Tải bản đầy đủ

Tiểu luận môn ngân hàng thương mại nâng cao rủi ro thanh khoản tại ngân hàng

LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng là một tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. Ngân hàng bao
gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài
chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về
quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng. Là một trong những mắt xích
quan trọng của bất kỳ nền kinh tế nào, trung gian tài chính, một nhân vật không thể
thiếu trong nền kinh tế quốc dân.Chính vì vậy hệ thống ngân hàng quốc gia hoạt động
thông suốt, lành mạnh và hiệu quả là tiền đề để các nguồn lực tài chính khác tăng
trưởng một cách bền vững.Sự sống còn của các ngân hàng thương mại có liên quan
mật thiết tới toàn bộ đời sống kinh tế - chính trị - xã hội của một quốc gia.
Với tư cách là một doanh nghiệp, một doanh nghiệp đặc biệt nên Ngân hàng không
thể tránh khỏi rủi ro kinh doanh.Mà một trong những rủi ro quan trọng nhất trong kinh
doanh ngân hàng là rủi ro thanh khoản. Hay nói một cách khác là mất khả năng thanh
toán.Vì vậy tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến việc mất khả năng thanh khoản? Và
làm thế nào để lượng hoá được nó, là vấn đề sống còn của một ngân hàng.

I. CÁC NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN RỦI RO THANH KHOẢN
Các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính ngân hàng đã chỉ ra 5 nguyên nhân dẫn đến
rủi ro trong tính thanh khoản của các ngân hàng thương mại trong thời gian qua.
-


Thứ nhất: Tăng trưởng tín dụng quá nóng.

Sự tăng trưởng tín dụng quá nóng của các ngân hàng thương mại đi kèm với cơ cấu
đầu tư không hợp lý, tập trung lớn vào đầu tư bất động sản chạy theo lợi nhuận sẽ phát
sinh rủi ro cao khi thị trường đóng băng, tạo sự mất cân đối về kỳ hạn giữa tài sản có
1

1


và tài sản nợ do ngân hàng đã sử dụng quá nhiều nguồn vốn ngắn hạn để cho vay dài
hạn. Chính điều này đã tạo ra sự rủi ro thanh khoản cao đối với ngân hàng thương
mại”.
-

Thứ hai: Công tác dự báo và phân tích thị trường của các ngân hàng thương mại
(NHTM) còn nhiều hạn chế.
Các NHTM còn có tư tưởng ỷ lại quá nhiều vào cơ chế nhà nước, trong khi các ngân
hàng nước ngoài, ngoài việc chấp hành nghiêm túc các tỷ lệ an toàn còn thường xuyên
nghiên cứu, dự báo sát các diễn biến của thị trường nên đã dự phòng vốn thanh khoản
và điều chỉnh kịp thời, không bị động trước những tác động thị trường.

-

Thứ ba: Tính liên kết hệ thống giữa các NHTM để đảm bảo an toàn thanh toán còn
yếu.
Tính liên kết hệ thống giữa các NHTM để đảm bảo an toàn thanh toán còn yếu tạo sự
cạnh tranh không lành mạnh, đẩy lãi suất lên cao tạo khe hở cho khách hàng gửi tiền
“làm giá, tăng lãi suất” hoặc rút tiền chuyển sang các NHTM khác dẫn đến làm suy
yếu khả năng chống đỡ thiếu hụt thanh khoản của hệ thống.
-

Thứ tư: Vấn đề quản trị thanh khoản tại các NHTM chưa tốt.

Do sự yếu kém từ quản trị tài sản nợ, có của các NHTM và sự thiếu hụt của các công
cụ quản lý hữu hiệu…Ngân hàng Nhà nước cũng khó nắm bắt chắc chắn tình hình
thanh khoản cũng như sự thay đổi lớn trong tài sản của mỗi NHTM để điều chỉnh quy
định của mình.
-


Thứ năm: Xuất phát từ phía khách hàng

Đây được đánh giá là nhóm nguyên nhân khiến các ngân hàng khó có thể dùng công
cụ thị trường để điều tiết có hiệu quả thanh khoản của các ngân hàng. Trong điều kiện
thông tin bất cân xứng, lại chưa minh bạch, một số khách hàng (kể cả pháp nhân) đã
rút tiền ra khỏi ngân hàng này và chuyển sang ngân hàng khác, dân cư rút tiền để mua
vàng, mua đô la Mỹ để tích trữ…đã làm tăng tính bất ổn của thị trường, nội và ngoại
tệ, gây khó khăn cho chính khách hàng đã và đang sử dụng dịch vụ gửi và vay tiền tại
ngân hàng.
Ngoài những nguyên nhân trên, còn có nhiều nguyên nhân như: do các giao
dịch bằng ngoại tệ tại các NHTM chủ yếu tập trung vào một loại ngoại tệ là USD;
2

2


những tác động trực tiếp từ các loại rủi ro khác trong hoạt động ngân hàng cũng gây
ảnh hưởng không nhỏ tới rủi ro thanh khoản; hiện tượng một số tập đoàn, Tổng công
ty Nhà nước chuyển tiền hoặc rút tiền với khối lượng lớn; yếu kém trong công tác kế
hoạch hóa và quản trị điều hành…
II. RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG BARINGS
2.1. Giới thiệu sơ lược về ngân hàng Barings
Barings là ngân hàng thương mại lâu đời, được thành lập vào năm 1762 và có uy tín
nhất tại London. Đây là ngân hàng cá nhân của Nữ Hoàng và đã từng tài trợ cho cuộc
chiến của Napoleon vào thế kỷ 19. Quá trình hình thành và phát triển của Baring gắn
liền với nhiều mốc lịch sử quan trọng:
Từ năm 1762-1890
Barings dần dần đa dạng từ len vào nhiều loại hàng hóa khác, cung cấp dịch vụ tài
chính cần thiết cho sự tăng trưởng nhanh chóng của thương mại quốc tế. Từ 1790,
Barings đã mở rộng đáng kể nguồn lực của mình, thông qua những nỗ lực mở rộng
hoạt động ở London và thực hiên liên kết với các ngân hàng hàng đầu Amsterdam.
Barings tập trung phát triển từ châu Âu đến châu Mỹ, tin rằng cơ hội lớn hơn nằm ở
phương Tây. Vào năm 1832, một văn phòng Barings được thành lập vào Liverpool
đặc biệt để tận dụng cơ hội Bắc Mỹ mới. Năm 1843, Barings đã trở thành đại lý độc
quyền cho chính phủ Mỹ, một vị trí mà họ tổ chức cho đến năm 1871.
Vào những năm 1870 Barings ngày càng tham gia vào chứng khoán quốc tế, đặc biệt
là từ Hoa Kỳ, Canada , và Argentina.
Sau đó vào những năm 1880 Barings gặp rắc rối nghiêm trọng r ảnh hưởng suy thoái
kinh tế ở Argentina và Uruguay , khiến đất nước đã gần vỡ nợ và mất khả năng
thanh toán nợ.
-

