Tải bản đầy đủ

Đề cương ôn thi tốt nghiệp môn giáo dục chính trị có đáp án

MÔN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ


Câu 1: Phủ định biện chứng là gì? Phân tích những đặc trưng cơ bản của phủ định
biện chứng?
* Phủ định biện chứng là: Phủ định biện chứng là sự phủ định được diễn ra do sự
phát triển của bản thân sự vật và hiện tượng, có kế thừa những yếu tố tích cực của sự vật
và hiện tượng cũ để phát triển sự vật và hiện tượng mới.
* Những đặc trưng cơ bản của phủ định biện chứng:
- Tính khách quan: Sự tự phủ định do mâu thuẫn bên trong, vốn có của sự vật, là sự
phủ định gắn liền với sự vận động phát triển. Vì vậy, phủ định biện chứng mang tính tất
yếu, khách quan và tạo điều kiện, làm tiền đề cho sự phát triển.
- Tính kế thừa: là sự kế thừa yếu tố tích cực của sự vật cũ và được cải biến đi cho
phù hợp với cái mới. Không có kế thừa thì không có phát triển, nhưng là kế thừa có chọn
lọc. Đây là yếu tố đảm bảo cho các sự vật, hiện tượng phát triển liên tục.
- Tính phong phú, đa dạng: cái mới phủ định cái cũ, nhưng cái mới không phải là
mới mãi, nó sẽ cũ đi và bị cái mới khác phủ định, không có lần phủ định nào là phủ định
cuối cùng. Vì thế giới vật chất tồn tại, vận động phát triển không ngừng, sự vật hiện tượng
nào đó xuất hiện – mất đi – thay thế bằng hiện tượng sự vật mới có tính kế thừa, đó chính
là tính phong phú, đa dạng của phủ định biện chứng.
-Kết luận: Khi xem xét sự vận động phát triển của sự vật, phải xem xét nó trong mối

quan hệ cái mới ra đời từ cái cũ, cái tiến bộ ra đời từ cái lạc hậu, con người phải tôn trọng
tính khách quan, chống phủ định sạch trơn hoặc kế thừa không có chọn lọc.
Cũng như với tư cách của những giáo viên mầm non tương lai, chúng tôi cũng sẽ có
những cái nhìn khách quan, tổng thể về công việc giáo dục mầm non hiện tại, những điểm
tốt - những điểm cần khắc phục, và sẽ có những bước tiến mới, những sáng tạo mới, dựa
trên cơ sở, thành tựu của nền giáo dục mầm non hiện nay, để mong trong tương lai, giáo
dục mầm non ngày càng hoàn thiện và là bước đệm vững chắc đầu tiên cho các thế hệ mới
của đất nước.
Câu 2: Hãy trình bày ý nghĩa của việc học tập chủ nghĩa Mác - Lê nin?
- Học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin giúp chúng ta từng bước xây dựng và
hình thành thế giới quan khoa học, có phương pháp tiếp thu một cách hiệu quả lý luận
mới, những thành tựu khoa học - công nghệ của nhân loại, có niềm tin vào sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân, có cơ sở khoa học chống lại tư tưởng lạc hậu, phản động.


- Hiểu và nắm vững chủ nghĩa Mác - Lênin, mỗi người có điều kiện hiểu rõ mục
đích, con đường, lực lượng, cách thức bước đi của sự nghiệp giải phóng con người, không
sa vào tình trạng mò mẫm, mất phương hướng, chủ quan, duy ý chí. Có cách nhìn xa trông
rộng, chủ động sáng tạo trong công việc, khắc phục chủ nghĩa giáo điều, máy móc, tư
tưởng nôn nóng đốt cháy giai đoạn và các sai lầm khác.
- Học tập các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin giúp học sinh trung cấp chuyên
nghiệp có động cơ học tập đúng đắn, thái độ nghiêm túc trong rèn luyện đạo đức công dân,
ý thức nghề nghiệp của người lao động tương lai. Để đạt được mục đích đó người học cần
chú ý liên hệ từng nguyên lý, có ý thức trách nhiệm trong học tập, rèn luyện, từng bước
vận dụng vào đời sống, xây dựng tập thể, góp phần lớn nhất vào sự nghiệp đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Câu 3: Hãy trình bày nội dung học tập và làm theo tư tưởng tấm gương đạo đức HCM?
-Một là, học trung với nước, hiếu với dân, suốt đời đấu tranh cho sự nghiệp giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
- Hai là, học cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đời riêng trong sáng, nếp sống
giản dị và đức khiêm tốn phi thường.
- Ba là, học đức tin tuyệt đối vào sức mạnh của nhân dân, kính trọng nhân dân và
hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, luôn nhân ái, vị tha, khoan dung và nhân hậu với con
người
- Bốn là, học tấm gương về ý chí và nghị lực tinh thần to lớn, quyết tâm vượt qua
mọi thử thách, gian nguy để đạt được mục đích cuộc sống.
- Năm là, học tấm gương, học suốt đời, học quần chúng, học từ trong thực tiễn, càng
tiến lên càng phải học
Câu 4: Vấn đề chiến lược, đảm bảo thành công của cách mạng Việt Nam trong tư
tưởng HCM là gì? Trình bày nội dung tư tưởng HCM về đại đoàn kết dân tộc?

* Vấn đề chiến lược, đảm thành công của cách mạng VN trong tư tưởng HCM
là vấn đề Đại đoàn kết dân tộc. Đây là tư tưởng cơ bản và xuyên suốt tiến trình cách mạng
VN, là chiếnlược tập hợp mọi lực lượng nhằm hình thành sức mạnh to lớn để giành thắng
lợi. Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc phải được quán triệt mọi đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng.


* Nội dung tư tưởng HCM về đại đoàn kết dân tộc
- Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân:
+ HCM coi đại đoàn kết dân tộc là phải tập hợp được mọi người dân vào một khối
trong cuộc đấu tranh chung. Do đó, ai có tài, có đức, hết lòng hết sức phục vụ tổ quốc,
nhân dân thì ta đoàn kết với họ.
+ Muốn thực hiện được đại đoàn kết toàn dân, phải kế thừa truyền thống yêu nước,
nhân nghĩa, đoàn kết của dân tộc, phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người. Đoàn
kết với tất cả những người yêu nước, không phân biệt tầng lớp, thành phần dân tộc, tín
ngưỡng, chính kiến…
+ Muốn xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc thì phải xác định rõ nền tảng, nền gốc
của khối đại đoàn kết dân tộc và những lực lượng tạo nên nền tảng đó – đó chính là đại đa
số nhân dân, trong đó là công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động khác.
+ Liên minh công – nông – lao động có trí óc là nền tảng của khối đại đoàn kết. Nền
tảng càng được củng cố vững chắc thì khối đại đoàn kết dân tộc càng được mở rộng.
- Mặt trận dân tộc thống nhất là hình thức tập hợp, xây dựng, tổ chức quần chúng:
+ Tổ chức thực hiện khối đại đoàn kết dân tộc là Mặt trận dân tộc thống nhất, đây là
nơi quy tụ mọi tổ chức, cá nhân yêu nước, mọi người dân Việt Nam ở trong nước và nước
ngoài. Mặt trân dân tộc thống nhất phải có cương lĩnh, điều lệ phù hợp với yêu cầu, nhiệm
của từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng.
+ Mặt trận dân tộc thống nhất phải được xây dựng theo các nguyên tắc: theo
nguyên tắc hiệp thương dân chủ, lấy việc thống nhất lợi ích tối cao của dân tộc với lợi ích
của các tầng lớp nhân dân làm cơ sở để củng cố, đoàn kết lâu dài, chặt chẽ, giúp đỡ, học
hỏi lẫn nhau trên lập trường vì nước, vì dân
- Đại đoàn kết dân tộc gắn liền với đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với
sức mạnh thời đại
* Kết luận: Đại đoàn kết dân tộc là tư tưởng lớn, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu
sắc với cách mạng nước ta. Bởi lẽ, đoàn kết là bài học hàng đầu và có tính chiến lược,
quyết định mọi thành công. Biết đoàn kết thì vượt qua khó khăn, thử thách, không đoàn
kết, chia rẽ là thất bại.
“ Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công”


Câu 5: Trình bày giá trị của tư tưởng HCM trong việc định hướng việc giải quyết
những vấn đề của công cuộc đổi mới ở nước ta giai đoạn hiện nay?


