Tải bản đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm ngữ văn Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học môn Ngữ Văn 9 ở trường........................................”

Phần 1: MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn SKKN
Tiếp tục thực hiện chủ đề năm học 2015-2016 là tiếp tục đổi mới mạnh
mẽ phương pháp dạy và học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
học sinh; tăng cường kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức, kỹ năng vào giải
quyết các vấn đề thực tiễn. Đa dạng hóa các hình thức học tập, chú trọng các
hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nghiên cứu khoa học của học sinh. Đẩy mạnh
ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học đặc biệt chú
trọng giáo dục theo định hướng phát triển năng lực học sinh thông qua việc điều
chỉnh nội dung dạy học theo hướng tinh giản, theo tinh thần Nghị quyết số 29NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo
Ngoài ra, đáp ứng những yêu cầu đổi mới về phương diện phương pháp,
đáp ứng tốt hơn Chuẩn kiến thức và kĩ năng quy định thì việc làm phong phú,
sinh động, khắc sâu bài học…bằng một kỹ thuật mới đó là tổ chức các đơn vị
kiến thức trên hệ thống sơ đồ, ta vẫn gọi là sơ đồ tư duy, hay bản đồ tư duy. Nó
không chỉ giúp cho học sinh có sự hiểu biết sâu rộng, dễ tái hiện kiến thức Ngữ
văn mà còn góp phần chắp cánh cho những phương pháp dạy học đặc trưng của
bộ môn này. Đồng thời, tạo hứng thú để học sinh tham gia học tập tích cực, kiểu
như: “ có thích mới nhích tư duy”.
Thực tế việc vận dụng sơ đồ tư duy vào một số tiết dạy ở bộ môn Ngữ văn,
tôi nhận thấy đã đem lại những hiệu quả nhất định. Tuy nhiên để tiến đến sử

dụng lâu dài và đem lại hiệu quả tối ưu tôi đã tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu
những cơ sở khoa học của nó và vận dụng sao cho phù hợp có hiệu quả nhất với
đặc trưng của bộ môn Ngữ văn và với đối tượng học sinh là người dân tộc Mông
như ở trường tôi. Do đó, tôi chọn sáng kiến : “Một số kinh nghiệm sử dụng
SĐTD trong dạy học môn Ngữ Văn 9 ở trường PTDTBT THCS Chế Cu Nha.”
Mong rằng với những kinh nghiệm này có thể giúp các đồng nghiệp ít nhiều
trong việc làm phong phú thêm phương pháp, kĩ thuật dạy học trong môn Ngữ

1


văn, đồng thời tôi rất mong có sự góp ý chân thành của các đồng nghiệp để sáng
kiến được sâu sắc hơn về giá trị hữu dụng của nó.
2. Mục đích của sáng kiến.
Ngữ văn là môn học nghệ thuật, đặc biệt là văn học. Văn học dùng chất liệu
hiện thực kết hợp với nghệ thuật ngôn từ để phản ánh hiện thực, thể hiện tư
tưởng, tình cảm của tác giả. Vì vậy dạy học văn là khai thác nghệ thuật ngôn từ
để làm rõ nội dung hiện thực và tư tưởng tình cảm của tác giả.
Theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) trong môn Ngữ
văn, không có sự hạ thấp vai trò của giáo viên (GV) mà ngược lại GV chính
là người tổ chức, thiết kế, điều hành giờ học. Đây là phương pháp hạn chế
tối đa lối dạy lý thuyết một chiều, chuyển quá trình thuyết giảng của GV
thành những cuộc trao đổi, đàm thoại giữa thầy và trò, giữa học sinh (HS)
và HS giúp các em tự tìm hiểu và đánh giá được mức độ hiểu bài học của
mình.
Trong việc đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn, giáo viên có thể vận
dụng nhiều loại hình phương pháp khác nhau. Trong đó, xây dựng và sử dụng
bản đồ tư duy là một trong những phương pháp hữu hiệu mang lại thành công
cho thầy và trò qua mỗi bài học…Vì mỗi phân môn trong Ngữ Văn có một đặc
điểm riêng nên làm sao để người học có thể lĩnh hội và vận dụng các kiến thức
trên một cách hiệu quả thì người dạy cần có phương pháp dạy sao cho phù hợp.
Do vậy tôi đã chọn sáng kiến này.
3. Phạm vi, đối tượng áp dụng của sáng kiến.
Phạm vi, đối tượng là một số em học sinh được lựa chọn để áp dụng sáng
kiến khối lớp 9 ở trường ..................................... với nội dung sử dụng SĐTD
vào dạy học môn Ngữ Văn 9.
4. Thời gian thực hiện và triển khai sáng kiến
Với sáng kiến này tôi đã nghiên cứu thực hiện năm học 2014-2015 và tiếp tục
thực hiện trong năm học 2015-2016 này.


