Tải bản đầy đủ

Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự

iu kin cú hiu lc ca hp ng dõn s :Lun vn
ThS. Lut: 60 38 30 / Nguyn Ngc Tỳ Loan ; Nghd. :
PGS.TS. inh Vn Thanh
MC LC CA LUN VN
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
mở Đầu

1

Chơng 1: cơ sở lý luận của điều kiện có hiệu

6

lực của hợp đồng dân sự và hậu quả
pháp lý của nó
1.1.
Hợp đồng dân sự và những đặc thù của nó trong hệ thống pháp

luật dân sự
1.1.1.
Nhng yờu cu t ra i vi vic iu chnh hp ng bng
phỏp lut
1.1.2.
c im ca hp ng dõn s trong B lut dõn s
1.1.2.1. Khỏi nim hp ng dõn s
1.1.2.2. c im ca hp ng dõn s
1.2.
Vấn đề lý luận về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
1.2.1.
Nhn thc chung v iu kin cú hiu lc ca hp ng
1.2.2.
Vn lý lun v iu kin cú hiu lc ca hp ng dõn s
1.3.
Hu quả pháp lý ca hp ng dõn s vụ hiu
Chơng 2: điều kiện có hiệu lực của hợp đồng

6
6
14
14
15
18
18
21
36
43

dân sự theo quy định của pháp luật
2.1.
2.1.1.
2.1.2.
2.1.3.

dân sự việt nam và thực tiễn áp dụng
Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự theo pháp luật Việt
Nam hiện hành
Ngời tham gia giao kết hợp đồng có năng lực hành vi dân sự
Mục đích và nội dung của hợp đồng dân sự không trái pháp luật,

đạo đức x hội
Ngời tham gia giao kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện
1

43
43
54
60


2.2.
2.3.
2.3.1.
2.3.2.

2.3.2.1.
2.3.2.2.
2.3.2.3.
2.3.2.4.

Hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực trong trờng hợp
pháp luật có quy định
Nhận xét đối với quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực
của hợp đồng dân sự và thực tiễn áp dụng
Một số nhận xét đối với quy định của pháp luật về điều kiện có
hiệu lực của hợp đồng dân sự
Một số vấn đề từ thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về
điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự cần nghiên cứu giải
quyết
Hn ch s vụ hiu húa cỏc quan h hp ng dõn s
Hn ch s thiu rừ rng ca quy nh phỏp lut v hp ng dõn
s vụ hiu
Cn phi cú quy nh rừ rng, c th trong vic x lý hp ng
vụ hiu
V quy nh thi hiu yờu cu Tũa ỏn tuyờn b hp ng, giao
dch vụ hiu (iu 136, B lut dõn s)

63

Chơng 3: thực trạng áp dụng các quy định của

78

67
67
73

73
73
74
74

pháp luật để giảI quyết các tranh chấp
về hợp đồng vi phạm các điều kiện có
hiệu lực của hợp đồng và phơng hớng
3.1.
3.2.

3.3.
3.3.1.

3.3.1.1.
3.3.1.2.
3.3.1.3.
3.3.1.4.
3.3.1.5.

hoàn thiện
Thc trng ỏp dng phỏp lut gii quyt cỏc tranh chp v hp
ng vi phm cỏc iu kin cú hiu lc
Nhng vn t ra i vi vic hon thin cỏc quy nh ca
phỏp lut v iu kin cú hiu lc ca hp ng theo B lut dõn
s
Nhng xut c th nhm hon thin quy nh ca phỏp lut v
iu kin cú hiu lc ca hp ng dõn s
Hon thin lý lun v iu kin cú hiu lc ca hp ng dõn s
v hu qu phỏp lý ca hp ng vụ hiu do khụng tuõn th quy
nh v iu kin cú hiu lc ca hp ng dõn s
V khỏi nim hp ng vụ hiu
V hu qu phỏp lý ca hp ng vụ hiu
V phõn loi hp ng vụ hiu
V bin phỏp x lý vi hp ng khụng tuõn th quy nh v
iu kin cú hiu lc ca hp ng dõn s
V quy nh hỡnh thc ca hp ng giao dch l iu kin cú
hiu lc ca hp ng
3

78
80

82
82

82
82
83
84
84


3.3.2.

Những đề xuất cụ thể trong việc hoàn thiện pháp luật về điều
kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự

85

KÕt luËn

92

Danh môc tµi liÖu tham kh¶o

95

5


MỞ ĐẦU
Hợp đồng là một chế định quan trọng trong pháp luật dân sự của bất kỳ một quốc
gia nào. Bởi vì dường như cuộc sống được cấu thành nên từ vô vàn "hợp đồng", có thể
nói bất kỳ hành động nào của chúng ta trong cuộc sống hàng ngày cũng đều tạo ra các
giao dịch dân sự - mà trong đó phần lớn là các hợp đồng dân sự. Chính vì sự phổ biến
của hợp đồng trong cuộc sống hàng ngày, để đảm bảo cho sự ổn định của xã hội, đảm
bảo lợi ích chung của phần đông cộng đồng, Nhà nước đã lập ra hành lang pháp lý để
cho các "hợp đồng" có hiệu lực và đưa ra các biện pháp cưỡng chế nhà nước nếu có sự
vi phạm quyền và nghĩa vụ của một bên trong hợp đồng. Chính vì vậy, các quy định
về điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực ra đời.
Nghiên cứu về hợp đồng dân sự không thể không nghiên cứu đến các vấn đề về
điều kiện để hợp đồng dân sự có hiệu lực. Đây cũng là một yếu tố quan trọng mà các
bên tham gia giao kết hợp đồng phải lưu tâm vì một lẽ, nếu hợp đồng nào vi phạm vào
một trong những nội dung theo quy định của luật về điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng dân sự thì sẽ vô hiệu, dẫn đến tình trạng quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh
từ hợp đồng sẽ không được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Vấn đề điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự là một vấn đề lý luận quan trọng
đối với bất kỳ một luật gia nào khi nghiên cứu về hợp đồng. Bên cạnh đó, do đặc thù
công tác trong một cơ quan áp dụng pháp luật, có điều kiện được tiếp xúc với nhiều
hợp đồng dân sự, chúng tôi thấy rằng tồn tại rất nhiều trường hợp hợp đồng giao dịch
vô hiệu, không đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên cũng như ý chí mong muốn
của các bên khi tham giao kết hợp đồng. Với tư cách là một người nghiên cứu pháp
luật chúng tôi thấy rằng cần nghiên cứu một cách nghiêm túc vấn đề điều kiện có hiệu
lực của hợp đồng dân sự để từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm rút ngắn khoảng cách
thực tế và quy định pháp luật, nhằm làm giảm việc giao kết hợp đồng vi phạm quy
định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự, dẫn đến vô hiệu hợp đồng trong
thực tế; đảm bảo quyền lợi cho người dân khi tham gia giao dịch dân sự.
Vấn đề mà tác giả đề cập tro ng luận văn này cũng đã được nghiên cứu trong một
số công trình khoa học trước đây. Tuy nhiên, sau khi tìm hiểu và nghiên cứu các
công trình có liên quan thì chúng tôi thấy rằng các công trình này chỉ nghiên cứu các
quy định của Bộ luật dân sự 1995, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện các
quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự
2005. Quy định về các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự quy định tại Điều
122, Bộ luật dân sựS năm 2005 có những điểm khác về nội dung và tinh thần so với
Bộ luật dân sự năm 1995, nhất là việc áp dụng để giải quyết những tranh chấp trong
thực tiễn.
Do vậy, việc nghiên cứu đề tài: "Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự" theo
quy định của pháp luật hiện hành của tác giả vẫn là việc làm cần thiết, có ý nghĩa và
7