Từ năm 1891-1929

Mặc dù cứu hộ để bảo lãnh Barings ra và hỗ trợ tái cơ cấu ngân hàng tránh sự sụp đổ
tài chính trên toàn thế giới, Barings không bao giờ lấy lại được vị trí thống trị của nó.
-

Từ năm 1929-1995

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chính phủ Anh sử dụng Barings thanh lý tài sản tại
Hoa Kỳ và các nơi khác để tài trợ chiến tranh. đến năm 1995Sau chiến tranh, Barings

3

3


đã vượt các ngân hang khác vượt qua quy mô và ảnh hưởng bởi các nhà ngân hàng
khác, nhưng vẫn là một cầu thủ quan trọng trong thị trường cho
-

Năm 1995 sụp đổ

Chỉ trong vòng có một tuần lễ, Nick Leeson đã làm tiêu tan trong mây khói gần 1 tỷ
euros bằng số tiền mà ngân hàng này tích luỹ hàng năm trong suốt gần 250 năm thành
lập đến này. Sự kiện này đã gây chấn động hệ thống ngân hàng nước Anh vì Barings
là một ngân hàng danh tiếng và rất có uy tín tại Anh
2.2 Diễn biến rủi ro thanh khoản tại ngân hàng Baring
Cơ ngơi hơn 200 năm của gia đình Barings bị sụp đổ bởi một bàn tay của Nick
Leeson – ngôi sao được lên trang bìa của tờ The time sau khi vỡ lở các gian lận kế
toán ở Barings Bank chi nhánh tại Singapore. Nguyên nhân của khoản lỗ 827 triệu
Bảng Anh (tương đương 1,3 tỷ USD lúc bấy giờ) là do Leeson đã đầu cơ vượt quá
thẩm quyền vào các hợp đồng tương lai trên thị trường Nikkei , Nhật Bản. Tuy nhiên,
khoản lỗ này không dễ dàng bị phát hiện, vì Barings Singapore vẫn báo cáo lãi trong
suốt giai đoạn 1993 – 1995. Thủ thuật nào giúp Nick Leeson làm việc này? Chính là
cross trade và sử dụng suspense account 88888 để che dẫu các khoản đầu tư thua lỗ.
Lúc đó, Peter Barings, 59 tuổi, thế chân người anh ruột nắm cương vị giám đốc
Ngân hàng Baring, đang rất thành công trên thị trường tài chính ngân hàng châu Âu.
Cũng năm đó, Nick Leeson (sinh ngày 25 tháng Hai năm 1967 tại Watford- Anh
Quốc) được bổ nhiệm phụ trách Chi nhánh của Barings tại Singapore, một vị trí được
đánh giá là cũng rất quan trọng. Điều trái ngược trong đợt bổ nhiệm này là Peter
Barings tốt nghiệp ở trường Eton, một trường chỉ dành riêng con nhà giàu; cònNick
Leeson mặc dù tốt nghiệp ở Cambridge nhưng đã từng trượt phổ thông tại một trường
trung học ngoại ô London và “dốt đặc” về môn toán như mọi người thường nói. Thế
nhưng, vào giữa thập kỷ 90, chính một mình Nick Leeson lại thu về 30% tổng số lợi
nhuận của ngân hàng Barings. Điều này lúc đó được đánh giá là một nỗ lực phi
thường!
Với ngân hàng Barings, kinh doanh theo lối cũ chưa bao giờ đem lại được số lợi
nhuận lớn như vậy. Và lúc đó, nhân viên ngân hàng Nicolas Leeson hoạt động trên thị
trường dẫn xuất có thể bán lại với giá cao hơn 200 lần. Thị trường này cũng được
đánh giá là rất nhiều rủi ro. Chính bản thân Peter Barings đã phải thốt ra: “Thị trường
4

4


mới này cần được kiểm tra và làm chủ, đó là điều chúng tôi đang làm ở đây”. Tuy
nhiên, trên thực tế Barings ở London nhắm mắt làm ngơ, để mặc cho Nick Leeson
muốn làm gì thì làm. Nick Leeson nắm cả khâu kinh doanh lẫn khâu kiểm soát, thật
là một điều hiếm thấy trong kinh doanh ngân hàng.
Sự việc bắt đầu tồi tệ sau vụ động đất ở Nhật Bản. Chỉ số chứng khoán Nikkei tại
Nhật Bản bất ngờ sụt thấp trong khi Nick Leeson lại đặt cược là lên. Lẽ ra phải dừng
ngay lại nhưng Nick Leeson vẫn tiếp tục mua vào các hợp đồng, mỗi hợp đồng lên
đến 180 nghìn bảng Anh khiến tổng số tiền tung ra lên tới 21 triệu euros. Cách làm
này của Nick Leeson chẳng khác gì hành động của một “con bạc đang khát nước”.
Một ngày sau đó, Peter Barings bị chuông điện thoại réo vang đánh thức. Từ đầu dây
bên kia người ta báo là Nick Leeson đã biến mất. Chiến dịch che dấu sự thật ở Ngân
hàng Barings vẫn tiếp tục được tiến hành. Vào thời gian ở London đang diễn ra cuộc
họp thứ hai tại trụ sở Ngân hàng Barings, Peter Barings đề nghị nhường chức chủ tịch
Ngân hàng Barings cho ai đó có thể cứu giúp. Thống đốc Ngân hàng Anh từ chối ký
séc cho Barings vay.
Sau đó một tháng, Deustche Bank đã đề nghị mua lại Barings với giá 1 tỷ bảng Anh.
Đến lúc này, chẳng còn cần đề cập đến vấn đề này với ai hết.
Barings chỉ là một trong vô số những vụ bê bối tài chính của các ngân hàng trên thế
giới. Lòng tin của người tiêu dùng vào ngân hàng giảm thì các ngân hàng cũng khó có
thể tồn tại được. Mặc dù chịu sức ép rất lớn trong việc cải tổ, nhiều ngân hàng lớn trên
thế giới vẫn rất “ung dung” coi mình đang “ngồi chiếu trên” với số lượng tài sản
khổng lồ. Điều này thật là nguy hiểm, bởi có lẽ nhiều người cũng biết rằng Barings đã
là một trong những ngân hàng lớn nhất nước Anh nhưng khi lâm vào tình trạng nguy
kịch thì “cây đại thụ” này cũng sụp đổ rất nhanh.
Barings sụp đổ vì nó không thể đáp ứng các nghĩa vụ thương mại rất lớn, mà Leeson
tạo ra dưới tên của ngân hàng. Khi ngân hàng Barings bắt đầu hoạt động quản lý tài
sản vào ngày 27 tháng Hai năm 1995, thông qua Leeson, đứng đầu bộ phận kinh
doanh hợp đồng giao sau trên chỉ số chứng khoán và lãi suất Nhật Bản với tổng giá trị
là 27 tỷ USD: gồm 7 tỷ USD trên hợp đồng chỉ số chứng khoán Nikkei 225 và 20 tỷ
USD vào giao dịch trái phiếu chính phủ Nhật Bản (JGB) và Euroyen. Leeson cũng đã
bán 70.892 hợp đồng quyền chọn bán và quyền chọn mua chỉ số Nikkei với tổng giá
5

