Tải bản đầy đủ

Chính sách tôn giáo thời tự đức và bài học cho ngày nay

1

MỤC LỤC

Lời nói đầu
Phần nội dung
Chương I: Lý luận chung về tôn giáo và chính trị
1.
2.
3.

Lý luận chung của chủ nghĩa Marx về tôn giáo
Lý luận chung về chính trị
Mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị trong lịch sử phát triển của nhân
loại

Chương II: Nội dung
1.

2.


Điều kiện ra đời các chính sách tôn giáo thời Tự Đức
1.1.
Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội Việt Nam đầu thế kỉ 19
1.2.
Vua Tự Đức – con người và sự nghiệp
Nội dung các chính sách tôn giáo thời Tự Đức
2.1.
Chính sách đối với các tôn giáo truyền thống
2.2.
Chính sách đối với Công giáo

Chương III: Ý nghĩa thực tiễn và bài học kinh nghiệm
1.
2.

Ý nghĩa thực tiễn
Bài học kinh nghiệm

Phần kết luận
Phụ lục
Tài liệu tham khảo

Tôn giáo và Chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam


2

Lời nói đầu
1.

Lí do lựa chọn đề tài

Trong những năm gần đây, tình hình hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng ở
nước ta có nhiều biến chuyển. Với tinh thần tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng
của Đảng và Nhà nước, nước ta có nhiều tôn giáo, nhiều nghi lễ tín ngưỡng.
Thêm vào đó, các “tôn giáo mới” xuất hiện từ trong nước, và du nhập từ bên
ngoài làm cho tình hình tôn giáo, tín ngưỡng hết sức phức tạp, ảnh hưởng
mạnh mẽ đến chính trị, kinh tế, xã hội.
Xét thấy tình trạng này có nét tương đồng với thời kì của vua Tự Đức, vậy
từ lịch sử, chúng ta đã rút ra được những gì ?

Trên quan điểm nhìn thẳng vào lịch sử, phân tích và rút ra những bài học cho
hiện nay, chúng tôi lựa chọn đề tài này.
2.

Tổng quan tình hình nghiên cứu

“Chính sách tôn giáo thời Tự Đức” là luận án tiến sĩ của Nguyễn Ngọc
Quỳnh, được xuất bản năm 2009. Đề tài này đã tìm hiểu bối cảnh lịch sử Việt
Nam thế kỉ 19, phân tích, đánh giá những chính sách tôn giáo của vua Tự
Đức. Từ đó rút ra những bài học cho việc giải quyết các vấn đề chính trị, xã
hội Việt Nam hiện nay nói chung và hoàn thiện các chính sách tôn giáo nói
riêng. Tuy nhiên, đề tài này chưa nói rõ đến các tín ngưỡng – một vấn đề nhạy
cảm, phổ biến ở Việt Nam. Tập trung nghiên cứu, phân tích các chính sách
tôn giáo là chính, các bài học rút ra còn chung chung.
3.

Mục đích nghiên cứu

Chúng tôi nghiên cứu đề tài này với 3 mục đích chính:



4.

Tái hiện bức tranh xã hội Việt Nam tời kì vua Tự Đức
Nghiên cứu, phân tích các chính sách tôn giáo của vua Tự Đức và rút ra
những bài học cho hiện nay
Đề tài này có thể trở thành tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên
cứu sau
Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính là các chính sách tôn giáo của vua Tự Đức đặt
trong bối cảnh lịch sử đương thời.
5.

Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi lịch sử: Từ đầu thế kỉ 19 đến lúc vua Tự Đức mất năm 1883

Tôn giáo và Chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam


3

Phạm vi đối tượng nghiên cứu: các chính sách tôn giáo được vua Tự Đức
ban hành
6.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Có 2 nhiệm vụ cơ bản:
Từ bối cảnh lịch sử và các chính sách tôn giáo của vua Tự Đức, đề
tài tập trung phân tích, đánh giá các chính sách đó
• Rút ra bài học cho hiện tại
Phương pháp nghiên cứu


7.

Đề tài nghiên cứu này thực hiện trên cơ sở thế giới quan và phương pháp
luận của chủ nghĩa Marx – Lenin, đặc biệt là mối quan hệ giữa tồn tại xã hội
và ý thức xã hội.
Đồng thời sử dụng các phương pháp sau : tổng hợp và phân tích, logic lịch
sử.
8.

Bố cục đề tài

Đề tài gồm có 3 chương, 7 tiết.

Tôn giáo và Chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam


4

Phần nội dung
Chương I: Lý luận chung về tôn giáo, chính trị.
1.

Lý luận chung của Chủ nghĩa Marx về tôn giáo

Tôn giáo là hệ thống những quan niệm tín ngưỡng, sùng bái một hay nhiều
vị thần linh nào đó và những hình thức lễ nghi thể hiện sự sùng bái ấy. Có
nhiều định nghĩa khác nhau về tôn giáo. Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng, về
bản chất, tôn giáo chỉ là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội.
Trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh”, Ăngghen viết: “ Tất cả mọi tôn giáo
chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu con người của những lực
lượng bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh
trong đó những thế lực trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần
thế ”.
Như vậy, về bản chất, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh ý
thức xã hội, phản ánh hư ảo thực tại xã hội bằng những lực lượng siêu nhiên
nào đó. Về mặt hình thức biểu hiện, tôn giáo bao gồm hệ thống hoàn chỉnh
các quan niệm, ý thức tín ngưỡng, thể hiện tập trung ở lòng tin, tình cảm tôn
giáo, hành vi và hoạt động tôn giáo với những giáo lý, giáo luật, lễ nghi và
giáo hội được tổ chức chặt chẽ.
Tôn giáo xuất hiện rất sớm trong lịch sử xã hội của loài người, hoàn
thiện và biến đổi gắn liền với các nguồn gốc, đó là:
+ Nguồn gốc kinh tế-xã hội
Tôn giáo ra đời trong điều kiện xã hội có trình độ sản xuất còn thấp
kém, con người hầu như lệ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên, bất lực trước các
hiện tượng tự nhiên như thiên tai, bệnh tật, chết chóc,… Con người không
hiểu, không chế ngự được tự nhiên nên sợ hãi và lý giải các hiện tượng tự

Tôn giáo và Chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam


5

nhiên bằng sự suy đoán sai lệch thành các lực lượng siêu nhiên, thần bí. Đó
chính là nguồn gốc ban đầu của tôn giáo.
Bên cạnh cảm giác yếu đuối trước sức mạnh của tự nhiên, khi xã hội
bắt đầu xuất hiện những giai cấp đối kháng, phân hóa giàu nghèo, xung đột bộ
tộc, bộ lạc, áp bức bóc lột,…con người lại cảm thấy bất lực trước những sức
mạnh tự phát của xã hội. Không lý giải được nguồn gốc của sự phân hóa giai
cấp và xã hội ấy, con người lại ảo tưởng vào một thế giới “bên kia” mà
V.I.Lênin đã nói: “Sự bất lực của giai cấp bị bóc lột trong cuộc đấu tranh
chống bọn bóc lột tất nhiên đẻ ra lòng tin vào một cuộc đời tốt đẹp hơn ở thế
giới bên kia”.
Trong cuộc sống hiện nay, dù khoa học và sản xuất ngày càng phát
triển, con người dần thoát khỏi tình trạng lệ thuộc vào tự nhiên, giải thích
được các hiện tượng tự nhiên, đồng thời các quan hệ xã hội cũng vận động,
phát triển. Tuy nhiên, cả tự nhiên và xã hội vẫn còn tồn tại những hiện tượng
mà con người chưa thể hiểu biết đầy đủ, triệt để và chế ngự được. Trong điều
kiện xã hội nhất định, con người – nhất là những người lao động, chưa thể có
hạnh phúc đầy đủ, thực sự như người ta mong muốn. Vì vậy, con người vẫn
tin vào thần linh, thượng đế, vẫn tìm đến tôn giáo với chính sách tôn giáo để
sinh hoạt tinh thần, nhằm thỏa mãn những nhu cầu về tâm linh.
+Nguồn gốc nhận thức
Sự hiểu biết của con người thời nguyên thủy rất nông cạn, mơ hồ,
hạn hẹp về thế giới là một trong những tiền đề hình thành tín ngưỡng, tôn
giáo. Sự lung túng nảy sinh từ sự hạn chế trong trình độ nhận thức của con
người đã dấn đến sự thừa nhận những linh hồn sau khi thân thể chết đi. Cũng