Giá trị lý luận
* Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lenin:
- Chủ nghĩa Mác – Lenin là học thuyết cách mạng, khoa học, tiến bộ nhất:
+ Sau những năm buôn ba tìm tòi môt học thuyết thực sự cách mạng, khoa học để

giải phóng dân tộc, HCM đã tìm ra được chủ nghĩa Mác – Le nin. Tư tưởng HCM bắt
nguồn từ chủ nghĩa Mác-Lê-nin, lấy chủ nghĩa Mác-Lê-nin làm nền tảng, nhưng tư tưởng
HCM cũng là sự kế thừa, phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nổi bật là
chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, cả
phương Đông và phương Tây.
- HCM vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lenin trong hoàn cảnh cụ
thể của VN:
+ Tính sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện ở chỗ: trung thành với
những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác- Lênin, đồng thời khi nghiên cứu vận dụng
những nghuyên lý đó, Hồ Chí Minh mạnh dạn loại bỏ những gì không phù hợp với điều
kiện cụ thể ở nước ta, dám đề xuất những vấn đề mới do thực tiễn đề ra và giải quyết một
cách linh hoạt, khoa học, hiệu quả. Vấn đề này chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Lý luận
không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo; lý luận luôn luôn cần được bổ
sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động”
* Tài sản tinh thần to lớn, quý giá của dân tộc:
- Tư tưởng HCM là một hệ thống quan điểm cách mạng, khoa học và tiến bộ, có sức
sống trường tồn, bất diệt, bởi tư tưởng ấy chính là kết tinh của tinh hoa văn hóa dân tộc và
trí tuệ thời đại góp phần giải quyết những vấn đề quan trọng của dân tộc và của toàn nhân
loại đặt ra và đồng thời định hướng đúng đắn cho sự phát triển của mỗi cá nhân và toàn thể
xã hội trong quá khứ, hiện tại, tương lai
- Tư tưởng HCM là sản phẩm của dân tộc và thời đại,phản ánh khát vọng của dân
tộc và thời đại, hướng tới xây dựng nền hòa bình, giành quyền độc lập cho Tổ quốc, ấm no
hạnh phúc cho mỗi con người. Tư tưởng ấy đã cho thế giới thấy dân tộc Việt Nam tuy nhỏ
bé nhưng quyết tâm giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Tư tưởng HCM
còn là ngọn cờ tập hợp tất cả những lực lượng tiến bộ trên toàn thế giới đấu tranh vì hòa
bình, độc lập dân tộc, soi đường chỉ lối cho các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc vùng lên
giải phóng.


- Tư tưởng HCM thực sự đã thấm sâu và phát huy tầm ảnh hưởng to lớn trong đời
sống nhân dân, góp phần hình thành suy nghĩ, phong cách, lối sống của dân tộc.


Giá trị thực tiễn

*Tư tưởng HCM soi sáng cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng
lợi
- Tư tưởng HCM bao gồm hệ thống những quan điểm đúng đắn về chiến lược và
sách lược của cách mạng VN, phản ánh đúng nhu cầu nguyện vọng của nhân dân, nhận
được sự ủng mạnh mẽ, nhiệt thành của toàn thể dân tộc nên từ những năm 20 của TK XX
cho đến nay, TT HCM đã thực sự soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta
giành thắng lợi.
- Từ những năm 30 của TK XX, trong “ Chánh cương vắn tắt” “ sách lược vắn tắt”
HCM đã xác định phương hướng chiến lược của cách mạng VN là “Làm tư sản dân quyền
cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” kết hợp chặt chẽ giữa độc lập
dân tộc và CNXH. Thành công cách mạng Tháng 8 1945 là kết quả của việc tuân thủ
những tư tưởng chỉ đạo trong Cương lĩnh đầu tiên của HCM
- Trong 30 năm chiến tranh vệ quốc và giải phóng dân tộc (1945-1975) dưới ánh
sáng của tư tưởng HCM , nhân dân ta tiếp tục làm nên những thắng lợi lừng lẫy
- Từ 1975 đến 1986 VN tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên phạm vi cả
nước. Trong 10 năm này,do chủ quan nóng vội, chưa quán triệt đầy đủ những tư tưởng chủ
đạo của Hồ Chí Minh nên trong đường lối chỉ đạo của đảng ta có nhiều sai lầm.Đây chính
là nguyên nhân đưa kinh tế xã hội nước ta rơi vào khủng hoảng,ảnh hưởng đến đời sống
của nhân dân ,kìm hãm sự phát triển của đất nước.
Với bước đột phá đổi mới tư duy từ đại hội toàn quốc lần thứ 6 (12/1986) lấy tư
tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng,kim chỉ nam cho mọi hành động ,đảng đã đề ra được
đường lối đổi mới,từng bước đưa đất nước bước qua khủng hoảng kinh tế .
-Trong bối cảnh thế giới hiện nay tư tưởng Hồ Chí Minh giúp chúng ta nhận thức
đúng đắn về những vấn đề lớn của dân tộc và thời đại .Vì thế,tư tưởng của Người thật sự là
nền tảng vững chắc để đảng ta vạch ra đường lối lãnh đạo đúng đắn.
*Định hướng đúng đắn cho việc giải quyết các vấn đề thực tiễn của công cuộc
đổi mới
Sự nghiệp đổi mới ngày càng mở rộng và phát triển theo chiều sâu,những biến đổi
trên thế giới ngày cảng phức tạp ,những vấn đề mới đặt ra càng nhiều,thì việc nghiên cứu


tư tưởng Hồ Chí Minh để tìm ra những định hướng đúng đắn ngày càng trở nên vô cùng
quan trọng.
-

Kiên trì và giữ vững mục tiêu độc lập gắn liền với Chủ Nghĩa Xã Hội :

+Đây là phương hướng chiến lược mà Hồ CHí Minh đề ra trong cương lĩnh chính
trị đầu tiên của Đảng (tháng 2 năm 1930) .Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực
hiện và xây dựng chủ nghĩa xã hội ,là nhân tố bảo đảm cho nền độc lập dân tộc.
+Công cuộc đổi mới của đất nước đang đứng trước những thời cơ ,xong cũng nhiều nguy
cơ thử thách như là : Chệch hướng xã hội chủ nghia , “nguy cơ diễn biến hòa bình” .Thực
tế công cuộc xây dựng tổ quốc đã chứng minh : Kiên trì giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội sẽ đưa sự nghiepj cách mạng Việt Nam tiến lên giành thắng
lợi mới
-

Khai thác và phát huy các nguồn lực của dân tộc và thời đại nhằm phát triển đất
nước