5


trị danh nghĩa là 6,68 tỷ USD. Khối lượng giao dịch danh nghĩa của các vị thế này là
rất hấp dẫn, tầm vóc của chúng là đáng kinh ngạc khi so sánh với các ngân hàng có
vốn đầu tư khoảng 615 triệu USD.
Làm thế nào mà Leeson có thể lừa dối tất cả mọi người xung quanh? Làm thế nào ông
có thể cho thấy lợi nhuận trong hoạt động “chuyển đổi” của mình khi ông đã thực sự
thua lỗ? Làm thế nào ông có thể tạo ra một sổ sách giả tạo khi ông ở vị thế mua chỉ số
Nikkei và vị thế bán về lãi suất của Nhật Bản?
Ban Giám sát Ngân hàng (Bobs) của Ngân hàng Anh đã tiến hành một cuộc điều tra
về sự sụp đổ của Barings tin rằng "Công cụ được sử dụng để thực hiện việc lừa dối là
giao dịch chéo." Một giao dịch chéo là một giao dịch được thực hiện trên sàn giao
dịch bởi một nhà môi giới vừa là người mua vừa là người bán. Nếu một nhà môi giới
có lệnh mua và lệnh bán phù hợp từ hai tài khoản khách hàng khác nhau cho các hợp
đồng tương tự và ở cùng một mức giá, thì môi giới ấy được phép thực hiện các giao
dịch thỏa thuận bằng cách kết hợp cả hai tài khoản khách hàng của mình. Tuy nhiên,
nhà môi giới chỉ có thể làm điều này sau khi đã thực hiện công khai giá đưa ra và
cung cấp mức giá trong “rỗ giá” và không có thành viên nào khác đưa giá lên. Theo
quy định của SIMEX, nhà môi giới phải công khai giá ba lần. Giao dịch chéo phải
được thực hiện theo giá thị trường. Leeson đã nhập vào một khối lượng đáng kể các
giao dịch chéo giữa tài khoản '88888' và tài khoản '92000' (TK giao dịch Chứng
khoán Nikkei và Kinh doanh Arbitrage JGB của Barings tại Nhật Bản), tài khoản
'98007' (TK Kinh doanh Arbitrage JGB của Barings London) và tài khoản '98008' (TK
Kinh doanh Arbitrage Euroyen của Barings London).
Sau khi thực hiện các giao dịch chéo này, Leeson sẽ hướng dẫn các nhân viên của
mình phá vỡ tổng số hợp đồng sang các giao dịch khác, và thay đổi giá giao dịch để
tạo ra mức lợi nhuận được ghi có vào các tài khoản „'chuyển đổi' nói trên và thiệt hại
thì sẽ được tính vào tài khoản '88888 '.
Vì vậy trong khi các giao dịch chéo trên Sàn giao dịch xuất hiện với mặt là chân thực
và thỏa các quy định của Sàn Giao dịch, sổ sách và chứng từ của BFS, duy trì trên hệ
thống Contac- một hệ thống thanh toán được sử dụng rộng rãi bởi các thành viên
SIMEX, phản ánh các cặp giao dịch tăng lên với số lượng giống nhau ở cùng mức giá
và không có sự liên quan, quan hệ nào với những người thực hiện trên sàn. Ngoài ra,
6

6


Leeson sẽ tham gia vào các giao dịch chéo của các gói có kích thước nhỏ hơn so với ở
trên, nhưng khi nhập vào hệ thống Contac, ông sẽ sắp xếp mức giá được sửa đổi, một
lần nữa cho phép lợi nhuận được ghi có vào tài khoản chuyển đổi và thiệt hại được
tính vào tài khoản '88888 '.
Xuất phát từ sự việc Nick Leeson làm việc tại văn phòng Singapore của Barings
Bank. Ông này tiến hành hàng loạt giao dịch ngoài thẩm quyền với chỉ số Nikkei
Index Futures, ban đầu thu lời lớn cho ngân hàng và thưởng đạm cho bản thân. Sau vụ
động đất Kobe năm 1995, thị trường lao dốc còn Leeson lỗ nặng gây thiệt hại lớn 1,4
tỷ USD cho Barings Bank. Ông bỏ trốn khỏi Singapore, để lại lời nhắn “Tôi xin
lỗi”.Sự việc của Nick Leeson bị phát giác khiến hàng loạt khách hàng của Barings
Bank đổ xô tới rút tiền.Thế nhưng, do lượng tiền dự trữ không thể đáp ứng nhu cầu rút
tiền của khách hàng ,các biện pháp ngăn chặn việc rút tiền ồ ạt không hiệu quả vì đã
đánh mất lòng tin của khách hàng và việc cầu cứu tới sự giúp đỡ của ngân hàng nhà
nước thất bại khi thống đốc Ngân hàng Anh Eddie George từ chối kí tấm séc cho
Barings vay.Eddie George biết rằng Ngân hàng Barings chưa phải là tầm cỡ mà sự suy
sụp của ngân hàng có thể đe dọa toàn bộ hệ thống ngân hàng Anh.Năm tuần sau,
Barings Bank tuyên bố mất khả năng thanh toán.
2.4. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản tại ngân hàng Barings.
Trong hơn ba năm qua đã có nhiều báo cáo khuyến nghị những phương pháp quản lý
rủi ro tốt nhất. Ngân hàng Barings gần như vi phạm ở mọi mặt. Bởi vì hệ thống quản
lý của ngân hàng Barings đã phạm sai lầm trong việc thiết lập một hệ thống kiểm soát
quản trị, tài chính và hoạt động đúng đắn, công ty đã không nắm bắt được cho tới khi
những việc mà Leeson bị vỡ lẽ ra. Kể từ khi nền tảng của việc kiểm soát trở nên yếu
kém, không có gì ngạc nhiên khi hệ thống kiểm tra mỏng manh và lỗi quyết toán của
công ty xảy ra ở nhiều cấp hoạt động, quản lý và ở nhiều địa điểm.
Những nguyên nhân cốt lõi khiến ngân hàng rơi vào khủng hoảng :
(a) Sự không tách biệt bộ phận kinh doanh và bộ phận kiểm soát:

