Tải bản đầy đủ

Pháp luật việt nam về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng gia nhập

Pháp luật Việt Nam về bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng trong
hợp đồng gia nhập : Luận văn ThS.
Luật: 60 38 50 Lò Thùy Linh ;
Nghd. : PGS.TS. Nguyễn Viết Tý
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trên thị trường, mối quan hệ giữa nhà sản xuất, kinh doanh
hàng hoá, dịch vụ và người tiêu dùng được thiết lập và duy trì thông
qua hợp đồng. Về nguyên tắc, hợp đồng là công cụ thiết yếu để ghi
nhận các thoả thuận và tạo lập sự cân bằng tương đối lợi ích giữa các
bên và do đó các bên trong quan hệ hợp đồng hoàn toàn được tự
nguyện thoả thuận trên cơ sở tự do ý chí nhằm thiết lập “luật chơi
chung”. Tuy nhiên, hầu hết các hợp đồng mà nhà sản xuất, kinh
doanh hàng hoá, dịch vụ ký kết với người tiêu dùng lại là những hợp
đồng được soạn thảo sẵn với các điều kiện giao dịch được thiết lập từ
trước đó, hay còn được gọi là hợp đồng gia nhập. Vì vậy, người tiêu
dùng thông thường vẫn là một bên yếu thế hơn so với nhà sản xuất,
kinh doanh hàng hoá, dịch vụ bởi thực chất người tiêu dùng chỉ là
bên gia nhập hợp đồng.
Tại Việt Nam, vấn đề bảo vệ người tiêu dùng được đặt ra kể
từ sau Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986. Việc thừa

nhận nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay cũng
đang làm thay đổi căn bản những vấn đề về nhận thức và phương
pháp điều tiết của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu
1


dùng ở Việt Nam. Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được coi là một
trong những chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước ta nhằm
hiện thực hoá mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh”. Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng đã thực sự
trở thành một lĩnh vực pháp luật độc lập, có vị trí đáng kể trong hệ
thống pháp luật Việt Nam, nhất là khi Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng được ban hành vào năm 1999, dự kiến sẽ được nâng
lên thành Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong năm 2010.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay tại Việt Nam cho thấy quyền và
lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng trong hợp đồng gia nhập với
một bên là nhà sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ vẫn chưa được
đảm bảo và hiện người tiêu dùng vẫn phải chấp nhận sự thiệt thòi, bất
lợi khi giao kết hợp đồng mà không có cơ hội được đàm phán cũng
như cơ hội lên tiếng để bảo vệ chính mình. Pháp luật vẫn chưa đủ
mạnh và trở thành công cụ pháp lý hữu hiệu để bảo vệ người tiêu
dùng trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng gia nhập. Vì vậy,
việc nghiên cứu đầy đủ các khía cạnh pháp lý về vấn đề bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng trong hợp đồng gia nhập nói riêng cũng như xây
dựng và hoàn thiện hơn các quy định pháp luật về bảo vệ người tiêu
dùng nói chung là một yêu cầu cấp thiết ở nước ta hiện nay.
Xuất phát từ lý do trên, tác giả đã lựa chọn chủ đề “Pháp luật
Việt Nam về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng gia
nhập” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng mặc dù xuất hiện và
được đề cập đến chưa lâu ở Việt Nam nhưng đã được nhiều tác giả
2


nghiên cứu. Tuy nhiên, nội dung của các công trình nghiên cứu mới
chủ yếu đề cập đến các vấn đề lý luận về người tiêu dùng và pháp
luật bảo vệ người tiêu dùng hoặc chỉ đề cập đến khía cạnh nào đó của
hợp đồng gia nhập, chứ chưa có một nghiên cứu tổng thể và toàn diện
về vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng gia nhập

dưới góc độ pháp lý. Do vậy, vai trò và ý nghĩa của hợp đồng gia
nhập trong mối quan hệ giữa người tiêu dùng với nhà kinh doanh,
vấn đề bảo vệ người tiêu dùng khi gia nhập hợp đồng cần được tiếp
tục nghiên cứu và hoàn thiện.
3. Mục đích của đề tài
Mục đích của đề tài là nhằm nghiên cứu lý luận và thực tiễn
về vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng gia nhập
dưới góc độ pháp lý, góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về
bảo vệ người tiêu dùng. Do đó, trong phạm vi một luận văn thạc sĩ,
tác giả tập trung làm rõ một số nội dung sau:
- Nghiên cứu những cơ sở lý luận cũng như các vấn đề pháp
lý của hợp đồng gia nhập và vấn đề bảo vệ quyền lợi của người tiêu
dùng trong hợp đồng gia nhập.
- Phân tích các quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ người
tiêu dùng trong hợp đồng gia nhập, so sánh với pháp luật bảo vệ
người tiêu dùng của một số nước trên thế giới.
- Đưa ra nhận xét, đánh giá thực tiễn cũng như xu hướng của
vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng gia nhập tại
Việt Nam.
- Kiến nghị nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng gia nhập cũng như các cơ
3


