về kinh tế để can thiệp, ví dụ: Không cho ngân


hàng xuất nhập khẩu Mỹ, các tập đoàn đầu tư tư nhân hải ngoại, hoặc cơ quan
thương mại và phát triển của Mỹ tiến hành bất cứ dự án nào đối với nước vi
phạm. Cấm bất kỳ tổ chức tài chính nào của Mỹ cho vay hoặc cung cấp tín
dụng trên 10 triệu USA trong thời hạn 12 tháng cho chính phủ, tổ chức của
nước ngoài bị phát hiện hoặc được tổng thống Mỹ quyết định phải chịu trách
nhiệm về các vi phạm đó; rút lại, hạn chế hoặc đình chỉ viện trợ phát triển…
Củng cố, xây dựng, mở rộng lực lượng chống đối trong các tôn giáo. Hàng
loạt đối tượng trong các tôn giáo ở Việt Nam được Mỹ hỗ trợ, tạo dựng ngọn
cờ để gia tăng các hoạt động chống phá, tạo thời cơ, kiếm cớ can thiệp nhằm
lật đổ Đảng và Nhà nước ở Việt Nam và các nước khác nếu không theo Mỹ.
Bên cạnh đó, hàng năm các tổ chức phi chính phủ Mỹ tích cực tài trợ hàng
chục triệu USD cho các tổ chức tôn giáo núp dưới danh nghĩa bảo vệ nhân
quyền, thúc đẩy dân chủ ở Việt Nam…
Việc Mỹ cho mình có quyền phán xét, can thiệp về tình hình tôn giáo của
các nước khác là trái với nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Việt Nam
là một nước có nhiều tôn giáo và tín ngưỡng khác nhau, tín đồ các tôn giáo ở
Việt Nam đều bình đẳng và tự do hành đạo, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng
tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng, không và chưa bao giờ cản trở
hoạt động tôn giáo. Đương nhiên, bất cứ tôn giáo nào cũng đều nằm trong cộng
đồng dân tộc và trong một quốc gia nhất định. Do đó, những người hoạt động
tôn giáo, bên cạnh việc hành đạo phải tôn trọng pháp luật của Nhà nước Việt
Nam.
Vì vậy, để đảm bảo tôn giáo đồng hành cùng dân tộc trong quá trình xây
dựng CNXH, Đảng Nhà nước Việt Nam vừa thực hiện chính sách bình đẳng, tự
do tôn giáo, vừa kiên quyết đấu tranh bóc tách mặt phản động, ngăn chặn các


hoạt động hỗ trợ cho các đối tượng chống đối trong nước từ bên ngoài; phản
kích, vô hiệu hoá các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo Nhà nước ta,
kích động tư tưởng, hoạt động chống đối từ bên trong của các thế lực thù địch
lợi dụng tôn giáo.
2.3 Giá trị và ý nghĩa của mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị ở Việt
Nam
Mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị ở Việt Nam là mối quan hệ biện
chứng, tác động qua lại lẫn nhau cùng suy thoái hoặc phát triển đã đưa đến
những ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng đất nước, điều này được thể
hiện ở một số điều sau:
+ Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân.
Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng
của nhân dân, từ đó góp phần thực hiện bình đẳng, đoàn kết giữa các tôn giáo,
tạo thành sức mạnh đoàn kết của dân tộc. Khắc phục mọi thái độ hẹp hòi, thành
kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, chống những hành động vi phạm tự
do tín ngưỡng; đồng thời nghiêm cấm và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôn
giáo phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn
cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân”.
+ Việc Đảng luôn chú trọng công tác tuyên truyền, vận động quần chúng đã
làm cho quần chúng tín đồ tôn giáo, chức sắc tôn giáo nhận thức rõ về công
cuộc xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta là phù hợp với đạo lý, đường
hướng và phương châm hoạt động của các tôn giáo cũng vì mục tiêu chung của
cả Dân tộc: “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.