2


Phần 2: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ ( NỘI DUNG CỦA SKKN)
1. Cơ sở lý luận của SKKN
Căn cứ Hướng dẫn số 791/HD-BGDĐT ngày 25/6/2013, số 2653/ QĐBGDĐT ngày 25 tháng 07 năm 2014 của Bộ GDĐT giáo dục định hướng phát
triển năng lực học sinh.
Căn cứ Số 70 / CTr-TƯ ngày 20 tháng 1 năm 2014 của Tỉnh ủy Yên Bái và Số
113/KH-HU ngày 07 tháng 05 năm 2014. Số 28 CTr-HU ngày 26 tháng 7 năm 2014
về thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần
thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Số 591/SGDĐT-GDTrH ngày 04/9/2015 của Sở Giáo dục và Đào tạo về việc
Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học năm học 2015 - 2016. Thực hiện
hướng dẫn số 110/PGDĐT-THCS, ngày 10 tháng 9 năm 2015V/v Hướng dẫn
nhiệm vụ chuyên môn cấp trung học cơ sở năm học 2015 - 2016 của Phòng
Giáo dục và Đào tạo Mù Cang Chải các đơn vị trường thực hiện các nhiệm vụ
giáo dục cấp Trung học cơ sở năm học 2015 - 2016
- Căn cứ vào kế hoạch năm học của trường ....................................
- Căn cứ kế hoạch chuyên môn năm học 2015 -2016.
Căn cứ vào những yêu cầu đổi mới, cải tiến phương pháp dạy học theo
hướng tích cực hóa hoạt động và phát triển năng lực tư duy của học sinh trong
việc học tập môn Ngữ văn. Đáp ứng được yêu cầu chuẩn kiến thức, kĩ năng của
môn học mà Bộ giáo dục đã quy định.
Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội. Đây là môn học có
vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con người.

3


Đồng thời môn học này có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư
tưởng, tình cảm cho học sinh. Mặt khác nó cũng là môn học thuộc nhóm công
cụ, môn Văn còn thể hiện rõ mối quan hệ với rất nhiều các môn học khác trong
các nhà trường phổ thông. Học tốt môn văn sẽ tác động tích cực tới các môn học
khác và ngược lại, các môn học khác cũng góp phần học tốt môn văn Điều đó
đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành, giảm lí thuyết, gắn học với hành, gắn
kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh động của cuộc sống .
Đã từ lâu các nhà sư phạm tiền bối đã từng tâm đắc: tri thức của tuổi trẻ
là diện mạo của đất nước trong tương lai. Từ những năm 60 của thế kỉ trước
đồng chí Phạm Văn Đồng đã từng căn dặn các thầy cô giáo phải: “ gõ vào trí
thông minh” của học sinh, giáo dục là đào tạo học sinh thành những thế hệ thông
minh sáng tạo. Sự thông minh sáng tạo phải xuất phát từ những hiểu biết rộng
lớn, nó tạo cho nền tảng tư duy được vững vàng hơn. Phải hiểu rộng, biết nhiều
mới có thể chuyên sâu, mới“ làm được cuộc trường chinh vạn dặm trên con
đường học vấn”.
Muốn được như vậy, thì ngay hôm nay, những người thầy giáo phải tích
cực, chủ động vận dụng những thành tựu dạy học tiên tiến của loài người vào
giảng dạy cho học sinh, trong đó sơ đồ tư duy là một cách dạy học mới dựa trên
cơ sở sơ đồ hóa kiến thức mà từ trước đến nay chúng ta vẫn vận dụng để phân
tầng kiến thức, hệ thống chuỗi sự kiện hoặc thiết lập biểu bảng ôn tập tổng
kết….
Sơ đồ tư duy là gì? Sơ đồ tư duy là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc,
hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. Sơ đồ tư duy một công cụ tổ chức
tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa
từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức
năng của bộ não, giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não. ( Theo
Tony Buzan - Use Your Head - Hãy sử dụng cái đầu của bạn).

4


Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy tính hiệu quả của việc hình
dung tri thức thông qua một sơ đồ hình nhánh, mỗi nhánh mang một thông tin
ngắn gọn được phát triển từ một vấn đề lớn đặt ở trung tâm. Một sơ đồ tư duy
cho phép ta thỏa sức vạch ra các ý tưởng, suy nghĩ đầy đủ trước khi đưa ra một
quyết định. Nếu cần xây dựng một kế hoạch làm việc, phân tích một vấn đề…thì
sơ đồ tư duy mang đến những giá trị lớn hơn nhiều so với việc bạn đặt bút viết
từ đầu đến cuối.
2. Thực trạng của SKKN
1.Về lịch sử nghiên cứu sáng kiến về "Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học
môn Ngữ Văn" thực tế đã có nhiều sáng kiến và ở mỗi sáng kiến đều nêu lên các
phương pháp sử dụng, vận dụng SĐTD vào giảng dạy, còn ở sáng kiến này tôi
chỉ đề cập đến việc sử dụng các phương pháp đó có sao cho phù hợp với đối
tượng học sinh trường tôi
2. Đối với giáo viên:
Trường .............................. có đội ngũ giáo viên trẻ nhiệt tình, nhiều giáo
viên đã tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, không những tìm tòi trong công
tác soạn giảng và tiếp cận lượng lớn tư liệu dạy học. Tuy vậy về phương diện
phương pháp và kĩ thuật vẫn còn nhiều hạn chế nhất là cách thức giúp học sinh
hiểu vấn đề nhanh, nhớ kiến thức lâu và tái hiện nhanh khi cần thiết phải vận
dụng là con yếu.
Trong một số tiết học, dù vẫn cố gắng thực hiện theo chủ trương giảm tải
nhưng cách tổ chức các đơn vị kiến thức không tránh khỏi rườm rà, phải ghi
chép thành câu, đoạn hoàn chỉnh để thuận lợi cho học sinh trong quá trình học
bài cũ.
Một bộ phận giáo viên áp dụng dạy học bằng SĐTD còn mang tính hình
thức, chưa chú trọng rèn kĩ năng cho học sinh, khiến học sinh có cảm giác vẽ