+ Trước hết phải thực sự lấy dân làm gốc,coi dân là chủ của chế độ,quan tâm chăm sóc
nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân,động viên nhân dân tham gia nhiệt tình
vào sự nghiệp xây dựng đất nước
+ Phát huy và thực hành dân chủ được Hồ Chí Minh coi là (chiếc chìa khóa vạn năng) để
tháo gỡ những khó khăn do thực tiễn đặt ra
+ Đào tạo, bồi dưỡng , phát huy nhân tố con người,coi nhân tố con người là động lực
chính quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới.
+ Thực hiện đường lối đối ngoại hòa bình, linh hoạt, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc
với sức mạnh thời đại,nắm bắt cơ hội để xây dựng một nền kinh tế vững mạnh,củng cố an
ninh quốc phòng,chính trị,xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
-Xây dựng Đảng,nhà nước ,hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh ngang tầm
nhiệm vụ.
+ Đảng phải thực sự coi trọng công tác xây dựng đảng đáp ứng được những yêu cầu ngày
càng cao của công cuộc đổi mới đăt ra.
+ Trong hoạt động của minh,đảng,nhà nước phải thương xuyên bám sát thực tiễn tổng kết
lý luận để hoạch định đường lối lãnh đạo đúng đắn ,lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc
đổi mới.
+ Đề phòng, khắc phục những tiêu cực trong hoạt động của đảng,nhà nước và hệ thống
chính trị.


+ Để có thể xây dựng một đảng cầm quyền trong sạch vững mạnh,đòi hỏi đảng phải tập
hơp những con người chân chính giác ngộ,cách mạng và tiến bộ nhất.Đảng phải thực sự là
đạo đức ,là văn minh,là đại biểu cho trí tuệ ,danh dự,lương tâm của dân tộc và của thời đại
như lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh.
-Chấn chỉnh lại đạo đức xã hội ,thiết lập và thực hiện nghiêm những chuẩn mực
đạo đức Hồ Chí Minh
+ Đạo đức Hồ chí Minh là kim chỉ nam định hướng cho chúng ta bởi lẽ nền kinh tế thị
trườngđang tạo ra những lối sống lạnh lung cá nhân ích kỷ coi đồng tiền là trên hết,coi
thường kỷ cương phép nước,chà đạp những chuẩn mực đạo đức xã hội,đe dọa sự phát triển
bền vững của đất nước.Vì vậy,việc chấn chỉnh lại đạo đức xã hội,thiết lập và thực hiện
nghiêm những chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh là một nhiệm vụ vô cùng cấp bách.
Câu 6: HCM quan niệm như thế nào về Nhà nước của dân, do dân, vì dân? Theo
Người, bản chất của Nhà nước được hiểu ra sao?


Quan niệm của HCM về Nhà nước của dân, do dân, vì dân

- Nhà nước của dân:
+ Là nhà nước do dân làm chủ, dân là người có địa vị cao nhất, có quyền quyết định
những vấn đề quan trọng của đất nước. Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu quyền hạn là
của dân, quyền hành và lực lượng đều ở dân. Trong nhà nước ta, dân là chủ thể của quyền
lực thì người cầm quyền, cán bộ công chức nhà nước chỉ là người được ủy quyền, được
nhân dân trao quyền để gánh vác, giải quyết những công việc chung của đất nước.
+ Ví dụ: Khi dân bầu ra các đại biểu, uỷ quyền cho họ bàn và quyết định những vấn đề
quốc kế dân sinh, thì nhân dân có quyền bãi miễn những đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội
đồng nhân dân nếu họ không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.
-Nhà nước do dân:
+Là dân làm chủ nhà nước. Quyền làm chủ Nhà nước của dân rất rộng, trước hết thể
hiện ở chỗ: Nhân dân là người tổ chức nên các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa
phương. Nhân dân có quyền bầu cử, ứng cử thì cũng có quyền thực hiện chế độ bãi miễn,
nhân dân có quyền kiểm tra, kiểm soát, giám sát các hoạt động của các cơ quan nhà nước
do mình cử ra.


+ Nhà nước do dân nghĩa là dân có trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp trí tuệ, sức
người, sức để tổ chức, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước và dân có quyền tham gia
vào việc quản lý, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước.
- Nhà nước vì dân:
+ Là nhà nước phục vụ nhân dân, đem lại lợi ích cho nhân dân và hoạt động theo mục
tiêu : không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân với phương châm : « Việc gì
có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh ». Nhà nước biết
chăm lo mọi mặt đời sống của nhân dân và hướng dẫn dân tự chăm lo đời sống của chính
mình, trước hết là thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu nhất như ăn, mặc, ở, học hành, chăm
sóc sức khỏe.
+ Nhà nước phải biết kết hợp, điều chỉnh các loại lợi ích khác nhau giữa các giai cấp,
tầng lớp xã hội, các bộ phận dân cư để luôn được mọi người dân ủng hộ, xây dựng. Nhà
nước phải thực sự liêm khiết, trong sạch, tránh quan liêu, tham nhũng.


Theo HCM, bản chất của Nhà nước được hiểu như sau :

- Nhà nước nào cũng mang tính giai cấp: Nhà nước bao giờ cũng là công cụ thống trị
của một giai cấp và nhằm bảo vệ lợi ích của một giai cấp nhất định.
- Nhà nước VN mang bản chất của giai cấp công nhân : « Nhà nước ta là nhà nước dân
chủ nhân dân, dựa trên nền tảng liên minh công – nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo »
+ Bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước kiểu mới được thể hiện trên các mặt chủ
yếu sau : Nhà nước luôn được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng Cộng sản. Cơ sở xã
hội của Nhà nước là khối đại đoàn kết toàn dân mà nòng cốt là liên minh công – nông – trí
thức. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống
nhất.
+ Nhà nước ta điều hành, quản lý xã hội bằng pháp luật dựa trên ý chí, nguyện vọng,
lợi ích của giai cấp công nhân và đông đảo quần chúng lao động.
-Trong Nhà nước VN, bản chất giai cấp công nhân thống nhất chặt chẽ với tính nhân
dân và tính dân tộc. Nhà nước dân chủ nhân dân mang bản chất giai cấp công nhân và trở
thành nhà nước của dân, do dân và vì dân.


Câu 7: Phân tích đường lối xây dựng và phát triển văn hóa của Đảng Cộng sản VN
trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội?
- Sự cần thiết xây dựng, phát triển văn hóa:
+ Chủ nghĩa Mác, tư tưởng HCM chỉ rõ vai trò to lớn của văn hóa – là mục tiêu, là động
lực của cách mạng XHCN. Văn hóa VN được hình thành và phát triển qua hàng nghìn
năm lao động sáng tạo, dựng nước và giữ nước, đã hun đúc lên tâm hồn, khí phách, bản
lĩnh của người VN.
+ Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta có nhiều chủ trương xây dựng nền văn hóa VN tuy
nhiên, thành tựu đạt được trong lĩnh vực văn hóa còn chưa vững chắc.
+ Để làm tròn nhiệm vụ là nền tảng tinh thần xã hội, đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước, tất
yếu phải đổi mới, xây dựng nền văn hóa mới.
- Đường lối xây dựng và phát triển văn hóa trong thời kỳ quá độ lên CNXH: Trong
Cương lĩnh năm 2011 khẳng định
+ Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, mục tiêu, động lực thúc đẩy sự phát triển kinh
tế - xã hội, xây dựng nền văn hóa VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn
diện, thống nhất, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ, trở thành sức
mạnh nội sinh của sự phát triển.
+ Văn hóa là một mặt trận, xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp, cách mạng lâu
dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và kiên trì, thận trọng, coi đây là sự nghiệp toàn dân
do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.
+ Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc VN, tiếp thu những
tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng , văn minh, vì lợi ích
con người với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao.
+ Phát triển, nâng cao chất lượng sáng tạo văn học, nghệ thuật, biểu dương các giá trị
chân, thiện, mỹ, phê phán những lỗi thời, đấu tranh chống những biểu hiện phản văn hóa.
+ Đảm bảo quyền được thông tin, quyền tự do sáng tạo của công dân. Phát triển các
phương tiện thông tin đại chúng, hiên đại, thông tin chân thực, đa dạng, kịp thời.


