Tải bản đầy đủ

Khoá luận tốt nghiệp kế toán tiêu thụ hàng hoá và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần QS Việt Nam

LỜI MỞ ĐẦU
Trong một nền kinh tế, doanh nghiệp thương mại giữ vai trò phân phối lưu thông hàng
hóa, thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội. Hoạt động của doanh nghiệp thương mại diễn
ra theo chu kỳ hàng hóa T-H-T hay nói cách khác nó bao gồm hai giai đoạn mua và bán
hàng hóa. Như vậy, trong hoạt động kinh doanh thương mại, bán hàng hóa là nghiệp vụ
kinh doanh cơ bản, nó giữ vai trò phát triển, chi phí các nghiệp vụ , các chu kì kinh
doanh chỉ có thể diễn ra liên tục nhịp nhàng khi khâu bán hàng được tổ chức nhằm quay
vong vốn nhanh, tăng hiệu suất sinh lời.
Trong cơ chế thị trường sự cạnh tranh là hiện tượng tất yếu, nó vừa là cơ hội vừa là thử
thách đối với mỗi doanh nghiệp. Cơ chế thị trường cho phép đánh giá chính xác hiệu quả
kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Doang nghiệp nào tổ chức tốt nghiệp vụ bán hàng
đảm bảo thu hồi vốn và có lãi sẽ có điều kiện tồn tại và phát triển. Ngược lại doanh
nghiệp tỏ ra non kém trong tổ chức hoạt động kinh doanh thì chẳng bao lâu sẽ đi đến bờ
vực phá sản, thực tế nền kinh tế nước ta đang chứng tỏ điều đó.
Bước sang năm 2015, việc tiêu thụ hàng hóa của các doanh nghiệp trên toàn quốc phải
đối mặt với không ít khó khăn thử thách. Một là, sự gia tăng ngày càng nhiều của các
doanh nghiệp với các loại hình kinh doanh đa dạng làm cho sự cạnh tranh ngày càng trở
nên gay gắt. Thêm vào đó, cũng với chính sách mở cửa của nền kinh tế, các doanh
nghiệp Việt nam còn phải đối mặt với sự cạnh tranh của các hãng nước ngoài. Hai là, cơ
chế quản lý kinh tế còn nhiều bất cập gây không ít khó khăn, trở ngại cho các doanh
nghiệp. Do vậy, để có thể đứng vững trên thị trường thì doanh nghiệp phải tổ chức tốt

công tác bán hàng, có chiến lược bán hàng thích hợp, cho phép doanh nghiệp chủ động
thích ứng với môi trường nắm bắt cơ hội, huy động có hiệu quả nguồn lực hiện có và lâu
dài để bảo toàn và phát triển vốn, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Gắn liền với công tác
bán hàng và xác định kết quả kinh doanh, kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh
doanh giữu vai trò hết sức quan trọng vì nó phản ánh toàn bộ quá trình bán hàng của
doanh nghiệp cũng như việc xác định kết quả kinh doanh cung cấp thông tin cho nhà
quản lý về hiệu quả tình hình kinh doanh của từng đối tượng hàng hóa để từ đó có những
quyết định kinh doanh chính xác, kịp thời và có hiệu quả.
Từ các vấn đề phân tích ở trên, nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán
tiêu thụ hàng hóa và xác định kết quả kinh doanh, trong thời gian thức tập tại Công ty Cổ
phần QS Việt Nam cùng với sự giúp đỡ tận tình của phòng kế toán và cô giáo Nguyễn
Thị Mai Hiên, em đã đi sâu vào tìm hiểu đề tài: “ KẾ TOÁN TIÊU THỤ HÀNG HÓA
VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH tại Công ty Cổ phần QS Việt Nam” làm
chuyên đề khóa luận của mình.
Chuyên đề tốt nghiệp ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 3 chương chính:
Chương I : Những vấn đề chung về kế toán tiêu thụ hàng hóa và xác định kết quả kinh
doanh trong công ty
Chương II : Thực tế công tác kế toán tiêu thụ hàng hóa và xác định kết quả kinh doanh
tại công ty
Chương III : Nhận xét và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiêu thụ

1


hàng hóa và xác định kết quả kinh doanh tại công ty.
Tuy nhiên, do nhận thức còn hạn chế lại thiếu kinh nghiệm thực tiễn nên chuyên đề
khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được những ý kiến
phê bình của các thầy cô giáo để cho khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn.

Em xin chân thành cảm ơn!

2


Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TIÊU THỤ HÀNG HÓA
VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TRONG DOANH NGHIỆP

THƯƠNG MẠI
1.1. Ý NGHĨA VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA KẾ TOÁN TIÊU THỤ HÀNG HOÁ VÀ

XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TRONG DOANH NGHIỆP THƢƠNG MẠI .