chế cho việc áp dụng pháp luật cho phù hợp với thực tiễn tại Việt
Nam cũng như thông lệ quốc tế.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phép biện chứng duy vật của triết học Mác
– Lê nin làm cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu. Trong quá
trình nghiên cứu, tác giả luận văn sử dụng một số phương pháp, bao
gồm: Phương pháp phân tích và tổng hợp; Phương pháp phân tích
quy phạm và Phương pháp so sánh pháp luật.
5. Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận, luận văn là một công trình nghiên cứu tương
đối hệ thống và toàn diện về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng trong hợp đồng gia nhập ở Việt Nam hiện nay, đưa ra và phân
tích những vấn đề có tính lý luận về hợp đồng gia nhập làm cơ sở cho
các luận cứ khoa học của việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong
hợp đồng gia nhập bằng pháp luật hiện hành. Việc nghiên cứu pháp
luật bảo vệ người tiêu dùng sẽ góp phần hoàn thiện hơn pháp luật
Việt Nam về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng gia
nhập, nhất là khi quá trình pháp điển hoá Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng thành Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đang
tích cực được hoàn thành.
Về mặt giá trị thực tiễn, luận văn phân tích, đánh giá thực
trạng của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
trong hợp đồng gia nhập, tìm ra nguyên nhân cũng như đưa ra các
giải pháp để khắc phục nhằm nâng cao tính khả thi, tính minh bạch
của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; tạo hành lang
4


pháp lý thuận lợi để góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của
người tiêu dùng; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; hoàn thiện cơ chế và các thiết chế
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng gia nhập ở Việt
Nam hiện nay.

Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI
NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HỢP ĐỒNG GIA NHẬP

1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
1.1.1. Khái niệm người tiêu dùng
Khái niệm người tiêu dùng hiểu theo nghĩa chung nhất là
người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích phục vụ cho
các nhu cầu của chính bản thân, gia đình hoặc tổ chức của mình,
không nhằm mục đích lợi nhuận. Hàng hoá, dịch vụ được mua cho sử
dụng cuối cùng bởi các cá nhân, được coi là “người sử dụng cuối
cùng”,“người tiêu dùng cuối cùng”. Trong một nền kinh tế, sức mua
của người tiêu dùng chính là đòn bẩy, là động lực thúc đẩy các hoạt
động sản xuất kinh doanh dịch vụ phát triển. Bởi vậy, bảo vệ các
quyền lợi cơ bản của người tiêu dùng được đặt ra như một yêu cầu tất
yếu khách quan, cần có sự kết hợp của nhiều biện pháp, mà trước hết
là việc hoàn thiện các quy định của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng.
1.1.2. Các quyền lợi cơ bản của người tiêu dùng

5


Quyền lợi người tiêu dùng là thuật ngữ pháp lý chỉ quyền và
lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng. Trên cơ sở Hướng dẫn của
Liên hợp quốc về bảo vệ người tiêu dùng, Chính phủ nhiều nước đã
đưa nội dung 8 quyền của người tiêu dùng vào pháp luật bảo vệ
người tiêu dùng của nước mình. Đó là các quyền: Quyền được thoả
mãn những nhu cầu cơ bản; Quyền được an toàn; Quyền được thông
tin; Quyền được lựa chọn; Quyền được lắng nghe còn được gọi là
quyền được đại diện hay quyền được bày tỏ ý kiến của người tiêu
dùng; Quyền được khiếu nại và bồi thường; Quyền được giáo dục,
đào tạo về tiêu dùng; Quyền được có môi trường sống lành mạnh và
bền vững. Trong 8 quyền nói trên, quyền quan trọng nhất là quyền
được thông tin của người tiêu dùng. Bởi vậy, bảo vệ quyền được
cung cấp đầy đủ thông tin là cơ sở rất quan trọng để hiện thực hóa
các quyền khác của người tiêu dùng.
1.2. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI
NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HỢP ĐỒNG GIA NHẬP
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng gia nhập
1.2.1.1. Khái niệm hợp đồng gia nhập
Hợp đồng gia nhập (trong Tiếng Anh là Adhesion contract)
đôi lúc còn được gọi là hợp đồng dựng sẵn (Boilerplate contract),
hợp đồng mẫu tiêu chuẩn (Standard form contract) hay hợp đồng
không có thương lượng. Có thể định nghĩa về hợp đồng gia nhập như
sau: Hợp đồng gia nhập là hợp đồng mà các điều kiện và điều khoản
của nó do một bên thiết lập, được đưa ra nhằm mục đích giao kết
hợp đồng với nhiều người trên cơ sở các điều kiện và điều khoản đó.