Câu 8: Phân tích đường lối giải quyết các vấn đề xã hội của Đảng Cộng sản VN trong
giai đoạn hiện nay?
-

Sự cần thiết giải quyết các vấn đề xã hội

+ Đường lối giải quyết các vấn đề xã hội bao gồm các chủ trương chính sách về giải quyết
việc làm,nâng cao thu nhập,xóa đói giảm nghèo,chăm sóc sức khỏe,chính sách dân số,an
sinh xã hội,bảo vệ môi trường sinh thái…chính sách xã hội góp gần tăng trưởng kinh tế
nhằm phát triển con người toàn diện.
+ Sự kết hợp chính sách kinh tế với chính sách xã hội là đặc trưng của định hướng xã hội
chủ nghĩa thể hienj bản chất tốt đẹp,nhân đạo của chế độ ta.
+ Trong thời kỳ đổi mới đảng ta có nhiều chủ trương gắn phát triển kinh tế với các vấn đề
xã hội .Tuy nhiên ,hạn chế nổi bật là cơ chế,chính sách về văn hóa xã hội chậm đổi
mới,nhiều vấn đề xã hội bức xúc chưa được giải quyết tốt.Chất lượng dân số còn thấp,vấn
đề việc làm còn nan giải ,sự phân hóa giàu nghèo,tệ nạn xã hội gia tăng,môi trường sinh
thái bị ô nhiễm…
+ Trước yêu cầu đổi mới của cách mạng cần làm tốt hơn những chính sách xã hội,góp
phần nâng cao trí tuệ,thể chất,bồi dưỡng nhân tài,thực hiện chiến lược trồng người,tạo
động lực to lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
-

Đường lối giải quyết các vấn đề xã hội hiện nay

+ Một là, tập trung giải quyết tốt chính sách lao động việc làm và lao động:
Hết sức quan tâm tới yêu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động,giải quyết việc làm cho người
lao động đặc biệt là cho nông dân.Hoàn thiện pháp luật về dạy nghề…Đổi mới phương
thức,nâng cao chất lượng dạy và học,gắn dạy nghề với nhu cầu thực tế.Đẩy mạnh và chấn
chỉnh công tác quản lý ,tổ chức xuất khẩu lao động.
Kiên quyết khắc phục những bất hợp lý về tiền lương ,trợ cấp xã hội,nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ,công chức của hệ thống chính trị.Chăm lo bảo hộ lao động hạn chế tai nạn
lao động,tăng cường thanh tra xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật lao động.
+ Hai là ,đảm bảo an sinh xã hội :
Đảm bảo cho các đối tượng bảo trợ xã hội có cuộc sống ổn định,hòa nhập tốt hơn với công
đồng.Thanh tra , kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội.
Tập trung triển khai có hiểu quả các chương trình xóa đói giảm nghèo ở vùng sâu,vùng xa,
vùng đặc biệt khó khăn. Đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức xóa đói ,giảm
nghèo,để xóa đói giảm nghèo bền vững


+ Ba là, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân và công tác dân số ,kế hoạch
hóa gia đình ,bảo vệ và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em :
Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở,nâng cao năng lực của bệnh viên tuyến huyện
và tuyến tỉnh.Tăng đầu tư nhà nước đồng thời với đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động y
tế .Nâng cao y đức,đấu tranh đẩy lùi tiêu cực trong các hoạt động khám chữa bệnh.
Phát triển mạnh công nghệ dược ,quản lý chặt chẽ thị trường thuốc chữa bệnh. Tiếp tục
kiềm chế và giảm mạnh lây nhiễm HIV . Hoàn thiện hệ thống pháp luật về an toàn thực
phẩm.Thực hiên nghiêm chính sách pháp luật về dân số,làm tốt công tác chăm sóc sức
khỏe sinh sản ,sức khỏe bà mẹ và trẻ em,tạo điều kiện để phụ nữ tham gia học tập,bồi
dưỡng.
Phát triển mạnh phong trào thể dục,thể thao đại chúng .Kiên quyết khắc phục những hiện
tượng tiêu cực trong thể thao.
+ Bốn là,đấu tranh phòng,chống có hiệu quả tệ nạn xã hội ,tai nạn giao thông:
Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền,giáo dục cộng đồng,giáo dục của gia đình đối với
thanh thiếu niên về tác hại của ma túy,mại dâm và các tệ nạn xã hội khác.Đấu tranh quyết
liệt với việc buôn bán ,sử dụng ma túy.
Đề cao trách nhiệm của gia đình,đoàn thể và chính quyền cơ sở trong quản lý,tạo việc làm
cho các đối tượng sau cai nghiện.Có giải pháp kiểm soát và hạn chế tệ nạn mại dâm ,giảm
thiểu tác hại của các tệ nạn xã hội.
Triển khai tích cực, đồng bộ các giải pháp giảm thiểu tai nạn giao thông ,nâng cao hiểu
biết,ý thức chấp hành pháp luật ,đồng thời xử lý nghiêm các vi phạm giao thông.

Câu 9:Trình bày kết quả thực hiện Cách mạng giai đoạn 1975 -1986 và yêu cầu thực
tiễn Cách mạng nước ta lúc đó?
I. ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ THỜI KỲ TRƯỚC ĐỔI
MỚI (1975-1986)
1. Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương xây dựng hệ thống chính trị của Đảng
a) Hoàn cảnh lịch sử
- Thuận lợi:


+ Cả nước hòa bình, độc lập, thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng, có nền chuyên chính
vô sản đã được thử thách, có khối liên minh công nông vững chắc làm nền tảng cho Mặt
trận dân tộc thống nhất và chính quyền cách mạng của nhân dân.
+ Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã và đang lớn mạnh không ngừng; phong trào đôc
lập dân tộc và phong trào cách mạng của giai cấp công nhân đang trên đà phát triển mãnh
liệt… Trên thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng mới về khoa học – kỹ thuật. Quan hệ về
kinh tế và khoa học, kỹ thuật giữa các nước ngày càng mở rộng.
- Khó khăn: chỉ vài năm sau: “đất nước ta rơi vào tình thế vừa có hòa bình vừa phải
đương đầu với một kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực bành trướng bá
quyền, đồng thời phải sẵn sàng đối phó với tình huống địch có thể gây chiến tranh quy mô
lớn”.
b) Chủ trương xây dựng hệ thống chính trị
- Cơ sở hình thành chủ trương:
+ Một là, lý luận Mác – Lênin về thời kỳ quá độ và về chuyên chính vô sản.
+ Hai là, đường lối chung của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới.
+ Ba là, cơ sở chính trị của hệ thống chuyên chính vô sản ở nước ta được hình thành từ
năm 1930 và bắt rễ vững chắc trong lòng dân tộc và xã hội.
+ Bốn là, cơ sở kinh tế của hệ thống chuyên chính vô sản là nền kinh tế kế hoạch hóa tập
trung quan liêu, bao cấp.
+ Năm là, cơ sở xã hội của hệ thống chuyên chính vô sản là liên minh giai cấp của giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.
+ Sáu là, cơ sở lịch sử cho sự ra đời của hệ thống chuyên chính vô sản giai đoạn 1975 –
1986.
- Nội dung chủ trương xây dựng hệ thống chính trị:
+ Xây dựng quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động.
+ Xác định Nhà nước trong chế độ làm chủ tập thể là Nhà nước chuyên chính vô sản, một
tổ chức thực hiện quyền làm chủ tập thể của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
+ Xác định Đảng là người lãnh đạo toàn bộ hoạt động xã hội trong điều kiện chuyên chính
vô sản.
+ Xác định nhiệm vụ chung của các đoàn thể là bảo đảm cho quần chúng tham gia và kiểm
tra công việc của Nhà nước, đồng thời là trường học về chủ nghĩa xã hội.


+ Xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động theo cơ chế Đảng
lãnh đạo, nhân dân làm chủ, nhà nước quản lý.
2. Kết quả, ý nghĩa, hạn chế và nguyên nhân
a) Kết quả và ý nghĩa:
- Trong giai đoạn này, Đảng đã coi làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa là bản chất của hệ
thống chính trị, đã xây dựng mối quan hệ Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước
quản lý thành cơ chế chung trong hoạt động của hệ thống chính trị ở tất cả các cấp, các địa
phương.
- Đã khắc phục được khá nhiều cách hiểu, cách làm chuyên chính cực tả, cực đoan đã từng
diễn ra trong những năm trước đây.
b)

Hạn chế và nguyên nhân:
Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân ở từng cấp, từng đơn vị chưa được xác

định thật rõ; mỗi bộ phận, mỗi tổ chức trong hệ thống chuyên chính vô sản chưa làm tốt
chức năng của mình. Chế độ trách nhiệm không nghiêm, pháp chế xã hội chủ nghĩa còn
nhiều thiếu sót.
II. ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ THỜI KỲ ĐỔI MỚI
1. Quá trình hình thành đường lối đổi mới hệ thống chính trị
a) Cơ sở hình thành đường lối
- Yêu cầu của công cuộc đổi mới kinh tế
- Yêu cầu giữ vững ổn định chính trị - xã hội, mở rộng và phát huy dân chủ xã hội chủ
nghĩa
- Yêu cầu mở rộng đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế
- Yêu cầu khắc phục những yếu kém, khuyết điểm của hệ thống chính trị nước ta trước
đổi mới
b) Quá trình đổi mới tư duy về xây dựng hệ thống chính trị
- Sử dụng khái niệm hệ thống chính trị thay thế khái niệm hệ thống chuyên chính vô sản
- Nhận thức rõ hơn về cơ cấu và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị ở nước ta
- Nhận thức rõ hơn về yêu cầu dân chủ hoá đời sống xã hội
- Đổi mới nhận thức về Nhà nước và Nhà nước pháp quyền
- Nhận thức rõ hơn về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống
chính trị
2. Mục tiêu, quan điểm và chủ trương xây dựng hệ thống chính trị thời kỳ đổi mới


a) Mục tiêu và quan điểm xây dựng hệ thống chính trị
- Mục tiêu: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội do
Đại hội VII thông qua xác định: “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở
nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân”.
- Quan điểm:
+ Một là, dùng khái niệm “hệ thống chính trị” thay cho khái niệm hệ thống chuyên chính
vô sản.
+ Hai là, kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới
kinh tế làm trọng tâm đồng thời từng bước đổi mới chính trị.
+ Ba là, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị không phải là
hạ thấp hoặc thay đổi bản chất của nó mà là nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng,
hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, làm cho hệ thống
chính trị hoạt động năng động hơn, có hiệu quả hơn, phù hợp với đường lối đổi mới toàn
diện, đồng bộ đất nước; đặc biệt là phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
+ Bốn là, đổi mới hệ thống chính trị một cách toàn diện, đồng bộ, có kế hoạch, có bước đi,
hình thức và cách làm phù hợp.
+ Năm là, đổi mới mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị với
nhau và với xã hội, tạo ra sự vận động cùng chiều theo hướng tác động, thúc đẩy xã hội
phát triển; phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
b) Chủ trương xây dựng hệ thống chính trị
- Xây dựng Đảng trong hệ thống chính trị
- Xây dựng Nhà nước trong hệ thống chính trị
- Xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị
3. Kết quả, ý nghĩa, hạn chế và nguyên nhân
a) Kết quả thực hiện chủ trương và ý nghĩa:
- Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị được sắp xếp theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Hoạt
động của hệ thống chính trị ngày càng hướng về cơ sở.
- Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp trong các khóa đã có
nhiều đổi mới theo hướng phát huy dân chủ, cải cách hành chính, công khai các hoạt động
của chính quyền, tăng cường đối thoại, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân.


- Dân chủ trong xã hội có bước phát triển. Trình độ và năng lực làm chủ của nhân dân
từng bước được nâng lên.
- Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước được phân định rõ hơn, phân biệt quản
lý nhà nước với quản lý sản xuất kinh doanh.
- Mặt trận, các tổ chức chính trị - xã hội đã có nhiều đổi mới về tổ chức, bộ máy; đổi mới
nội dung và phương thức hoạt động, đa dạng hóa các hình thức để tập hợp ngày càng đông
đảo các tẩng lớp nhân dân.
- Đảng đã thường xuyên coi trọng việc xây dựng, chỉnh đốn, giữ vững và nâng cao vai trò
lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta trong điều kiện mới.
b) Hạn chế và nguyên nhân
- Hạn chế
+Năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của nhà nước, hiệu quả hoạt
động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội chưa ngang tầm với đòi hỏi
của tình hình.
+ Việc đổi mới nền hành chính quốc gia còn rất hạn chế.
+ Phương thức tổ chức, phong cách hoạt động của Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã
hội vẫn chưa thoát khỏi tình trạng hành chính. Vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ
quốc và các tổ chức chính trị - xã hội còn yếu, chưa có cơ chế thật hợp lý để phát huy vai
trò của Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội.
+ Nạn tham nhũng trong hệ thống chính trị còn trầm trọng, bệnh cục bộ, địa phương còn
khá phổ biến. Quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm.
-

Nguyên nhân:
Nhận thức về đổi mới hệ thống chính trị chưa có sự thống nhất cao, trong hoạch định

và thực hiện một số chủ trương, giải pháp còn lúng túng, thiếu dứt khoác, không triệt để.
Việc đổi mới hệ thống chính trị chưa được quan tâm đúng mức, còn chậm trễ so với
đổi mới kinh tế.
Câu 10: Những hoạt động cơ bản của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1911 – 1925 , qua đó
nêu vai trò của Người với Cách mạng Việt Nam.
1/ Những hoạt động cơ bản của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1911 -1925:
- Ngày 5-6-1911, tại bến cảng Nhà Rồng, trên tàu L’Admiral Latouche Tréville Nguyễn
Tất Thành ( Bác Hồ ) ra đi tìm đường cứu nước vì không tán thành con đường cứu nước