không bị trùng lắp với các công trình đã được công bố. Đồng thời tác giả cũng mong
đưa đến được một cách tiếp cận mới đối với vấn đề "Điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng dân sự" (theo nghĩa hẹp) theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện
hành. Từ đó làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm pháp lý giao dịch dân sự, điều kiện có
hiệu lực của hợp đồng dân sự. Trên cơ sở đó tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm
hoàn thiện pháp luật, đảm bảo tính khả thi khi áp dụng trong thực tiễn giải quyết các
tranh chấp, giảm "độ chênh" giữa pháp luật và đời sống thực tiễn, làm cho pháp luật
dân sự không chỉ đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự tham gia giao dịch dân sự
mà còn thực sự là công cụ pháp lý thúc đẩy giao lưu dân sự, tạo môi trường thuận lợi
cho sự phát triển của kinh tế xã hội.
Kết cấu của luận văn gồm lời mở dầu, kết luận và 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của điều kiện có hiệu lực hợp đồng dân sự và hậu quả
pháp lý của nó.
Chương 2: Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự theo quy định của Pháp luật
dân sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng.
Chương 3: Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật để giải quyết các tranh
chấp về hợp đồng vi phạm các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và phương hướng
hoàn thiện.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC
CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA NÓ
1.1 Hợp đồng dân sự và những đặc thù của nó trong hệ thống pháp luật dân
sự
1.1.1. Những yêu cầu đặt ra đối với việc điều chỉnh hợp đồng bằng pháp luật
Hợp đồng là một trong những chế định pháp lý có bề dầy lịch sử. Ngay từ khi xã
hội loài người có sự phân công lao động và xuất hiện hình thức trao đổi hàng hóa, thì
hợp đồng đã hình thành và giữ một vị trí quan trọng trong việc điều tiết các quan hệ tài
sản. Ngày nay, vai trò và vị trí của chế định hợp đồng ngày càng được khẳng định
trong mọi hệ thống pháp luật. Chế định hợp đồng là quy định làm căn cứ để giải thích rõ
nội dung của các phần mà các bên thể hiện chưa rõ, hay bổ sung những phần mà các bên
chưa xác định trong hợp đồng được các bên giao kết. Đồng thời các quy định về hợp
đồng còn có chức năng hướng dẫn cho các thủ thể tham gia quan hệ hợp đồng biết được
quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ đó và những nội dung cơ bản mà các bên cần
thỏa thuận trong các hình thức hợp đồng cụ thể. Về nguyên tắc, pháp luật tôn trọng ý
chí của các bên và chỉ can thiệp trong các trường hợp mà ở đó cần có sự giới hạn của
pháp luật. Ở hầu hết các hệ thống pháp luật trên thế giới, hợp đồng được thừa nhận về
mặt pháp lý khi đáp ứng các yêu cầu sau:
- Hợp đồng phải thể hiện được sự tự do ý chí của các bên tham gia ký kết.
9


- Hợp đồng phải là sự tập hợp những cam kết được pháp luật thừa nhận, ủng hộ và
đứng ra bảo vệ.
- Chế định hợp đồng mang tính bắt buộc song cũng hết sức linh hoạt, uyển chuyển.
- Hợp đồng phải là những ưng thuận, thỏa thuận, cam kết phản ánh sự thống nhất ý
chí thực sự của các bên tham gia hợp đồng.
1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng dân sự trong Bộ luật dân sự
1.1.2.1. Khái niệm hợp đồng dân sự
Hợp đồng dân sự là là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, hoặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 388, Bộ luật dân sự). Hợp đồng có thể được
giao kết giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tổ chức, pháp nhân, giữa các pháp
nhân, tổ chức với nhau. Hợp đồng có thể có hai bên tham gia hoặc nhiều bên tham gia;
có thể có một hoặc nhiều chủ thể mỗi bên của hợp đồng. Trong quá trình thỏa thuận
các bên tự do thỏa thuận với nhau trên cơ sở bình đẳng nhằm đạt mục đích nhất định
về vật chất hoặc tinh thần nhưng không trái với đạo đức, pháp luật của quốc gia, của
thế giới mà chủ thể tham gia hợp đồng chịu sự điều chỉnh. Như vậy, thông qua hợp
đồng quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên chủ thể phát sinh.
1.1.2.2. Đặc điểm của hợp đồng dân sự
Hình thức của hợp đồng dân sự rất đa dạng. Hợp đồng dân sự có thể được thể
hiện bằng lời nói, bằng văn bản, hoặc bằng hành vi cụ thể. Trong trường hợp pháp
luật quy định hợp đồng dân sự phải lập bằng văn bản và có chứng nhận của cơ quan
có thẩm quyền thì phải tuân theo các quy định đó. Ngày nay trong xu thế phát triển
của công nghệ thông tin hiện đại, pháp luật dân sự cũng thừa nhận hình thức giao
dịch thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là
hợp đồng bằng văn bản
Chủ thể của hợp đồng dân sự là đa dạng có thể là cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác,
hộ gia đình, thậm chí có thể là người bị mất năng lực hành vi, chỉ cần họ tham gia
hợp đồng nhằm thỏa mãn bất kỳ lợi ích hợp pháp nào mà họ mong muốn đạt được
hoặc hướng tới. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi của những người bị mất hoặc hạn
chế năng lực hành vi, pháp luật dân sự đã quy định một chế định đặc biệt là chế định
người giám hộ (là người đại diện cho những người bị mất hoặc hạn chế năng lực
hành vi dân sự khi tham gia hợp đồng dân sự).
Tùy theo pháp luật của các quốc gia theo thuyết tiếp nhận hay thuyết tống đạt mà
pháp luật quy định thời điểm hình thành hợp đồng sẽ khác nhau. Ở nước ta, thời điểm
hình thành hợp đồng được xác định tùy theo hình thức và nội dung mà các bên lựa
chọn và cam kết. Đối với các hình thức ký kết hợp đồng thông qua việc gửi văn bản
qua lại cho nhau, pháp luật nước ta chấp nhận lý thuyết tiếp nhận để xác định thời điểm
giao kết hợp đồng.
1.2. Vấn đề lý luận về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
11