+ Tôn giáo và chính trị kết hợp hài hòa sẽ góp phần làm tăng sức mạnh
chính trị, trật tự xã hội ổn định, được sự ủng hộ, tin tưởng của nhân dân, kể cả
các tín đồ.
+ Các tôn giáo đều hoạt động gắn bó, đồng hành cùng đất nước; văn hoá tôn
giáo đang hội nhập tích cực vào văn hoá dân tộc, góp phần làm phong phú bản
sắc văn hoá Việt Nam.
+ Việc tìm hiểu những tác động tích cực và tiêu cực của tôn giáo đối với
chính trị và ngược lại đã giúp chúng ta có cái nhìn khách quan về mối quan hệ
này, từ đó có những cách thức đúng đắn để phát huy mặt tích cực và khắc
phục, loại trừ những tiêu cực (trong đó quan trọng nhất là các thế lực thù địch
lơi dụng tôn giáo để chia rẽ dân tộc), từ đó đưa đất nước Việt Nam trở nên ổn
định và phát triển hơn trong tất cả các mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa,
an ninh quốc phòng,….
2.4 Chính sách tôn giáo Việt Nam trong việc giải quyết mối quan hệ giữa
tôn giáo và chính trị ở thời đại ngày nay
Theo đà lên của sự nghiệp Đổi mới và nhất là với những nhận thức mới
về tôn giáo, tín ngưỡng; Việt Nam chúng ta ngày càng giải quyết tốt hơn
mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị.
Vấn đề còn lại hiện nay, vừa có ý nghĩa thời sự, vừa có tầm chiến lược
là hệ thống chính trị của chúng ta, hệ thống cán bộ - đảng viên trực tiếp ở cơ
sở cần nhận thức sâu sắc hơn những quan điểm, phương pháp mới của Đảng
ta trong giải quyết vấn đề này. Từ đó, căn cứ vào từng đối tượng tôn giáo cụ
thể, từng sự vụ cụ thể, trong không gian - địa lý cụ thể để xử lý các tình
huống phức tạp và ngăn ngừa có hiệu quả các "điểm nóng" chính trị - xã hội


về tôn giáo. Khách quan, làm được vậy, cũng chính là tăng cường khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, đồng lòng, quyết chí thực hiện kỳ được mục tiêu "Dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", mà Đảng ta đã đề
ra và tiếp tục được khẳng định, nâng cao qua Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ X gần đây của Đảng.
Đồng bào các tôn giáo đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhìn chung các tổ chức tôn giáo đã xây dựng
đường hướng hành đạo, hoạt động theo pháp luật; được Nhà nước công nhận
đã hành đạo gắn bó với dân tộc, tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn
kết toàn dân, xây dựng tốt đời, đẹp đạo, góp phần vào công cuộc đổi mới đất
nước. Các ngành các cấp đã chủ động, tích cực thực hiện các chủ trương,
chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và giữ
vững an ninh chính trị ở các vùng đồng bào tôn giáo, đồng thời đấu tranh
ngăn chặn, làm thất bại những hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để
hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước.
Tuy nhiên, nhận thức về tôn giáo và công tác tôn giáo của đội ngũ cán bộ
trong hệ thống chính trị ở nhiều nơi vẫn còn chưa đầy đủ, thống nhất theo quan
điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước; công tác tôn giáo nói chung, quản lý
nhà nước về tôn giáo nói riêng còn có mặt hạn chế và bất cập.
Tình hình hoạt động còn có nhiều diễn biến phức tạp , tiềm ẩn những nhân
tố có thể gây mất ổn định. Một số người chưa tuân thủ pháp luật, còn tổ chức
truyền đạo trái phép, lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hành nghề mê tín dị
đoan. Việc khiếu kiện và tranh chấp liên quan đến đất đai và cơ sở vật chất của
tôn giáoo ở một số nơi tăng lên, có nơi gay gắt, phức tạp. Ở một số nơi, nhất là
vùng dân tộc thiểu số, một số người đã lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt
động chống đối, kích động tín đồ nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân
tộc, gây mất ổn định chính trị.