của các vị tiền bối trước đây Người quyết định sang Pháp, sang các nước Âu – Mỹ để xem
họ làm cách mạng như thế nào rối về giúp đồng bào ta tự giải phóng.
- Cuối năm 1912, Nguyễn Tất Thành đến Mĩ. Trong thời gian ở Mĩ, Người tham gia đều
đặn các cuộc họp của UNIP ( Hội tin tưởng cải thiện người da đen của thế giới ).
- Cuối năm 1913, Nguyễn Tất Thành đã đến nước Anh. Thời gian sống ở Anh, Người
không chỉ tìm hiểu học tập mà còn tham gia các hoạt động thực tiễn trong phong trào đấu
tranh của công nhân Anh.
- Năm 1917, Nguyễn Ái Quốc trở lại Pháp. Khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công,
Người tham gia những hoạt động chính trị sôi nổi ngay trên đất Pháp như : tham gia hoạt
động trong phong trào công nhân Pháp.
- Năm 1919: Người tham gia Đảng Xã hội Pháp. Người tìm hiểu phong trào công nhân.
Khi cách mạng tháng Mười thành công, Người bắt đầu chú ý đến tư tưởng của Mác –
Lênin. Người gửi bản “Yêu sách 8 điểm” đến hội nghị Vecxai, đòi các quyền tự do cho
dân tộc Việt Nam, nhưng không được chấp thuận. Từ đó, Người rút ra được nhận xét quan
trọng: không thể dựa vào đế quốc mà phải tiến hành tự giải phóng.
- Tháng 7 - 1920, Nguyễn Ái Quốc đã đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về vấn
đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin, Người như muốn reo lên trước dân tộc “Hỡi đồng bào
bị đọa đày đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng
ta”. Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước cho dân tộc, con đường đi theo chủ
nghĩa Mác – Lênin.
- Năm 1921, Người sáng lập ra Hội Liên hiệp thuộc địa ở Pari để tuyên truyền, tập hợp lực
lượng chống chủ nghĩa đế quốc. Người sáng lập, chủ bút báo “Người cùng khổ”, viết bài
cho báo “Nhân đạo”, “Đời sốngcông nhân”,
- Tháng 6/1923, Người đi Liên Xô dự Hội nghị Quốc tế nông dân và Đại hội lần thứ 5 của
Quốc tế cộng sản (1924).
- Tháng 11/1924, Người về Quảng Châu (Trung Quốc), trực tiếp tuyên truyền lí luận, xây
dựng tổ chức cách mạng cho nhân dân Việt Nam.
Như vậy, Người đã chuẩn bị về mặt chính trị tư tưởng để truyền bá vào Việt Nam.
- Tháng 6/1925, Người thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, mở lớp huấn luyện
chính trị, ra báo Thanh niên.
2/ Vai trò của Người đối với Cách Mạng Việt Nam:


Cách mạng tháng Tám thành công với kết quả nhân dân đã giành được chính quyền từ
tay phong kiến thực dân là kết quả của bao nhiêu xương máu, tính mệnh, biết bao nhiêu
năm đau thương của nhân dân trong cảnh nô lệ lầm than. Đây cũng đỉnh cao hoạt động của
Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trong suốt thời gian Người ra đi tìm đường cứu nước.
Đối với cách mạng tháng Tám, Hồ Chí Minh đóng vai trò to lớn. Người đã tìm đường
cứu nước, mở ra lối đi đúng đắn, sáng suốt và phù hợp với thực tiến hoàn cảnh nước ta. Và
cũng chính Người đã dày công chăm lo, vun đắp cho cách mạng. Người chuẩn bị về nhiều
mặt từ tư tưởng đến tổ chức, từ mối đoàn kết toàn dân đến đoàn kết quốc tế, chuẩn bị từ
lực lượng chính trị đến lực lượng võ trang, đến căn cứ địa; chuẩn bị cho cả tương lai của
đất nước từ nhiệm vụ trước mắt cũng như định hướng lâu dài.
Giai đoạn từ 1911 đến tháng 8 năm 1945 là những mốc son đẹp nhất của Nguyễn Ái
Quốc – Hồ Chí Minh trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người.

Câu 11/Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức theo quan điểm chủ nghĩa duy
vật biện chứng
1/ Định nghĩa
- Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan đem lại cho con người
trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không
lệ thuộc vào cảm giác
- Theo quan điểm của CNDVBC khẳng định rằng ý thức là đặc tính và là sản phẩm của vật
chất là sự phản ánh khách quan vào bộ óc con người thông qua lao động và ngôn ngữ.
2/ Mối quan hệ của vật chất và ý thức theo quan điểm duy vật biện chứng
* Vai trò quyết định của vật chất với ý thức
- Vật chất được hiểu là cơ sở vật chất, điều kiện vật chất, quy luật khách quan là những
tiền đề, cơ sở, nguồn gốc cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của ý thức.
- Điều kiện vật chất như thế nào thì ý thức như thế đó.
- Vật chất quyết định sự ra đời của ý thức cả nội dung,bản chất và khuynh hướng vận
động, phát triển ý thức vì vật chất có trước, ý thức có sau và ý thức là sự phản ánh của vật
chất.


- Vật chất thay đổi, ý thức cũng thay đổi,vật chất phát triển đến đâu ý thức hình thành,
phát triển đến đấy. Vì ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào não người là hình ảnh
của thế giới khách quan, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định nội dung của ý thức.
Vật chất quyết định nội dung bản chất, khuynh hướng vận động của ý thức, vật chất
cũng là điều kiện miêu để thực tiễn hóa ý thức, tư tưởng trong đời sống thực tiễn.
* Ý thức tác động trở lại vật chất
- Ý thức do vật chất quyết định nhưng nó không phụ thuộc hoàn toàn vào vật chất mà có
thể tác động trở lại vật chất, góp phần cải biến thế giới khách quan thông qua hoạt động
thực tiễn của con người.
- Ý thức phản ánh đúng hiện thực khách quan có tác dụng thúc đẩy hoạt động thực tiễn của
con người trong quá trình cải tạo thế giới vật chất.
- Ý thức phản ánh không đúng hiện thực khách quan, có tác dụng kìm hãm hoạt động thực
tiễn của con người trong quá trình cải tạo thế giới vật chất
Ý thức tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động của con người cụ thể nó có thể
thúc đẩy hay kìm hãm ở một mức độ nhất định, các điều kiện vật chất góp phần cải tạo
hình thức khách quan.
Tóm lại: Quan hệ vật chất và ý thức là quan hệ hai chiều tác động biện chứng qua lại,
trong đó vật chất quyết định ý thức còn ý thức tác động trở lại thực tiễn thông qua hoạt
động nhận thức của con người.
3/ Ý nghĩa phương pháp luận:
- Vì vật chất quyết định ý thức, sinh ra ý thức cho nên mọi chủ trương CS hoạt động nhận
thức, hoạt động con người đều phải xuất phát từ hiện thực khách quan và hoạt động tuân
theo quy luật khách quan, nghĩa là chúng ta phải có quan điểm khách quan trong nhận thức
hoạt động thực tiễn.
- Xuất phát từ hiện thực khách quan, không phải từ những cái lẻ tẻ của hiện thực khách
quan, phải xuất phát từ cái chung là quy luật khách quan.
Nghị quết 6 của Đảng là bài học kinh nghiệm là phải nắm vững hiện thực khách quan.
+ Hoạt động tuân theo quy luật (quan điểm khách quan) là nhận thức sự vật phải tôn trọng
chính nó có, phải phản ánh đúng quy luật vận động phát triển của sự vật và chống chủ
nghĩa khách quan, đồng thời chống chủ quan duy ý chí.
- Vì ý thức có tính độc lập tương đối, có tính năng động sáng tạo có thể tác động trở lại vật
chất thông qua hoạt động con người, cho nên cùng với xuất phát từ cái hiện thực khách