1.1.1 . Khái niệm tiêu thụ hàng hoá và xác định kết quả kinh doanh:
Nét đặc trưng chủ yếu trong các doanh nghiệp thương mại là hoạt động sản
xuất kinh doanh thông qua việc tiêu thụ hàng hoá thu lợi nhuận. Tiêu thụ hàng
hoá là một trong hai quá trình và là quá trình cuối trong hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp thương mại. Tiêu thụ hàng hoá là việc chuyển quyền sở hữu
về hàng hoá lao vụ, dịch vụ từ doanh nghiệp này sang khách hàng khác và doanh
nghiệp thu được tiền hoặc quyền thu tiền .
Số tiền thu được từ hoạt động tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp được
gọi là doanh thu bán hàng, ở doanh nghiệp áp dụng tính thuế giá trị giá tăng theo
phương pháp trực tiếp thì doanh thu bán hàng là giá trị thanh toán của số hàng
đã bán bao gồm cả thuế . Ngoài ra doanh thu bán hàng còn bao gồm các khoản
phụ thu như các khoản phí thu thêm ngoài giá bán, khoản trợ cấp trợ giá của nhà
nước khi doanh nghiệp thực hiện cung ứng hàng hoá dịch vụ theo yêu cầu nhà
nước.
Để thực hiện mục đích kinh doanh của mình là thoả mãn nhu cầu tiêu
dùng của xã hội về hàng hoá dịch vụ và thu lợi nhuận sau mỗi chu kỳ kinh
doanh doanh nghiệp phải luôn tính toán, xác định chi phí bỏ ra và thu nhập thu
về, hay nói cách khác doanh nghiệp phải xác định được kết quả sản xuất kinh
doanh của mình, trong các doanh nghiệp thương mại đó chính là kết quả tiêu thụ
hàng hoá. Như vậy kết quả tiêu thụ hàng hoá là khoản chênh lệnh giữa doanh

3


thu bán hàng thu về với chi phí kinh doanh bỏ ra trong quá trình tiêu thụ hàng
hoá.
1.1.2. Ý nghĩa của hoạt động tiêu thụ hàng hoá trong DNTM
Nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây với nét đặc trưng nổi bật là
từ việc sản xuất tới tiêu thụ hoàn toàn do nhà nước quyết định các doanh nghiệp
không cần quan tâm tới sản phẩm của mình sản xuất ra có được thị trường chấp
nhận hay không mà chỉ quan tâm đến sản xuất cái gì mình sẵn có. Theo chỉ tiêu
kế hoạch nước giao cho, doanh nghiệp không quan tâm tới hiệu quả sản xuất
kinh doanh, lãi hay lỗ đã có nhà nước gánh chịu …Vì vậy mỗi doanh nghiệp
phải năng động nhạy bén thích nghi với môi trường kinh doanh với mục tiêu
hướng tới là thị trường, thị trường là xuất phát điểm, là đích để các doanh
nghiệp chinh phục và khai thác. Để đạt được điều đó các doanh nghiệp phải làm
tốt công tác bán hàng, tiếp cận thị trừơng để tiêu thụ sản phẩm. Đối với các
doanh nghiệp thương mại thì hoạt động tiêu thụ hàng hoá có ý nghĩa cực kì quan
trọng. Trong doanh nghiệp thương mại hoạt động tiêu thụ hàng hoá là hoạt động
chủ yếu cuối cùng và quan trọng nhất, nó giúp cho vốn kinh doanh của doanh
nghiệp nhanh chóng chuyển từ hình thái hàng hoá sang hình thái tiền tệ và là cơ
sở xác định kết quả kinh doanh sau này.
Đối với bản thân doanh nghiệp : Thực hiện tốt công tác tiêu thụ hàng hoá
giúp cho doanh nghiệp thu hồi được vốn nhanh, làm cho tốc độ chu chuyển vốn
lưu động nhanh, từ đó doanh nghiệp không bị chiếm dụng vốn và tiết kiệm chi
phí về vốn.
Doanh nghiệp có bán được hàng thì mới có doanh thu bù đắp chi phí, thực
hiện nghĩa vụ đối với nhà nước và các đối tượng khác có liên quan và cao hơn là
thực hiện giá trị thặng dư, từ đó giúp các nhà quản trị biết được tình hình hoạt
động của doanh nghiệp mình và đưa ra các quyết định phù hợp.
Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế quốc dân, doanh nghiệp đóng vai trò là
một đơn vị kinh tế cơ sở. Sự lớn mạnh của doanh nghiệp góp phần ổn định và
phát triển toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện mục tiêu
4


chung của toàn quốc gia. Hàng hoá của doanh nghiệp được lưu thông trên thị
trường đồng nghĩa với việc hàng hoá của doanh nghiệp được xã hội chấp nhận
hơn thế nữa là doanh nghiệp khẳng định được chỗ đứng của mình trên thị
trường Mặt khác thực hiện tốt quá trình bán hàng góp phần điều hoà giữa sản
xuất và tiêu dùng, giữa tiền và hàng, giữa cung và cầu và là điều kiện đảm bảo
sự phát triển cân đối trong ngành cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân .
1.1.3. Vai trò và nhiệm vụ kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh
Để hoạt đọng bán hàng của đơn vị có hiệu quả, đem lại lợi nhuận càng cao các đơn
vị hoạt động sản xuất kinh doanh phải xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh,
trong đó có kế hoạch bán sản phẩm một cách khoa học, thực hiện tính toán đầy đủ,
chính xác các khoản chi phí, doanh thu và kết quả bán hàng nhằm đánh giá hoạt
động bán hàng.
Muốn vậy, kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh phải làm tốt những
nhiệm vụ sau:
+ Phản ánh, kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện kế hoạch bán hàng của công ty.
Trên cơ sở đó đề xuất những định hướng cho hoạt động sản xuất kinh doanh ở
công ty.
+ Tổng hợp, tính toán phân bổ hợp lý các khoản chi phí bán hàng , chi phí quản lý
doanh nghiệp cho hàng bán ra. Tính toán đúng đắn giá vốn của hàng xuất bán, các
khoản thuế phải nộp nhà nước về bán hàng, xác định chính xác doanh thu và kết
quả kinh doanh.
+ Kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu, kế hoạch kết quả
kinh doanh của công ty trên cơ sở đó đề ra biện pháp cải tiến, cải thiện hoạt động
sản xuất và tiêu thụ của đơn vị, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
1.2.