Tôn giáo và Chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam


6

bằng cách hoàn toàn giống như thế, sự nhân cách hóa các lực lượng tự nhiên
làm nảy sinh các vị thần đầu tiên.
Con người ngày càng nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về thế giới
khách quan, khái quát hóa thành các khái niệm, quy luật. Nhưng càng khái
quát hóa, trừu tượng hóa thì sự vật hiện tượng được con người nhận thức càng
có khả năng xa rời hiện thực và phản ánh sai lệch hiện thực. Sự nhận thức bị
tuyệt đối hóa, cường điệu hóa của chủ thể nhận thức sẽ dẫn đến thiếu khách
quan, mất dần cơ sở hiện thực để trở thành siêu nhiên thần thánh.
Giới tự nhiên là vô cùng tận, nhận thức và khả năng cải tạo tự nhiên
của con người cũng là vô tận nhưng trong những điều kiện lịch sử cụ thể là có
hạn. Mặc dù khoa học đã phát triển cao, song khoa học càng phát triển thì
người ta lại càng phát hiện ra nhiều điều bí ẩn chưa giải thích được, cần tiếp
tục nghiên cứu. Điều gì mà khoa học chưa giải thích được thì người ta thường
phải nhờ đến sức mạnh của linh cảm, của tâm linh, nhờ “đấng sáng tạo” để
tìm ra nguyên nhân cuối cùng của thế giới.
+Nguồn gốc tâm lý
Cảm xúc, tình cảm, tâm trạng của con người trước sức mạnh tự nhiên
và xã hội, trước những khó khăn thử thách trong cuộc sống của cá nhân và
cộng đồng xã hội là một nguyên nhân của sự ra đời, tồn tài và phát triển của
tôn giáo.
Cảm giác về sự phụ thuộc là cơ sở của tôn giáo, sự sợ hãi đẻ ra thần
linh, thượng đế. Mặt khác, lòng biết ơn, tôn kính những người có công cũng
dẫn đến sự ngưỡng mộ đến mức tưởng tượng, suy diễn những người thật, việc
thật thành hình tượng thánh thần, có sức mạnh siêu phàm, có khả năng “cứu
rỗi”. Trong tình cảm, con người luôn có nhu cầu được an ủi, vỗ về khi gặp

Tôn giáo và Chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam


7

khó khăn, hoạn nạn, bất hạnh; tôn giáo chính là sự bù đắp những hụt hẫng,
đem đến cho người ta hạnh phúc hư ảo. C.Mác đã chỉ rõ: “Tôn giáo là tiếng
thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim,
cũng giống như nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần”.
Như vậy, tôn giáo ra đời, tồn tại và phát triển có nguồn gốc từ những
điều kiện cụ thể của xã hội, trong nhận thức và tâm lý của con người khi đứng
trước những sức mạnh của tự nhiên và xã hội. Nhưng cũng phải thấy rằng sự
tuyên truyền, tác động của giáo hội thông qua các chức sắc, các nhà tu hành
và hệ thống nghi lễ, kết hợp các công cụ và biện pháp khác như kinh tế, văn
hóa, từ thiện,…tới con người và các cộng đồng người, cũng là một nguyên
nhân cho sự tồn tài và phát triển của tôn giáo. Thậm chí trong lịch sử nhân
loại, đã từng xảy ra các cuộc chiến tranh tôn giáo nhằm bảo vệ và phát triển
tôn giáo này, đẩy lùi, hạn chế sự mở rộng và phổ biến của các tôn giáo khác
cũng làm cho tôn giáo phát triển, biến đổi, mở rộng phạm vi ảnh hưởng trên
toàn thế giới.
1.2. Chính trị
Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, đấu tranh giai cấp (mà đỉnh cao là
cuộc đấu tranh ấy là đấu tranh nhằm giành, giữ, thực thi quyền lực chính trị,
quyền lực nhà nước cho một giai cấp nhất định); là việc giải quyết mối quan
hệ giữa các giai cấp và giai tầng xã hội trong việc phân bổ các lợi ích (đặc
biệt là lợi ích kinh tế).
Quyền lực chính trị tất yếu luôn thuộc về giai cấp, tầng lớp xã hội đại
diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, cho xu hướng tiến bộ của xã
hội, cho lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân.

Tôn giáo và Chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam


8

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, vấn đề trung tâm, then chốt,
trực tiếp nhất trong chính trị là vấn đề quyền lực nhà nước. Nó là công cụ cơ
bản nhất để giải quyết các quan hệ kinh tế, các quan hệ giai cấp, theo hướng
có lợi cho lực lượng nắm quyền.
Chủ nghĩa Mác – Lênin quan niệm rằng, chính trị của giai cấp vô sản là
thái độ của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh tự giải phóng khỏi ách áp bức
bóc lột, là việc giai cấp vô sản phải vươn lên giành lấy quyền lực nhà nước từ
trong tay các giai cấp bóc lột, là việc sử dụng nhà nước vào sự nghiệp xây
dựng xã hội mới.
Chính trị trong xã hội đương đại không chỉ là quan hệ giữa các giai cấp,
mà còn là quan hệ giữa các cộng đồng (các nhóm lợi ích, các lực lượng xã
hội, các công dân) với nhà nước. Đây tức là quá trình đấu tranh để xác lập các
thể chế, thiết chế quyền lực nhà nước hợp lí, có hiệu quả vì sự ổn định và phát
triển của xã hội, là hoạt động của các chính đảng, các tổ chức đại diện nhóm
lợi ích xã hội trong việc giành, chia sẻ và thực thi quyền lực nhà nước vì lợi
ích khách quan của các lực lượng chính trị, của các cộng đồng công dân.
Sự tham gia của công dân vào các hoạt động chính trị, xã hội được xem
như một giá trị dân chủ và đó cũng là một môi trường để mọi công dân phát
huy tính tích cực chính trị - xã hội của mình với tư cách kà một con người
chính trị. Đặc biệt, trong xã hội công dân – một xã hội văn minh dựa trên nền
tảng pháp luật và được điều hành bởi những nhà lãnh đạo có năng lực và văn
hóa chính trị cao…một xã hội đã được dân chủ hóa và hội đủ những điều kiện
cơ bản nhất để phát triển toàn diện, bền vững với sự tham gia tích cực của
công dân vào công việc của cộng đồng xã hội – đòi hỏi sự đối thoại công khai
và có sự tham gia rộng rãi, phải tạo cơ hội cho mọi công dân có được tiếng
nói trong các quyết định ảnh hưởng đến họ….

Tôn giáo và Chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam


9

1.3.

Mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị trong lịch sử phát triển nhân loại
Mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị luôn được xem là vấn đề phức tạp, tế
nhị, tinh vi và nhạy cảm vào bậc nhất so với các hiện tượng khác thuộc
thượng tầng kiến trúc - xã hội. Từ trước đến nay, nhận thức về mối quan hệ
này đã tạo ra những cuộc tranh luận, không phải là "có hay không có quan
hệ", mà là "quan hệ như thế nào". Các nhà triết học, thần học, tôn giáo học và
chính trị học từ trước đến nay thường đưa ra 3 ý kiến khác nhau về mối quan
hệ này.
Một là, tôn giáo hoá chính trị.
Hai là, chính trị hoá tôn giáo.
Ba là, phi chính trị hoá tôn giáo và thế tục hoá chính trị.
Trong các thời đại lịch sử khác nhau, tính chất, nội dung và hình thức của mối
quan hệ giữa tôn giáo và chính trị đều do những điều kiện kinh tế, xã hội, văn
hóa, chính trị quy định. Vào thời cổ đại, mối quan hệ đó nổi lên là tình hình
tôn giáo đối đầu với chính trị, hoặc chính trị lợi dụng tôn giáo, tùy theo vị thế
của các lực lượng chính trị khác nhau. Thời phong kiến ở châuÂu, tôn giáo,
mà cụ thể là Kitô giáo, là thế lực đứng trên chính trị, chi phối toàn bộ đời
sống xã hội. Chế độ chính trị phổ biến là chính trị thần quyền. Nhưng đến
cuối thời phong kiến, sang thời kỳ tư bản, giữa nhà nước chính trị và giáo hội
nảy sinh cuộc xung đột quyết liệt theo hướng thế tục hoá chính trị và tự trị
hoá tôn giáo. Lúc đó, chính trị muốn thoát khỏi ảnh hưởng của thần học, tôn
giáo đã trở về với bản chất thế tục, thực thi quyền lực chính trị - nhà nước.
Luận điểm "tách nhà nước ra khỏi nhà thờ" của giai cấp tư sản ở những thế kỷ
trước, và sau đó, C.Mác, Ăngghen, Lênin phát triển lên, có thể xem là biểu
hiện tiêu biểu của khuynh hướng này. Còn trong tôn giáo này, phong trào cải
cách tôn giáo diễn ra với tính chất là phi chính trị hoá tín ngưỡng.