6


Bên chấp nhận tham gia hợp đồng với các điều kiện và điều khoản đó
được gọi là bên gia nhập.
1.2.1.2. Đặc điểm của hợp đồng gia nhập
Hợp đồng gia nhập trước hết là một loại hợp đồng, vì thế nó
vẫn mang đầy đủ các đặc điểm của hợp đồng nói chung. Tuy nhiên,
loại hợp đồng này vẫn có những đặc điểm khác biệt sau:
Thứ nhất, tính “gia nhập” là đặc điểm quan trọng nhất của
hợp đồng gia nhập.
Thứ hai, hình thức của hợp đồng gia nhập: với hợp đồng gia
nhập, có lẽ hình thức thích hợp nhất cho sự ghi nhận các điều khoản hợp
đồng là văn bản. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy các nước trên thế giới khi
đưa ra các quy định pháp luật về hợp đồng gia nhập đều không coi trọng
vấn đề hình thức của hợp đồng gia nhập bởi bất kể chúng có hình thức ra
sao, nội dung của các điều khoản hợp đồng mới liên quan trực tiếp đến
quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ hợp đồng.
Thứ ba, hợp đồng gia nhập thường được sử dụng trong quan
hệ giữa người tiêu dùng và nhà kinh doanh chuyên nghiệp.
Thứ tư, hợp đồng gia nhập là hợp đồng có những điều khoản
được chuẩn bị từ trước cho việc sử dụng nhiều lần nhằm giao kết với
nhiều người.
Tóm lại, việc áp dụng hợp đồng gia nhập là nhu cầu thực tiễn
để “hợp lý hóa bán hàng” trong nền kinh tế thị trường. Vấn đề pháp
lý được đặt ra là cơ chế kiểm soát hợp đồng gia nhập nhằm bảo vệ có
hiệu quả quyền lợi của người tiêu dùng khi gia nhập hợp đồng.
1.2.2. Tính tất yếu của vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
trong hợp đồng gia nhập
7


Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng gia nhập là
một yêu cầu khách quan và mang tính tất yếu bởi những lý do sau:
Trong hợp đồng gia nhập, giữa bên soạn thảo và bên gia
nhập rõ ràng có vị thế không bình đẳng với nhau. Bất cân xứng về
thông tin là nguyên nhân cơ bản nhất tạo nên sự bất bình đẳng giữa
các bên trong hợp đồng. Hiện tượng dòng thông tin không cân bằng
vì vậy đã làm “cán cân” lợi ích và thế mạnh nghiêng về nhà kinh
doanh, đẩy người tiêu dùng vào vị thế bất lợi hơn.
Trên thực tế, văn bản hợp đồng gia nhập rất ít được người ta đọc
bởi nhiều lý do khác nhau. Tuy nhiên, cũng có một thực tế là các điều
khoản dựng sẵn cũng không có ý nghĩa nhiều với người tiêu dùng. Đây
cũng là lý do khiến cho các điều khoản này ngày càng ít được đọc hoặc có
thể bị bỏ qua ngay cả khi họ có đọc chúng và cũng là lý do để nhà kinh
doanh không đưa ra các điều khoản hợp đồng có lợi nhất và công bằng
cho người tiêu dùng, kể cả trong thị trường có sự cạnh tranh. Ngoài ra,
việc độc quyền sản xuất hoặc cung cấp hàng hoá, dịch vụ cũng là một
trong những nguyên nhân hàng đầu tước bỏ cơ hội được đàm phán các
điều khoản của hợp đồng của người tiêu dùng. Đôi khi hợp đồng gia nhập
còn được soạn thảo bởi một hiệp hội nghề nghiệp và được cung cấp cho
các thành viên trong hiệp hội để tăng tính thống nhất của hợp đồng, làm
giảm khả năng lựa chọn, đàm phán hợp đồng của người tiêu dùng.
Như vậy, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong quan hệ
hợp đồng với nhà kinh doanh chuyên nghiệp chính là bảo vệ quyền
được bình đẳng khi ký kết hợp đồng và quyền giao dịch trung thực
của người tiêu dùng. Các quy định pháp luật về bảo vệ người tiêu
8


dùng phải tính đến việc khắc phục những yếu thế của người tiêu
dùng. Trong đó, vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
tiêu dùng khi họ không có cơ hội được đàm phán, thương lượng nội
dung của hợp đồng cần được điều chỉnh bằng một chế định đặc biệt
nhằm đảm bảo sự công bằng cho người tiêu dùng trong quan hệ hợp
đồng với một bên là nhà kinh doanh chuyên nghiệp, đảm bảo tự do
hợp đồng trong khuôn khổ của pháp luật, khắc phục khiếm khuyết
của tự do ý chí trong Luật hợp đồng truyền thống.
Chương 2
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI
NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HỢP ĐỒNG GIA NHẬP

2.1. KHÁI NIỆM, NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT BẢO
VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
2.1.1. Khái niệm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là hệ thống các
quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều
chỉnh quan hệ hợp đồng giữa người tiêu dùng và nhà kinh doanh
chuyên nghiệp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người
tiêu dùng.
2.1.2. Nội dung cơ bản của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có nội dung cơ
bản bao gồm các quy định về quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng,
trách nhiệm của nhà kinh doanh đối với người tiêu dùng, các quy
định về hợp đồng gia nhập, tổ chức bảo vệ người tiêu dùng, phương
9