5


SĐTD còn khó hơn cách ghi chép thông thường. Giáo viên còn lúng túng chưa
xác định được nên đưa SĐTD vào phần nào của bài dạy.
3. Đối với học sinh:
Thực tế học sinh học Ngữ văn, các em thường học bài nào biết bài đấy,
học phần sau đã quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau,
không biết vận dụng các kiến thức đã học trước đó vào bài sau. Phần lớn học
sinh khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu
thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình.
Phương pháp dạy học bằng sơ đồ tư duy trong môn Ngữ văn đã được
nhiều giáo viên tích cực áp dụng nhưng hiệu quả chưa cao: vẫn còn nhiều em
chưa biết thể hiện nội dung kiến thức bằng SĐTD, vẽ SĐTD một cách máy
móc, chưa có sự sáng tạo, chưa biết diễn giải kiến thức trên sơ đồ.... hầu như
chỉ tập trung vào một số em học khá giỏi. Chưa kích thích sự yêu thích, hứng
thú của các em.
Nhiều học sinh học vẹt để đối phó trong kiểm tra đánh giá hiện nay một
phần do các em hiểu vấn đề chưa tường tận hoặc bị ràng buộc bởi “hành lang
ngôn ngữ diễn đạt” mà giáo viên đã sử dụng, các em không tự tin khi dùng kho
từ vựng của mình để diễn đạt, do không sử dụng nên nó cũng dễ mai một và
ngày một ít sắc bén hơn. Đặc biệt với môn Ngữ văn thì đây là một hạn chế lớn,
khi nói, viết được xem là yêu cầu quan trọng của HS..
Chất lượng chung của môn Ngữ Văn còn thấp, học sinh vận dụng kiến
thức, kĩ năng làm bài còn hạn chế; văn viết sơ sài, khô khan, chung chung...;
thiếu những bài văn hay, giàu tính sáng tạo, mang màu sắc cá nhân.
Trường học thuộc địa bàn xã Chế Cu Nha học sinh chủ yếu là dân tộc
Mông trình độ dân trí thấp, đời sống dân cư làm nông nghiệp còn khó khăn các
bậc cha mẹ ít quan tâm đến việc học của con cái cũng như hỗ trợ về nguồn
sách tham khảo, đồ dùng học tập.

6


Trước thực trạng đó tôi đã tiến hành khảo sát ban đầu đối với một số
học sinh lựa chọn ngẫu nhiên để khảo sát từ lớp 8B năm học 2014-2015 với
các nội dung về kiến thức, kĩ năng, thái độ đối với việc sử dụng SĐTD trong
bài học với các nội dung như sau:
*Vê kiến thức:
- Nhớ, nắm được nội dung chính của bài học.
* Về kĩ năng:
- Vẽ, trình bày kiến thức dựa trên sơ đồ
* Về Thái độ:
- Thích vẽ có sự sáng tạo khi sử dụng sơ đồ tư duy thể hiện nội dung
kiến thức.
Số
HS
được
Về kiến thức
khảo sát
Nhớ
được
chính

Về kĩ năng

Về thái độ

Trình bày
Nắm được Vẽ
được kiến thức Thích vẽ Có sáng
ND
ND chính
SĐTD
bằng
SĐTD
tạo khi vẽ
SĐTD

12=46,15% 12=46,15% 12=46,15% 5=19,23%

26=100% 5=19,23%

26

Qua khảo sát tôi nhận thấy:
* Về kiến thức: nếu học sinh hiểu nắm được nội dung kiến thức chính của bài
thì học sinh rất thích sử dụng SĐTD, có sự sáng tạo trong vẽ SĐTD, biết trình
bày kiến thức trên sơ đồ và ngược lại đối với những em nhận thức chậm thì
việc trình bày nội dung bài kiến thức bằng sơ đồ là khó.
* Về kĩ năng: Tuy nhiên trong số đó có một số học sinh cũng rất thích vẽ
SĐTD mặc dù xác định chưa đúng chủ đề, nội dung chính trong chủ đề đó.
Nhưng số học sinh thích vẽ đó để trình bày kiến thức bắng sơ đồ thì chỉ có một
số em làm được.

7


* Về thái độ: Hầu như các em rất thích vẽ SĐTD nhưng chỉ khi có sự hướng
dẫn của GV, còn lại sự sáng tạo của các em rất ít.
Như vậy có thể thấy vấn đề là HS chưa nhích được tư duy, tư duy logic
và việc áp dụng còn máy móc...
Tất cả những vấn đề trên bản thân tôi lúc đầu mới áp dụng cũng gặp
những khó khăn trong quá trình đưa SĐTD vào dạy học nhưng với sự cố gắng
tìm tòi học hỏi và tích lũy những kinh nghiệm có được. Tôi thấy mình cần chia
sẻ với đồng nghiệp để nâng cao hơn nữa hiệu quả của sử dụng SĐTD trong
giảng dạy Ngữ Văn 9 nói riêng và môn Ngữ Văn THCS nói chung và đối với
học sinh dân tộc " nghĩ được nhưng không diễn đạt được".
3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
3.1 Phương pháp vận dụng SĐTD trong quá trình dạy học Ngữ văn.
3.1.1 Đặc điểm môn Ngữ văn và PPDH Ngữ văn .
Ở góc độ của sáng kiến này tôi chỉ đưa ra một số ví dụ minh họa khi
đưa SĐTD trong môn Ngữ văn 9 và sử dụng như thế nào trong một tiết dạy 45
phút, cũng như hướng dẫn HS tạo lập SĐTD:
Đặc trưng của bộ môn Ngữ văn là có 3 phân môn. Phân môn Văn bản chủ
yếu là đọc - hiểu văn bản văn học. Cảm thụ những cái hay, cái đẹp trong tư
tưởng tình cảm cảm người viết bằng chính nhận thức của các em; phân môn
Tiếng việt hình thành cho các em kỹ năng sử dụng thành thạo tiếng việt, có
những hiểu biêt nhất định về tri thức tiếng việt, từ đó các em biết yêu quý tiếng
việt, có ý thức giữ gìn bảo vệ tiếng mẹ đẻ, góp phần hình thành nhân cách cho
các em; phân môn Tập làm văn giúp học sinh rèn luyện kỹ năng tạo lập văn bản.
Cả 3 phân môn này học sinh đều có thể sử dụng SĐTD để tự học.