Tôn giáo và Chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam


10

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các loại tôn giáo lớn trên thế giới ngày càng
chuyển hoá phức tạp và lộ dần xu hướng phân hoá, mâu thuẫn. Đặc biệt, càng
ngày các tôn giáo mang tầm thế giới, xuyên lục địa càng xích gần chính trị,
xuất hiện xu thế chính trị hoá tôn giáo.
Mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị được tập trung biểu hiện: chính – giáo
hợp nhất, chính – giáo phân ly và chính – giáo hòa hợp.
Thứ nhất, chính – giáo hợp nhất, tức là nhà nước và giáo hội - nhà thờ
hợp làm một.
Thứ hai, chính - giáo phân ly. Đây là hình thức ngược lại với chính
giáo hợp nhất. Dưới hình thức chính giáo phân ly, nhà thờ - giáo hội tách
khỏi nhà nước.
Thứ ba, chính - giáo hòa hợp. Có thể coi đây là hình thức mang tính
tổng hợp và hình thức này cũng có các mô thức khác nhau:
Mô thức thứ nhất, thần học tôn giáo có vai trò chủ đạo trong hệ tư tưởng
trị nước, đồng thời là nguồn gốc của pháp luật.
Mô thức thứ hai, về quan phương, nhà nước là thế tục, nhưng nhà nước
khai thác, sử dụng những tư tưởng thần học phù hợp để phục vụ mục đích của
mình. Giáo hội và các đoàn thể tôn giáo đồng thuận cùng nhà nước. Giáo sĩ,
nhà tu hành trong những chừng mực nhất định tham gia vào công quyền. Tôn
giáo được huy động vào các hoạt động, nhất là các hoạt động xã hội. Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay có thể xếp vào mô thức
này.

Chương II: Nội dung

Tôn giáo và Chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam


11

1.

Điều kiện ra đời các chính sách tôn giáo thời Tự Đức
1.1.
Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội Việt Nam đầu thế kỉ 19
1.1.1. Điều kiện về kinh tế

Về nông nghiệp, sau thời gian nội chiến kéo dài, tình hình nông nghiệp đất
nước sa sút. Nạn kiêm tính ruộng đất diễn ra nghiêm trọng trên khắp cả nước,
ruộng đất công bị thu hẹp dần, người nông dân vừa bị cường hào tước doạt
ruộng đất, vừa chịu sưu thuế nặng nề lại thêm thiên tai dồn dập, mùa màng
thất bát,.. Triều đình đã nhiều lần đưa vấn đề sửa, đắp đê ra bàn bạc và có
nhiều biện pháp nhưng tình trạng đê vỡ vẫn xãy ra phổ biến. Riêng đê sông
Hồng ở Khoái Châu (Hải Hưng) thời Tự Đức bị vỡ 10 năm liền. [1]
Về công nghiệp và thương nghiệp triều Nguyễn nhìn chung vẫn sút kém do
chủ trương “trọng nông, ức thương”, “bế quan tỏa cảng”, “chế độ công tượng
mang tính chất cưỡng bức lao động, đánh thuế sản vật rất nặng mang tính chất
nô dịch” .[2] Cả nội thương và ngoại thương đều giảm sút nghiêm trọng:
“Riêng thuế cửa quan trước có 60 sở thu thì đến năm 1852 chỉ có 21 sở. Một
số bến cảng trước đây buôn bán phồn thịnh nay trở nên vắng vẻ”. [3] Nhà nước
giữ độc quyền ngoại thương, cấm người trong nước có thuyền đi buôn bán ở
nước ngoài, cấm người nước ngoài mở cửa hàng trên cạn. Hàng hóa chỉ nhập
những thứ triều đình cần như: sắt, chì, gang, lưu huỳnh hay tơ lụa, sợi
bông,...Những thứ như gạo, muối, đồng, kim loại quý phải có giấy phép mới
được xuất cảng. Nếu như thời Gia Long, thành Gia Định có 10 vạn dân thì
đến thời Tự Đức chỉ còn vài vạn.” [4]

[1],[4]

. Nguyễn Phan Quang: Phong trào nông dân Việt Nam nửa đầu thế kỉ XIX, Nxb. Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1986, tr.22, tr.25-26.
[2]

. Cao Xuân Huy: Tư tưởng phương Đông, gợi những điểm nhìn tham chiếu, Nxb. Văn
học, Hà Nội, 1995, tr.43.
[3]

. Đỗ Bang, Trần Bạch Đằng, Đinh Xuân Lâm: Tư tưởng canh tân đất nước dưới triều
Nguyễn, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1999, tr.219.

Nói chung, nửa đầu thế kỉ 19, kinh tế nước ta sa sút trầm trọng, đời sống
nhân dân đói khổ, triều đình có những chính sách chỉnh đốn nhưng hiệu quả
không cao, không xoay chuyển được tình thế.

Tôn giáo và Chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam


12

1.1.2.

Điều kiện chính trị - xã hội

Nạn tham nhũng, bóc lột dân của quan lại khá phổ biến, tới mức nhà vua
(Tự Đức) cũng phải than: “quan coi dân như kẻ thù, dân sợ quan như sợ hổ;
ngày đục tháng khoét dần của dân, mưu tính cho đầy túi riêng, lại thêm những
việc sách nhiễu ngoài lệ, không kể hết được,..Dân chúng quẫn bách, phiêu
tán.” [1]
Mâu thuẫn trong xã hội gay gắt giữa nhân dân với triều đình phong kiến.
Các cuộc nổi dậy của nông dân và các dân tộc thiểu số miền núi nổ ra liên
tiếp, mạnh mẽ và rộng khắp. Ví dụ tiêu biểu như khởi nghĩa của Phan Bá
Vành (1821-1835) và Nùng Văn Vân (1833-1835). Chỉ riêng từ thời Gia Long
đến đời Tự Đức (1802-1883), triều đình nhà Nguyễn đã phải đối phó với gần
400 cuộc nổi dậy.[2]
Chính quyền nhà Nguyễn thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng” một
cách cực đoan, ngăn cản việc liên hệ với bên ngoài cả về kinh tế, văn hóa,..và
tôn giáo. Tạo cớ để các nước phương Tây gây hấn với Việt Nam. Đất nước
vốn đang yếu lại trở thành miếng mồi ngon trước mắt các nước thực dân
phương Tây.
1.2.

Vua Tự Đức – con người và sự nghiệp

Vua Tự Đức (1829-1883) là con thứ hai của vua Thiệu Trị, là vị vua thứ tư
trong triều Nguyễn, tên thật là Nguyễn Phúc Thì, tự là Hồng Nhậm, tước hiệu
là Dực Tông Anh Hoàng Đế, lên ngôi năm 1847, làm vua 36 năm, thọ 54 tuổi.
Nhìn chung, Tự Đức là một vị vua sáng, tư chất thông minh, song sức khỏe
yếu. Giám mục Pellerin nhận xét: “Đó là một con người thông minh và có khả
năng hơn cả trong tất cả các hoàng tử của Thiệu Trị, mặc dù sức khỏe ông ta
có mong manh. Ông là một thi sĩ và là một đại trí thức, người ta nói rằng ông
có nhiều ý tưởng tốt.” [3]
[1]

. Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên, Nxb. Sử học, Hà Nội, 1963,
t.28, tr.19.
[2]

. Nguyễn Phan Quang: Phong trào nông dân Việt Nam nửa đầu thế kỉ XIX, Sđd, tr.6.