Việc quản lý ở Barings đã phá vỡ một quy tắc cốt yếu của bất kỳ hoạt động
kinh doanh nào - họ để mặc cho Leeson giải quyết các giao dịch bằng cách cho
Leeson nắm quyền cả khâu kinh doanh và khâu kiểm soát. Điều này tương
đương với việc cho phép người tiếp nhận tiền mặt cũng là người giữ tiền đến
7

7


trong ngày mà không có một bên thứ ba độc lập kiểm tra xem số tiền ngân
hàng tại cuối ngày có cân bằng với các chứng từ đến.
Kể từ khi Leeson phụ trách bộ phận kinh doanh, ông đã quyết định về thanh
toán, xác nhận nguồn thu đầu vào, đầu ra và hợp đồng, cân bằng báo cáo, sổ kế
toán và báo cáo phân tích. Ông đã bố trí hoàn hảo việc chuyển tiếp thông tin
sai về London.
Ban quản lý của Barings đã kết hợp những sai lầm ban đầu trong việc không
tách biệt các nhiệm vụ của Leeson bằng cách bỏ qua cảnh báo rằng việc kéo
dài tình trạng hiện tại sẽ rất nguy hiểm. Một Báo cáo kiểm toán nội bộ vào
tháng tám năm 1994 đã kết luận rằng trách nhiệm kép cho cả bộ phận kinh
doanh và bộ phận kiểm soát là "một tập trung quyền lực quá mức". Báo cáo
cảnh báo rằng có một rủi ro chung đáng kể là Tổng giám đốc (Ông Nick
Leeson) có thể không quan tâm đến sự kiểm soát.
(b) Thiếu trách nhiệm và kỹ năng quản lý của các nhà quản lý cấp cao nên hoạt
động ngân hàng :
(c) Điểm mấu chốt của sự sụp đổ của Barings nằm ở thái độ bàng quan của quản
lý cấp cao đối với hoạt động phái sinh ở Singapore. Tất cả các báo cáo quan
trọng về quản lý rủi ro phái sinh đều nhấn mạnh sự cần thiết của các nhà quản
lý cấp cao cần hiểu những rủi ro của doanh nghiệp, để giúp nói lên sức hấp
dẫn rủi ro của công ty và dự thảo chiến lược và các thủ tục kiểm soát cần thiết
để đạt được những mục tiêu này.
Không có một quản lý cấp cao nào ở London kiểm tra xem các khuyến nghị
quan trọng của kiểm toán nội bộ đối với bộ phận kinh doanh ở Singapore có
được theo dõi hay không.Quản lý cấp cao Barings đã có một kiến thức rất hời
hợt về các công cụ tài chính phái sinh và không muốn thăm dò quá sâu vào lĩnh
vực đang mang lại lợi nhuận. Sự khác biệt kinh doanh ngang giá lãi suất giữa
hai hợp đồng tương lai là một chiến lược có rủi ro thấp. Làm thế nào để nó có
thể tạo ra lợi nhuận cao như vậy nếu các tiên đề trung tâm của lý thuyết tài
chính hiện đại là lợi nhuận thấp rủi ro thấp, lợi nhuận cao rủi ro cao? Và nếu
như có rủi ro thấp và chênh lệch tương đối đơn giản có thể mang lại rất nhiều
lợi nhuận, thì tại sao các đối thủ có vốn tốt hơn Barings (các công ty giao dịch
với tài sản lớn hơn) không theo đuổi cùng một chiến lược?
(d) Cấp những nguồn vốn vợi rủi ro lớn :
8