NỘI DUNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN TIÊU THỤ HÀNG HOÁ TRONG DOANH
NGHIỆP THƯƠNG MẠI

1.2.1 Các phương thức tiêu thụ hàng hoá trong các doanh nghiệp thương mại
Đặc điểm khác biệt cơ bản của doanh nghiệp thương mại và doanh nghiệp
sản xuất là: doanh nghiệp thương mại không trực tiếp chế tạo ra sản phẩm, hàng
hoá mà đóng vai trò trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng. Để tạo điều kiện
thuận lợi trong quan hệ mua bán, doanh nghiệp thương mại phải biết áp dụng
linh hoạt các phương thức tiêu thụ sau:
1.2.1.1.Phương thức tiêu thụ trực tiếp:
Phương thức tiêu thụ trực tiếp là phương thức giao hàng cho người mua
trực tiếp tại kho (hay trực tiếp tại các phân xưởng không qua kho) của doanh
5


nghiệp. Số hàng khi bàn giao cho khách hàng được chính thức coi là tiêu thụ và
người bán mất quyền sở hưũ về số hàng này. Người mua thanh toán hoặc chấp
nhận thanh toán số hàng mà người bán đã giao.
a. Bán buôn hàng hoá

6


Bán buôn hàng hoá là bán hàng cho mạng lưới bán lẻ, cho sản xuất tiêu
dùng. Thanh toán tiền hàng chủ yếu không dùng tiền mặt mà thông qua ngân
hàng và bằng các hình thức thanh toán khác.
* Các hình thức bán buôn hàng hoá:
- Bán buôn qua kho: là trường hợp bán buôn hàng đã nhập kho và đựơc
thực hiện theo hai cách.
Bán buôn qua kho theo hình thức chuyển hàng theo hợp đồng là phương
thức mà bên bán chuyển hàng cho bên mua theo địa chỉ ghi trên hợp đồng. Số
hàng chuyển đi vẫn thuộc quyền sở hữu của bên bán. Khi bên mua thanh toán
hoặc chấp nhận số hàng chuyển giao (một phần hay toàn bộ) thì số hàng này
mới được coi là tiêu thụ và bên bán mất quyền sở hữu đối với số hàng đó.
Bán buôn qua kho theo hình thức bên mua lấy hàng trực tiếp tại kho: theo
hình thức này, hai bên ký hợp đồng trong đó ghi rõ bên mua đến kho của bên
bán nhận hàng. Căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký, bên mua sẽ uỷ quyền cho
người đến nhận hàng tại kho của doanh nghiệp. Khi bên mua nhận đủ số hàng
và ký xác nhận trên chứng từ bán hàng thì số hàng đó không thuộc quyền sở
hữu của doanh nghiệp nữa, hàng được coi là đã tiêu thụ, doanh nghiệp hạch
toán vào doanh thu. Việc thanh toán tiền hàng căn cứ trên hợp đồng đã ký.
Chứng từ kế toán áp dụng trong trường hợp này là hoá đơn GTGT hoặc hoá
đơn kiêm phiếu xuất kho có chữ ký của người nhận hàng.
- Bán buôn không qua kho (giao thẳng hàng không qua kho): Đây là
trường hợp tiêu thụ hàng hoá không qua kho của doanh nghiệp. Bán buôn không
qua kho có hai hình thức thực hiện.
Bán buôn vận chuyển thẳng, không tham gia thanh toán: thực chất là hình
thức môi giới trung gian trong quan hệ mua bán.
Bán buôn vận chuyển thẳng có tham gia thanh toán: trường hợp này
doanh nghiệp phải tổ chức quá trình mua hàng, bán hàng, thanh toán tiền hàng
mua, tiền hàng đã bán với nhà cung cấp và khách hàng của doanh nghiệp.
b. B án lẻ hàng hoá


Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình vận động hàng hoá từ nơi sản
xuất đến nơi tiêu thụ. Hàng hoá được bán trực tiếp cho người tiêu dùng. Hàng
bán lẻ thường có khối lượng nhỏ, thanh toán ngay và hình thức thanh toán
thường là tiền mặt nên không cần lập chứng từ cho từng lần bán.
Bán lẻ thu tiền trực tiếp là hình thức nhân viên bán hàng chịu trách nhiệm
vật chất về số lượng hàng bán tại quầy, trực tiếp thu tiền và giao hàng trực tiếp
cho khách hàng, đồng thời ghi chép vào thẻ quầy hàng. Thẻ quầy hàng có thể
mở cho từng loại mặt hàng, phản ánh cả về số lượng và giá trị. Cuối ngày nhân
viên bán hàng kiểm tiền bán hàng và kiểm kê hàng tồn trên quầy để xác định
lượng hàng đã bán trong ngày rồi sau đó lập báo cáo bán hàng. Tiền bán hàng
được nhân viên bán hàng kê vào giấy nộp tiền cho thủ quỹ hoặc cho ngân hàng (
nếu được uỷ quyền ). Báo cáo bán hàng là căn cứ để tính doanh thu và đối chiếu
với số tiền đã nộp theo giấy nộp tiền
1.2.1.2. Phương thức bán hàng đại lý , ký gửi :
Là phương thức mà bên chủ hàng ( gọi là bên giao đại lý) xuất hàng cho
bên nhận đại lý ký gửi ( gọi là bên đại lý) để bán. Bên đại lý sẽ được nhận hoa
hồng hay chênh lệch giá, đó chính là doanh thu của bên đại lý, ký gửi. Khi bên
bán xuất giao hàng hoá cho đại lý thì số hàng hoá đó chưa xác định là tiêu thụ.
Chỉ khi nào bên đại lý đã thông báo bán được hàng lúc đó mới xác định là tiêu
thụ.
Với hình thức tiêu thụ này đòi hỏi các đại lý ký gửi có thể đảm bảo nhận
hàng, giao tiền theo đúng thời gian quy định và bán theo giá mà doanh nghiệp đã
định.
1.2.1.3. Phương thức tiêu thụ nội bộ:
Tiêu thụ nội bộ là việc mua, bán sản phẩm hàng hoá giữa đơn vị chính với
các đơn vị trực thuộc hay giữa các đơn vị trực thuộc với nhau trong cùng một
công ty, tổng công ty. Ngoài ra, được coi là tiêu thụ nội bộ còn bao gồm khoán
sản phẩm, hàng hoá, xuất biếu tặng, xuất trả lương, thưởng, xuất dùng cho hoạt
động sản xuất kinh doanh.