[3]

. Nguyễn Sinh Duy: Cuốn sổ bình sanh, Nxb. Văn học, Trung tâm Nghiên cứu quốc học,
Hà Nội, tr. 136.

Vào năm 1864, Gabriel Aubaret sau khi được tiếp kiến nhà vua đã có những
ấn tượng sâu sắc: “Tự Đức có dung mạo hết sức dễ mến, cái nhìn sâu thẳm và
không có chút giả dối, nước da trắng ngà, không có râu, tay chân thanh khảnh,
nên vua có vẻ dịu dàng như phụ nữ. Tuy nhiên vua có giọng trầm, lời lẽ ôn

Tôn giáo và Chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam


13

tồn, rõ ràng và rất dễ hiểu (...) vua đã tỏ ra quan tâm muốn biết về châu Âu và
các quốc gia lớn ở châu Âu” [1].
Vua Tự Đức là người giỏi thơ văn. Nhà vua đã sáng tác hơn 4000 bài thơ và
hơn 600 bài văn. Tiêu biểu được tập hợp trong các cuốn: Tự Đức ngự chế thi,
Tự Đức ngự chế văn, Việt sử tổng vịnh, Từ huấn lục.
Nhà vua là người lo cho đất nước, giáo sĩ Louvet nhận xét: “Từ lúc Việt Nam
ký tờ hòa ước với Pháp, Tự Đức không bao giờ mỉm cười. Năm 1862, tóc ông
ta trở nên bạc trắng mặc dù lúc ấy ông mới 33 tuổi” [2]. Nhà vua thường viết
những bài tự chê trác khá dài với lời lẽ nghiêm khắc đối với bản thân về trách
nhiệm với dân, với nước: “Gắng gượng theo mưu kế của người lão thành, mất
cả đất đai và chân chúng sáu tỉnh Nam Kỳ, để cầu cho việc khỏi chiến tranh
và được yên thiên hạ. Cơ nghiệp sáng lập giữ gìn hơn 200 năm, bổng một bỏ
mất, thật là tội của tiểu tử này không thể nói xiết. Dù cho có làm được công
đức cũng không thể chuộc được tội lỗi” [3].
Vua Tự Đức cũng nhìn ra những nguyên nhân của các mâu thuẫn trong xã hội,
nhà vua đã đưa ra nhiều chính sách, chỉ dụ về chỉnh đốn hàng ngũ quan lại,
chống nạn tham ô, hạch sách dân thường, mở lương cứu đói nạn dân...Và đặc
biệt là hệ thống các chính sách của nhà vua đối với các tôn giáo hiện thời.
Mặc dù không đủ sức để xoay đổi thế cờ thời đại, nhưng ít ra các chính sách,
chỉ dụ của nhà vua cũng có những tác động cụ thể, để lại nhiều ý nghĩa và bài
học kinh nghiệm vô cùng quý báu.

[1]

. Yoshiharu Tsuboi: Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa (1847-1885), Hội Sử
học Việt Nam, Hà Nội, 1993, tr.197.
[2]

. Phan Phát Huồn: Việt Nam giáo sử, Cứu thế tùng thư, Sài Gòn, 1959, tr.519.

[3]

. Thơ văn Tự Đức, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1996, t.2, tr.58.
2.

Nội dung các chính sách tôn giáo thời Tự Đức
2.1.
Chính sách đối với các tôn giáo truyền thống
2.1.1. Hoạt động của các tôn giáo truyền thống thời Tự Đức

Tôn giáo và Chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam


14

Thời Tự Đức, sau nhiều thế kỉ cùng tồn tại ở Việt Nam, Phật giáo, Đạo
giáo, Nho giáo đã có mối quan hệ mật thiết với nhau. Ở 3 tôn giáo này có sự
đoàn kết với nhau trong hoạt động, tư tưởng “tam giáo đồng nguyên” đã thấm
nhuần trong việc tu hành, hoạt động của các đạo gia, nho sĩ, phật tử. Nhìn
chung, các tôn giáo này đều đã ăn sâu vào đời sống nhân dân, có vai trò to lớn
trong việc giáo dục, hướng người dân đến cái thiện, “Sách Nho dạy làm điều
nhân đức, kinh Lão dạy thương yêu người và vật, Phật chủ trương hãy giữ gìn
giới cấm sát sinh…” [1].
Nho giáo triều Nguyễn vẫn tiếp nối truyền thống Nho giáo Việt Nam với
ảnh hưởng của mô hình Trung Hoa. Cũng như các đời vua Nguyễn trước, vua
Tự Đức cũng chọn Nho giáo làm ý thức hệ chính thống, sử dụng Nho giáo
làm công cụ cai trị đất nước. Nho giáo triều Nguyễn vừa là một tôn giáo, vừa
là một học thuyết để cai trị xã hội. Màu sắc tôn giáo trong Nho giáo thời
Nguyễn và thời Tự Đức thể hiện trong nhiều nghi lễ tôn giáo. Hệ thống thờ
cúng của Nho giáo gồm: thờ cúng Khổng Tử và các vị Tiên Thánh, thờ cúng
trời đất, thờ cúng tổ tiên (Tôn miếu) và thờ cúng bách thần. Ngoài ra với
cương vị là tôn giáo được triều đình lựa chọn, hệ thống thờ cúng của Nho
giáo còn bao gồm cả việc cúng tế trời đất.
Phật giáo dưới thời các vua Nguyễn nói chung, dưới thời vua Tự Đức nói
riêng vẫn phát triển hưng thịnh và có chỗ đứng nhất định trong dân chúng
cũng như triều đình. Dòng họ Nguyễn có nhiều gắn bó với Phật giáo, vì thế
mặc dù Nho giáo trở thành tư tưởng chính thống nhưng Phật giáo vẫn được
nhiều ưu ái. Nhưng không vì thế mà Phật giáo quên đi triết lý nhân sinh của
mình, không sa vào con đường xa hoa. Nửa đầu thế kỉ XIX, nhân dân lầm
than, đói kém, với những gì được triều đình ban tặng,... các tăng tu, phật tử đã
nhiều lần cứu tế chúng sinh, làm công đức.
Thế kỉ XIX cũng là giai đoạn xuất hiện những danh tăng xuất chúng, có ảnh
hưởng lớn đến tư tưởng và sinh hoạt của Phật giáo như các vị hòa thượng
Thanh Đàm, Thanh Nguyên,... Tuy nhiên, vào thời Tự Đức, với tư tưởng cứu
tế chúng sinh, nhiều nhà sư và tín đồ Phật giáo đã tham gia khởi nghĩa nông
dân chống lại triều đình, tham gia quân kháng chiến chống lại Thực dân Pháp,
quân Pháp gọi nghĩa quân là “giặc thầy chùa”. Cho đến cuối thế kỉ XIX, nhiều
[1]

. “Nho điển thi nhân bố đức, Đạo kinh ái vật hiếu sinh, Phật duy giới sát thị trì…”,Thơ

văn Lý – Trần. Tập II, 1989, tr. 93.

ngôi chùa ở Bình Định, Phú Yên là cơ sở của quân khởi nghĩa [1].
Vì những nguyên nhân trên, lại thêm việc vua Tự Đức là người mang nặng tư
tưởng Nho giáo, nhà vua và triều đình đã có sự thay đổi chính sách đối với