8


Có hai khía cạnh về vấn đề này - một tổ chức phải có đủ vốn để chịu được tác
động của bất lợi thị trường đối ngược với vị thế đang tồn tại cũng như đủ tiền
để duy trì vị thế này. Các nhà quản lý Barings nghĩ rằng vị thế mà Leeson chọn
là trung lập với thị trường và do đó khá an toàn để đáp ứng các yêu cầu ký quỹ
cho đến khi các hợp đồng hết hạn. Cuối cùng, quyền chọn mua các tài sản thế
chấp từ SIMEX và OSE tỏ ra quá sức chịu đựng (như đã được chỉ ra trước đó,
chúng đã lớn hơn vốn cổ phần của Barings) và tổ chức 200 tuổi này đã buộc
phải cầu cứu các cơ quan quản lý tài sản. Chính việc cấp vốn với những rủi ro
đã làm Barings bị tổn thất nghiêm trọng trừ phi phần đóng góp cuối từ việc
phát hiện ra vị thế cực lớn đã không được ngăn chặn lại.
(e) Quy trình kiểm soát lỏng lẻo:
Về mặt lý thuyết, Leeson đã có rất nhiều người giám sát nhưng trong thực tế
không thực hiện bất kỳ sự kiểm soát nào với anh ta. Barings vận hành hệ thống
quản lý ma trận, nơi mà những người quản lý dựa trên báo cáo nước ngoài đối
với các quản trị viên địa phương và một đầu sản phẩm .
Thủ tục kiểm soát ở Barings là quá lỏng lẻo. Barings đã không yêu cầu Leeson
tách biệt giữa ký quỹ bổ sung để đáp ứng cho giao dịch bảo vệ vị thế và giao
dịch của khách hàng, nó cũng không có một hệ thống để hòa giải các quỹ mà
Leeson đã đề nghị trong các báo cáo vị thế của Leeson cũng như vị thế của
khách hàng.
Thực tế là không có sự xác minh các yêu cầu của Leeson gồm chi tiết về
nhu cầu quá lớn của ông ta .Vào cuối tháng 12 năm 1994, nguồn tài trợ vốn
tích lũy của BFS từ Barings London và Tokyo cung cấp ở mức 354 triệu USD.
Trong hai tháng đầu năm 1995, con số này tăng lên 835 triệu USD, đạt đến 1,2
tỷ USD.
(c) Rủi ro thị trường:
Ngày 17-1-95 một trận động đất dữ dội đã tàn phá thành phố hải cảng Kobe.
Thoạt tiên, Barings và các công ty đầu tư đã coi thường hậu quả cuả trận động
đất này đối với nền kinh tế Nhật Bản, đặc biệt là thị trường tài chính cuả Nhật
Bản. Các công ty đầu tư đều nghĩ rằng thị trường chứng khoán Nikkei sẽ lên,
kể cả Barings cũng tin như vậy.Ngày 23-1-95 thị trường tài chính Nhật mới bị
cú "shock" mạnh. Chỉ số chứng khoán Nikkei 225 "rớt" hơn 1.000 điểm.Thế
nhưng mà đại diện Barings là Nick Leeson ở Singapore, lại tiếp tục đặt một số
9

9


tiền lớn "đánh cá" là Nikkei sẽ không thể nào lên lại được. Nghĩa là họ bán hợp
đồng cho chiều xuống của chỉ số Nikkei. Nhưng thực sự lại đi ngược, chỉ số
Nikkei sau khi xuống "thê thảm" hôm 23-1-95 lại lên trở lại, từ 18.000 lên gần
19.000. Và một lần nữa Barings lại mất thêm một số tiền lớn !
III. Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản đến hoạt động của ngân hàng.
3.1. Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản đến ngân hàng Barings
Sự việc bắt đầu tồi tệ sau vụ động đất ở Nhật Bản. Chỉ số chứng khoán Nikkei tại
Nhật Bản bất ngờ sụt thấp trong khi Nick Leeson lại đặt cược là lên. Lẽ ra phải dừng
ngay lại nhưng Nick Leeson vẫn tiếp tục mua vào các hợp đồng, mỗi hợp đồng lên
đến 180 nghìn bảng Anh khiến tổng số tiền tung ra lên tới 21 triệu euros. Cách làm
này của Nick Leeson chẳng khác gì hành động của một “con bạc đang khát nước”.
Một ngày sau đó, Peter Barings bị chuông điện thoại réo vang đánh thức. Từ đầu dây
bên kia người ta báo là Nick Leeson đã biến mất. Chiến dịch che dấu sự thật ở Ngân
hàng Barings vẫn tiếp tục được tiến hành. Vào thời gian ở London đang diễn ra cuộc
họp thứ hai tại trụ sở Ngân hàng Barings, Peter Barings đề nghị nhường chức chủ tịch
Ngân hàng Barings cho ai đó có thể cứu giúp. Thống đốc Ngân hàng Anh từ chối ký
séc cho Barings vay.
Sau đó một tháng, Deustche Bank đã đề nghị mua lại Barings với giá 1 tỷ bảng Anh.
Đến lúc này, chẳng còn cần đề cập đến vấn đề này với ai hết.
Barings chỉ là một trong vô số những vụ bê bối tài chính của các ngân hàng trên thế
giới. Mặc dù chịu sức ép rất lớn trong việc cải tổ, nhiều ngân hàng lớn trên thế giới
vẫn rất “ung dung” Lòng tin của người tiêu dùng vào ngân hàng giảm thì các ngân
hàng cũng khó có thể tồn tại được. coi mình đang “ngồi chiếu trên” với số lượng tài
sản khổng lồ. Điều này thật là nguy hiểm, bởi có lẽ nhiều người cũng biết rằng
Barings đã là một trong những ngân hàng lớn nhất nước Anh nhưng khi lâm vào tình
trạng nguy kịch thì “cây đại thụ” này cũng sụp đổ rất nhanh.
Barings sụp đổ vì nó không thể đáp ứng các nghĩa vụ thương mại rất lớn, mà Leeson
tạo ra dưới tên của ngân hàng.
3.2. Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản đến các ngân hàng khác trên thế giới.
Barings chỉ là một trong vô số những vụ bê bối tài chính của các ngân hàng trên thế giới. Lòng tin của
người tiêu dùng vào ngân hàng giảm thì các ngân hàng cũng khó có thể tồn tại được. Mặc dù chịu
sức ép rất lớn trong việc cải tổ, nhiều ngân hàng lớn trên thế giới vẫn rất “ung dung” coi mình đang

10

10


“ngồi chiếu trên” với số lượng tài sản khổng lồ. Điều này thật là nguy hiểm, bởi có lẽ nhiều người
cũng biết rằng Barings đã là một trong những ngân hàng lớn nhất nước Anh nhưng khi lâm vào tình
trạng nguy kịch thì “cây đại thụ”
này

cũng

sụp

đổ

rất

nhanh.