1.2.2. Phương pháp xác định giá vốn của hàng hoá tiêu thụ.
Để xác định giá vốn của hàng hoá tiêu thụ, ta phải đánh giá hàng hoá bằng
tiền và giá trị hàng hoá theo nguyên tắc nhất định. Về nguyên tắc, hàng hoá
được phản ánh theo trị giá vốn thực tế. Tuy nhiên trong quá trình hạch toán,
doanh nghiệp có thể áp dụng 2 cách đánh giá đối với hàng hoá :
* Đánh giá theo giá vốn thực tế
Trị giá hàng hoá phản ánh trong kế toán tổng hợp phải được đánh giá theo
nguyên tắc giá vốn thực tế
- Đánh giá hàng hoá nhập kho
Việc đánh giá hàng hoá nhập kho được xác định phù hợp với từng nguồn
thu nhập:
+ Hàng hoá do thuê ngoài gia công chế biến nhập kho được đánh giá theo
giá trị thực tế thi công gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp đem gia công, chi
phí thuê ngoài gia công và các chi phí khác liên quan trực tiếp đến quá trình gia
công như chi phí vận chuyển, chi phí thủ tục xuất kho cho nguyên vật liệu đem
gia công, nhập kho hàng hoá đã hoàn thành gia công.
+ Hàng hoá nhập kho do mua ngoài nhập kho được đánh giá theo tổng chi
phí thực tế (nguyên tắc giá phí thực tế để có hàng hoá bao gồm: trị giá mua ( giá
bán không có thuế GTGT-đối với doanh nghiệp nộp thuế theo phương pháp
khấu trừ thuế), chi phí vận chuyển bao gói, thuế nhập khẩu...)
- Đánh giá hàng hoá xuất kho
Việc tính toán xác định giá trị thực tế hàng hoá xuất kho có thể áp dụng
một trong các phương pháp chủ yếu sau:
+ Phương pháp giá trị thực tế đích danh: Theo phương pháp này giá trị thực
tế hàng hoá xuất kho được căn cứ vào đơn giá thực tế hàng hoá nhập kho từng
lô, từng lần nhập và số lượng xuất kho theo từng lần.
+ Phương pháp thực tế bình quân: theo phương pháp này giá trị thực tế
hàng hoá xuất kho được tính theo đơn giá bình quân và số lượng hàng hoá xuất
kho.
Công thức:


Giá trị hàng hoá thực tế
xuất kho

=

Số lƣợng hàng

*

hoá xuất kho

Đơn giá bình
quân

Trong đó:
Giá bình quân được xác định theo một trong ba phương pháp
Trị giá thực tế hàng hoá
Giá đơn vị bình quân
cả kỳ dự trữ

=

tồn đầu kỳ
Số lƣợng hàng hoá
tồn

+

+

đầu kỳ

Giá đơn vị bình quân
cuối kỳ trƣớc

Trị giá thực tế hàng hoá
nhập trong kỳ
Số lƣợng hàng hoá
nhập
trong kỳ

Trị giá thực tế hàng hoá tồn đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trƣớc)
=
Số lƣợng hàng thực tế tồn đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trƣớc)
Trị giá thực tế hàng hoá

Giá đơn vị bình quân
sau mỗi lần nhập

=

tồn trƣớc khi nhập
Số lƣợng hàng hoá
tồn
trƣớc khi nhập

+

Trị giá thực tế hàng hoá
nhập
Số lƣợng thực tế hàng hoá

+

nhập

+ Phương pháp tính giá bình quân cả kỳ dự trữ tuy đơn giản, dễ làm
nhưng độ chính xác không cao. Hơn nữa, công việc tính toán dồn vào cuối tháng
gây ảnh hưởng đến công tác quyết toán nói chung.
- Phương pháp giá đơn vị bình quân cuối kỳ trước bộc lộ những nhược
điểm khi thị trường biến động. Giá cả kỳ này tăng (hoặc giảm) đột biến với kỳ
trước thì không ảnh hưởng đến giá trị hàng hóa bán trong kỳ mà ảnh hưởng trị
giá hàng hóa tồn kho cuối kỳ, tức là gây tác động đến kỳ sau. Nếu giá cuối kỳ
trước rất cao so với kỳ này thì việc áp dụng phương pháp giá đơn vị bình quân
cuối kỳ trước tỏ ra không hợp lý. Tuy nhiên phương pháp này cũng có ưu điểm
là khá đơn giản và phản ánh kịp thời tình hình biến động hàng hóa trong kỳ.
- Phương pháp giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập: khắc phục được
nhược điểm của cả hai phương pháp trên, vừa chính xác vừa cập nhật kịp thời.
Nhược điểm của phương pháp này tốn nhiều công sức, tính toán nhiều lần.