thức giải quyết tranh chấp hợp đồng và vai trò của nhà nước trong
việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
2.2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ QUYỀN
LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HỢP ĐỒNG GIA NHẬP
Trước đòi hỏi của thực tiễn phát triển kinh tế thị trường, pháp
luật hiện hành của Việt Nam đã bước đầu quy định về hợp đồng gia
nhập nhằm đảm bảo quyền tự do khế ước của người tiêu dùng khi gia
nhập hợp đồng với những nội dung cơ bản sau đây:
2.2.1. Khái niệm và các nguyên tắc cơ bản về hợp đồng gia nhập
Với khái niệm hợp đồng theo mẫu theo quy định tại Điều 407
khoản 1 Bộ luật dân sự, nhà làm luật mới tiếp cận được phần nào đó
“tinh thần” về hợp đồng gia nhập ở việc xác định đây là loại “hợp
đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra” nhưng không nêu
được những đặc trưng cơ bản nhất của hợp đồng gia nhập. Điều đó
đặt ra một yêu cầu pháp lý là cần phải có cách nhận thức và định
nghĩa thống nhất về hợp đồng gia nhập trong bộ luật này.
Bộ luật dân sự năm 2005 cũng đã bước đầu thiết lập nên các
nguyên tắc chung liên quan đến hợp đồng gia nhập phù hợp với nhận
thức chung của thế giới, đó là nguyên tắc giải thích hợp đồng theo
hướng có lợi cho bên yếu thế (bên gia nhập) trong quan hệ hợp đồng
gia nhập và nguyên tắc vô hiệu các điều khoản không công bằng của
hợp đồng gia nhập.
Như vậy, mặc dù mới chỉ đưa ra định nghĩa pháp lý chưa đầy đủ
và một vài nguyên tắc cơ bản về hợp đồng gia nhập, song Bộ luật dân sự

10


năm 2005 được coi là nền tảng pháp lý quan trọng trong việc điều chỉnh
vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng gia nhập.
2.2.2. Quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng trong hợp đồng gia nhập
Tại Việt Nam, Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
năm 1999 được coi là văn bản pháp lý chính thức quy định các quyền
cơ bản của người tiêu dùng làm tiền đề cho việc bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng trong hợp đồng gia nhập. Trên cơ sở các quy định
này, một số văn bản pháp luật điều chỉnh về hợp đồng gia nhập trong
từng lĩnh vực cụ thể còn quy định người tiêu dùng có quyền bảo lưu
hay quyền thỏa thuận lại các điều khoản trong hợp đồng gia nhập.
Về nghĩa vụ, người tiêu dùng khi gia nhập hợp đồng với nhà
kinh doanh chuyên nghiệp nhìn chung phải tuân thủ các các điều
kiện, điều khoản hợp đồng đã ký kết. Hơn nữa, thông qua hợp đồng,
hàng hóa, dịch vụ được trao đổi, mua bán nhằm phục vụ cho mục
đích tiêu dùng, bởi thế người tiêu dùng còn có trách nhiệm chung
trong việc tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ theo quy định của pháp luật.
Như vậy, pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tôn
trọng và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong hợp đồng gia
nhập trong khuôn khổ các quy định về quyền và nghĩa vụ chung nhất
của người tiêu dùng khi thực hiện mua sắm, tiêu dùng hàng hoá, dịch
vụ trên thị trường.
2.2.3. Trách nhiệm của nhà kinh doanh trong hợp đồng gia nhập
Chương III Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm
1999 không có những quy định mang tính nguyên tắc về nghĩa vụ của
nhà kinh doanh chuyên nghiệp trong hợp đồng gia nhập. Cho đến
nghị định 55/2008/NĐ-CP ngày 24/04/2008 quy định chi tiết thi hành
11


Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, người ta mới thấy bước
đầu có quy định về trách nhiệm của nhà kinh doanh trong hợp đồng
gia nhập tại Điều 5.
Như vậy, Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm
1999 còn thiếu vắng những quy định về trách nhiệm của nhà kinh
doanh chuyên nghiệp trong việc xây dựng và ban hành hợp đồng gia
nhập. Bởi thế, trong một số văn bản pháp luật chuyên ngành như
Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, Luật cạnh tranh năm 2004,
Luật điện lực năm 2004, Bộ luật hàng hải năm 2005, Luật hàng
không dân dụng năm 2006, nhà làm luật Việt Nam cũng đã đưa ra
một số quy định liên quan tới trách nhiệm của nhà kinh doanh chuyên
nghiệp dựa trên các nguyên tắc của Luật hợp đồng truyền thống để
bảo đảm quyền tự do hợp đồng, bảo đảm lợi ích của bên yếu thế (bên
gia nhập) trước việc lạm dụng quyền tự do khế ước của bên soạn thảo
hợp đồng.
2.2.4. Quy định về kiểm soát hợp đồng gia nhập
Trong pháp luật Việt Nam hiện hành, nhà làm luật đã đưa ra
cơ chế kiểm soát hợp đồng gia nhập bằng việc ấn định các điều
khoản tối thiểu của hợp đồng gia nhập và quy định kiểm soát hợp
đồng gia nhập thông qua cơ chế phê duyệt hay ban hành hợp đồng
mẫu tiêu chuẩn để nhà kinh doanh chuyên nghiệp áp dụng. Ngoài ra,
các văn bản pháp luật chuyên ngành cũng có những quy định về trách
nhiệm của nhà kinh doanh trong việc đưa ra các điều khoản tiêu
chuẩn của hợp đồng và vai trò của các cơ quan Nhà nước trong việc
kiểm soát nội dung các điều khoản đó.
12