Xu hướng của các ngân hàng trên thế giới hiện nay đang là mở rộng kinh doanh ra phạm vi toàn cầu.
Nhiều tập đoàn ngân hàng lớn trên thế giới đã chuyển công việc sang Đông Âu, Ấn Độ hay Trung
Quốc và đã có những thành công nhất định. Tuy nhiên, đó là thiểu số còn đối với các ngân hàng nói
chung thì chuyện này không phải dễ dàng bởi đặc thù tiền tệ vốn có của mình. Các ngân hàng
thường kinh doanh tại những đô thị lớn và phát triển. Việc chuyển hoạt động kinh doanh đến những
nơi khác thì quả thật là rất mạo hiểm mà bất cứ ngân hàng nào cũng phải chấp nhận. Và bài học từ
Barings Bank là minh chứng rõ nhất của sự mạo hiểm để chuyển một phần hoạt động kinh doanh của
mình ra nước ngoài. Theo đánh giá của giới phân tích thì việc này có thể ảnh hưởng đến hệ thống
ngân hàng của toàn quốc gia, sự kiểm soát các hoạt động tài chính sẽ khó khăn hơn nhiều. Không
những thế độ rủi ro tài chính của các ngân hàng tăng cao và quản lý nhà nước đối với các ngân hàng
sẽ không thể thực hiện được, đơn giản bởi các cơ quan chức năng của Anh không thể nào can thiệp
vào công việc làm ăn của các công ty Singapore hay của các quốc gia khác.
Từ Barings, nhiều ngân hàng khác cần thấy rằng sẽ rất mạo hiểm nếu chỉ vì những lợi ích trước mắt
để chuyển bớt hoạt động kinh doanh của mình ra nước ngoài. Điều này tuy nhiều doanh nghiệp đã
thực hiện rất thành công nhưng đối với các ngân hàng thì cần phải xem xét kỹ lưỡng bởi xuất phát từ
chính hoạt động kinh doanh tiền tệ của mình, ngân hàng cần có những chiến lược cẩn trọng để hạn
chế
tối
đa
mọi
rủi
ro trong
kinh
doanh.
Dù sao thì cơ quan chức năng ở Singapore cũng tố cáo Leeson có mở tài khoản giả mang số 88888
để giấu gần 100 triệu euors là một phần khoản tiền thất thoát của Ngân hàng Barings, mã số của tài
khoản này thật buồn cười vì con số 8 vẫn được giới doanh nhân châu Á cho là con số may
mắn. Singapore đã đòi dẫn độ Leeson, còn London không thấy lên tiếng gì cả. Và những bài học
trong vụ phá sản này vẫn còn dai dẳng cho đến ngày hôm nay đối với nhiều ngân hàng trên toàn thế
giới.

IV. Rút ra bài học cho bảo hiểm tiền gửi, NHTM và NHNN Việt Nam.
Một số bài học được rút ra từ việc sụp đổ của Ngân hàng Barings:
4.1 Bài học cho bảo hiểm tiền gửi
Năm 2014 đánh dấu cột mốc 15 năm thành lập của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTGVN). Nhìn lại
chặng đường vừa qua, BHTGVN có quyền tự hào về những kết đã đạt được tuy nhiên, vẫn còn
những để có thể làm tốt hơn để bắt kịp quá trình phát triển theo định hướng thị trường và hội nhập
quốc tế là một thách thức lớn với BHTGVN. BHTGVN cần nhìn nhận một cách bao quát các vụ rủi ro
thanh khoản ở Việt Nam và thế giới.Bên cạnh các vấn đề quản trị và tác nghiệp cụ thể, hoạt động
BHTG của một quốc gia không thể đạt được hiệu quả tối ưu nếu thiếu đi một nền tảng chính sách,
pháp luật tiên tiến, vững chắc.

Định hướng chính sách và pháp luật - nền tảng cốt lõi trong hoạt động bảo
hiểm tiền gửi
Định hướng chính sách được xác định là “bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, đảm
11

11


bảo sự phát triển an toàn lành mạnh của hoạt động ngân hàng” . Định hướng này
phù hợp với thông lệ, xu hướng đang được các quốc gia trên thế giới áp dụng; đồng
thời nhất quán với mục tiêu đã được xác định khi hoạt động BHTG bắt đầu chính
thức được triển khai.
Trong bối cảnh hoạt động ngân hàng hội nhập sâu rộng hơn và người gửi tiền đang
có nhiều sự lựa chọn hơn nhưng cũng đứng trước những rủi ro lớn hơn; việc thực
hiện hai nhóm mục tiêu nói trên đang đứng trước nhiều thách thức. Đặc biệt, mục
tiêu chính sách công của hoạt động BHTG không thể đạt được nếu thiếu đi khung
pháp lý cần thiết. Vì vậy, chính sách BHTG cần được cụ thể hóa một cách đồng bộ
tại các điều khoản của Luật BHTG với các luật liên quan khác, các văn bản hướng
dẫn luật và các văn bản quản trị điều hành của tổ chức BHTG để thực hiện tốt
nhiệm vụ đặt ra.
Trong các nội dung cơ bản của chính sách BHTG, vấn đề hạn mức trả tiền bảo
hiểm, mức phí BHTG, cơ chế tiếp cận thông tin về hệ thống ngân hàng có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng. Do đó, đây là các vấn đề cần được ưu tiên trong quá trình hoàn
thiện cơ chế, chính sách cho hoạt động BHTG tại Việt Nam.
Hạn mức BHTG – công cụ duy trì kỷ luật thị trường
Hạn mức BHTG phù hợp đồng nghĩa với việc người gửi tiền lớn sẽ đối mặt với nguy
cơ có thể mất phần tiền gửi trên hạn mức nếu người đó không tự mình lựa chọn
ngân hàng có uy tín, minh bạch, an toàn để gửi tiền; đồng thời người gửi tiền nhỏ,
không có đủ thông tin sẽ được bảo vệ toàn bộ. Ví dụ, khi một ngân hàng yếu kém
gặp khó khăn, ngân hàng đó thường đưa lãi suất huy động lên rất cao nhằm hướng
vào tâm lý ham lãi suất cao, thu hút tiền gửi của người dân để bù đắp các khoản
thua lỗ. Người dân nếu ham lãi suất cao sẽ gửi tiền vào ngân hàng yếu kém và rủi
ro, dẫn đến mất phần tiền gửi vượt hạn mức nêu ở trên . Trong trường hợp đó, nếu
hạn mức BHTG được duy trì ở mức độ thích hợp và công bố công khai, người dân
có khoản tiền gửi lớn sẽ phải cân nhắc và tìm một ngân hàng an toàn hơn, có mức
lãi suất huy động ổn định hơn để gửi tiền. Đây chính là cơ chế vận hành của kỷ luật
thị trường và là động cơ điều chỉnh hành vi của cả người gửi tiền cũng như ngân
hàng, từ đó giúp thị trường phát triển lành mạnh hơn.
Theo khuyến nghị của Hiệp hội BHTG quốc tế (IADI), hạn mức BHTG nên bảo vệ
toàn bộ được 90% đến 95% số người gửi tiền; đồng thời tỷ lệ “Hạn mức / GDP bình
quân đầu người” nên tối thiểu bằng 2 và tương đương với mức trung bình của các
quốc gia có cùng trình độ phát triển dịch vụ ngân hàng. Tại Việt Nam, Luật bảo hiểm
tiền gửi nêu rõ hạn mức trả tiền bảo hiểm do Thủ tướng Chính phủ quy định theo đề
nghị của NHNN trong từng thời kỳ. Quy định về hạn mức BHTG như trên tạo sự linh
hoạt trong việc điều chỉnh hạn mức. Tuy nhiên, theo Nghị định số 68/2013/NĐ-CP,
12