8


Trong các giờ học Ngữ văn chúng ta có thể cho học sinh sử dụng BĐTD
để: Chuẩn bị bài mới; Củng cố kiến thức đã học; Ghi nhớ kiến thức để vận dụng;
Liên kết kiến thức trong các nội dung tích hợp.
Ở sáng kiến này tôi không đi bàn luận sâu về các phương pháp dạy ở từng
phân môn mà tôi chỉ đề cập đến việc sử dụng SĐTD vào các phân môn trong
từng tiết dạy sao cho phù hợp, hiệu quả.
3.1.2 Nguyên lý và ứng dụng sơ đồ tư duy trong dạy học
Sơ đồ tư duy (Mind Map) là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và
hình ảnh, để mở rộng và đào sâu các ý tưởng.
Ở vị trí trung tâm sơ đồ là một hình ảnh hay một từ khóa thể hiện một ý
tưởng hay khái niệm chủ đạo. Ý trung tâm sẽ được nối với các hình ảnh hay từ
khóa cấp 1 bằng các nhánh chính, từ các nhánh chính lại có sự phân nhánh đến
các từ khóa cấp 2 để nghiên cứu sâu hơn. Cứ thế, sự phân nhánh cứ tiếp tục và
các khái niệm hay hình ảnh luôn được nối kết với nhau. Chính sự liên kết này sẽ
tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả về ý trung tâm một cách đầy đủ và rõ
ràng.
3.1.3 Những yếu tố đã làm cho sơ đồ tư duy có tính hiệu quả cao và
nền tảng của chúng là:
Sơ đồ tư duy đã thể hiện ra bên ngoài cách thức mà não bộ chúng ta
hoạt động. Đó là liên kết, liên kết và liên kết.
Việc sử dụng các từ khóa, chữ số, màu sắc và hình ảnh đã đem lại một
công dụng lớn vì đã huy động cả bán cầu não phải và trái cùng hoạt động. Sự
kết hợp này sẽ làm tăng cường các liên kết giữa 2 bán cầu não, và kết quả là
tăng cường trí tuệ và tính sáng tạo của chủ nhân bộ não.
Sơ đồ tư duy là một công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập ở
trường phổ thông cũng như ở các bậc học cao hơn vì chúng giúp giáo viên và
học sinh trong việc trình bày các ý tưởng một cách rõ ràng, suy nghĩ sáng tạo,
học tập thông qua biểu đồ, tóm tắt thông tin của một bài học hay một cuốn sách,

9


bài báo, hệ thống lại kiến thức đã học, tăng cường khả năng ghi nhớ, đưa ra ý
tưởng mới, v.v…
Một sơ đồ tư duy có thể được thực hiện dễ dàng trên một tờ giấy với các
loại bút màu khác nhau, tuy nhiên, cách thức này có nhược điểm là khó lưu trữ,
thay đổi, chỉnh sửa. Một giải pháp được hướng đến là sử dụng các phần mềm để
tạo ra sơ đồ tư duy. Một số phần mềm tiêu biểu trong thể loại “phần mềm mind
mapping” (mind mapping software).
3.2

Tiến trình một tiết dạy theo sơ đồ tư duy

Trước khi áp dụng phương pháp "Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học
môn Ngữ Văn 9 ở trường........................................” giáo viên giới thiệu cho học
sinh xem một số đoạn phim ngắn (có gửi kèm theo đĩa CD gắn chung với
SKKN) cho học sinh thấy hiệu quả của việc sử dụng sơ đồ tư duy khi ghi bài,
học bài và hướng dẫn học sinh cách vẽ sơ đồ tư duy gồm nội dung cả bài học
trên một trang giấy rất dễ học, dễ thực hiện và học sinh sẽ rất thích thú với mỗi
tác phẩm sơ đồ tư duy của mình. (Xem phim hướng dẫn phần mềm sơ đồ tư duy
đính kèm trong dĩa CD)
Với cách thể hiện gần như cơ chế hoạt động của bộ não, Bản đồ tư duy
sẽ giúp học sinh:
• Sáng tạo hơn
• Tiết kiệm thời gian
• Ghi nhớ tốt hơn
• Nhìn thấy bức tranh tổng thể
• Tổ chức và phân loại suy nghĩ của học sinh
• và nhiều vấn đề khác trong quá trình học tập…
Lập sơ đồ tư duy (hoặc sơ đồ ý tưởng) là việc bắt đầu từ một ý tưởng
trung tâm và viết ra những ý khác liên quan tỏa ra từ trung tâm.