- Phương pháp nhập trước - xuất trước (FIFO):


Theo phương pháp này phải xác định được đơn giá thực tế nhập kho của
từng lần nhập, sau đó căn cứ vào số lượng xuất tính giá trị thực tế xuất kho theo
nguyên tắc: tính theo đơn giá thực tế nhập trước đối với số lượng xuất kho thuộc
lần nhập trước, số còn lại (tổng số xuất, số nhập của lần nhập trước) được tính
theo đơn giá thực tế của lần nhập sau. Như vậy giá thực tế hàng hóa tồn kho cuối
kỳ chính là giá trị thực tế của hàng hóa nhập kho thuộc lần nhập sau cùng.
+ Phương pháp nhập sau - xuất trước (LIFO):
Theo phương pháp này, cần xác định đơn giá từng lần nhập. Khi xuất sẽ
căn cứ vào từng số lượng xuất và đơn giá thực tế nhập kho cuối cùng, sau đó lần
lượt đến các lần nhập trước để tính giá trị thực tế hàng hóa xuất kho. Như vậy
giá trị thực tế hàng hóa tồn kho cuối kỳ là quá trình thực tế tính theo đơn giá lần
nhập đầu kỳ.
* Đánh giá hàng hóa theo giá hạch toán:
Việc đánh giá trị giá thực tế đôi khi không đáp ứng được yêu cầu kịp thời
của công tác kế toán, bởi vì giá thành sản xuất thực tế thường cuối kỳ hạch toán
mới xác định được mà việc nhập, xuất hàng hóa lại diễn ra thường xuyên, liên
tục. Do đó người ta còn sử dụng giá trị hạch toán để ghi chép kịp trị giá hàng
hóa nhập, xuất.
Giá hạch toán là giá ổn định trong kỳ do doanh nghiệp chọn. Nó có thể là
giá thành thực tế, giá kế hoạch tại một thời điểm nào đó hoặc giá nhập kho thống
nhất quy định ... đánh giá hàng hóa theo giá hạch toán đến cuối kỳ phải tính
chuyển giá hạch toán sang giá thực tế bằng cách:
Trị giá hàng hoá xuất
kho

=

Trị giá hạch toán thành
phẩm

*

Hệ số giá

Trong đó:
Hệ số giá

=

Trị giá thực tế hàng
hoá tồn đầu kỳ

+

Trị giá thực tế hàng
hoá nhập kho trong kỳ


Trị giá hạch toán
hàng hoá tồn
đầu kỳ

+

Trị giá hạch toán hàng
hoá nhập kho trong kỳ

1.2.3. Tổ chức hạch toán tiêu thụ hàng hóa trong các doanh nghiệp
thương mại
Chứng từ kế toán sử dụng trong việc nhập-xuất kho hàng hoá
Mọi nghiệp vụ biến động của hàng hoá đều được phản ánh, ghi chép vào
chứng từ ban đầu phù hợp theo đúng nội dung qui định. Những chứng từ này là
cơ sở pháp lý để tiến hành hạch toán nhập-xuất kho hàng hoá, là cơ sở của việc
kiểm tra tính cần thiết và tính hợp pháp của chứng từ. Các chứng từ sử dụng
trong kế toán hàng hoá là:
- Phiếu nhập kho
- Phiếu xuất kho
- Hoá đơn kiêm vận chuyển nội bộ.
- Thẻ kho
- Biên bản kiểm kê...
Các chứng từ này phải được luân chuyển đến bộ phận kế toán đúng thời
hạn, chính xác và đầy đủ. Căn cứ vào đó kế toán kiểm tra tính hợp pháp và tiến
hành phân loại, tổng hợp ghi sổ kế toán thích hợp.
1.2.3.1.

Kế toán chi tiết hàng hoá
Kế toán chi tiết hàng hoá là việc ghi chép số liệu luân chuyển chứng từ

giữa kho và phòng kế toán trên các chỉ tiêu số lượng, giá trị hàng hoá theo từng
thứ, từng loại, từng kho hàng hoá, từng thủ kho..
Tuỳ đặc điểm sản xuất và công tác kế toán ở mỗi doanh nghiệp mà kế
toán chi tiết hàng hoá được tiến hành theo một trong những phương pháp sau:
* Phương pháp ghi thẻ song song


- Ở kho: hàng ngày khi nhận được các chứng từ nhập-xuất kho hàng hoá,
thủ kho phải kiểm tra tính hợp pháp rồi tiến hành ghi chép thực nhập, thực xuất
vào thẻ kho theo chỉ tiêu số lượng mỗi chứng từ ghi vào thẻ kho một dòng. Định
kỳ thủ kho gửi (hay kế toán xuống lấy) toàn bộ chứng từ nhập, chứng từ xuất
hàng hoá đã được phân loại. Cuối kì tiến hành tổng cộng trên thẻ kho.
- Ở phòng kế toán: Khi nhận được các chứng từ nhập, các chứng từ xuất
hàng hoá do thủ kho gửi lên, kế toán tiến hành ghi sổ kế toán chi tiết hàng hoá
theo cả hai chỉ tiêu hiện vật và giá trị. Cuối kì hạch toán kế toán tiến hành đối
chiếu giữa số liệu trên sổ thẻ kho với sổ kế toán chi tiết hàng hoá đã được tổng
cộng trên cột hiện vật (số lượng) số liệu phải khớp nhau. Ngoài ra để có sự theo
dõi chặt chẽ hơn kế toán mở bảng kê tổng hợp nhập-xuất-tồn kho hàng hoá.
Nội dung trình tự kế toán chi tiết theo phương pháp thẻ song song được
khái quát bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ 1 : Kế toán chi tiết hàng hoá theo phương pháp thẻ song song.