1.2.1. Nhận thức chung về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng.
Khi xây dựng pháp luật về hợp đồng, pháp luật các quốc gia đều quan tâm đến quy
định về các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, về hợp đồng vô hiệu… để đảm bảo
quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên và ổn định trật tự lưu thông, ổn định các quan
hệ xã hội
Chỉ những hợp đồng dân sự nói riêng, giao dịch dân sự nói chung mà hợp pháp
mới làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của chủ thể tham gia giao dịch. Hợp đồng hợp
pháp phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự nói riêng và của giao
dịch dân sự nói chung. Hợp đồng dân sự không thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của
hợp đồng theo quy định của pháp luật thì vô hiệu. Hợp đồng vô hiệu không làm phát
sinh hậu quả pháp lý mà các bên giao kết mong muốn. Đây là nguyên lý chung mà
pháp luật các nước đều ghi nhận. Trên thế giới hiện nay, phần lớn các nhà lập pháp
không đưa ra các khái niệm chung về hợp đồng, giao dịch vô hiệu mà chủ yếu đi sâu
quy định các tiêu chí để xác định một giao dịch vô hiệu.
Ở Việt Nam, để xác định hợp đồng vô hiệu thì căn cứ vào Điều 122 và Điều 127,
Bộ luật dân sự (giao dịch không có một trong các điều kiện theo quy định Điều 122 thì
vô hiệu).
Khi xem xét hợp đồng, giao dịch vô hiệu, thông thường, các nhà khoa học căn cứ
vào tính trái pháp luật dẫn đến hợp đồng vô hiệu để phân ra thành vô hiệu tuyệt đối và
vô hiệu tương đối. Hợp đồng vô hiệu tuyệt đối là những hợp đồng vi phạm điều cấm
của pháp luật nên trong thực tế Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền không cho phép
khắc phục cho dù ý chí của các bên mong muốn được khắc phục. Hợp đồng này không
có hiệu lực ngay từ thời điểm ký kết, cho dù nó có bị Tòa án tuyên bố vô hiệu hay
không. Còn đối với hợp đồng vô hiệu tương đối là loại hợp đồng có khả năng khắc
phục, nó được coi là hợp đồng có thể có hiệu lực nhưng có thể bị vô hiệu theo sự lựa
chọn của một trong các bên tham gia hợp đồng. Hợp đồng này thông thường không
xâm phạm trật tự công cộng và đạo đức xã hội và chỉ có thể bị vô hiệu đối với bên có
lỗi mà không bị vô hiệu đối với bên không có lỗi.
Thời điểm xác định sự vô hiệu của hợp đồng được tính từ thời điểm hình thành
hợp đồng. Khi đã tuyên bố vô hiệu, hợp đồng đã ký sẽ không có giá trị bắt buộc thực
hiện và việc thực hiện vì thế bị chấm dứt, quay lại tình trạng ban đầu, các bên hoàn trả
cho nhau những gì đã nhận.
Khi xác định hợp đồng vô hiệu thì quyền và nghĩa vụ của các bên đã thỏa thuận
đều không có giá trị pháp lý, còn trong trường hợp hợp đồng đó được thừa nhận sau
khi đã khắc phục thì đương nhiên quyền và nghĩa vụ của các bên sẽ được pháp luật
bảo hộ, bảo vệ theo sự cam kết của các bên, hợp đồng khắc phục được coi là hợp đồng
mới.
1.2.2. Vấn đề lý luận về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự
13


Về mặt lý luận, hợp đồng là những giao dịch pháp lý song phương hoặc đa phương
của hai hay nhiều bên, mà qua đó thể hiện sự thống nhất ý chí của các bên với những
mong muốn, chủ đích đạt được những hệ quả pháp lý nhất định và pháp luật bảo hộ
cũng như tạo điều kiện cho mục đích đó trở thành hiện thực. Để được pháp luật thừa
nhận và bảo vệ, thì người tham gia hợp đồng phải tuân theo các điều kiện mà pháp luật
quy định. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của các
chủ thể tham gia hợp đồng cũng như việc bảo vệ lợi ích chung của xã hội.
Bản chất của việc quy định các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng là để đảm bảo
cho hợp đồng không bị vô hiệu, tức là hợp đồng không bị rơi vào các tình trạng sau:
- Trái hoặc xâm hại trật tự pháp lý, lợi ích công cộng hoặc xã hội được pháp luật
bảo vệ (vô hiệu tuyệt đối).
- Không tuân thủ quy định về mặt hình thức của hợp đồng.
- Người ký hợp đồng không đúng thẩm quyền.
- Giao kết hợp đồng thiếu sự tự nguyện của chủ thể giao kết. Việc giao kết hợp
đồng thiếu sự tự nguyện của chủ thể có thể do các nguyên nhân sau:
+ Do nhầm lẫn;
+ Do bị lừa dối;
+ Giao kết trong tình trạng bị đe dọa;
+ Hợp đồng giao kết giả tạo.
- Hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội.
1.3. Hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu
Mặc dù khái niệm hậu quả pháp lý được sử dụng một cách rộng rãi trong khoa học
pháp lý, nhưng hiện nay các nhà khoa học vẫn chưa đưa ra một khái niệm cụ thể nào,
các nhà lập pháp cũng chỉ đi sâu vào quy định nội dung của nó bao hàm những yếu tố
nào hơn là tìm cách đưa ra một định nghĩa. Về nguyên tắc, hậu quả pháp lý của giao
dịch, hợp đồng dân sự vô hiệu không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự đối với các
bên từ thời điểm xác lập: "Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi,
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập" (khoản 1 Điều
137, Bộ luật dân sự).
Hợp đồng vô hiệu không phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, các bên phải hoàn trả
cho nhau những gì đã nhận, chính là khôi phục lại tình trạng ban đầu trước thời điểm
xác lập hợp đồng.
Hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu có những đặc điểm chung sau đây:
- Hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên từ thời
điểm xác lập.
- Khi hợp đồng vô hiệu thì các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả
cho nhau những gì đã nhận.
Kết luận chương 1
15