Nhìn chung, cơ chế kiểm soát hợp đồng gia nhập đã phần nào
được thiết lập song chưa đầy đủ trong hệ thống các văn bản pháp luật
về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Pháp luật các nước thường đưa
ra định nghĩa và nêu danh mục các điều khoản được coi là lạm dụng,
thiếu thiện chí hay bất bình đẳng trong hợp đồng gia nhập; quy định
vai trò và thẩm quyền của cơ quan kiểm soát hợp đồng gia nhập để
hạn chế sự vi phạm của nhà kinh doanh, bảo vệ quyền tự do hợp
đồng của người tiêu dùng. Các quy định này rất nên được tham khảo
trong quá trình xây dựng và hoàn thiện các quy định về hợp đồng gia
nhập trong Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Việt Nam.
2.2.5. Các cơ chế hiện hành giải quyết tranh chấp trong hợp đồng
gia nhập
Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã quy định
thương lượng (khiếu nại trực tiếp), hòa giải tại cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền và khởi kiện tại Tòa án là ba phương thức giải
quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và nhà kinh doanh trong hợp
đồng gia nhập.
Tuy nhiên, Tòa án vẫn được coi là phương thức giải quyết
tranh chấp trong hợp đồng gia nhập hiệu quả nhất. Trình tự, thủ tục
khởi kiện tại Tòa án thực hiện theo quy định chung của pháp luật về
tố tụng, mà trước hết là Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, bởi vậy
nhìn chung cơ chế giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án chưa thực
sự phù hợp với đặc trưng các tranh chấp trong lĩnh vực tiêu dùng.
Đối với vấn đề giải quyết tranh chấp trong hợp đồng gia
nhập, ngoài các quy định chung về thủ tục tố tụng, pháp luật Việt
13


Nam cũng chưa quy định rõ thẩm quyền của Tòa án trong việc sửa
đổi nội dung các điều khoản hoặc tuyên bố vô hiệu các điều khoản
không công bằng trong quá trình xét xử.
Tóm lại, các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về hợp
đồng gia nhập vẫn chưa đầy đủ. Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng năm 1999 còn thiếu những quy định cụ thể về hợp đồng gia
nhập. Các quy định trong hệ thống văn bản pháp luật chuyên ngành
về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng gia nhập còn
thiếu thống nhất với các quy định của Bộ luật dân sự. Điều này cho
thấy vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng gia
nhập cần được đặt ra và điều chỉnh trực tiếp bằng những quy định đặc
thù mang tính nguyên tắc trong Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
2.3. THỰC TRẠNG VI PHẠM QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
TRONG HỢP ĐỒNG GIA NHẬP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Có thể kể ra một số hình thức vi phạm quyền lợi người tiêu
dùng trong hợp đồng gia nhập tại Việt Nam như sau:
2.3.1. Sử dụng thuật ngữ chuyên môn khó hiểu trong hợp đồng
gia nhập
Trên thực tế, hợp đồng gia nhập thường có nhiều thuật ngữ
chuyên môn khó hiểu được trình bày với hình thức không phù hợp
gây nhiều khó khăn cho người tiêu dùng trong quá trình giao kết và
thực hiện hợp đồng. Đặc biệt, với phần lớn người tiêu dùng Việt
Nam, sự hạn chế về trình độ, nhận thức là một cản trở không nhỏ đối
với việc nhận thức bản chất của các thuật ngữ chuyên môn trong các
điều khoản, điều kiện mà nhà kinh doanh đưa ra. Nhiều người tiêu

14


dùng khi đọc hợp đồng không thể hiểu hay hiểu sai ý nghĩa của
những từ ngữ quy định trong hợp đồng đó, nhất là trong trường hợp
nhà kinh doanh cố ý sử dụng thuật ngữ chuyên môn nhằm “che mắt”
người tiêu dùng. Do vậy, khi xảy ra tranh chấp, căn cứ vào các điều khoản
của hợp đồng, phần thiệt thông thường lại thuộc về người tiêu dùng.
2.3.2. Sử dụng hình thức hợp đồng gia nhập không thuận lợi cho
người tiêu dùng
Với lợi thế là bên soạn thảo hợp đồng, nhà kinh doanh có thể
cố tình cản trở người tiêu dùng tiếp cận với hợp đồng gia nhập bằng
việc đưa ra hợp đồng với những hình thức không thuận tiện cho
người tiêu dùng. Nhiều người cho biết khi họ phải ký kết hợp đồng
gia nhập mà trong đó cỡ chữ cũng như cách trình bày rất khó đọc.
Hợp đồng loại này thường là rất dài, có khi lên đến cả chục trang, do
vậy trong nhiều trường hợp không thể đọc hết hợp đồng hoặc không
đủ “kiên nhẫn” để đọc hết hợp đồng, nhất là trong trường hợp hợp
đồng cần phải được ký ngay. Bởi thế, rõ ràng người tiêu dùng có
nguy cơ chịu rủi ro rất lớn nếu có tranh chấp phát sinh.
2.3.3. Sử dụng những điều kiện, điều khoản hợp đồng bất lợi cho
người tiêu dùng
Một trong những hình thức vi phạm quyền lợi người tiêu
dùng trong hợp đồng gia nhập phổ biến nhất hiện nay ở Việt Nam là
việc nhà kinh doanh chuyên nghiệp đưa vào hợp đồng gia nhập
những điều khoản, điều kiện bất lợi cho người tiêu dùng. Theo
nguyên tắc tự do hợp đồng của pháp luật dân sự, nếu người tiêu dùng
gia nhập hợp đồng với các điều khoản như vậy thì đương nhiên
chúng trở thành cam kết ràng buộc với họ và trên thực tế khi căn cứ
15