quan thì phải phát huy tính năng động chủ quan , tức là phát huy mặt tích cực ý thức, hạn
chế mặt tiêu cực của ý thức.
Ví dụ: Trước một trận đánh làm quyết tâm thư, tự phê bình và phê bình, rut ra những
nhược điểm để tiến bộ, khắc phục những mặt tiêu cực.
Giáo dục nhận thức thông qua phong trào, thực tiễn tư tưởng cục bộ đ phong, đạo đức giả
- Giữa vật chất và ý thức chỉ có đối lập tuyệt đối trong phạm vi nhận thức luận. Ngoài lĩnh
vực đó ra, sự phân biệt chỉ là tương đối (Câu của Lê Nin)
Vì thế một chính sách đúng đắn là cơ sở liên kết hợp hai yếu tố này.
Ví dụ: giáo dục chính trị, tư tưởng gắn liền với khuyến khích lợi ích vật chất như đạt danh
hiệu thi đua, được phần thưởng.
+ Công tác tư tưởng phải gắn liền với công tác tổ chức nếu tuyệt đối hóa yếu tố vật chất,
yếu tố kinh tế mà coi nhẹ ý thức của con người, coi nhẹ tính năng động , sáng tạo của con
người sẽ rơi vào chủ nghĩa duy vật tầm thường, ngược lại nếu tuyệt đối hóa yếu tố ý thức
và coi nhẹ điều kiện vật chất nhất định thì sẽ rơi vào chủ nghĩa chủ quan duy ý chí. Ví dụ:
một thời kỳ đề ra vấn đề công hữu , xây dựng quan hệ sản xuất không dựa trên lực lượng
sản xuất.
Câu 12: Hãy phân tích nội dung cơ bản học thuyết giá trị của chủ nghĩa Mác – Lê nin
Chúng ta ai cũng biết rằng : bất cứ một học thuyết nào ra đời hay hình thành cũng
được dựa trên hai tiền đề là thực tiễn và học thuyết. Bởi lẽ duy học thuyết bắt nguồn từ
thực tiễn quay trở lại thực tiễn để kiểm nghiệm tính đúng đắn và chặt chẽ của nó, hơn nữa
một đăc điểm kinh tế của C.Mác là tính kế thừa và tính phê phán: kế thừa cái đã có, còn
phê phán để tìm ra những hạn chế của học thuyết để lọc bỏ, bổ sung, tái tạo, phát triển và
hoàn thiện.
Về thực tiễn kinh tế: lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất dựa trên thành quả của
cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành chính nó đã tạo ra cơ sở vật chất các phạm trù
kinh tế với tư cách là bản chất của quan hệ sản xuất. Quy luật giá trị ra đời có tác động lớn
và xã hội: điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa. Điều tiết sản xuất tức là điều hòa, phân
bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành các lĩnh vực của nền kinh tế. Tác động này của quy
luật giá trị thông qua sự biến động của giá cả hành hóa trên thị trường dưới tác động của
quy luật cung cầu. Điều tiết lưu thông của quy luật giá trị thông qua giá cả trên thị trường.
Sự biến động của giá cả thị trường cũng có tác động thu hút lượng hàng hóa từ nơi có giá


cả thấp tới nơi có giá cả cao, đó là lưu thông hàng hóa thông xuất. Kích thích cải tiến kỹ
thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng xuất lao động, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát
triển.Trong nền kinh tế háng hóa mỗi người sản xuất hàng hóa là một nền kinh tế độc lập
tự quyết định sản xuất kinh doanh của mình nhưng không được điều kiện kinh doanh của
nhau nên hao phí lao động của mỗi người khác nhau, sự cạnh tranh quyết liệt càng thúc
đẩy quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn, mang tính xã hội, kết quả là lao động sản xuất xã
hội được thúc đẩy phát triển mạnh mẽ. Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hóa người
sản xuất hàng hóa thành người giàu, người nghèo. Quá trình cạnh tranh theo đuổi giá trị
dẫn dẫn đến tất yếu kết quả là: người có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ, kiến thức
cao, trang bị kỹ thuật tốt, có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần
thiết sẽ trở thành giàu có và ngược lại.
1.Điều kiện ra đời:
Phân công lao động xã hội: là sự phân công lao động của xã hội một cách tự phát thành
các ngành nghề khác nhau, phân công lao động xã hội tạo ra sự chuyên môn hóa lao động,
do đó dẫn đến sự chuyên môn hóa sản xuất. Như vậy phân công lao động xã hội là cơ sở,
là tiền đề sản xuất hàng hóa. Phân công lao động xã hội phát triển, thì sản xuất hàng hóa
mở rộng hơn đa dạng hơn.
Sự tách biệt về kinh tế của những người sản xuất: sự tách biệt này do các quan hệ sở
hữu khác nhau về tư liệu sản xuất. Đã xác định người có tư liệu sản xuất là người chiếm
hữu sản phẩm. Nhưng vẫn nằm trong hệ thống phân công lao động.
2.Đặc Trưng:
Sự gia tăng không hạn chế của nhu cầu thị trường là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự
phát triển. Cạnh tranh ngày càng gay gắt buộc mỗi người sản xuất hàng hóa phải năng
động trong sản xuất - kinh doanh. Phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa kinh
doanh sản xuất để tăng năng xuất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm.Cạnh tranh đã
thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ. Thị trường phát triển dẫn tới sự phân hóa xã hội, tiềm ẩn
nguy cơ bị khủng hoảng về kinh tế xã hội… Khi nói đến giá trị chỉ tồn tại trong nền kinh
tế hàng hóa, mang tính xã hội, nó là phạm trù lịch sử. Bất kỳ một vật nào muốn trở thành
hàng hóa đều phải có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị.
Mối quan hệ của hai thuộc tính: Giá trị là nội dung, cơ sở của quá trình trao đổi là
hình thức biểu hiện của giá trị ra bên ngoài. Thực chất của quan hệ trao đổi lượng lao động
hao phí của mình hứa đựng trong các hàng hóa. Vì vậy giá trị biểu hiện giữa người sản


xuất hàng hóa.nếu giá trị sử dụng la thuộc tính tự nhiên thì giá trị thuộc tính xã hội của
hàng hóa 3.Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa: Lao động có ích dưới một hình
thức cụ thể, nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Mỗi lao động cụ thể có mục đích riêng,
đối tượng riêng, phương tiện riêng, phương pháp riêng. Mỗi lao động cụ thể tạo ra một giá
trị nhất định. Lao động cụ thể nhiều loại thì tạo ra nhiều giá trị sử dụng khác nhau, cùng
với sự phát triển của Khoa Học – Kỹ Thuật các hình thức lao động ngày càng phong phú,
nó phản ánh sự phất triển, phân công lao động trong xã hội.
Hình thái giá trị mở rộng: khi luwcjluowngj sản xuất phát triển hơn đây là sự hình
thái giá trị giản đơn tuy nhiên vẫn là trao đổi trực tiếp và chưa cố định Hình thái chung của
giá trị: với sự phát triển cao hơn nữa của lực lượng sản xuất và phân công lao đọng xã hội,
lao động được đưa ra thường xuyên hơn, đa dạng và nhiều hơn. Hình thái tiền tệ: khi lực
lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát triển hơn nữa, sản xuất hàng hóa ngày
càng mở rộng do đó đòi hỏi khách quan phải trao đổi ngang giá chung thống nhất. Vật
ngang giá được cố định lại ở một vật được tôn là phổ biến thì xuất hiện tiền tệ của giá trị.
Tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hóa. Để làm chức năng lưu thong hàng hóa
đòi hỏi phải có tiền mặt. Trao đổi hàng hóa lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hóa
có công thức chung là H-T-H. Lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ là hai mặt của quá
trình thống nhất với nhau. Giá trị đích thực của tiền tách rời với giá trị danh nghĩa của nó.
Câu 13: ND cơ bản TT HCM về công tác xây dựng Đảng
a)