Từ nghiên cứu những vấn đề cơ sở lý luận về hợp đồng và điều hiện có hiệu lực
của hợp đồng dân sự, tác giả rút ra một số kết luận sau:
1.Hợp đồng dân sự là sự tự do cam kết, thỏa thuận giữa các bên nhằm thiết lập
quyền và nghĩa vụ pháp lý trong quan hệ dân sự cụ thể. Hợp đồng không tuân thủ các
điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dẫn đến việc hợp đồng dân sự bị vô hiệu. Bản chất
của các hợp đồng bị vô hiệu do không tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
thường không đảm bảo nguyên tắc cơ bản, mục đích của các chủ thể khi tham gia giao
dịch dân sự:
- Không có sự tự nguyện trong giao kết hợp đồng của các bên.
- Chủ thể tham gia hợp đồng không có năng lực hành vi cần thiết để giao kết hợp
đồng
- Nội dung và mục đích của hợp đồng trái pháp luật:
- Hình thức của hợp đồng phù hợp quy định của pháp luật.
2. Trên cơ sở lý vận dụng các quan điểm của phép duy vật biện chứng, sử dụng các
phương pháp nghiên cứu tổng hợp, so sánh, phân tích… luận văn đã làm rõ được các vấn
đề lý luận thuộc phạm vi nghiên cứu như: phân tích đánh giá các vấn đề lý luận về hợp
đồng dân sự cũng như các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự, hậu quả pháp lý
của hợp đồng không tuân thủ quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng - hợp đồng vô hiệu.
Chương 2
ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
2.1. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dấn sự theo pháp luật Việt Nam hiện
hành
Theo pháp luật dân sự Việt Nam, điều kiện chung về hợp đồng dân sự có hiệu lực
tuân thủ theo quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung, đó là:
"1.Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a. Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;
b. Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật,
không trái đạo đức xã hội;
c. Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.
2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong
trường hợp pháp luật có quy định". (Điều 122 Bộ luật dân sự 2005).
2.1.1. Người tham gia giao kết hợp đồng có năng lực hành vi dân sự
Thuật ngữ "người" ở đây phải hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm các chủ thể của quan hệ
pháp luật dân sự: Cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác.
17


* Đối với chủ thể của hợp đồng dân sự là cá nhân.
Hợp đồng dân sự do cá nhân xác lập chỉ có hiệu lực nếu phù hợp với mức độ năng
lực hành vi dân sự của cá nhân. Năng lực hành vi dân sự của mỗi cá nhân được pháp
luật công nhận ở độ tuổi nhất định, qua đó có thể đánh giá việc xác lập và thực hiện
giao dịch dân sự của cá nhân đó có hợp pháp và có phù hợp với quy định của pháp
luật.
- Theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam, người đủ 18 tuổi được suy đoán là
có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp có quyết định của Tòa án về việc mất
năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự (Điều 18,19, 24, 25 Bộ
luật dân sự năm 2005). Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ được toàn quyền xác
lập mọi giao dịch dân sự. Việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự dẫn đến
một hậu quả pháp lý là tất cả các giao dịch do họ xác lập đều vô hiệu và thực chất họ bị
đưa ra khỏi vòng quay của giao lưu dân sự nếu không có người đại diện. Chính vì vậy,
điều kiện thủ tục thực hiện việc công nhận này được pháp luật dân sự quy định chặt chẽ.
Khác với pháp luật dân sự của một số nước, Bộ luật dân sự của nước ta không quy
định việc hạn chế năng lực hành vi dân sự của người có khuyết tật như câm, mù, điếc.
Trong những trường hợp này pháp luật Việt Nam quy định những trình tự cụ thể để họ
tham gia giao dịch dân sự. Điều 11, Luật công chứng quy định: "Trong trường hợp
pháp luật quy định việc công chứng phải có người làm chứng hoặc trong trường hợp
pháp luật không quy định việc công chứng phải có người làm chứng nhưng người yêu
cầu công chứng không đọc được hoặc không nghe được hoặc không ký và không điểm
chỉ được thì phải có người làm chứng".
- Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi là người có năng lực hành vi dân sự chưa
đầy đủ (Điều 20 Bộ luật dân sự), những người này khi xác lập, thực hiện giao dịch dân
sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật trừ những hợp đồng, giao dịch
nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi. Tuy nhiên, Bộ luật
dân sự 2005 cũng quy định ngoại lệ, theo đó người đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi mà
có tài sản riêng đủ đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thì được xác lập giao dịch mà không
cần có sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ.
- Đối với các chủ thể khác (pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác). Các chủ thể này
tham gia vào giao dịch dân sự thông qua người đại diện của họ (đại diện theo pháp
luật, theo ủy quyền).
2.1.2. Mục đích và nội dung của hợp đồng dân sự không trái pháp luật, đạo đức
xã hội
Pháp luật cho phép các chủ thể được tự do xác lập và thực hiện hợp đồng, giao
dịch dân sự. Tuy nhiên, "tự do thực hiện hợp đồng chỉ được thừa nhận ở mức độ hợp
lý, nếu hợp đồng đó không trái pháp luật và đạo đức xã hội". Vi phạm điều cấm của
pháp luật, trái đạo đức xã hội bao gồm nội dung, mục đích của hợp đồng trái pháp
19


luật, đạo đức xã hội. Hợp đồng dân sự vi phạm quy định này đương nhiên bị coi là vô
hiệu không phụ thuộc vào ý chí của các bên tham gia giao dịch. Về khái niệm điều
cấm của pháp luật có nhiều cách hiểu khác nhau, nên đã đưa đến sự không thống nhất
trong áp dụng pháp luật về lĩnh vực này với những hậu quả pháp lý khác nhau.
2.1.3. Người tham gia giao kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện
Bản chất của hợp đồng dân sự là sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí, cho nên tự
nguyện bao gồm các yếu tố cấu thành là tự do và bày tỏ ý chí. Không có tự do ý chí và
bày tỏ ý chí không thể có tự nguyện, nếu một trong hai yếu tố này không có hoặc
không thống nhất cũng không thể có tự nguyện. Đó là các trường hợp giao kết hợp
đồng:
+ Hợp đồng giao kết giả tạo (Điều 129).
+ Do nhầm lẫn (Điều 131);
+ Do bị lừa dối, bị đe dọa (Điều 132);
2.2. Hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực trong trường hợp pháp
luật có quy định (khoản 2 Điều 122, Bộ luật dân sự).
Hình thức của hợp đồng dân sự là cách thức thể hiện ý chí của chủ thể ra bên ngoài
dưới một hình thức nhất định của các bên tham gia hợp đồng. Thông qua cách thức
biểu hiện này bên đối tác cũng như người thứ ba có thể biết được nội dung của hợp
đồng đã xác lập. Hình thức của hợp đồng dân sự có thể là: lời nói, văn bản hoặc bằng
hành vi cụ thể. Trong trường hợp pháp luật có quy định giao dịch dân sự phải được thể
hiện bằng văn bản, phải được công chứng, chứng thực, đăng ký hoặc phải xin phép thì
phải tuân theo các quy định đó (Điều 124, Bộ luật dân sự).
Bộ luật dân sự 2005 đã quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, giao dịch
thành 2 khoản, trong đó tách quy định về hình thức của hợp đồng giao dịch thành một
điều khoản riêng - đây là một điểm thay đổi căn bản về nội dung quy định của điều luật
này so với Bộ luật dân sự 1995 (Bộ luật dân sự năm 1995 thì hình thức của hợp đồng
giao dịch là một trong bốn điều kiện cần và đủ để hợp đồng, giao dịch có hiệu lực). Việc
sửa đổi này xuất phát từ quan điểm cho rằng các quy định về hình thức đối với hợp
đồng giao dịch chỉ có ý nghĩa công khai hợp đồng giao dịch đó và có ý nghĩa đối kháng
với người thứ ba trong trường hợp có tranh chấp. Điều kiện bắt buộc để giao dịch có
hiệu lực chỉ phụ thuộc vào một số yếu tố liên quan đến nội dung như: người tham gia
giao kết hợp đồng có năng lực hành vi dân sự; ý chí tự nguyện của các bên; đối tượng,
nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội. Việc quy định
của Điều 131, Bộ luật dân sự 1995 là không phù hợp, tạo kẽ hở về mặt pháp lý để một
bên tham gia giao dịch có thể lợi dụng trục lợi cho mình và gây thiệt hại đến quyền lợi
chính đáng của bên kia.
Tuy nhiên, Điều 134, Bộ luật dân sự 2005 không suy đoán một giao dịch dân sự
không tuân thủ hình thức là vô hiệu. Những hợp đồng mà pháp luật quy định bắt buộc
21