vào nội dung các điều khoản này, người tiêu dùng một mặt khó có
thể thực hiện quyền của mình theo quy định pháp luật; mặt khác cũng
phải chịu nhiều rủi ro hơn bởi sự mất cân bằng giữa quyền và nghĩa
vụ giữa các bên trong hợp đồng gia nhập.
2.3.4. Đơn phương thay đổi nội dung cơ bản của các điều khoản
trong hợp đồng gia nhập
Là bên soạn thảo hợp đồng, nhà kinh doanh chuyên nghiệp
trong nhiều trường hợp còn đơn phương thay đổi nội dung cơ bản của
các điều khoản trong hợp đồng. Khi nhà kinh doanh đã có thông báo,
người tiêu dùng đương nhiên buộc phải chấp nhận điều khoản thay
đổi dù có đồng ý hay không.
Hiện tượng vi phạm quyền lợi người tiêu dùng trong hợp
đồng gia nhập ở Việt Nam có những nguyên nhân mang tính thực
tiễn như sau:
Thứ nhất, hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng trong hợp đồng gia nhập còn thiếu những quy định
thống nhất để điều chỉnh trực tiếp về hợp đồng gia nhập làm cơ sở
cho việc hình thành một cơ chế kiểm soát và thực thi hợp đồng gia
nhập có hiệu quả trên thực tế.
Thứ hai, hiệu quả hoạt động của cơ quan chuyên trách về bảo
vệ người tiêu dùng ở trung ương là Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công
thương) chưa đáp ứng được yêu cầu mà thực tiễn công tác bảo vệ
người tiêu dùng nói chung cũng như vấn đề bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng trong hợp đồng gia nhập nói riêng đang đặt ra.

16


Thứ ba, hệ thống các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng, trong đó
đi đầu là Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam
(VINASTAS) hoạt động không có hiệu quả do những khó khăn về mặt
nhân lực và tài chính.
Thứ tư, nhận thức của về quyền và lợi ích hợp pháp của
người tiêu dùng Việt Nam còn nhiều hạn chế.

17


Chương 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
TRONG HỢP ĐỒNG GIA NHẬP
3.1. HOÀN THIỆN KHÁI NIỆM VÀ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN
VỀ HỢP ĐỒNG GIA NHẬP TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ
Điều 407, điều luật quan trọng nhất về hợp đồng gia nhập
trong Bộ luật dân sự năm 2005 có thể “thiết kế” lại như sau:
1. Hợp đồng gia nhập là hợp đồng mà các điều kiện và điều
khoản của nó do một bên thiết lập sẵn nhằm mục đích giao kết với
nhiều người trên cơ sở các điều kiện và điều khoản đó.
Bên chấp nhận tham gia hợp đồng với các điều kiện và điều
khoản được bên đề nghị đưa ra được gọi là bên gia nhập.
2. Hợp đồng gia nhập phải được giải thích không thiên vị
phù hợp với nguyên tắc thiện chí, trung thực và nguyên tắc công
bằng. Trường hợp nghĩa của điều khoản trong hợp đồng gia nhập không
rõ ràng, nó phải được giải thích theo hướng có lợi cho bên gia nhập.
3. Trong trường hợp hợp đồng gia nhập có điều khoản miễn
trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng gia nhập, tăng trách nhiệm
hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên gia nhập thì điều khoản
này không có hiệu lực pháp luật.
3.2. XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ HỢP
ĐỒNG GIA NHẬP TRONG LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI
TIÊU DÙNG
3.2.1. Hoàn thiện khái niệm người tiêu dùng
Hoàn thiện khái niệm người tiêu dùng là vấn đề “chìa khoá”
đối với pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung và quy
18


định về hợp đồng gia nhập nói riêng. Bởi vậy, cần hoàn thiện khái
niệm người tiêu dùng trong Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,
theo đó: Người tiêu dùng là tổ chức, cá nhân mua, sử dụng hàng hoá,
dịch vụ không nhằm mục đích hoạt động nghề nghiệp mà để đáp ứng
nhu cầu cá nhân. Cách định nghĩa như vậy sẽ làm sáng tỏ mọi vấn
đề, phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn tiêu dùng tại Việt Nam.
3.2.2. Quy định về trách nhiệm của nhà kinh doanh trong việc
công bố thông tin
Đối với việc điều chỉnh hợp đồng gia nhập, Luật bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng cần có quy định về nghĩa vụ của nhà kinh
doanh trong việc công khai, niêm yết các điều khoản, điều kiện có thể
được sử dụng khi giao kết hợp đồng. Dự thảo 5 Luật bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng cũng đã thể hiện rõ khuynh hướng đó. Tuy nhiên,
Luật nên bổ sung quy định cho phép người tiêu dùng được quyền
thoả thuận lại các điều khoản trong hợp đồng hoặc quy định một
khoảng thời gian hợp lý (từ 7 – 30 ngày) để người tiêu dùng có thể
nghiên cứu, xem xét lại hoặc yêu cầu sửa đổi nội dung các điều kiện,
điều khoản hợp đồng.
3.2.2. Cơ chế kiểm soát hợp đồng gia nhập
Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cần có các quy
định sau:
Thứ nhất, Quy định về điều khoản không công bằng trong
hợp đồng gia nhập, bao gồm định nghĩa và danh mục các điều
khoản được coi là bất công với người tiêu dùng. Một nội dung nữa
đáng lưu ý đó là Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cần nêu
19