10


Hướng dẫn học sinh sử dụng những đường thẳng, màu sắc, mũi tên,
nhánh rẽ hoặc những cách khác để thể hiện kết nối giữa những ý tưởng được
đưa ra trong bản đồ tư duy của học sinh.
Ý tưởng của bản đồ tư duy là suy nghĩ sáng tạo và liên kết bằng một
cách thức phi tuyến tính.
Vài học sinh phát hiện rằng sử dụng những kí tự viết hoa sẽ thu hút các
em chỉ chú ý vào những điểm chính.
Hầu hết học sinh đều thấy tiện dụng khi lật ngang trang giấy và vẽ sơ đồ
tư duy của các em theo chiều ngang. Đặt ý tưởng hoặc chủ đề chính vào chính
giữa trang giấy, ta sẽ có có không gian tối đa cho những ý khác tỏa ra từ trung
tâm.
Vài sơ đồ tư duy hữu dụng nhất thường được học sinh bổ sung hoàn
chỉnh trong một khoảng thời gian dài tiếp tục sau nầy trong quá trình học tập của
các em. Sau lần vẽ ban đầu, học sinh có thể muốn làm nổi bật vài thứ, thêm
thông tin hoặc thêm vài câu hỏi. Vì vậy, để trống nhiều chỗ trên bản đồ là một ý
hay để sau đó học sinh có thể thêm vào những ý tưởng mới.
3.3.1 Hướng dẫn học sinh thiết lập sơ đồ tư duy
Để tạo thói quen cho học sinh sử dụng sơ đồ tư duy cũng như biết cách vẽ
sơ đồ, hệ thống kiến thức trên sơ đồ giáo viên cần bỏ công sức nhiều vào khâu
đầu tiên đó chính là hướng dẫn cách vẽ và xác định kiến thức ( chủ đề) theo các
bước sau:
Bước 1. Bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề.
Bước 2. Luôn sử dụng màu sắc. Bởi vì màu sắc cũng có tác dụng kích thích
não như hình ảnh.
Bước 3. Nối các nhánh chính (cấp một) đến hình ảnh trung tâm, nối các
nhánh nhánh cấp hai đến các nhánh cấp một, nối các nhánh cấp ba đến nhánh
cấp hai,…. bằng các đường nối.
Bước 4. Mỗi từ/ảnh/ý nên đứng độc lập và được nằm trên một đường kẻ.
Bước 5. Tạo ra một kiểu bản đồ riêng cho mình (Kiểu đường kẻ, màu sắc,
…).

11


Bước 6. Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường thẳng vì các đường
cong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt hơn rất nhiều.
Bước 7. Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm
Bước 8. Trình bày ý tưởng và nội dung BĐTD đã vẽ.
Sơ đồ tư duy của học sinh là tài sản riêng của học sinh: một khi học
sinh hiểu cách tạo ra những ghi chú trong sơ đồ tư duy, học sinh có thể phát huy
các quy tắc của riêng mình để làm cho nó tốt hơn. Những đề nghị sau đây có thể
giúp học sinh tăng hiệu quả của việc đó:
* Sử dụng những từ ngữ đơn giản thể hiện thông tin: Hầu hết các từ
trong cách viết bình thường đều là nhồi nhét, bởi vì chúng đảm bảo rằng thông
tin được chuyển tải đúng ngữ cảnh và trong một dạng thức dễ đọc. Trong sơ đồ
tư duy của học sinh, những từ khóa có ý nghĩa có thể chuyển tải cùng ý nghĩ như
thế một cách rõ ràng hơn. Những từ dư thừa chỉ làm sơ đồ lộn xộn
* Chữ in: Cách viết dính nhau hoặc không rõ ràng sẽ khó đọc hơn.
* Sử dụng màu sắc để tách các ý khác nhau: Điều này sẽ giúp học sinh
tách các ý ra khi cần thiết. Nó cũng giúphọc sinh làm sơ đồ trực quan hơn để gợi
nhớ lại. Màu sắc cũng giúp cho việc sắp xếp các chủ đề.
* Sử dụng những ký hiệu và hình ảnh: Khi một ký hiệu hoặc hình ảnh
có ý nghĩa gì đó với học sinh, hãy sử dụng chúng. Hình ảnh có thể giúp học sinh
nhớ thông tin hiệu quả hơn là từ ngữ.
* Sử dụng liên kết đan chéo: Thông tin trong một phần của sơ đồ có thể
liên quan đến phần khác. Khi đó, học sinh có thể vẽ những đường thẳng để chỉ
ra sự liên quan đan chéo. Việc này sẽ giúp cho học sinh thấy mức ảnh hưởng
một phần trong chủ đề đến các phần khác.
* Chú ý: Lập sơ đồ tư duy là một cách thức cực kỳ hiệu quả để ghi chú.
Các bản đồ tư duy không chỉ cho thấy các thông tin mà còn cho thấy cấu trúc
tổng thể của một chủ đề và mức độ quan trọng của những phần riêng lẻ trong đó
đối với nhau. Nó giúp học sinh liên kết các ý tưởng và tạo các kết nối với các ý
khác.

12


3.4. Vận dụng SĐTD dạy các phân môn Ngữ Văn :
Đặc điểm của môn Ngữ Văn gồm 3 phân môn mỗi phân môn yêu cầu về
kiến thức riêng nhưng ở sáng kiến này tôi chỉ đề cập đến cách thức áp dụng còn
áp dụng ở thời điểm nào, phân môn nào Gv có thể tự linh hoạt còn về cách thức
thực hiện đều giống nhau. Đó là sử dụng trong phần kiểm tra bài cũ, giới thiệu
bài mới, hình thành kiến thức mới, củng cố bài.... Ở đây xin được giới thiệu qua
các bước thực hiện vận dụng như sau:

13


Bước 1: Kiểm tra bài cũ : giáo viên goi học sinh lên bảng thuyết trình
sơ đồ tư duy của bài học cũ trước lớp. Giáo viên có thể đặt thêm câu hỏi để học
sinh trả lời. Bắt buộc 100% hoc sinh phải có sơ đồ tư duy bài học cũ và các sơ
đồ tư duy được học sinh lưu trong bìa giấy hoặc một túi hồ sơ để sử dụng khi ôn
tập và khi giáo viên kiểm tra thay cho vỡ ghi bài. Học sinh cũng có thể có một
tập nháp vẽ sơ đồ tư duy ngay tại lớp trong giờ học. Về nhà học sinh sẽ tự chỉnh
sửa sơ đồ tư duy bằng hình vẽ bằng tay .
* Ví dụ: 1 Vận dụng SĐTD để trình bày nội dung hoặc nghệ thuật trong
một tác phẩm văn học:

14


- SĐTD ghi nhớ bằng màu sắc nên ngoài việc sử dụng màu cho các nhánh thì có
thể khuyến khích học sinh sử dụng bằng hình ảnh.