phải thể hiện bằng văn bản mà các bên không tuân thủ các quy định này mới "có thể bị
vô hiệu" chứ không mặc nhiên bị vô hiệu. Khi các bên không tuân thủ các quy định
này và có yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án xem xét và "buộc các bên thực
hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn nhất định, quá thời hạn
đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu".
2.3. Nhận xét đối với quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng dân sự và thực tiễn áp dụng
2.3.1. Một số nhận xét đối với quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực
của hợp đồng dân sự
Pháp luật dân sự quy định về các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng đã góp phần
quan trọng trong việc thiết lập trật tự, kỷ cương xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của cá nhân, pháp nhân và Nhà nước, bảo đảm an toàn pháp lý cho các chủ thể trong giao
lưu dân sự. Việc quy định các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng (cũng như là những
trường hợp dẫn đến hợp đồng dân sự vô hiệu) cũng giúp cho cá nhân, tổ chức tự kiểm tra,
bảo vệ quyền lợi của mình hạn chế việc tham gia vào các hợp đồng, giao dịch có khả
năng vô hiệu dẫn đến việc có thể gây thiệt hại đến quyền lợi của cá nhân tổ chức đó.
Đồng thời đây cũng là cơ sở pháp lý để các cơ quan có thẩm quyền (Tòa án) giải quyết
các tranh chấp dân sự liên quan đến hợp đồng, giao dịch dân sự. Tuy nhiên, các quy định
về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự vẫn còn một số điểm bất cập như sau:
- Nội dung "không vi phạm điều cấm của pháp luật" chưa cụ thể, dẫn đến việc có
thể có nhiều cách hiểu và áp dụng pháp luật khác nhau. Vì vậy, khi giải quyết các
tranh chấp dân sự còn có nhiều cách hiểu, áp dụng pháp luật khác nhau dẫn đến việc
một vụ án dân sự được giải quyết nhiều lần, thời gian tố tụng bị kéo dài.
- Quy định về mối quan hệ giữa hình thức và hiệu lực của hợp đồng vẫn còn chưa
thực sự phù hợp thể hiện ở một số điểm sau:
+ Đồng nhất giữa hình thức của hợp đồng với với trình tự, thủ tục ký kết hợp đồng
để từ đó xác định sự vô hiệu của hợp đồng.
+ Quy định về hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong
Bộ luật dân sự năm 2005 là chưa thống nhất giữa khoản 2 Điều 122 và Điều 134. Quy
định của Điều 134 Bộ luật dân sự năm 2005 là không phù hợp trên thực tế.
- Nội dung quy định hợp đồng vô hiệu do được xác lập bởi người đại diện thực
hiện giao dịch với chính mình tại khoản 5 Điều 144, Bộ luật dân sự năm 2005 là chưa
rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau.
- Các quy định của Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật cùng điều chỉnh về vấn
đề hiệu lực của hợp đồng dân sự trong nhiều trường hợp là chưa có sự thống nhất.
2.3.2. Một số vấn đề từ thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về điều
kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự cần nghiên cứu giải quyết

23


Qua phân tích thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực
của hợp đồng dân sự, tác giả đưa ra một số vấn đề cần nghiên cứu giải quyết như sau:
2.3.2.1. Hạn chế sự vô hiệu hóa các quan hệ hợp đồng dân sự
Để hạn chế sự tùy tiện, thiếu thuyết phục, tôn trọng sự tự do thể hiện ý chí của chủ
thể, pháp luật quy định các điều kiện chủ thể, hình thức của hợp đồng… Tuy nhiên,
theo chúng tôi một số quy định không nên coi chúng như điều kiện có hiệu lực của
hợp đồng như quy định về hình thức ủy quyền.
2.3.2.2. Hạn chế sự thiếu rõ ràng của quy định pháp luật về hợp đồng dân sự vô
hiệu
Sự thiếu rõ ràng trong việc quy định và giải thích thuật ngữ xác định hợp đồng vô
hiệu cũng như xử lý hợp đồng vô hiệu đã gây ra không ít sự lúng túng cho những
người áp dụng pháp luật. Vì vâỵ cần hạn chế việc không thống nhất giữa các quy định
pháp luật, làm rõ khái niệm như: trái pháp luật, lừa dối và lừa đảo, khái niệm hoàn trả

2.3.2.3. Cần phải có quy định rõ ràng, cụ thể trong việc xử lý hợp đồng vô hiệu
Các trường hợp vô hiệu do vi phạm các điều kiện khác nhau có nguyên nhân và
dẫn đến các hậu quả là khác nhau, sự ảnh hưởng của nó đến các quan hệ xã hội là khác
nhau. Vì vậy, cần đưa ra các cách thức xử lý là khác nhau với những hậu quả pháp lý
khác nhau.
2.3.2.4. Về quy định thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng, giao dịch vô hiệu
(Điều 136, Bộ luật dân sự).
Kết luận chương 2
1. Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật khác điều chỉnh quan hệ pháp luật dân sự
đã có nhiều đóng góp trong việc điều chỉnh các quan hệ hợp đồng dân sự, tạo hành lang
pháp lý cho các chủ thể tham giao hợp đồng giao dịch, góp phần thúc đẩy các quan hệ
giao dịch dân sự phát triển, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể cũng như bảo
đảm trật tự an toàn pháp luật chung.
2. Bên cạnh những thành công, Bộ luật dân sự và các văn bản có liên quan vẫn có
những hạn chế nhất định. Đó là việc các quy định còn chưa thống nhất trong việc điều
chỉnh cùng một vấn đề. Nội dung quy định của các điều luật chưa rõ ràng, cụ thể dẫn
đến nhiều cách hiểu khác nhau trong việc áp dụng pháp luật, giải thích pháp luật cũng
như trong việc giải quyết các tranh chấp khi phát sinh. Các biện pháp xử lý hợp đồng
vô hiệu còn rất chung chung, chưa làm rõ sự khác nhau trong xử lý vô hiệu do vi phạm
các điều kiện khác nhau.
3. Ngoài ra, quy định của pháp luật hiện hành về điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng dân sự và xử lý hợp đồng vô hiệu chưa thực sự phù hợp, đảm bảo quyền lợi của
các chủ thể, trong nhiều trường hợp còn tạo cơ hội cho những người làm ăn gian dối,
lợi dụng sơ hở của pháp luật để thực hiện hành vi tiêu cực, trục lợi.
25