T
h

k
h


Chứng từ nhập


:Ghi hàng ngày

S


:Ghi cuối kỳ

Bảng
k kê
tổng ế
hợp N:Quan hệ đối chiếu
X-T hà ng
t
hoá
Nghiên cứu phương pháp trên taothấy:
á
n kiểm tra, dễ đối chiếu.
Ư u điể m: Ghi chép đơn giản, dễ
c kho và bộ phận kế toán còn trùng lặp
N hược điểm : Việc ghi chép giữa
h
về chỉ tiêu số lượng. Việc kiểm tra đối
i chiếu thường tiến hành vào cuối tháng
nên hạn chế chức năng kiểm tra của kết toán.
i
ế với các doanh nghiệp có ít chủng loại
P hạ m vi á p d ụng : Thích hợp
t
hàng hoá, nghiệp vụ nhập xuất không thường xuyên, trình độ chuyên môn của
h
cán bộ kế toán không cao.
à
* Phương pháp đối chiếu luân chuyển.
n
g
- Ở kho : Thủ kho cũng dùng thẻ kho để theo dõi tình hình nhập xuất hàng
h hàng hoá.
hoá dựa trên các chứng từ nhập-xuất-tồn
o
- Ở phòng kế toán: Khi nhận đượcá các chứng từ do thủ kho gửi lên, kế toán
lập các bảng kê nhập - xuất - tồn (Theo dõi cả hiện vật và giá trị). Cuối tháng lấy
số liệu trên bảng kê nhập, Sổ đối chiếu luân chuyển dùng để ghi chép tình hình
nhập-xuất-tồn kho hàng hoá theo từng loại hàng hoá ở từng kho theo cả hai chỉ
tiêu: Hiện vật và giá trị. Sổ này dùng cho cả năm, mỗi tháng ghi một lần vào
cuối tháng.
Sơ đồ 2 : Kế toán chi tiết hàng hoá theo phƣơng pháp đối
chiếu luân chuyển.

Thẻ kho
16


C
B
B
: SC
h
h
ảGổả :Ghi cuối kỳ

nh ứ
n
n
n
gi đg :Quan hệ đối chiếu
g ốg
Nghiên cứu phương pháp này ta thấy :
kh i k
têà tê Ư u điể m : Khối lượng ghi chép của kế toán được giảm bớt( chỉ ghi 1

n c ừvào cuối tháng.
lần
ng hx
hix
u N hược điểm : Việc ghi chép vẫn còn trùng lặp, việc kiểm tra đối
u
ận ếấ
chiếu
pg uấ
t giữa kho và phòng kế toán chỉ tiến hành vào cuối tháng nên vẫn hạn chế
à l t tra trong công tác quản lý.
kiểm
yu
P hạ m vi áp d ụng : Thích hợp với các doanh nghiệp sản xuất không
â
cón nhiều nghiệp vụ nhập xuất, không bố trí riêng nhân viên kế toán chi tiết
hàng hoá và không có điều kiện ghi chép, theo dõi tình hình nhập xuất hàng
c
ngày.
h
u * Phương pháp sổ số dư :
y
ể - Ở kho : Thủ kho cũng sử dụng thẻ kho để ghi chép tình hình nhập-xuấtn kho hàng hoá về mặt số lượng, định kỳ gửi các chứng từ nhập, chứng từ xuất
tồn
lên phòng kế toán. Sổ số dư là do thủ kho nhận được từ kế toán vào đầu tháng,
gồm cả chỉ tiêu số lượng và giá trị.
- Ở phòng kế toán : Đầu tháng kế toán mở sổ số dư theo từng kho, dùng
cho cả năm gửi cho thủ kho. Sau đó căn cứ vào các chứng từ nhập, chứng từ
xuất lập bảng kê nhập, bảng kê xuất, bảng luỹ kế nhập, bảng luỹ kế xuất. Lập
bảng kê tổng hợp nhập-xuất-tồn kho hàng hoá theo từng loại hàng hoá, theo chỉ
tiêu giá trị. Cuối tháng đối chiếu cột số lượng trên sổ số dư với bảng kê tổng hợp
nhập-xuất-tồn, ghi đơn giá hàng hoá lên sổ số dư để tính số tồn kho trên sổ số
17


dư, hoàn thiện cột chỉ tiêu giá trị trên sổ số dư.

18


Sơ đồ 3 : Kế toán chi tiết hàng hoá theo phƣơng pháp sổ số dƣ
Chứng từ xuất

T
Ch
S Bả
Bả Bả
h
ứn
ổ ng
ng ng

gluỹ kê
s
luỹ
k
từ
ố kế
kế tổn
h
nh
nh
gd xuấ
Ghi hằng
ngày
o
ập
ƣ t
ập hợp
Ghi cuối kỳ
N
Quan hệ đối chiếu
Nghiên cứu phương pháp trên ta thấy :
X
Ưu điểm : Giảm bớt khối lượng ghi sổ kế toán, công việc được tiến hành
đều trong tháng, việc kiểm
tra được thực hiện thường xuyên, đáp ứng tốt nhất
yêu cầu quản lý.