Nguyên nhân gây ra các tình hình trên là do:
+ Công tác tôn giáo chậm đổi mới nội dung và phương thức hoạt động trong
khi các thế lực thù địch ráo riết tranh thủ, giành giật, lôi kéo quần chúng tín đồ,
chức sắc tôn giáo.
+ Một số cấp ủy, chính quyền các cấp, một số cán bộ có trách nhiệm chưa
nhận thức, quán triệt đầy đủ các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về
tôn giáo. Có nơi chủ quan, nóng vội, giản đơn trong giải quyết nhiều vấn đề
liên quan đến tôn giáo, có nơi lại hữu khuynh, thụ động, buông lỏng quản lý.
+ Tổ chức, bộ máy làm công tác tôn giáo của hệ thống chính trị, nhất là bộ
máy quản lý nhà nước về tôn giáo chưa xác định rõ được mô hình, chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn, cơ chế phối hợp; thiếu sự quan tâm đầu tư bảo đảm các
điều kiện hoạt động; đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo và hệ thống chính trị
cơ sở ở các vùng đông tín đồ tôn giáo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn yếu,
việc tập hợp quần chúng còn hạn chế,….
2.5 Những bài học kinh nghiệm
+ Trước hết, cần tăng cường công tác tuyên truyền, mở các lớp bồi dưỡng
nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị và đông đảo
quần chúng nhân dân những quan điểm, chủ trương của Đảng về vấn đề tôn
giáo và công tác tôn giáo.
+ Do tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài và nó có thể đồng hành với chủ
nghĩa xã hội, yêu cầu phải có cách ứng xử với tôn giáo phù hợp, phải nhìn nhận
tôn giáo như một “thực tại xã hội”, có những nhân tố khách quan trong sự tồn
tại của nó, có yếu tố tích cực và tiêu cực. Từ nhận thức mới này để từng bước
khắc phục nhận thức thiển cận về tôn giáo, xoá bỏ mặc cảm, phận biệt đối xử
với tôn giáo, chấp nhận những điểm khác nhau, không trái với lợi ích chung
của dân tộc; phát huy truyền thống nhân nghĩa, khoan dung…để tập hợp, đoàn


kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội; tôn trọng và
bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của mọi công dân.
+ Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp
với quan điểm của Đảng trong giai đoạn mới của đất nước, đây là vấn đề quan
trọng để đưa Nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống. Mục tiêu của công tác
quản lý không chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn các hoạt động tôn giáo tuân thủ
pháp luật mà điều có tác dụng cơ bản và lâu dài là phải tạo hành lang pháp lý
đầy đủ cho các hoạt động tôn giáo và thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước
về tôn giáo.
+ Thực tế tình hình tôn giáo có những vấn đề mới đặt ra cần phải được điều
chỉnh. Vì vậy, cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để kịp thời
xem xét bổ sung, điều chỉnh chính sách, pháp luật cho phù hợp; xây dựng ý
thức và hoạt động tôn giáo tuân thủ pháp luật; nâng cao trình độ dân trí, hiểu
biết về pháp luật trong các hoạt động tôn giáo cho đông đảo chức sắc, tín đồ.
+ Cần chú trọng quan tâm tới tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ làm công tác
quản lý nhà nước về tôn giáo. Thực tế bộ máy và đội ngũ cán bộ quản lý nhà
nước về tôn giáo hiện đang có những bất cập, chưa đáp ứng với yêu cầu thực
tiễn công tác tôn giáo trong tình hình mới, nhất là đối với chính quyền cơ sở.
+ Công tác quản lý nhà nước đối với các tôn giáo và đấu tranh chống việc lợi
dụng tôn giáo để chống đối chế độ chỉ thành công nếu làm tốt công tác vận
động quần chúng.
+ Việc đưa ra các chính sách tôn giáo phải dựa vào thực tiễn xã hội, căn cứ
vào những hoàn cảnh chính trị - xã hội nhất định mới có thể đưa ra những
chính sách đúng đắn, hợp lý mà không làm lãng phí công sức và của cãi của xã
hội.


+ Mỗi cán bộ, Đảng viên và công dân, tín đồ, chức sắc,…cần tỉnh táo và sáng
suốt, phát hiện kịp thời các thủ đoạn, âm mưu thâm độc lợi dụng tôn giáo trong
chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch để chống phá chế độ,
gây chia rẽ nội bộ dân tộc.
Tóm lại, công tác tôn giáo và chính trị, nếu thực hiện đúng hướng, đúng
nguyên tắc, khách quan,…sẽ đem lại những kết quả tốt, phát huy sức mạnh của
dân tộc không những trong lĩnh vực chính trị, tôn giáo mà cả trong kinh tế, văn
hóa, an ninh quốc phòng,….Ngược lại, nếu không sáng suốt để nhận định vấn
đề, không tỉnh táo đưa ra các quyết định, làm việc còn chủ quan, nóng vội, duy
ý chí,…thì chắc chắn sẽ đưa ra các chính sách sai lầm, gây ra những hệ quả
khôn lường cho đất nước như: mất đoàn kết, chia rẽ dân tộc, chính trị bất ổn, xã
hội chậm phát triển, mất lòng dân, dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng phục vụ
mưu đồ kinh tế, chính trị của chúng,…làm đất nước ngày càng kiệt quệ và đi
đến thất bại.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×