Chương 3
THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
ĐỂ GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG VI PHẠM CÁC ĐIỀU
KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG
VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN
3.1. Thực trạng áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp về hợp đồng
vi phạm các điều kiện có hiệu lực
Sự ra đời của Bộ luật dân sự Việt Nam đã tạo cơ sở pháp lý để Tòa án thuận lợi trong
việc xét xử các vụ án dân sự nói chung, các thẩm pháp và cán bộ làm công tác pháp luật
cũng đỡ lúng túng khi áp dụng pháp luật, góp phần lớn trong việc bảo vệ quyền dân sự
cho các chủ thể khi bị xâm phạm, mang lại sự công bằng, tạo niềm tin về an toàn cho các
chủ thể khi tham gia vào giao dịch dân sự. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng Bộ luật dân
sự còn nhiều bất cập có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau: như trên thực tế đời sống
dân sự rất phong phú, đa dạng và phức tạp mà các nhà làm luật không thể lường hết
được mọi tình huống có thể xảy ra, thêm vào đó do trình độ của người áp dụng pháp
luật là khác nhau nên không ít những vụ án có thể còn nhiều những sai sót, phải qua
nhiều lần xét xử vẫn không đúng pháp luật.
Theo số liệu thống kê của Văn phòng TANDTC, tình hình giải quyết tranh chấp
hợp đồng dân sự cụ thể như sau:
Năm 2006
Năm 2007
Số vụ
Số vụ
Tổng án
Tổng án
Số H
số vụ liên
số vụ liên
Đ vô
án quan
án quan
hiệu
DS đến
DS đến



Năm 2008
Số vụ
Tổng án
số vụ liên
án quan
DS đến


Cấp
huyện
- Thụ lý

72.16 32.62
5
7
58.98 28.67
7
4

- Giải
quyết
Cấp tỉnh
- Thụ lý 2.406 701
1.569 205
- Giải
27

82.99 45.14
87.16
1
5
7
67.39
72.35
1.631
651
2
2
2.777
2.902 625
1.732 458
380


quyết
Cấp tối
cao
53
464
476
- Thụ lý 377
- Giải
324
27
414
407
quyết
* Ghi chú: Năm 2006 mẫu bảng thống kê có số liệu về hợp đồng vô hiệu còn từ
2007 trở đi TANDTC không lấy số liệu chi tiết nên không có số liệu về hợp đồng vô
hiệu.
Ngoài ra, do công tác thống kê của chúng ta chủ yếu mang tính chất chung chung,
chưa mang tính khoa học nên số liệu thống kê còn chưa phản ánh hết tình hình áp
dụng pháp luật trên thực tế. Với thực tế công tác là thường xuyên được tiếp xúc với
các giao dịch dân sự, chúng tôi thấy tình hình các giao dịch vô hiệu tồn tại rất nhiều,
các báo cáo tổng kết các ngành vẫn không thể hiện được đầy đủ tình hình thực tiễn,
chưa kể đến cán bộ làm công tác thống kê có thể bị nhầm lẫn về số liệu hay nhầm lẫn
về loại việc, về thẩm quyền mà không được kiểm tra kịp thời. Do vậy, ngoài việc sửa
đổi các quy định của pháp luật cho phù hợp với diễn biến giao dịch dân sự phức tạp,
chúng ta cũng cần phải thường xuyên phân tích đánh giá diễn biến giao dịch dân sự
trong đời sống thực tế một cách khoa học chính xác, hạn chế những giao dịch vô hiệu,
đảm bảo quyền lợi cho người dân khi tham gia giao dịch dân sự, tạo tâm lý yên tâm, tin
tưởng vào chính sách, pháp luật của Nhà nước.
3.2. Những vấn đề đặt ra đối với việc hoàn thiện các quy định của pháp luật
về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật dân sự
Khi xây dựng pháp luật về hợp đồng, mỗi quốc gia đều quan tâm tới việc xác định
các điều kiện có hiệu lực cũng như vô hiệu của hợp đồng. Có thể nói đó là một trong
những vấn đề quan trọng trong chế định hợp đồng.
Các quy định về hợp đồng dân sự và điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự
trong Bộ luật dân sự 2005 được xây dựng trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các quy định
của Bộ luật dân sự 1995. Mặc dù vậy sau một thời gian thi hành, những quy định về
điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự đã phát sinh nhiều điểm chưa hợp lý, thậm
chí còn tiềm ẩn, tạo điều kiện cho một số đối tượng lợi dụng những quy định của pháp
luật để trục lợi, không đảm bảo quyền lợi, mục đích ban đầu của các bên chủ thể khi
tham gia hợp đồng.
Vì vậy, với tư cách là người nghiên cứu pháp luật, lại hoạt động trong cơ quan áp
dụng pháp luật, được tiếp xúc thường xuyên với các hợp đồng dân sự trên thực tế chúng
tôi thấy cần đưa ra những đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về điều
kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự cũng như quy định về hợp đồng vô hiệu để hệ
29