T
N hược đ iểm : hDo kế toán chỉ theo dõi giá trị nên qua số liệu kế toán
không biết thực tế số àhiện có và tình hình tăng giảm từng loại hàng hoá mà
n
phải xem qua số liệu gtrên thẻ kho. Việc kiểm tra phát hiện sai sót, nhầm lẫn
giữa thủ kho và phòng kế toán gặp nhiều khó khăn.
h
P hạ m vi áp d oụng : Thích hợp cho các doanh nghiệp có khối lượng
nghiệp vụ nhập, nghiệpá vụ xuất thường xuyên nhiều chủng loại. Doanh nghiệp
sử dụng giá hạch toán, trình độ quản lý, trình độ kế toán cao.
1.2.3.2. Kế toán tổng hợp tiêu thụ hàng hóa trong doanh nghiệp thương mại:
1.2.3.2.1. Kế toán tổng hợp tiêu thụ hàng hóa theo phương pháp kê khai
thường xuyên.

19


- K hái niệ m : Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp
hạch toán mà các nghiệp vụ nhập-xuất kho hàng hoá được thể hiện trên các tài
khoản kế toán một cách thường xuyên, theo từng chứng từ nhập, chứng từ xuất.
- T ài khoả n s ử d ụng :
+ Tài khoản 156 “Hàng hoá”: Dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình
hình biến động các loại hàng hoá trong doanh nghiệp
Bên nợ: phản ánh các nghiệp vụ làm tăng hàng hoá, mua, biếu tặng
Bên có: phản ánh các nghiệp vụ làm giảm hàng hoá xuất kho, xuất bán
Số dư bên nợ: Phản ánh hàng hoá tồn kho cuối kỳ
+ Tài khoản 157 “Hàng gửi bán”:
Tài khoản này được sử dụng để theo dõi giá trị sản phẩm, hàng hóa tiêu thụ
theo phương thức chuyển thẳng hoặc giá trị sản phẩm, hàng hóa bán, đại lý, ký
gửi hay giá trị dịch vụ đã hoàn thành giao cho bên đặt hàng, bên mua nhưng
chưa được chấp nhận thanh toán. Số hàng hóa, sản phẩm này vẫn thuộc quyền
sở hữu của đơn vị tài khoản này được mở chi tiết theo từng mặt hàng.
Bên nợ: Giá trị sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ gửi bán
Bên có: Giá trị sản phẩm, hàng hoá, lao vụ dịch vụ được khách hàng chấp
nhận thanh toán
Giá trị hàng gửi bán bị từ chối, trả lại
Số dư: gía trị hàng gửi bán bị từ chối hoặc trả lại
+ TK 511 - Doanh thua bán hàng:
TK 511 được dùng để phản ánh tổng số doanh thu bán hàng thực tế của
doan nghiệp và các khoản khấu trừ doanh thu. từ đó, tính ra doanh thu thuần về
việc tiêu thụ trong kỳ.
Bên nợ: Số thuế phải nộp ( thuế dịch vụ đặc biệt, thuế xuất khẩu) tính trên
doanh số bán trong kỳ
Bên có: Giá bán hàng hoá doanh thu bán sản phẩm, hàng hoá cung cấp lao
vụ, dịch vụ của doanh nghiệp thực hiện trong kỳ thanh toán
+TK 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ:

20


TK này dùng để phản ánh doanh thu của số hàng hóa, sản phẩm tiêu thụ
nội bộ giữ các đơn vị trực thuộc trong cùng một công ty, một tổng công ty.
Ngoài ra TK này còn sử dụng để theo dõi các khoản được coi là tiêu thụ nội bộ
khác như: sử dụng sản phẩm hàng hóa vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Bên nợ: Giá trị hàng hoá trả lại ( theo giá tiêu thụ nội bộ) khoản giảm giá
hàng bán được chấp nhận trên khối lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ
nội bộ trong kỳ, thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp của số hàng hoá tiêu thụ nội bộ
Kết chuyển doanh thu tiêu thụ nội bộ phần vào tài khoản sử dụng kết quả
Bên có Tổng số doanh thu bán hàng nội bộ của đơn vị thực hiện trong
kỳ TK 152 Không có số dư cuối kỳ
+ TK 531 - Hàng bán bị trả lại:
TK này dùng để theo dõi khoản doanh thu của số hàng hóa, sản phẩm đã
tiêu thụ bị khách hàng trả lại. Đây là TK điều chỉnh của TK 511 để tính doanh
thu thuần.
Bên nợ: Doanh thu của số hàng giá tiêu thụ bị trả lại, đã trả lại được tiền
cho người mua hoặc tính trừ và nợ phải thu. Khách hàng với số sản phẩm hàng
hoá được bán ra.
Bên có: Kết chuyển doanh thu của số hàng đã tiêu thụ bị trả lại trừ vào
doanh thu trong kỳ
TK 531 Cuối kỳ không có số dư
+ TK 532 - Giảm giá hàng bán:
TK này được dùng để theo dõi toàn bộ các khoản giảm giá hàng bán cho
khách hàng trên giá bán đã thỏa thuận vì các lý do chủ quan của doanh nghiệp.
được hạch toán vào TK này bao gồm các khảon bớt giá, hồi khấu, và các khoản
giảm giá đặc biệt.
Bên nợ: Của các khoản giảm giá hàng bán được chấp nhận
Bên có: Kết chuyển toàn bộ số giảm giá hàng hoá trừ vào doanh thu
TK không có số dư
+ TK 632 - Giá vốn hàng bán:

21


Dùng để theo dõi trị giá vốn của hàng hóa, sản phẩm xuất bán trong kỳ.
Giá vốn hàng bán có thể là giá thành công xưởng thực tế của sản phẩm.
Bên nợ: Trị giá vốn của thành phẩm, hàng hoá lao vụ, dịch vụ đã cung cấp
theo háo đơn.
Bên có: Kết chuyển giá vốn hàng hoá tiêu thụ trong kỳ và tài khoản xác
định kết quả
TK này không có số dư
+ TK 3331 - Thuế GTGT phải nộp:
Phản ánh thuế GTGT đầu ra, số thuế GTGT của hàng bán bị trả lại, số thuế
GTGT của đầu vào được khấu trừ, thuế GTGT được miễn giảm và thuế GTGT
phải nộp.