chi tiết những trường hợp điển hình về điều khoản không công
bằng trong hợp đồng gia nhập.
Thứ hai, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng phải có
những quy định về thẩm quyền của cơ quan quản lý Nhà nước trong
việc kiểm tra, xem xét, yêu cầu huỷ bỏ, sửa đổi các điều khoản trong
hợp đồng gia nhập khi cơ quan này phát hiện có điều khoản không
công bằng theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
hoặc khi có yêu cầu từ phía người tiêu dùng và các tổ chức bảo vệ
người tiêu dùng.
Đối với vấn đề này, quy định tại Điều 16 và Điều 19 Dự thảo
5 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã bước đầu thiết lập nên cơ
chế kiểm soát hợp đồng gia nhập phù hợp với thông lệ quốc tế. Để
cho quy định này hoàn thiện hơn, cần bổ sung định nghĩa khái quát
về điều khoản vô hiệu. Danh mục các điều khoản vô hiệu theo quy
định tại Điều 16 khoản 1 cũng cần được sửa đổi cho phù hợp hơn.
Đối với thẩm quyền của cơ quan Nhà nước trong việc kiểm
soát hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung, nên quy định
thêm thẩm quyền của Cục quản lý cạnh tranh trong việc nghiên cứu
về thực tiễn sử dụng hợp đồng gia nhập, thiết lập và công khai danh
mục các điều khoản vô hiệu, cập nhật và bổ sung các điều khoản vô hiệu
phù hợp với thực tiễn pháp lý sinh động trong nền kinh tế thị trường.
3.2.4. Cơ chế giải quyết tranh chấp tại Tòa án
Toà án là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp
giữa người tiêu dùng và nhà kinh doanh có hiệu quả nhất. Bởi vậy,
một mặt cần khẳng định thẩm quyền của Toà án đối với việc giải
20


quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và nhà kinh doanh, áp dụng
thủ tục tố tụng đặc biệt (thủ tục xét xử rút gọn) trong Luật bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng, mặt khác khuyến khích các thẩm phán vận
dụng các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật dân sự, trên cơ sở các quy
định pháp luật có liên quan và tham khảo danh mục các điều khoản
không công bằng được công khai hàng năm để đánh giá tính bất công
của các điều khoản hợp đồng gia nhập cũng như khả năng gây thiệt
hại cho người tiêu dùng của các điều khoản đó. Luật bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng cần bổ sung quy định về thẩm quyền của Toà án
trong việc xem xét, sửa đổi nội dung các điều khoản hoặc tuyên bố
vô hiệu các điều khoản không công bằng.
3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HỖ TRỢ KHÁC
3.3.1. Kiểm soát và chống độc quyền trong sản xuất và cung ứng
hàng hoá, dịch vụ trên thị trường
Cần tạo nên một cơ chế kiểm soát và chống độc quyền trong
sản xuất và cung ứng hàng hoá, dịch vụ, tạo nên một môi trường cạnh
tranh lành mạnh, công khai, minh bạch thông tin trên cơ sở các
nguyên tắc được quy định trong Luật cạnh tranh và các văn bản pháp
luật có liên quan. Trong việc thúc đẩy cạnh tranh, hoạt động của Nhà
nước không đơn thuần là điều tiết, mà còn khuyến khích và tạo động
lực thị trường, tạo lập một sân chơi bình đẳng cho mọi đối tượng có
khả năng sản xuất, cung ứng hàng hoá, dịch vụ, từ đó nâng cao chất
lượng hàng hoá, dịch vụ và người tiêu dùng được quyền lựa chọn nhà
kinh doanh có khả năng cung ứng sản phẩm họ cần với các điều kiện
có lợi nhất.
21


Bên cạnh đó, đối với việc cung ứng dịch vụ công cộng mang
tính cơ bản, thiết yếu với đời sống tiêu dùng như điện, nước sinh
hoạt, Nhà nước một mặt cần đẩy mạnh sự tham gia của khu vực tư
nhân trong một số lĩnh vực. Mặt khác, cải thiện chất lượng cung ứng
dịch vụ công trong khu vực Nhà nước bằng chế độ kiểm tra tài chính
và chế độ chịu trách nhiệm cá nhân cũng như nâng cao năng lực
chuyên môn, phẩm chất, đạo đức phục vụ khách hàng đối với đội ngũ
cán bộ quản lý, viên chức trực tiếp thực hiện cung ứng dịch vụ công.
3.3.2. Nâng cao vai trò của Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu
dùng trong công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cần có quy định rõ
ràng, cụ thể vai trò của Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng
(VINASTAS) trong việc đại diện người tiêu dùng thực hiện các
quyền của người tiêu dùng và giúp đỡ họ trong quá trình giải quyết
khiếu nại, tranh chấp. Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng phải
có địa vị ngang bằng với các Hiệp hội ngành nghề và hiệp hội nghề
nghiệp, có khả năng tham gia nghiên cứu thực tiễn và hỗ trợ các cơ quan
có thẩm quyền kiểm soát hợp đồng gia nhập một cách có hiệu quả.
3.3.3. Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đối với người
tiêu dùng, các tổ chức, cá nhân kinh doanh và cán bộ làm công
tác bảo vệ người tiêu dùng
Đối với người tiêu dùng, cần tăng cường công tác tuyên
truyền, phổ biến giáo dục pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
để nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về quyền và lợi ích hợp
pháp của mình, nhất là giúp người tiêu dùng hiểu và biết vận dụng
22