12


hạn mức BHTG tiếp tục được thực hiện theo Nghị định 109/2005/NĐ-CP cho đến
khi có văn bản điều chỉnh. Như vậy, từ năm 2005 đến nay, đã 9 năm nhưng hạn
mức trả tiền BHTG vẫn đang được duy trì ở mức 50 triệu đồng.
Nhận thức được tầm quan trọng của hạn mức trả tiền bảo hiểm, BHTGVN đã triển
khai nghiên cứu và đề xuất nâng hạn mức lên 200 triệu đồng; theo đó bảo hiểm toàn
bộ được cho trên 90% người gửi tiền và tương đương với 5 lần GDP bình quân đầu
người tính tại thời điểm 31/12/2013. Theo đánh giá của Nhóm nghiên cứu BHTGVN,
200 triệu là mức phù hợp hơn với thông lệ quốc tế (thuộc vào mức trung bình của
khu vực Đông Nam Á, đã xem xét tới các yếu tố lạm phát, GDP bình quân đầu
người, đang trong quá trình tái cấu trúc ngân hàng, mức độ rủi ro của nền kinh tế,
tương quan khu vực…), đồng thời giúp người dân yên tâm hơn khi gửi tiền vào
ngân hàng. Hạn mức trả tiền này có thể tiếp tục được điều chỉnh vào thời điểm thích
hợp (tăng hoặc giảm theo biến động của các yếu tố trên).
Phí BHTG – thước đo sự lành mạnh của mỗi tổ chức tham gia BHTG, đồng
thời góp phần tích lũy “của để dành” cho tương lai
Theo Luật BHTG, khung phí BHTG do Thủ tướng Chính phủ quy định theo đề nghị
của Ngân hàng Nhà nước, và căn cứ vào khung phí BHTG, Ngân hàng Nhà nước
quy định mức phí BHTG cụ thể đối với tổ chức tham gia BHTG trên cơ sở đánh giá
và phân loại các tổ chức này. Như vậy, cơ sở pháp lý hiện tại đã đưa ra yêu cầu bắt
buộc và tạo tiền đề cho việc áp dụng hệ thống phí theo mức độ rủi ro tại Việt Nam.
Thực tiễn rủi ro thanh khoản tại ngân hàng Barings cho thấy, rất nhiều quốc gia đã
gặp khó khăn trong việc tìm nguồn tài chính xử lý các ngân hàng đổ vỡ. Mỹ đã phải
tăng phí BHTG; một số quốc gia Châu Âu đã phải vay tiền với quy mô lớn từ các tổ
chức quốc tế. Tuy nhiên, hai giải pháp trên đều chưa thực sự tối ưu. Việc tăng phí
BHTG trong giai đoạn khủng hoảng tài chính khiến khó khăn của hệ thống ngân
hàng trở nên trầm trọng hơn, và, các quốc gia như Hy Lạp, Cộng hòa Ireland đã
phải tuyên bố vỡ nợ khi vay tiền để cứu trợ ngân hàng.
Với việc thành lập VAMC, Việt Nam đã có một giải pháp sáng tạo trong việc xử lý nợ
xấu. Tuy nhiên, trong những thảo luận chính sách khi chuẩn bị thành lập VAMC,
Chính phủ đã thể hiện nhất quán chủ trương không sử dụng tiền ngân sách để cứu
trợ các ngân hàng yếu kém. Phí BHTG hình thành quỹ BHTG, tạo nên “của để dành”
để nhà nước sử dụng khi hệ thống ngân hàng gặp sự cố, hạn chế phải sử dụng trực
tiếp ngân sách nhà nước. Khi hệ thống ổn định, quỹ BHTG dùng để mua trái phiếu
Chính phủ, có nghĩa, dòng tiền đó vẫn được đưa vào nền kinh tế phục vụ đầu tư
phát triển. Như vậy, chính sách phí BHTG phù hợp là giải pháp tốt cho dài hạn, cần
được cân nhắc nghiêm túc.

13

13


Cơ chế tiếp cận thông tin – yếu tố trọng yếu nâng cao hiệu quả hoạt động
BHTG
Hiện tại, BHTGVN có thể tiếp cận thông tin trực tiếp từ các tổ chức tham gia BHTG,
từ phía cơ quan quản lý nhà nước, các hiệp hội nghề nghiệp hoặc thông qua các tổ
chức cung cấp dịch vụ thông tin trong và ngoài nước. Tuy nhiên, cơ chế tiếp cận,
chia sẻ thông tin cho BHTGVN chưa được cụ thể hóa; vì vậy, vấn đề này cần được
quy định rõ ràng trong các văn bản hướng dẫn luật sẽ được ban hành. Cần lưu ý
thông tin đầu vào tốt là cơ sở để xác định hạn mức phù hợp, là nhân tố quan trọng
để triển khai phí theo rủi ro và là tác nhân then tốt cho hệ thống cảnh báo sớm rủi ro,
ngăn ngừa đổ vỡ, từ đó hạn chế nguy cơ BHTGVN phải sử dụng nguồn vốn quỹ của
mình để chi trả cho tổ chức tham gia BHTG gặp vấn đề.
Về phía mình, BHTGVN cũng cần phải có hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại, đủ
mạnh để xử lý thông tin đầu vào một cách chính xác, kịp thời nhất; có nguồn lực tri
thức và con người để phân tích thông tin một cách tối ưu. Hiện tại, hệ thống công
nghệ thông tin đã và đang được BHTGVN hoàn thiện, nâng cấp, đặc biệt thông qua
Dự án Hiện đại hóa hệ thống tài chính và hệ thống thông tin quản lý (FSMIMS).
Đồng thời, BHTGVN cũng đang tiếp tục chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực,
hướng tới xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, trình độ thực hiện nhiệm vụ giám
sát, cảnh bảo rủi ro được giao.
Tóm lại, hiệu quả chính sách BHTG sẽ được nâng cao nếu hệ thống văn bản pháp
luật được xây dựng phù hợp và cụ thể trên nguyên tắc đặt quyền lợi của người dân,
của người gửi tiền, của sự an toàn hệ thống ngân hàng lên các mức ưu tiên cao
nhất. Việc thiết kế chính sách BHTG cần đặt trong mối quan hệ tổng thể với các
chính sách khác trong lĩnh vực ngân hàng cần hướng tới tầm nhìn dài hạn, với kỳ
vọng ngân hàng Việt Nam không chỉ cạnh tranh trong “sân nhà”, mà còn có đầy đủ
năng lực cạnh tranh trong “biển lớn”.