Tôn giáo và Chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam


15

Phật giáo. Nhiều quy định khắt khe và hạn chế việc hỗ trợ vật chất đã khiến
đời sống Phật giáo giai đoạn cuối thế kỉ XIX gặp nhiều khó khăn.
Đạo giáo đã có lịch sử gần 19 thế kỉ ở Việt Nam sau khi theo chân các vị
quan đô hộ người Hán. Đạo giáo có vị trí và ảnh hưởng nhất định trong đời
sống tín ngưỡng của người dân. Do tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên” và bề
dày lịch sử cùng chung sống, Đạo giáo dần tiếp thu thiết chế của Phật giáo,
các đạo quán trở thành chùa thờ Phật. Thời Tự Đức, Đạo giáo không còn là
một tôn giáo độc lập, không còn giữ lại và duy trì hệ thống cơ sở thờ tự cũng
như tầng lớp đạo sĩ như trước nữa. Đạo giáo khi ấy chia làm 2 phái là Đạo
giáo thần tiên và Đạo giáo phù thủy. Có rất ít đạo sĩ của phái Đạo giáo thần
tiên đi luyện đan, tu tiên. Mà chủ yếu là theo phái Đạo giáo phù thủy với
những thầy cúng, thầy thuốc hành nghề chữa bệnh cứu người, thầy địa lý,
thầy phong thủy xem đất đai, yểm bùa,... Tìm hiểu về Đạo giáo dưới triều
Nguyễn cũng như thời Tự Đức, cố giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng: Các vua
Nguyễn chìm ngập trong âm dương, bát quái, ngũ hành...Vua Tự Đức rất quan
tâm đến việc sưu tầm các sách bói, tin vào âm dương, ngũ hành [2].
Thêm một điều đặc biệt nữa là các tôn giáo truyền thống có một sự đối
chọi rất lớn đối với Công giáo phương Tây buổi đầu truyền bá vào Việt Nam.
Sự khác nhau về ngôn ngữ, giáo điều, tư tưởng làm cho đại bộ phận người
dân Việt Nam lúc bấy giờ không hiểu về Công giáo, các nho sĩ đương thời
cho rằng đây là đạo dị đoan, mê hoặc lòng người. Thêm nữa, Công giáo vào
Việt Nam vô tình tạo nhiều lý do để thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, nên
sự đối kháng là không thể tránh khỏi.
Chính sách của triều đình Tự Đức đối với các tôn giáo truyền
thống
Chính sách đối với các hoạt động tôn giáo của triều đình
Thờ cúng trời đất và bách thần
2.1.2.


-

Cũng như các vua triều Nguyễn đi trước, việc thờ cúng trời đất được vua
Tự Đức hết sức quan tâm, được tiến hành tế tự theo quy định của Nho
giáo.

[1],[2]

. Trần Văn Giàu: Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỉ XIX đến Cách mạng
Tháng Tám, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.1, tr.500, tr.150.

Sách Lễ Kí viết: “Thiên tử tế trời đất, tế bốn phương, tế sông núi, tế ngũ tự;
chư hầu tế phương mình ở, tế ngũ tự; quan đại thần tế ngũ tự; kẻ sĩ tế tổ
tiên”[1]. Vốn là người mang nặng tư tưởng Nho giáo, ngay trong những năm

Tôn giáo và Chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam


16

đầu lên ngôi, vua Tự Đức đã tự mình tế Nam Giao, tế Xã Tắc, miếu điện. Nhà
vua cũng đến Văn miếu làm lễ xuân tế.
Việc bói ngày cũng là một nghi thức mỗi khi triều đình tổ chức một nghi lễ
tôn giáo quan trọng. Đến năm Tự Đức thứ 5 (1852), nhà vua định lệ đắp đàn
tế thần núi, thần sông. Phủ Thừa Thiên đắp đàn ở ngoài kinh thành; các tỉnh
khác đắp đàn ở phía Tây Nam tỉnh. Đàn đều đắp 2 tầng, hướng nam, tầng thứ
nhất mỗi mặt 5 trượng 4 thước, cao 2 thước 5 tấc. Nếu đàn mở vào ruộng đất
công thì trừ cho thuế, nếu mở vào ruộng đất tư thì cấp trả nguyên giá, phu giữ
đàn 10 người. Tỉnh lớn thì do tổng đốc, tuần phủ, tỉnh vừa thì do bố chính sứ,
khi có việc, do các quan chức cùng tỉnh lỵ lần lượt làm lễ [1].
Nhìn chung, với tư tưởng Nho gia là chủ đạo, lại có sự kết hợp của Đạo
giáo, việc thờ tế trời đất,..được vua Tự Đức đặc biệt chú trọng. Đây cũng là
điểm chung của các triều đại phong kiến Việt Nam, với quan niệm vua là
“thiên tử” – con trời, việc tế cáo trời đất đã trở thành một việc làm thường lệ
nhằm mục đích trấn yên lòng dân, củng cố chắc chắn bộ máy nhà nước phong
kiến.
-

Những quy định về việc tế lễ, cấp vật dụng cho các cơ sở thờ tự

Triều đình cũng đề ra những quy định chặt chẽ, cụ thể về thời gian, địa
điểm, người phụ trách, thành phần tham dự các nghi lễ, hình thức xử phạt
đối với những người không làm tròn nhiệm vụ trong các lễ cúng tế của
Nhà nước, về số lượng và các loại lễ phẩm dùng để làm cỗ.
Chẳng hạn, “Cỗ cúng hạng nhất 5 mâm (mỗi mâm 5 tiền), cỗ cúng hạng
nhì 17 mâm (mỗi mâm 3 tiền), cơm chay hạng nhất 5 mâm (mỗi mâm 3
tiền 20 đồng), cơm chay hạng nhì 17 mâm (mỗi mâm 2 tiền 30 đồng)” [2].
Những quy định rõ ràng cụ thể đúng người đúng việc. Còn những quy định
về số lượng, giá tiền làm giảm tối đa những lãng phí không cần thiết trong
thời kì đất nước còn khó khăn và thể hiện thái độ coi trọng đối với nghi
thức cung đình.

[1]

. Quốc Sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên, Sđd, t.27, tr.358.

[2]

. Nội các triều Nguyễn: Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Nxb. Thuận Hóa, Huế,
1993, t.13, tr.270-273.

Thời Tự Đức, các hoạt động nghi lễ tôn giáo của triều đình có vị trí quan
trọng và là một nhiệm vụ trong các hoạt động chính thức nhiều cơ quan
chức năng của Nhà nước đều được huy động vào điều hành, giám sát thực

Tôn giáo và Chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam


17

hiện. Năm Tự Đức thứ nhất (1848), vua sai hoàng thân, thân phieenmooix
tháng 3 lần đến Xương lăng để kiểm xem các đồ thần ngự, đồ thờ [1].
Triều đình quy định việc cầu cúng chỉ được phép thực hiện nơi đền chùa,
không được thực hiện ở nơi công thự. Năm Tự Đức thứ sau (1853), tỉnh
Bình Định không mưa, tỉnh thần là Vương Hữu Quang đón sư đọc kinh tại
tỉnh lỵ, được mưa tâu lên, vua nói: “kinh Phật là việc không nên đem lam
khuôn mẫu cho quan lại nhân dân, chuẩn phạt tỉnh thần ấy 3 tháng lương,
từ nay về sau có cầu đảo, hoặc làm đàn chay tụng kinh phải làm ở đền đài,
không được khinh suất lược làm ở nơi công thự như thế” [2].
Chính sách tôn giáo do vua Tự Đức ban hành cũng có tính thực tế cao,
tùy theo tình hình đất nước, không hề bỏ lơi lỏng dẫn đến tình trạng lỏng
lẽo, lãng phí. Kể từ sau Hiệp ước 1862, triều đình phải chi trả chiến phí,
ngân sách eo hẹp nên việc chi tiêu vào các lễ phẩm quy định lại như sau:
“Các chùa quán; các đàn miếu nguyên trước dùng các hạng giấy vàng bạc,
hương vòng, tính thành tiền là 1845 quan, nay liệu tính để lại thành tiền là
1060 quan 7 tiền và 12 đồng” [3].
Vấn đề quản lý tu sĩ, trình độ và phẩm hạnh của tu sĩ

-

Triều đình quy định cụ thể số lượng tu sĩ trong những chùa quán của Nhà
nước. Chẳng hạn, năm Tự Đức thứ ba (1850), nhà vua chuẩn lời nghị:
chùa Thiên Mụ, Tăng cang 1 người, tăng chúng 48 người; chùa Diệu Đế,
Tăng cang 1 người, chụ trì 1 người, tăng chúng 20 người (...) Hẳng tháng,
cấp cho mỗi Tăng cang 3 quan, 1 tiền, 1 phương gạo trắng, cấp cho mỗi
chụ trì 2 quan tiền, 1 phương gạo trắng, cấp cho tăng chúng 1 quan tiền, 1
phương gạo [4].
Triều đình còn ban hành một số quy định chặt chẽ, nghiêm ngặt về lối
sống của các tu sĩ: “Phàm các tăng ni, đạo sĩ, nữ quan đều bắt phải lạy cha
mẹ, cũng tế tổ tiên, thứ bậc để tang (...) đều giống người thường. Kẻ nào
trái luật phải phạt 100 trượng, đuổi về không cho tu nữa”. Phẩm phục của

[1],[2]

. Quốc Sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên, Sđd, t.27, tr.96, 376.