linh hoạt quyền bảo lưu các điều khoản bất lợi khi gia nhập hợp đồng
với nhà kinh doanh.
Đối với nhà kinh doanh chuyên nghiệp, việc tổ chức phổ
biến, tuyên truyền pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nhằm
mục đích giúp họ nắm bắt được những vấn đề về người tiêu dùng nói
chung và pháp luật bảo vệ người tiêu dùng nói riêng, đảm bảo việc
tuân thủ các quy định pháp luật trong quá trình soạn thảo và công
khai các điều khoản của hợp đồng gia nhập áp dụng cho số đông
người tiêu dùng.
Ngoài ra, cần phải chú trọng tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cho đội ngũ cán bộ
chính quyền địa phương, vì đây là nhóm đối tượng đặc biệt, có vai
trò quyết định tới sự phát triển của công tác bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng ở các địa phương trong cả nước.
Tóm lại, để khắc phục những yếu thế của người tiêu dùng khi
gia nhập hợp đồng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
tiêu dùng, Bộ luật dân sự và Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng sẽ
đóng vai trò là hai đạo luật quan trọng nhất ghi nhận những quy tắc
đặc thù áp dụng cho hợp đồng gia nhập, trong đó các quy định của
Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được ưu tiên áp dụng hơn.
Luật là cơ sở pháp lý vững chắc đối với việc bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng trong hợp đồng gia nhập, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của
một nền kinh tế thị trường phát triển trong thời kỳ hội nhập kinh tế
quốc tế ngày càng sâu sắc.

23


KẾT LUẬN
Hợp đồng gia nhập là một minh chứng cho thực tiễn pháp lý
đầy sinh động, nơi mà Luật hợp đồng với những nguyên tắc truyền
thống của nó không thể trang bị cho người tiêu dùng phương tiện hữu
hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước các nhà
kinh doanh chuyên nghiệp. Bởi vậy, mặc dù hợp đồng gia nhập là
vấn đề pháp lý nằm tại biên giới của pháp luật hợp đồng và pháp luật
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng song nó đã trở thành một nội dung
quan trọng trong pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Với vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu
dùng là một bên yếu thế hơn trong hợp đồng gia nhập, pháp luật bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam đã bước đầu thiết lập nên một
trật tự đặc biệt dùng cho việc ký kết, huỷ bỏ, kiểm tra nội dung và
trách nhiệm theo hợp đồng có sự tham gia của người tiêu dùng. Tuy
nhiên, các quy định của pháp luật hiện hành, trong đó quan trọng
nhất là Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999 vẫn
chưa đưa ra một cơ chế hữu hiệu để kiểm soát hợp đồng gia nhập
trong giao dịch giữa nhà kinh doanh chuyên nghiệp và người tiêu
dùng trên thị trường. Chính vì vậy, nhiều hành vi vi phạm quyền lợi
người tiêu dùng trong hợp đồng gia nhập vẫn đã và đang diễn ra theo
chiều hướng tăng lên. Đặc biệt, việc sử dụng hợp đồng gia nhập trong
quá trình kinh doanh một số loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phục vụ
sinh hoạt hàng ngày của người tiêu dùng như: điện, nước, dịch vụ
viễn thông rất phổ biến, trong khi người tiêu dùng hầu như không có
cơ hội được thỏa thuận, đàm phán hợp đồng và cũng không có nhiều
sự lựa chọn tiêu dùng khác, ngoài việc chấp nhận mọi điều khoản của
nhà kinh doanh để có được hàng hoá, dịch vụ đó.
24


Do vậy, việc tăng cường hoàn thiện các quy định pháp luật
về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng gia nhập cũng
như cơ chế thực thi pháp luật trong lĩnh vực này cho phù hợp với
thực tiễn phát triển kinh tế thị trường là một yêu cầu tất yếu. Luật bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng sắp được ban hành với các quy định
điều chỉnh một cách toàn diện về hợp đồng gia nhập áp dụng cho
người tiêu dùng khi tham gia giao dịch trên thị trường sẽ bước đầu
đáp ứng được yêu cầu đó. Các quy định này sẽ là cơ sở pháp lý vững
chắc để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thiết lập và duy trì sự cân
bằng trong mối quan hệ giữa người tiêu dùng và nhà kinh doanh
chuyên nghiệp. Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng sẽ góp phần gây
dựng niềm tin nơi người tiêu dùng, bảo vệ động lực kinh tế quan
trọng thúc đẩy các hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch
vụ phát triển trên thị trường, đồng thời cũng là sứ mệnh của Nhà
nước pháp quyền vì mục tiêu xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh, vì con người và sự tiến bộ của con người.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×