15


Bước 2: Dạy bài mới : Giáo viên giới thiệu bài mới và vẽ chủ đề chính
của bài học lên bảng bằng một hình vẽ bất kì trên bảng của lớp mà không ghi bài
theo kiểu cũ và giáo viên cho học sinh ngồi theo nhóm thảo luận sơ đồ tư duy
của mỗi học sinh đã chuẩn bị trước ở nhà để đối chiếu với sơ đồ tư duy của các
bạn trong nhóm.

16


Giáo viên đặt câu hỏi chủ đề nội dung chính hôm nay có mấy nhánh lớn
cấp số 1 và gọi học sinh học sinh lên bảng vẽ nối tiếp chủ đề chia thành các
nhánh lớn trên bảng có ghi chú thích tên từng nhánh lớn.
Sau khi học sinh vẽ xong các nhánh lớn cấp số 1, giáo viên đặt câu hỏi
tiếp ở nhánh thứ nhất có mấy nhánh nhỏ cấp số 2... tương tự học sinh đã hoàn
thành nội dung sơ đồ tư duy của bài học mới ngay tại lớp. Học sinh tự chỉnh sửa
điều chỉnh bổ sung những phần còn thiếu vào sơ đồ tư duy của từng cá nhân.
Để minh họa cho sơ đồ tư duy giáo viên sẽ cho học sinh xem những
hình ảnh , đoạn phim ngắn minh họa cho rõ ý hơn của từng nhánh cấp độ 1, cấp
độ 2 ... Khi cho học sinh xem hình ảnh và phim minh họa giáo viên phải giáo
dục tư tưởng tình cảm học sinh khi có liên quan đến phần tích hợp tư tưởng đạo
đức Hồ Chí Minh, đến lịch sử địa phương của huyện Dĩ An và tỉnh Bình Dương
theo tài liệu hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo và tài liệu Lịch sử địa
phương của Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Dương đã phổ biến đến giáo viên.
* Ví dụ: Lập SĐTD cho tiết : Đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm trong
văn bản tự sự. (NV 9)

17


Bước 3: Củng cố : Giáo viên gọi học sinh lên bảng trình bày nội dung sơ đồ tư
duy mà các em đã thực hiện. Gọi một vài em đã vẽ sơ đồ tư duy và thuyết trình
trước lớp cho các bạn theo dõi nội dung bài học. Giáo viên nhận xét đánh giá
cho điểm và dặn dò học sinh chuẩn bị bài học lần sau.
VD: Khi dạy bài Cách phát triển từ vựng ( Ngữ văn 9)

* Lưu ý khi đặt câu hỏi cho học sinh trả lời giáo viên nên hỏi những
câu liên quan đến sự thông hiểu để học sinh vận dụng khi làm bài bài kiểm tra.
Khi học sinh trả lời giáo viên nên động viên khuyến khích và có thể hỏi tiếp
những câu có liên quan đến kiến thức của bài học cũ để học sinh vừa học kiến
thức mới, vừa ôn tập kiến thức cũ đã học.
Ngoài ra GV có thể hứng dẫn học sinh thực hiện SĐTD qua các nội dung:

18


- Thực hiện Sơ đồ hoá kiến thức (một phần của bài học)
- Sơ đồ hoá kiến thức (cả bài học)
- Hệ thống kiến thức tổng kết ôn tập một chương hay chủ đề.
- Hệ thống hóa thức: ( ở nhiều cấp độ, nhánh khác nhau)
Sử dụng BĐTD trong dạy học ngữ văn không những giúp các em ghi
nhớ kiến thức mà còn giúp các em rèn luyện kỹ năng chọn lựa từ ngữ (từ khóa)
để chốt vấn đề, kỹ năng diễn đạt, trình bày vấn đề, hiểu bản chất vấn đề. Như thế
chúng ta đã giúp học sinh tự rèn 4 kỹ năng: nghe, đọc, nói, viết mà môn Ngữ
Văn đang hướng tới.
Như vậy trong quá trình dạy học giáo viên xác định nội dung kiến thức
của bài, phân định thời gian hợp lí để có thể đưa SĐTD vào tiết dạy sao cho phù
hợp với nội dung kiểu bài cũng như đối tượng học sinh.
3.5 Có thể tóm tắt các bước dạy học Ngữ văn trên lớp với SĐTD như sau:
Bước 1: HS lập SĐTD theo nhóm hay cá nhân từ gợi ý của GV. Gv có thể tạo
nhánh cấp một để gợi ý cho hs tiếp tục vẽ các nhánh ở cấp tiếp theo.
Bước 2: Cá nhân hoặc đại diện của các nhóm HS lên báo cáo, thuyết minh về
SĐTD mà nhóm mình đã thiết lập.
Bước 3: HS thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện SĐTD về kiến thức của
bài học đó. GV sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp HS hoàn chỉnh SĐTD, từ đó
dẫn dắt đến kiến thức của bài học.
Bước 4: củng cố kiến thức bằng một SĐTD mà GV đã chuẩn bị sẵn hoặc một
SĐTD mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, chỉ định HS lên trình bày,
thuyết minh về kiến thức đó.
Lưu ý: - SĐTD là một sơ đồ mở nên không yêu cầu tất cả các nhóm HS có
chung một kiểu SĐTD, GV chỉ nên chỉnh sửa cho HS về mặt kiến thức, góp ý
thêm về đường nét vẽ, màu sắc và hình thức (nếu cần). Tuy nhiên với những đối
tượng học sinh học lực dưới trung bình, bước đầu chúng ta nên sử dụng SĐTD