[3]

. Quốc Sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên, Sđd, t.30, tr.105-106.

[4]

. Nội các triều Nguyễn: Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Sđd, t.9, tr.199.

các tu sĩ cũng được quy định rõ ràng: “Chỉ được dùng sồi, vải, không được
dùng lĩnh, là, lụa, đoạn. Kẻ nào trái luật này phải phạt suy 50 roi, đuổi về

Tôn giáo và Chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam


18

không cho tu nữa, cái áo mặc ấy sung làm của công. Còn cà sa, áo đạo sĩ
thì không thuộc lệ cấm này” [1].
Các tu sĩ lấy vợ (vợ cả, vợ lẽ) thì bị phạt 80 trượng, không cho tiếp tục tu
hành. Nhà gái (chủ hôn việc tu sĩ lấy vợ) cũng phải bị xử tội can phạm,
phải ly dị (tiền của sính lễ sung làm của công). Tu sĩ chụ trì chúa, quán biết
chuyện mà vẫn dung túng cũng bị xử như can phạm [2].
Như vậy, ngoài hệ thống giới luật, cấm kỵ của các tôn giáo, triều đình
Tự Đức cũng ra những luật, lệ hết sức nghiêm khắc để giữ vững những nét
trang nghiêm của tôn giáo nói chung, của tôn giáo phục vụ triều đình nói
riêng. Việc này đã phần nào giữ yên lòng dân trong thời cuộc nhiều biến
động.

-

Chính sách đối với các hoạt động tôn giáo trong xã hội
Việc xây dựng, sửa chữa các cơ sở thờ tự

Nhà nước quy định việc các chùa chỉ được phép sửa chữa, không được
xây mới, làm tốn phí tiền của và sức dân. Năm Tự Đức thứ hai (1849), nhà
vua có dụ về vấn đề này như sau: “Gần đây các địa phương thường bắt
chước nhảm theo thói dựng nhiều cảnh chùa, phí tổn đến hàng vạn, tiếng
tuy là vì dân cầu phúc, thực thì tổn hại đến dân, ta nghe thấy, rất là chán,
đương nghĩ (làm thế nào) một đạo đồng phong, người người đều theo về
đạo chính, quan Khoa đạo nói đến việc ấy, chính hợp ý ta, khoản này
chuẩn giao Bộ Lễ nghị bàn cho rõ ràng đợi chỉ thi hành [3].
Những năm tiếp theo, triều đình Tự Đức ra nhiều chỉ dụ nhằm chấn
chỉnh Phật giáo, kiểm soát Đạo giáo. Năm Tự Đức thứ ba, nhà vua quy
đinh: “Lại như các núi chung quanh Kinh kì và chùa đền ở chỗ dân gian
các hạt, chỉ cứ những nơi dựng lên trước vẫn để cho thờ cúng, nếu có chùa
cảnh mới dựng lên hoặc sửa sang lại chùa cũ mà lộng lẫy thêm lên, để phí
tổn sức người và của, thì nếu là chức quan, cho nhân viên đổng sự phát
giác ra, cũng cùng phải tội như người phạm tội” [4].

[1],[2]

. Nội các Triều Nguyễn: Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Sđd, t.12, tr.405,
tr.313.
[3],[4]

. Nội các Triều Nguyễn: Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Sđd, t.9, tr.215, tr.215216.

Nguyên lúc trước, triều đình nhà Nguyễn hết sức mến mộ Phật giáo,
trọng dụng Đạo giáo, song với tình hình chính trị- xã hội không ổn định đã

Tôn giáo và Chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam


19

gây ra nhiều khó khăn, xáo trộn đến hoạt động của các tôn giáo. Đứng trên
phương diện lịch sử cụ thể, vua Tự Đức đã đưa ra những chính sách tôn
giáo hết sức đúng đắn về việc xây dựng, chi phí cho các cơ sở thờ thự thời
“thắt lưng buộc bụng”. Đó là sự sáng suốt trong cái nhìn của bậc đế vương
tài năng.
-

Quy định số lượng tăng ni

Năm Tự Đức thứ hai (1849), triều đình có dụ truyền sát hạch, giảm bớt
số lượng tăng ni các chùa quá nhiều làm hao tổn của cải của dân, mê muội
lòng người. Ai tinh thông đạo lý, lượng mỗi chùa 5,6 người chiểu lệ cấp
lương, còn sư ở các chùa địa phương đều do phủ, huyện sở xét thực, lưu
mỗi chùa một người, còn đều bắt hoàn tục chịu sai dịch [1].
Có nhiều ý kiến cho rằng vua Tự Đức làm vậy đã làm hạn chế sự phát triển
của các tôn giáo. Song cần phải nhìn vào thực tại để giải thích cho chính
sách này, lúc bấy giờ xã hội phức tạp, rối reng, đạo đức suy đồi, tăng
chúng sa sút về giáo lý, một số người trốn lính, trốn lao dịch mà vào chùa,
và nhất là lúc đất nước vừa thoát ra khỏi chiến tranh, đói kém liên miên.
Thực tế thì vua Tự Đức đã cho giữ lại các bậc chân tu, tinh thâm giáo lý,
nhân sinh tiếp tục tu hành, truyền đạo, giúp cho các tôn giáo tiếp tục phát
triển qua cơn ngặt nghèo của đất nước.
-

Các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng của làng xã

Ngay trong những năm đầu sau khi lên ngôi, vua Tự Đức đã ra nhiều
đạo dụ chấn chính việc thờ bách thần, phong tặng thần kỳ, bổ sung các sắc
chỉ chưa có hoặc thất lạc của các địa phương trên cả nước. Sau lễ đăng
quang, nhà vua xuống chiếu ban ơn gồm 19 điều, trong đó có những nội
dung liên quan đến tế các từ đường, lăng tẩm, phong tặng các thần kỳ,
chuẩn cho các địa phương theo điển lệ cũ để khai sự tích, làm danh sách
tâu lên đơi chỉ phong tặng [2].
Nhận thức được tác hại của sự mê tín dị đoan nên triều đìnhTự Đức đã
có những quy định nhằm phê phán thuật cầu đảo, sám hối, giải ách, mời
thầy vẽ bùa, đọc chú. Những trường hợp thầy cúng, đồng cốt lên đồng
xưng là Đoan Công, Thái Bảo, Sư Bà, Phật Di Lặc, các hội Bạch Liên xã,
Minh Tôn giáo, Bạch Vân tôn; những tà thuật, dị đoan, hoặc chứa giấu các
[1]

. Nội các triều Nguyễn: Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Sđd, t.9, tr.215.

[2]

. Quốc Sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên, Sđd, t.27, tr.52.

Tôn giáo và Chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam


20

tượng vẽ, đốt hương tập hợp mọi người, giả làm việc thiện để mê hoặc
nhân dân,... đều bị nhà nước cấm. Nhà nước cũng đưa ra các hình phạt khi
vi phạm các điều này, như roi trượng, tống giam, lưu đày,...
Nhìn chung, các chính sách đối với các tôn giáo truyền thống được triều
đình Tự Đức quan tâm chặt chẽ, hoạt động tôn giáo vẫn đóng vai trò to lớn
trong tín ngưỡng của người dân, của triều đình.
Cũng trong lúc này, một tôn giáo mới đi vào Việt Nam, đó là Công giáo.
Triều đình Tự Đức cũng đã đưa ra các chính sách quan trọng đối với tôn
giáo này. Chính những chính sách này đã góp phần thay đổi lịch sử Việt
Nam một cách sâu sắc.
2.2.