Xây dựng Đảng về tư tưởng, lý luận.
Để đạt mục tiêu cách mạng, Hồ Chí Minh chỉ rõ: phải dựa vào lý luận cách mạng và

khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin. Khi huấn luyện cho cán bộ cách mạng từ năm 1925
đến năm 1927, Hồ Chí Minh khẳng định:"Đảng muốn vừng thi phải có chủ nghĩa làm cốt,
trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa
cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam" [1]; "chủ nghĩa" ấy là chủ
nghĩa Mác - Lênin. Hồ Chí Minh đã ví chủ nghĩa Mác - Lênin như trí khôn của con người,
như bàn chỉ nam định hướng cho con tàu đi, điều đó nói lên vai trò cực kỳ quan trọng của
lý luận ấy trong tất cả các thời kỳ cách mạng. Với ý nghĩa đó, theo Người, chủ nghĩa Mác
- Lênin trở thành "cốt", trở thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động
của Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trong việc tiếp nhận và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin. Hồ Chí Minh lưu ý những
điểm sau đây:
Một là, việc học tập nghiên cứu, tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin phải luôn phù
hợp với từng đối tượng.
Hai là việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin phải luôn luôn phù hợp với từng hoàn
cảnh. Theo Hồ Chí Minh, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin phải tránh giáo điều, đồng thời
chống lại việc xa rời các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác — Lênin. Điều này hoàn
toàn đúng với lời căn dặn của C.Mác. Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đối với những người cộng
sản trên thế giới khi các ông cho rằng: những quan điểm của các ông chỉ là phương pháp
chỉ dẫn hành động trong thực tế.
Ba là, trong quá trình hoạt động, Đảng ta phải chú ý học tập, kế thừa những kinh
nghiệm tốt của các Đảng cộng sản khác, đồng thời Đảng ta phải tổng kết kinh nghiệm của
mình để bổ sung vào chủ nghĩa Mác — Lênin. Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết nêu
lên những vấn đề cơ bản nhất, trên cơ sở đó, mỗi Đảng vận dụng vào hoàn cảnh, điều kiện
riêng của mình. Trong quá trình vận dụng, mỗi đảng lại giải quyết thành công những vấn
đề mới, tổng kết thành những vấn đề lý luận bổ sung và làm giàu thêm nội dung lý luận
Mác - Lênin. Đây là thái độ và trách nhiệm thường xuyên của Đảng ta.
Bốn là, Đảng ta phải tăng cường đấu tranh bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác
— Lênin. Chú ý chống giáo điều, cơ hội, xét lại chủ nghĩa Mác - Lênin; chống lại những
luận điểm sai trái, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác — Lênin.
b)

Xây dựng Đảng về chính trị.
Tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng Đảng về chính trị có nhiều nội dung,

bao gồm: xây dựng đường lối, chính trị, bảo vệ chính trị, xây dựng và thực hiện nghị
quyết, xây dựng và phát triển hệ tư tưởng chính trị, củng cố lập trường chính trị, nâng cao
bản lĩnh chính trị... Trong đó, theo Hồ Chí Minh, đường lối chính trị là một vấn đề cốt tử
trong sự tồn tại và phát triển của Đảng. Hoạch định đường lối chính trị trở thành một trong
những vấn đề cực kỳ quan trọng trong xây dựng Đảng.


Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền có vai trò định hướng phát triển cho toàn xã
hội. Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo chính trị của mình chủ yếu bằng việc đề ra cương
lĩnh, đường lối chiến lược, phương hướng phát triển kinh tế - xã hội cũng như sách lược và
quy định những mục tiêu phát triển của xã hội theo hướng lâu dài cũng như từng giai đoạn.
Đảng muốn xây dựng đường lối chính trị đúng đắn cần phải coi trọng những vấn đề:
đường lối chính trị phải dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng nó
vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta trong từng thời kỳ; trong xây dựng đường lối chính trị.
Phải học tập kinh nghiệm của các đảng cộng sản anh em, nhưng phải tính đến những điều
kiện cụ thể của đất nước và của thời đại trong từng giai đoạn hoặc cả thời kỳ dài: để có
đường lối chính trị đúng, Đảng phải thực sự là đội tiên phong dũng cảm, là bộ tham mưu
sáng suốt của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, và của cả dân tộc.
Hồ Chí Minh lưu ý cần phải giáo dục đường lối, chính sách của Đảng, thông tin thời
sự cho cán bộ, đảng viên để họ luôn luôn kiên định lập trường, giữ vững bản lĩnh chính trị
trong mọi hoàn cảnh. Đồng thời Người cũng cảnh báo nguy cơ sai lầm về đường lối chính
trị sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với vận mệnh của Tổ quốc, sính mệnh chính trị của
hàng triệu đảng viên cũng như của hàng triệu nhân dân lao động.
c) Xây dựng Đảng về tổ chức, bộ máy, công tác cán bộ.
-

Hệ thống tổ chức của Đảng: Hồ Chí Minh khẳng định sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ

tổ chức, một tổ chức tiên phong chiến đấu của giai cấp công nhân. Hệ thống tổ chức của
Đảng từ trung ương đến cơ sở phải chặt chẽ, có tính kỷ luật cao. Mỗi cấp độ tổ chức có
chức năng, nhiệm vụ riêng.
Trong hệ thống tổ chức Đảng. Hồ Chí Minh rất coi trọng vai trò của chi bộ. Bởi lẽ,
đối với bản thân Đảng, chi bộ là tổ chức hạt nhân, quyết định chất lượng lãnh đạo của
Đảng; là môi trường tu dưỡng, rèn luyện và cũng là nơi giám sát đảng viên: chi bộ có vai
trò quan trọng trong việc gắn kết giữa Đảng và quần chúng nhân dân.
Các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng:
+ Tập trung dân chủ


Đây là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng Đảng. Giữa "tập trung" và"dân chủ" có
mối quan hệ khăng khít với nhau, đó là hai vế của một nguyên tắc. Hồ Chí Minh viết về
mối quan hệ đó như sau: Tập trung trên nền tảng của dân chủ: dân chủ dưới sự chỉ đạo tập
trung hoặc. Người viết "Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là
thế nào? Đối với mọi vấn đề mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân
lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người.
Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng
hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý"‘.
+ Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách Hồ Chí Minh giải thích về tập thể lãnh đạo như sau:
"Vì sao cần phải có tập thể lãnh đạo?
Vì một người dù khôn ngoan, tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ
trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc nhiều mặt của một vấn đề, không thể trông thấy
xem xét tất cả mọi mặt của một vấn đề.
Vì vậy, cần phải có nhiều người, nhiều người thì nhiều kinh nghiệm. Người thì thấy
rõ mặt này, người thì trông thấy rõ mặt khác của vấn đề đó.
Góp kinh nghiệm và sự xem xét của nhiều người, thì vấn đề đó được thấy rõ khắp
mọi mặt. Mà có thấy rõ khắp mọi mặt, thì vấn đề ấy mới được giải quyết chu đáo, khỏi sai
lầm" về cá nhân phụ trách, Hồ Chí Minh cho rằng: "việc ai đã được đông người bàn bạc
kỹ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ ràng rồi, thì cần phải giao cho một người hoặc một nhóm
người phụ trách theo kế hoạch đó mà thi hành. Như thế mới có chuyên trách, công việc
mới chạy.
Nếu không có cá nhân phụ trách thì sẽ sinh ra cái tệ người này ủy cho người kia,
người kia ủy cho người nọ, kết quả là không ai thi hành. Như thế thì việc gì cũng không
xong"'
Thực hiện nguyên tắc này trong công tác xây dựng Đảng phải chú ý khắc phục tệ
độc đoán chuyên quyền, đồng thời phải chống lại cả tình trạng dựa dẫm tập thể, không
dám quyết đoán, không dám chịu trách nhiệm.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×