19


vào kiểm tra bài cũ, củng cố tạo sự hứng thú cho các em bằng cách như: Sử
dụng SĐTD trống để học sinh điền thêm thông tin

3.6 Để học sinh có thể tự vẽ được SĐTD một cách thuần thục GV cần
lưu ý một số điểm như sau:
1. Cho HS làm quen với bản đồ tư duy bằng cách giới thiệu cho HS một số
“SĐTD” cùng với sự dẫn dắt của GV để các em làm quen.
2. Tập “đọc hiểu” SĐTD, sao cho chỉ cần nhìn vào SĐTD bất kỳ HS nào cũng
có thể thuyết trình được nội dung một bài học hay một chủ đề, một chương theo
mạch lôgic của kiến thức.
3. Hướng cho HS có thói quen khi tư duy lôgic theo hình thức sơ đồ hoá trên
SĐTD.
Phương tiện để thiết kế SĐTD khá đơn giản, chỉ cần giấy, bìa, bảng phụ,
phấn màu, bút chì màu, tẩy,…vì vậy có thể vận dụng với bất kì điều kiện cơ sở
vật chất nào của các nhà trường hiện nay. Trước mắt dùng phấn màu vẽ BĐTD
lên bảng và sử dụng bút màu vẽ trên giấy, bìa đối với HS
Điều quan trọng là GV hướng cho HS có thói quen lập BĐTD trước hoặc
sau khi học một bài hay một chủ đề, một chương, để giúp các em có cách sắp
xếp kiến thức một cách khoa học, lôgic.

20


4. Hiệu quả của sáng kiến.
Việc sử dụng BĐTD giúp giáo viên đổi mới phương pháp dạy học, giúp học
sinh học tập tích cực đó chính là một trong những cách làm thiết thực triển khai
nội dung dạy học có hiệu quả theo hướng đổi mới đánh giá theo năng lực học
sinh mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đang triển khai.
Sau một thời gian ứng dụng SĐTD trong đổi mới phương pháp dạy học
nói chung và đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn 9 nói riêng, tôi thấy
bước đầu có những kết quả khả quan đối với những học sinh tôi trực tiếp hướng
dẫn giảng dạy. Từ chỗ hiểu và áp dụng tôi đã nhận thức được vai trò tích cực
của ứng dụng BĐTD trong hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học. Biết sử dụng
BĐTĐ để dạy bài mới, củng cố kiến thức bài học, tổng hợp kiến thức chương,
phần. Học sinh hiểu bài nhanh hơn, hiệu quả hơn. Đa số các em học sinh khá,
giỏi đã biết sử dụng BĐTD để ghi chép bài, tổng hợp kiến thức môn học. Một số
HS trung bình đã biết dùng BĐTD để củng cố kiến thức bài học ở mức đơn giản.
Đối với môn Ngữ văn, học sinh rất hào hứng trong việc ứng dụng BĐTD để ghi
chép bài nhanh, hiệu quả, đặc biệt là trong học tiếng Việt.
Bằng sự động viên khuyến khích, có thể đây chưa là kết quả tối ưu nhất
nhưng phần nào cũng khắc phục được những hạn chế nho nhỏ trong quá trình
dạy và học bằng SĐTD trong môn Ngữ văn. 9
Kết quả thu được từ sáng kiến có so sánh với kết quả trước khi áp dụng
sáng kiến:
Bảng 1: Trước khi tiến hành áp dụng sáng kiến.
( Lớp 8B- năm học 2014-2015)

21


Số
HS
được
Về kiến thức
khảo sát
Nhớ
được
chính

Về kĩ năng

Về thái độ

Trình bày
Nắm được Vẽ
được kiến thức Thích vẽ Có sáng
ND
ND chính
SĐTD
bằng
SĐTD
tạo khi vẽ
SĐTD

12=46,15% 12=46,15% 12=46,15% 5=19,23%

26=100% 5=19,23%

26

Bảng 2: Kết quả khảo sát sau khi áp dụng sáng kiến
( Lớp 9B- năm học 2015-2016)

Số HS
được
Về kiến thức
khảo sát
Nhớ
được
chính

Về kĩ năng

Về thái độ

Trình bày
Nắm được Vẽ được kiến thức Thích vẽ Có
sáng
ND
ND chính
SĐTD
bằng
SĐTD
tạo khi vẽ
SĐTD

20=76,92% 20=76,92% 26=100% 10=38,46% 26=100% 10=38,46%
26

Qua khảo sát số học sinh biết sử dụng, trình bày kiến thức trên SĐTD mắc
dù chưa cao nhưng cũng phần nào cho thấy các em đã rất hào hứng trong việc sử
dụng SĐTD vào nội dung bài học đặc biệt là những em học sinh học trung bình,
dưới trung bình cũng đã tự tin hơn trong việc sử dụng SĐTD.