thống pháp luật có sự thống nhất, đồng bộ, chặt chẽ trong cơ chế điều chỉnh pháp luật
về giao dịch dân sự.
3.3. Những đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về điều
kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự
3.3.1. Hoàn thiện lý luận về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự và hậu
quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về điều kiện có hiệu
lực của hợp đồng dân sự
3.3.1.1. Về khái niệm hợp đồng vô hiệu
Để khắc phục những hạn chế hiện có về hợp đồng vô hiệu thì khái niệm hợp đồng
vô hiệu cần phải có các nội dung sau:
- Hợp đồng vô hiệu là hợp đồng không có giá trị về mặt pháp lí. Sự vô hiệu của
hợp đồng không làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý đối với các bên chủ thể.
- Sự vô hiệu của hợp đồng được xác định ngay tại thời điểm hình thành hợp đồng,
kể cả trường hợp hợp đồng đó đã hoặc đang được thực hiện.
- Về nguyên tắc một hợp đồng không đủ điều kiện quy định của pháp luật có hiệu
lực khi được khắc phục các khiếm khuyết sẽ chỉ được coi là có hiệu lực kể từ thời
điểm các khiếm khuyết được khắc phục chứ không phải kể từ thời điểm hợp đồng
được xác lập.
3.3.1.2. Về hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu
Theo chúng tôi, quy định như Điều 137 là còn chưa hợp lý, cần có cách giải quyết
thống nhất và thuyết phục. Khi giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu chúng ta nên
tính đến sự trượt giá của đồng tiền để đảm bảo sự công bằng cho các bên đương sự.
3.3.1.3. Về phân loại hợp đồng vô hiệu
Bộ luật dân sự đã có cách phân chia các trường hợp dẫn đến vô hiệu hợp đồng dân
sự và cách xử lý các trường hợp hợp đồng vô hiệu. Tuy nhiên cần khẳng định, việc
phân loại hợp đồng vô hiệu một phần hay toàn bộ chỉ nhằm xác định giá trị hợp đồng
có tồn tại hay không chứ không phải là căn cứ để xử lý hợp đồng dân sự vô hiệu.
3.3.1.4. Về biện pháp xử lý với hợp đồng không tuân thủ quy định về điều kiện có
hiệu lực của hợp đồng dân sự
Khi xử lý hợp đồng không tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thì việc
đưa các bên trở về vị trí ban đầu trước hết được thực hiện thông qua việc hoàn trả cho
nhau những gì đã nhận được, trong trường hợp không thể thực hiện được việc hoàn trả
sẽ áp dụng chế tài hoàn trả do được lợi không có căn cứ pháp luật và trong trường hợp
có thiệt hại thì bên có hành vi trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.
3.3.1.5. Về quy định hình thức của hợp đồng giao dịch là điều kiện để có hiệu lực
của hợp đồng

31


Việc quy định hình thức là điều kiện bắt buộc trong một số loại hợp đồng giao dịch
như hiện nay là không hợp lý, đồng nhất giữa trình tự thủ tục ký kết (có chứng nhận,
chứng thực) và hình thức thể hiện của hợp đồng (văn bản, lời nói hay hành vi pháp lý).
Mặt khác, quy định về việc khắc phục hậu quả của hợp đồng vô hiệu do không
tuân thủ quy định về hình thức tại Điều 134 là chưa hợp lý trong quá trình giải quyết
hợp đồng giao dịch vô hiệu.
3.3.2. Những đề xuất cụ thể trong việc hoàn thiện pháp luật về điều kiện có
hiệu lực của hợp đồng dân sự
a. Cần loại bỏ những quy định có khả năng đưa đến tình trạng vô hiệu hợp đồng
dân sự có hiệu lực.
Trước hết, theo chúng tôi cần sửa đổi quy định về nội dung "vi phạm điều cấm của
pháp luật". Nội dung quy định trên là rất chung chung. Quy định của pháp luật cần
phải thể hiện một số điểm sau:
- Cần làm rõ nội dung của cụm từ điều cấm của pháp luật trong yếu tố này.
- Làm rõ nghĩa hơn cụm từ nội dung của hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp
luật. Cần phân biệt giữa vi phạm điều cấm của pháp luật và trái pháp luật.
- Mở rộng hơn nữa phạm vi các yếu tố là vô hiệu hợp đồng. Bộ luật dân sự quy
định nội dung hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật là yếu tố làm cho hợp đồng
không phát sinh hiệu lực - hợp đồng vô hiệu mà chưa đề cập đến yếu tố động cơ,
mục đích của việc ký kết cũng như những biểu hiện biến tướng của hành vi lừa dối
để ký kết hợp đồng. Trên thực tế có rất nhiều trường hợp không tìm thấy bất kỳ một
nội dung nào của hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật, song lại thấy động cơ và
mục đích của các bên ký kết là lợi dụng những kẽ hở của pháp luật để giao kết hợp
đồng thu lợi hoặc chiếm dụng vốn của các đối tác. Những hợp đồng này là vi phạm
điều cấm của pháp luật, song không có căn cứ để xác định những trường hợp này vô
hiệu.
- Cần có quy định về hình thức của hợp đồng đầy đủ hơn, phân biệt giữa hình thức
hợp đồng và thủ tục ký kết hợp đồng đề từ đó xác định sự vô hiệu của hợp đồng.
b. Sửa đổi bổ sung các quy định về xử lý tài sản trong hợp đồng dân sự vô hiệu
Khi xử lý hợp đồng vô hiệu, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận dựa
trên chế định sở hữu và được lợi không căn cứ pháp luật. Quy định của pháp luật hiện
hành khi thực hiện việc hoàn trả nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu của các bên là
chưa rõ ràng. Trong một số trường hợp xử lý hợp đồng vô hiệu lại vô hình chung đã
thừa nhận hợp đồng tuyên vô hiệu có hiệu lực. Vì vậy, theo chúng tôi việc khôi phục
tình trạng ban đầu được thực hiện dựa trên những nguyên tắc sau:
- Trước hết các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận được;
-Trường hợp nếu việc hoàn trả không thể thực hiện được bằng tài sản thì việc hoàn
trả sẽ được thực hiện trên cơ sở áp dụng chế định được lợi không căn cứ pháp luật;
33


-Bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật.
c. Nâng cao năng lực áp dụng pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân
sự và các trường hợp hợp đồng vô hiệu
Pháp luật chỉ có thể có tác dụng khi nó được áp dụng vào cuộc sống, tạo thành
những mối quan hệ pháp lý, thể hiện qua những hành vi pháp luật của những cá nhân,
những tập thể nhất định. Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật nói chung và hoàn thiện
pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự nói riêng chỉ thực sự có ý
nghĩa khi có cơ chế áp dụng pháp luật thích hợp, hiệu quả.
Việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật dù có chặt chẽ, hợp lý bao nhiêu thì cũng
không thể tránh khỏi những mâu thuẫn, chồng chéo, những khoảng trống hoặc bất cập
bởi sự đi trước của các quan hệ xã hội so với pháp luật. Việc khắc phục sự chồng chéo
giữa các văn bản luật được thực hiện bởi việc áp dụng nguyên tắc "tương tự" và
nguyên tắc vận dụng pháp luật ban hành sau cùng. Việc khắc phục xung đột quy phạm
được giải quyết bằng cách xác định nguyên tắc áp dụng các quy định pháp luật ưu tiên
đối với các quy phạm của các văn bản có giá trị pháp lý cao hơn hoặc ưu tiên các quy
định chuyên ngành so với các quy định chung.
Ở nhiều nước, các quyết định, bản án của tòa án được coi là nguồn của luật, song ở
nước ta thì án lệ chưa được coi như nguồn luật điều chỉnh các quan hệ về hợp đồng.
Tuy nhiên, thực tiễn xét xử đã thừa nhận các tổng kết chuyên đề của Tòa án nhân dân
tối cao hướng dẫn xét xử như nguồn của luật. Vì vậy, cần coi trọng nguyên tắc áp
dụng tương tự trong vận dụng pháp luật và thừa nhận án lệ trong việc giải quyết tranh
chấp dân sự.
Kết luận chương 3
Từ các nghiên cứu, trình bày trên đây, đề xuất trên chúng tôi có một số kết luận
sau:
1. Cần hoàn thiện các quy định pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
cũng như những quy định về hợp đồng vô hiệu, xử lý hợp đồng vô hiệu theo hướng
quy định cụ thể rõ ràng hơn nội dung của các điều luật. Mở rộng phạm vi dẫn đến vô
hiệu hợp đồng do mục đích, động cơ giao kết hợp đồng là biến tướng của sự lừa dối.
2. Sửa đổi Điều 124, Bộ luật dân sự khoản 2: Phân biệt giữa thủ tục ký kết hợp
đồng và hình thức hợp đồng, tránh tình trạng hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy
định về "trình tự, thủ tục" ký kết.
3. Sửa đổi Điều 137, Bộ luật dân sự khi xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo
nguyên tắc: trước hết là hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, nếu việc hoàn trả không
thực hiện được bằng tài sản thì sẽ thực hiện trên cơ sở áp dụng chế định được lợi
không căn cứ pháp luật, bên có lỗi phải bồi thường thiệt hại.
4. Nâng cao việc tuyên truyền phổ biến pháp luật để giúp các chủ thể của pháp luật
dân sự có kiến thức cơ bản để tự bảo vệ quyền lợi của mình khi giao kết hợp đồng,
35


tránh việc giao kết hợp đồng vi phạm điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, giảm thiểu
tranh chấp trong giao dịch dân sự.
5. Nâng cao năng lực áp dụng pháp luật của cơ quan áp dụng pháp luật. Để thực
hiện được việc này, trước hết cần nâng cao trình độ chuyên môn pháp luật của cán bộ
công chức không chỉ tại cơ quan lập pháp mà còn tại các cơ quan áp dụng pháp luật.
6. Coi trọng nguyên tắc áp dụng tương tự pháp luật, thừa nhận án lệ trong giải
quyết tranh chấp.
KẾT LUẬN
"Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự" là vấn đề quan trọng trong chế định
về hợp đồng. Đây là một đề tài có ý nghĩa lớn về mặt lý luận cũng như thực tiễn góp
phần ổn định quan hệ pháp luật hợp đồng - một quan hệ phổ biến trong quan hệ xã hội.
Từ việc nghiên cứu về lý luận và thực tiễn về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
dân sự, tác giả rút ra một số kết luận cơ bản sau:
1. Chế định hợp đồng là một chế định quan trọng trong đời sống xã hội nhất là khi
kinh tế càng phát triển, xã hội càng văn minh thì chế định hợp đồng càng được coi
trọng, càng được hoàn thiện. Cùng với sự phát triển của xã hội, giao dịch hợp đồng
ngày càng phát triển đa dạng và phức tạp. Vì vậy, pháp luật dân sự cần phải hoàn thiện
hơn, khắc phục những điểm còn chưa phù hợp, hạn chế việc hợp đồng bị vô hiệu, đưa
pháp luật vào thực tế.
2. Quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự là quy định quan trọng.
Tuy nhiên, việc quy định trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện nay còn chưa rõ ràng,
cụ thể dẫn đến việc hiểu và vận dụng pháp luật không thống nhất và chưa đúng, chưa
đảm bảo được quyền lợi của đương sự. Một số quy định điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng dân sự còn chồng chéo, chưa đầy đủ, chính xác dẫn đến việc khó áp dụng, không
đáp ứng được với tình hình quan hệ pháp luật hợp đồng ngày càng phức tạp.
3. Quy định về các trường hợp hợp đồng vô hiệu trong một số trường hợp còn sơ
sài chung chung, không cụ thể dẫn đến tình trạng một số chủ thể đã lợi dụng sơ hở của
pháp luật để ký kết hợp đồng nhằm mục đích vụ lợi không chỉ gây thất thu cho nhà
nước thậm chí còn có những trường hợp lừa đảo người dân, khiến cho mục đích của
quy định pháp luật là đảm bảo quyền lợi của các bên chủ thể tham gia quan hệ hợp
đồng chưa được đảm bảo.
4. Với những kết luận rút ra từ việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về điều kiện có
hiệu lực của hợp đồng dân sự, tác giả luận văn đã đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn
thiện lý luận cũng như pháp luật về quy định điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân
sự và hậu quả pháp lý của những hợp đồng không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của
hợp đồng dân sự (hợp đồng vô hiệu), từ đó đồng thời đưa ra các biện pháp nâng cao
năng lực áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này.
37


5. Trên cơ sở vận dụng các quan điểm của phép duy vật biện chứng, sử dụng các
phương phương pháp nghiên cứu tổng hợp, so sánh, phân tích luận văn đã cơ bản giải
quyết được các vấn đề lý luận thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn như: phân tích
đánh giá các vấn đề lý luận về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự, các tiêu chí
xác định hợp đồng không phát sinh hiệu lực do không tuân thủ quy định pháp luật về
điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự, hậu quả pháp lý của những hợp đồng này
(hợp đồng vô hiệu, phân loại hợp đồng vô hiệu) …
6. Luận văn đã đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn những trường hợp hợp
đồng không tuân thủ quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
dân sự. Trên cơ sở phân tích, đánh giá về những cái được và chưa được của pháp luật
hiện hành, luận văn đã mạnh dạn đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về
điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự…
7. Luận văn cũng đã nêu lên những đề xuất bước đầu về các biện pháp nhằm nâng
cao năng lực áp dụng pháp luật như tăng cường hiệu quả của các đánh giá tổng kết
chuyên đề, các bản án mẫu của Tòa án tối cao.
8. Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở hiện trạng của khái niệm hợp đồng dân sự
để lấy đó làm giả định nghiên cứu về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự và
hậu quả pháp lý của hợp đồng không tuân thủ quy định của pháp luật về điều kiện có
hiệu lực của hợp đồng dân sự. Tuy nhiên cũng cần khẳng định rằng các kết quả nghiên
cứu của luận văn vẫn có giá trị về mặt lý luận cũng như thực tiễn cho dù pháp luật về
điều kiện có hiệu lực của hợp đồng được hoàn thiện theo hướng nào.
Nội dung nghiên cứu của luận văn đã đáp ứng được mục đích nghiên cứu đặt ra và
thực sự có giá trị về mặt lý luận cũng như thực tiễn không chỉ cho hoạt động nghiên
cứu, lập pháp mà ngay cả với hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật nó cũng có thể
được xem là một tài liệu tham khảo có giá trị.

39



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×