Chính sách đối với Công giáo
2.2.1. Hoạt động của Công giáo ở Việt Nam thời Tự Đức

Sang đến đầu thế kỉ XIX, Giáo hội Việt Nam gồm 3 địa phận, 121 thầy
giảng, 10 thừa sai Pháp, 4 thừa sai dòng Đa Minh (Tây Ban Nha), 320.000
giáo dân (dân số Việt Nam lúc đó khoảng 12 triệu) [1]. Với hệ thống giáo lý, tư
tưởng khác hẳn với các tôn giáo truyền thống đương thời, nên Công giáo có
mâu thuẫn sâu sắc với các tôn giáo truyền thống. Phía các nhà Nho coi Công
giáo là cừu địch, về phía các giáo sĩ Pháp, họ cũng coi lực lượng văn thân là
“kẻ thù số một” cần tiêu diệt. Giám mục Puginier khi trò chuyện với De
Lanessan đã nói: “Cần phải tiêu diệt bọn Nho sĩ” [2].
Triều đình nhà Nguyễn xem Công giáo là bàng môn tà đạo, đi ngược lại với
nghi thức truyền thống của Việt Nam như thờ cúng tổ tiên,... nên ra sức cấm
đạo, thậm chí sát đạo. Công giáo nhờ sự ủng hộ của chính quyền bảo hộ nên
phát triển số lượng khá nhanh và trở thành chỗ dựa cho chính quyền thuộc
địa. Như đô đốc Dupré đã viết vào năm 1873: “Thuộc địa rất thích thú thấy số
con chiên gia tăng, mà lòng trung thành của họ thì đảm bảo...Quyền lợi chính
trị buộc chúng ta phải ủng hộ mọi nỗ lực của các thừa sai bằng những gì
chúng ta có thể làm được” [3]. Chính nhờ vậy nên mặc dù bị các tôn giáo bản
địa đấu tranh, bị chính quyền cấm đoán nhưng Công giáo vẫn không ngừng
phát triển.
[1]

. Cao Thế Dung: Công giáo sử tân biên, Cơ sở Dân Chúa, 2005, q.III, tr.1688.

[2]

. Đỗ Quang Hưng: Một số vấn đề lịch sử Thiên Chúa giáo ở Việt Nam, Đại học Tổng
hợp, Hà Nội, 1991, tr.87.
[3]

. Yoshiharu Tsuboi: Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa (1847-1885), Hội Sử
học Việt Nam, Hà Nội, 1993, tr.213.

Tôn giáo và Chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam


21

Khi nói đến Công giáo khi gia nhập vào Việt Nam, cần phải có cách nhìn
toàn diện, tránh cách nhìn phiến diện mà đánh đồng Công giáo với công cụ
xâm lược của thực dân phương Tây, mà cụ thể là Pháp. Trên thực tế Công
giáo đã làm rất nhiều việc có ích, có những đóng góp đáng để cho Việt Nam
trên nhiều phương diện khác nhau, phong cách kiến trúc phương Tây được
Công giáo đưa vào Việt Nam, xây các bệnh viện để cứu tế nhân dân, ví dụ
như bệnh viện phong ở Vĩnh Trị,... Vua Tự Đức cũng từng có thái độ ủng hộ
công tác từ thiện của Công Giáo, mỗi năm bệnh viện Vĩnh Trị được vua Tự
Đức trợ cấp một khoản tiền tương đương 2.500phrăng. Cũng chính trong quá
trình truyền đạo này mà mẫu tự latinh đã được truyền vào Việt Nam.
2.2.2.

Chính sách của triều đình Tự Đức đối với Công giáo

Sự du nhập của Công giáo vào Việt Nam khác hẳn các tôn giáo ngoại sinh
khác. Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo truyền vào Việt Nam một cách hòa bình,
không có xung đột với tín ngưỡng truyền thống nên dần dần ăn sâu vào tư
tưởng, đạo lý nhân sinh. Còn Công giáo có phần tương khắc với tín ngưỡng
truyền thống, xung đột sâu sắc với các tôn giáo lâu đời bản địa, lại thêm sự
can thiệp của thực dân Pháp vào Việt Nam nên cách nhìn của đa số nhân dân
Việt Nam đối với Công giáo có phần tiêu cực, chính sách của triều đình Tự
Đức cũng có phần đặc biệt với Công giáo. Theo các giai đoạn Pháp bảo hộ
Việt Nam, chính sách của triều đình Tự Đức đối với Công giáo cũng vì thế mà
khác nhau ở các giai đoạn. Có thể chia làm 3 giai đoạn: trước 1862, từ 1862
đến 1874, từ 1874 đến 1883.
-

Chính sách với Công giáo trước năm 1862

Năm 1848, sau khi lên ngôi, vua Tự Đức đã ban chỉ dụ đầu tiên về việc
cấm đạo đối với Công giáo: “Những đạo trưởng ở Tây dương lén đến nước ta
thì cho quân, dân mọi người ai có thể bắt được giải nộp quan, thưởng cho 300
lạng bạc. Còn người đạo trưởng Tây dương ấy do quan sở tại xét rõ lai lịch,
lập tức đem việc dâng tâu, cho đem đích thân tên phạm ấy ném bỏ xuống
sông biển. Còn những đạo trưởng và bọn theo đạo người nước nhà, xin do các
nha xét việc hình 2,3 lần mở bảo cho biết tội, nếu họ biết hối cải bỏ đạo, bước
qua cây giá chữ thập, thì thả ra ngay. Người nào không chịu nhảy qua cây giá
chữ thập, thì người đạo trưởng cũng xin xử tử; các con chiên theo đạo thì hãy
tạm thích chữ vào mặt, đuổi về vào sổ dân. Nếu biết hối cải, thì cũng cho đến
quan để xóa bỏ chữ thích đó đi” [1].

[1]

. Quốc Sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên, Sđd, t.27, tr.111.

Tôn giáo và Chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam


22

Những năm tiếp theo, đặc biệt sau âm mưu phản loạn của Hồng Bảo với sự
giúp sức, ủng hộ của giáo dân Công giáo, triều đình thực hiện những chính
sách cứng rắn đối với Công giáo, cấm đạo, sát đạo triệt để. Đi kèm với những
điều luật cấm đạo, triều đình Tự Đức cũng có những biện pháp khuyên dụ
giáo dân nhằm hướng đến tôn giáo dân tộc.
Tháng 7 năm Tự Đức thứ 7 (1854), triều đình quy định rõ lại điều cấm
đạo:
“1 khoản: Người nào trót đã theo đạo Giatô đều cho cứ thực đến thú tội; nếu
không tự thú, có người phát ra, làm quan lại sẽ phải cách chức, dịch về sổ
đinh ở làng chịu sai dịch, là quân dân cũng phải trị tội theo đúng điều luật
đáng bị tội.
1 khoản: Bắt được đạo trưởng người Tây dương thì xử tội chém đầu đem bêu
rồi quăng xác xuống sông; bọn con chiên người Tây và đạo trưởng người bản
quốc thì xử trảm ngay; còn bọn con chiên người bản quốc thì phát vãng đi đày
ở đồn bao ven biên giới, mà không phải là vùng biển.
1 khoản: Người nào tố cáo bắt được tên đạo trưởng người Tây dương, thưởng
cho 300 lạng bạc; đạo trưởng người bản quốc thì thưởng cho 100 lạng.
1 khoản: Người nào chứa giấu đạo trưởng và con chiên người Tây dương thì
Tổng lý sẽ xử về điều luật “chứa giấu người có tội”; phủ, huyện xử tội phạt
trượng và cách chức; bố án, đốc phủ thì sẽ phân biệt mà giáng cấp lưu
nhiệm”[1].
-

Chính sách với Công giáo từ năm 1862 đến năm 1874

Chính sách cấm đạo đã không cứu vãn được tình thế. Trước sức mạnh của
thực dân Pháp, năm Tự Đức thứ 15 (1862), triều đình phải kí Hiệp ước
nhượng đất và bỏ cấm đạo. Đây là những nỗ lực nhằm dàn xếp Hiệp ước với
thực dân Pháp để duy trì hòa bình, tạo thêm thời gian thay đổi nội lực và vị
thế của Việt Nam. Cũng trong năm 1862, dựa vào các điều khoản trong Hiệp
ước mà những giáo dân chưa bỏ đạo được tha tội. Ngoại trừ những người thực
thông đồng với giặc do quan địa phương xét rõ trị tội, những người bị giam
hay an trí thì những người đầu sỏ và trai tráng đều được tha, ruộng vườn, gia
sản, đi lính, tạp dịch đều như các quy định trước đây[2].

[1]

. Quốc Sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên, Sđd, t.28, tr.60.