22


Phần 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận.
Đổi mới Giáo dục phổ thông yêu cầu người thầy giáo chỉ là người tổ chức,
hướng dẫn còn học sinh là trung tâm, chủ động, tự tin chiếm lĩnh kiến thức. Vậy
nên phương pháp dạy học mà người thầy cung cấp cho học trò là phương pháp
tự học. Dạy học sinh tự học trong Ngữ Văn là dạy học sinh cách thức, phương
pháp chiếm lĩnh tác phẩm, đơn vị kiến thức về phương tiện rèn luyện kỹ năng.
Để thực hiện mục tiêu dạy cách học cho học sinh, người thầy có thể đa dạng hóa
các hình thức, kỹ thuật dạy học, sáng tạo và linh hoạt trong quá trình lên lớp.
Một trong các phương pháp đó người thầy giáo có thể sử dụng bản đồ tư duy
để dạy học sinh cách tự học.
Bản đồ tư duy là một phương pháp lưu trữ, sắp xếp thông tin và xác định
thông tin theo thứ tự ưu tiên (thường là trên giấy) bằng cách sử dụng từ khóa và
hình ảnh chủ đạo. Bản đồ tư duy thể hiện ra bên ngoài cách thức mà bộ não
chúng ta hoạt động. Đó là liên kết, liên kết và liên kết. Kĩ thuật tạo ra bản đồ tư
duy được phát triển bởi Tony Buzan vào những năm 1960. Quá trình hình thành
trí nhớ trong não người là sự hình thành các đường liên hệ thần kinh tạm thời
giữa các vùng chức năng (các trung khu thần kinh) của vỏ não. Càng hình thành
được nhiều đường liên hệ và mối liên hệ càng thường xuyên thì trí nhớ càng bền
vững. Việc sử dụng các từ khóa, chữ số, màu sắc và hình ảnh trong bản đồ tư
duy sẽ đem lại một công dụng rất lớn vì đã huy động cả bán cầu não trái và phải
cùng hoạt động. Sự kết hợp này sẽ tăng cường sự liên kết giữa hai bán cầu não,
và kết quả là tăng cường trí tuệ và tính sáng tạo của chủ nhân bộ não. Bản đồ tư
duy là phương pháp dễ nhất để chuyển tải thông tin vào não, rồi đưa thông tin ra
ngoài não. Nó là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo
đúng nghĩa của nó.
Sử dụng thành thạo và hiệu quả Bản đồ Tư duy trong dạy học sẽ mang lại
nhiều kết quả tốt và đáng khích lệ trong phương thức học tập của học sinh và

23


phương pháp giảng dạy của giáo viên. Học sinh sẽ học được phương pháp học
tập, tăng tính chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy. Giáo viên sẽ tiết kiệm
được thời gian, tăng sự linh hoạt trong bài giảng, và quan trọng nhất sẽ giúp học
sinh nắm được kiến thức thông qua một “bản đồ” thể hiện các liên kết chặt chẽ
của tri thức.
Qua nghiên cứu lí luận và thực nghiệm dạy học Ngữ văn ở lớp cho thấy,
sử dụng SĐTD trong dạy học kiến thức Ngữ văn giúp HS học tập một cách chủ
động, tích cực và huy động được tất cả HS tham gia xây dựng bài một cách hào
hứng. Với sản phẩm độc đáo “kiến thức + hội họa” là niềm vui sáng tạo hàng
ngày của HS và cũng là niềm vui của chính thầy cô giáo và phụ huynh HS khi
chứng kiến thành quả lao động của học trò của mình. Cách học này còn phát
triển được năng lực riêng của từng học sinh không chỉ về trí tuệ (vẽ, viết gì trên
SĐTD), hệ thống hóa kiến thức (huy động những điều đã học trước đó để chọn
lọc các ý để ghi), khả năng hội họa (hình thức trình bày, kết hợp hình vẽ, chữ
viết, màu sắc), sự vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống.
Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng: Không nên quá cực đoan cho rằng BĐTD
có thể giúp người học tất cả. Trên cơ sở những kiến thức được hệ thống hoá, sơ
đồ hoá, người học còn phải biết thực hành ngôn ngữ bằng việc đọc, nói và viết.
Đối với văn bản nghị luận, việc sử dụng BĐTD hỗ trợ đọc hiểu các văn
bản sẽ là thuận lợi. Nhưng với văn bản nghệ thuật, muốn dùng BĐTD để biểu
hiện một văn bản, người học phải tìm ra mạch của văn đó (xét đơn thuần về mặt
ý). BĐTD không tái hiện được cảm xúc, không chuyển tải hết sự tinh tuý trong
cách dùng từ, đặt câu, trong nghệ thuật cấu trúc tác phẩm. Vì vậy, sử dụng
BĐTD trong dạy học là cần thiết, nhưng phải tránh được sự suy diễn khô khan
Ghi chép trên BĐTD cần: Nghĩ trước khi viết, niết ngắn gọn, viết có tổ
chức, viết lại theo ý hiểu của mình, nên chừa khoảng trống để có thể bổ sung ý
(nếu sau này cần). Điều cần tránh khi ghi chép trên BĐTD: Ghi lại nguyên cả
đoạn văn dài dòng, ghi chép quá nhiều ý vụn vặt không cần thiết, dành quánhiều

24


thời gian để ghi chép.
2. Khuyến nghị.
* Đối với trường: Tổ chức sinh hoạt chuyên môn giữa các tổ chuyên môn để
chúng tôi có cơ hội học hỏi trao đổi kinh nghiệm về các phương pháp dạy học
để có được những phương pháp dạy học hay, hiệu quả.
* Đối với tổ Chuyên môn trường: Nên tổ chức trao đổi lấy ý kiến của giáo viên
về việc sử dụng SĐTD trong dạy học các bộ môn nói chung và bộ môn Ngữ văn
nói riêng.
* Giáo viên: Cần tích cực sử dụng sao cho phù hợp với nội dung bài dạy, đối
tượng học sinh. Rèn kĩ năng cho học sinh vẽ , trình bày kiến thức trên SĐTD.
Trên đây là vài kinh nghiệm của bản thân tôi trong quá trình giảng dạy rất
mong nhận được ý kiến đóng góp của đồng nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn.
Chế Cu Nha, tháng 10 năm 2015
Xác nhận đánh giá xếp loại của đơn vị

Người viết sáng kiến:

........................

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×