22


Sơ đ ồ 4 :Hạch toán tổng hợp tiêu thụ hàng hoá trong doanh
nghiệp thƣơng mại (theo phƣơng pháp kê khai thƣờng
xuyên)
TK154

TK156
Sản xuất hoặc thuê
ngoài

TK157,632

Hàng hóa xuất bán,đối chiếu
tặng trả lương cho công nhân

TK157,632

TK138
Sản phẩm ban bị trả lại

Thiếu khi kiểm kê

TK642,3381
Thà nh phẩm phát

Góp Bằng thà nh

hiện Thừa khi kiểm

phẩm



TK412

đánh giá giảm
đánh giá tăng

23

T
K
1
2
8
,
2
TK412
2
2


Ngoài các TK trên, kế toán còn sử dụng các TK khác như 111, 112, 131,
141...
* Trình tự hạch toán theo các phương thức tiêu thụ:
+ Bán buôn theo phương thức trực tiếp:
Khi chuyển giao hàng hóa cho người mua, kế toán phản ánh các bút toán
sau:
Bút toán 1: Ghi nhận tổng giá thanh toán của hàng bán.
- Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế:
Nợ TK 111: Tổng giá thanh toán của hàng bán đã thu tiền mặt.
Nợ TK 112: Tổng giá thanh toán của hàng bán thu bằng tiền gửi ngân
hàng. Nợ TK 131: Tổng giá thanh toán được người mua chấp nhận nợ.
Có TK 511 (5111): Doanh thu hàng bán theo giá bán chưa có thuế
GTGT.
Có TK 3331: Thuế GTGT phải nộp.
- Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hoặc
đối với những mặt hàng không chịu thuế GTGT.
Nợ TK liên quan 111, 112, 131: Tổng giá thanh toán.
Có TK 511 (5111): Doanh thu bán hàng theo tổng giá thanh toán.
Bút toán 2: Ghi giá trị mua thực tế của hàng tiêu thụ
Nợ TK 632: Tập hợp giá trị mua thực tế của hàng bán.
Có TK 156 (1561): Trị giá mua thực tế của hàng bán.
Bút toán 3: Bao bì tính riêng và các khoản chi hộ cho người mua (nếu có).
Nợ TK 138 ( 1388): Phải thu khác.
Có TK liên quan 153, 111, 112, 331
Số thuế xuất khẩu, thuế TTĐB phải nộp về hàng đã bán (nếu có) ghi:
Nợ TK 511 (5111): Ghi giảm doanh thu tieue thụ
Có TK 3332: Số thuế TTĐB phải nộp.
Có TK 3333: Số thuế xuất khẩu phải
nộp


* Hạch toán nghiệp vụ bán buôn hàng hóa qua kho theo hình thức chuyển
hàng: Khi xuất kho hàng hóa chuyển cho bên mua, kế toán ghi nhận trị giá vốn
của hàng xuất bán.
Nợ TK 157: Trị giá mua hàng gửi bán.
Có TK 156 (1561): Trị giá mua của hàng xuất kho.
Giá trị bao bì đi kèm hàng hóa có tính giá riêng, ghi:
Nợ TK 138 (1388): Trị giá bao bì đi kèm theo hàng hóa.
Có TK 153 (1532): Trị giá bao bì theo giá xuất kho.
Khi hàng hóa được chuyển cho bên mua kiểm nhận, chấp nhận thanh toán
hoặc thanh toán, kế toán ghi:
Bút toán 1: Ghi nhận tổng giá thanh toán của hàng bán.
- Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
thuế: Nợ TK 111, 112, 131: Tổng giá thanh toán
Có TK 511 (5111): Doanh thu bán hàng chưa có thuế GTGT
Có TK 3331: Thuế GTGT phải nộp
- Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hoặc
đối với đối tượng không chịu thuế GTGT.
Nợ TK 111, 112, 131: Tổng giá thành toán
Có TK 511 (5111): Doanh thu bán hàng theotổng giá thanh toán
Bút toán 2: Phản ánh giá trị mua thực tế của hàng chuyển bán đã được
khách hàng chấp nhận (một phần hay toàn bộ).
Nợ TK 632: tập hợp trị giá mua của hàng chuyển bán
Có TK 157: Trị giá mua của hàng bán được khách hàng chấp nhận
Sốthuế xuất khẩu, thuế TTĐB phải nộp về hàng đã bán (nếu có) ghi:
Nợ TK 511 (5111): ghi giảm doanh thu tiêu thụ
Có TK 3332: Số thuế TTĐB phải nộp
Có TK 3333: Số thuế xuất khẩu phải nộp
Đối với giá trị bao bì kèm theo hàng hóa, bên mua chấp nhận thanh toán
hoặc đã thanh toán bao bì, kế toán ghi:
Nợ TK liên quan 111, 112, 131


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×