[2]

. Quốc Sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên, Sđd, t.29, tr.311.

Tôn giáo và Chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam


23

Kể từ năm 1863, triều đình Tự Đức ra lệnh tha đạo, chấp nhận Công giáo. Tuy
nhiên mâu thuẫn trong nhân dân vẫn còn. Vua tự Đức đã phải kêu gọi sự bình
tĩnh của văn thân: “ Công giáo ở trong một tình thế đau đớn, nhưng dù sao sự
trung thành của Công giáo đối với đạo và luật nước làm trẫm hết sức khâm
phục...trong cách đối xử trẫm sẽ không phân biệt lương hay giáo, nếu Công
giáo còn giữ một mối thù, thì tất nhiên Công giáo không theo lệnh vua, Công
giáo sẽ còn là phiến loạn; đã là phiến loạn thì làm gì còn là Công giáo nữa?
(...) Người Công giáo đã bị bạc đãi, nhưng không phải vì họ không có lỗi, họ
đã theo một thứ dạy đạo khác hẳn thứ đạo chúng ta, làm chúng ta ngờ vực họ.
Nay hòa bình đã trở về lại, lòng người Công giáo hân hoan và họ đã quên hẳn
tất cả những nổi đau khổ nhục nhã của họ, vậy sao văn thân còn sợ Công giáo
thù oán?” [1]
Chính sách đối với Công giáo đã đổi chiều, từ cấm đạo, sát đạo đã chuyển
qua tha đạo, chấp nhận Công giáo.
-

Chính sách với Công giáo từ năm 1874 đến năm 1883

Mâu thuẫn tôn giáo vẫn còn gay gắt, năm Tự Đức thứ 27 (1874), triều đình
Tự Đức đã kí Hiệp ước với mục đích “kết lời thề hòa hiếu, hòa thuận bền chặt
để cho 2 nước được giao thiệp với nhau lâu dài”. Bản Hiệp ước có 22 khoản,
trong đó điều khoản thứ 9 có nội dung cho tự do “theo đạo và giữ đạo”. “Vua
nước Đại Nam biết rõ đạo Thiên Chúa nguyên để khuyên người làm điều
lành, nay đem các giấy tờ cấm đạo Thiên Chúa từ trước bỏ hết đi; lại cho
phép người nước Đại Nam có muốn theo đạo và giữ đạo đều được thong dong
tự tiện, vì thế người theo giáo trong nước đều được tùy tiện việc hội nhau đọc
kinh, lễ bái, không kể số người, người ngoài đời không được vin cớ bức bách
dân đạo Thiên Chúa làm việc gì trái phép đạo và không bắt giáo dân khai
riêng sổ sách. Từ nay về sau, giáo dân ấy đều được đi thi ra làm quan mà chớ
bắt phải trái phép đạo” [2]
Kể từ đây, Công Giáo chính thức trở thành 1 tôn giáo chính thống ở Việt
Nam. Cũng một phần nhờ sợ mềm dẽo, khôn ngoan trong chính sách đối với
Công giáo của vua Tự Đức.

[1]

. Phan Phát Huồn: Việt Nam giáo sử, Sđd, tr.357

[2]

. Quốc Sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên, Sđd, t.33, tr.122.

Tôn giáo và Chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam


24

3.

Những măt tích cực và hạn chế trong các chính sách tôn giáo thời Tự
Đức
3.1.
Những mặt tích cực

Trong thi hành chính sách tôn giáo, triều đình Tự Đức đã chú trọng đến các
vấn đề phong hóa, những yếu tố tốt đẹp trong văn hóa và tôn giáo truyền
thống, những phong tục cổ truyền của dân tộc được Nhà nước và pháp luật
bảo vệ.
Các nghi lễ truyền thống được triều đình tổ chức, đền chùa quán được tu bổ,...
việc thờ cúng được chú trọng quan tâm. Việc thờ cúng này khẳng định vai trò
chính danh của vương triều, có tác dụng khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần
dân tộc trong nhân dân, góp phần củng cố khối đoàn kết dân tộc.
Các chính sách tôn giáo của vua Tự Đức vừa thức thời, vừa khéo léo mềm
dẻo, không đi ngược lại xu hướng thời đại. Đảm bảo cho kinh tế quốc gia
không đi xuống, xoa dịu phần nào mâu thuẫn trong nhân dân.
Việc công nhận Công Giáo của vua Tự Đức đã đem lại nhiều hệ quả tích
cực lâu dài cho đời sau, nhân dân Việt Nam có cơ hội tiếp xúc thêm với một
tôn giáo tích cực trên thế giới, có vai trò quan trọng trong việc giáo dưỡng
nhân dân.
3.2.

Những hạn chế

Các chính sách cũng có những hạn chế nhất định, triều đình đã không sớm
phát hiện âm mưu chia rẽ khối đoàn kết toàn dân tộc. Đã để kẻ thù lợi dụng
Công giáo như một công cụ để chia rẽ khối đoàn kết toàn dân.
Việc thực hiện các chính sách còn chưa triệt để, đầu óc bảo thủ cố chấp của
bộ phận quan lại đã đẩy xã hội Việt Nam lúc bấy giờ rơi vào tình trạng mâu
thuẫn nghiêm trọng.
Việc cấm đạo, giết người là một tội ác ghê rợn, phi nhân đạo.
Chương II: Bài học kinh nghiệm và ý nghĩa thực tiễn
1.

Bài học kinh nghiệm

Thứ nhất, việc đưa ra chính sách phải dựa vào thực tế xã hội, bám sát vào
thực tiễn xã hội để đưa ra các chính sách đúng đắn, hợp lý, tránh việc lãng phí
của cải và công sức của nhân dân.

Tôn giáo và Chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam


25

Thứ hai, khi đánh giá về một vấn đề mới cần có cái nhìn khách quan nhiều
chiều, tránh phiến diện mà đưa ra đánh giá sai lầm. Không mang lối tư duy
bảo thủ, ích kỉ cá nhân trong việc nhìn nhận sự vật, hiện tượng khác.
Thứ ba, cần sáng suốt trong việc nhìn nhận vấn đề tranh việc bị thế lực xấu
lợi dụng. Cần vận dụng các tư tưởng tốt đẹp của tôn giáo vào thực tiễn đời
sống. Cái nhìn cần bao dung, độ lượng.
2.

Ý nghĩa thực tiễn

Việc tìm hiểu chính sách tôn giáo thời Tự Đức đã mang lại những ý nghĩa
hết sức quan trọng đối với tình hình nước ta hiện nay.
Trong một đất nước đa tôn giáo và đa văn hóa như Việt Nam, nhà nước cần có
một chính sách tôn giáo đúng đắn, vừa đảm bảo quyền tự do tôn giáo, tín
ngưỡng của người dân như một nhu cầu tâm linh cá nhân cần phải tôn trọng,
vừa phải hài hòa mục tiêu đảm bảo trật tự xã hội, an ninh quốc gia, chủ quyền
dân tộc.
Giải quyết các vấn đề tôn giáo cần phải dựa trên cơ sở đặc điểm tôn giáo
dân tộc, yêu cầu của thời đại. Vấn đề tôn giáo sẽ được giải quyết tốt trong một
xã hội ổn định và dưới một thể chế nhà nước mạnh mẽ.
Về mối quan hệ giữa chính trị và tôn giáo cần được xây dựng bền chặt, xây
dựng nên sự kết hợp nhuần nhuyễn để đảm bảo sự ổn định chính trị của đất
nước, khối đại đoàn kết toàn dân.

Phần kết luận
“Tuyên chiến với tôn giáo đồng nghĩa với việc tự sát”. Đời sống tâm linh
của mỗi cá nhân là một quyền không thể xâm phạm. Việc nghiên cứu các
chính sách tôn giáo thời Tự Đức đã cho ta thấy rõ điều đó. Để xây dựng một
đất nước vững mạnh cần phải biết cách khéo léo xây dựng mối quan hệ giữa
chính trị và tôn giáo. Cần phải sáng suốt tránh bị thế lực xấu dùng tôn giáo
như một công cụ chống phá. Việc đưa tôn giáo vào đời sống là hết sức cần
thiết. Suy cho cùng, các tôn giáo đều hướng con người đến cái thiện.

Tôn giáo và Chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×