4.2. Đối với Ngân hàng nhà nước
- Ngân hàng nhà nước vẫn cần hỗ trợ thanh khoản cho các NHTM thông qua các
công cụ điều hành chính sách tiền tệ. Đối với các NHTM lớn, có nhiều giấy tờ có giá
đủ tiêu chuẩn thì việc hỗ trợ thanh khoản sẽ thông qua nghiệp vụ thị trường mở tại
Ngân hàng Nhà nước.
- Đối với các NHTM nhỏ không đủ giấy tờ có giá hoặc không có khả năng cạnh
tranh trên thị trường mở thì Ngân hàng Nhà nước hỗ trợ thông qua công cụ tái cấp
vốn.
- Khi NHNN ấn định mức lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái cấp vốn ở mức nhất định
và có thể cung ứng vốn đâỳ đủ cho nhu cầu vốn của các NHTM ở mức lãi suất tái cấp
14

14


vốn, tái chiết khấu đó thì NHNN sẽ chủ động xác lập được mặt bằng chung về mức lãi
suất của các NHTM trên thị trường.
4.3. Đối với ngân hàng Thương Mại Việt Nam
Xây dựng quy chế quản lý ngân hàng hiệu quả
Ngân hàng còn phải phân loại mức độ rủi ro hoạt động theo cấp độ quan trọng từ thấp
đến cao trong hoạt động của mình và xác định các cấp độ báo cáo cho phù hợp. Đồng
thời, đưa ra những phương pháp hoặc cách thức để đánh giá và kiểm soát rủi ro ở
nhiều mức độ khác nhau (cấp lãnh đạo, quản lý hay cán bộ…). Việc đánh giá và kiểm
soát rủi ro phải được diễn ra thường xuyên và áp dụng cho toàn bộ các phòng/ban,
nghiệp vụ kinh doanh trong hệ thống.
Cần phải có sự tham gia của tất cả các phòng ban trong các hoạt động thu thập dữ liệu
tổn thất. Thêm vào đó, cần xây dựng và chính thức hóa quy trình thu thập dữ liệu tổn
thất. Quy trình này phải linh hoạt để có thể cập nhật các nguồn thông tin cũng như
phản ánh đúng các khả năng rủi ro hoạt động khi môi trường kinh doanh thay đổi.
Quy trình này cần được thông báo rộng rãi và thống nhất trong toàn ngân hàng. trên
cơ sở thu thập các dữ liệu rủi ro, tổn thất nội bộ và bên ngoài, NHTM đo lường rủi ro
hoạt động theo 2 phương pháp: Đo lường định tính và định lượng. Đối với đo lường
định lượng thì việc lưu trữ dữ liệu là quan trọng nhất. NHTM phải lưu trữ ít nhất là 3
năm dữ liệu rủi ro hoạt động và chất lượng dữ liệu phải có kiểm soát chặt chẽ để đảm
bảo tính đúng đắn trong việc tính toán.
Cần chú trọng công tác quản trị nội bộ, giúp ngân hàng chủ động nắm bắt những biến
động trên thị trường, nhìn nhận được dấu hiệu rủi ro và cảnh báo sớm rủi ro. Để quản
trị nội bộ tốt, ban lãnh đạo cần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng trong QTRR
hoạt động của ngân hàng, thường xuyên cập nhật quá trình đánh giá rủi ro hoạt động,
đặc biệt những rủi ro trong phát triển sản phẩm mới hoặc triển khai một hoạt động
kinh doanh mới.
- Xây dựng những quy định và quy chế quản lý ngân hàng cần thiết để đảm bảo việc
thiết lập một hệ thống tài chính lành mạnh. Kinh nghiệm xây dựng quy chế quản lý
ngân hàng của các nước trên thế giới đã được tổng kết, cho thấy các quy định này cần
bao gồm:

15

15


+ Thực hiện việc cơ cấu lại tài sản nợ và tài sản có cho phù hợp. Đây là công việc hết
sức quan trọng để quản lý rủi ro thanh khoản của các NHTM. Các ngân hàng cần xem
lại cơ cấu danh mục tài sản nợ, tài sản có cho phù hợp, nhằm hạn chế thấp nhất rủi ro
có thể xảy ra, đó là cơ cấu lại nguồn vốn huy động và cho vay trên thị trường;cơ cấu
lại dư nợ cho vay ngắn hạn với cho vay trung hạn, giữa nguồn huy động ngắn hạn
dùng để cho vay trung, dài hạn.
+ Thực hiện việc phát hành giấy tờ có giá, điều chỉnh cơ cấu cho vay vào các lĩnh vực
nhạy cảm và rủi ro nhiềunhư chứng khoán, bất động sản và tiêu dùng. Các ngân hàng
đều phải duy trì một tỷ lệ dự trữ (bao gồm tiền mặt trong ngân hàng, tiền gửi tại Ngân
hàng Trung ương và các tài sản có tính lỏng cao khác). Làm như vậy để đảm bảo duy
trì dự trữ bắt buộc của Ngân hàng Trung ương và để đối phó với các dòng tiền đi ra.
Việc kết hợp giữa dự trữ sơ cấp và dự trữ thứ cấp sẽ giúp ngân hàng chủ động vừa đối
phó với rủi ro thanh khoản vừa có thu nhập hợp lý.
+ Thực hiện tốt quản lý rủi ro lãi suất khe hở lãi suất: Cần hoàn thiện các quy định
liên quan đến huy động và cho vay (nhất là huy động, cho vay trung, dài hạn) theo lãi
suất thị trường; cần có cách giải quyết khoa học để không xảy ra tình trạng các khách
hàng gửi tiền rút tiền trước hạn khi lãi suất thị trường tăng cao hoặc khi có các đối thủ
khác đưa ra lãi suất cao, hấp dẫn khách hàng hơn. Hiện nay, xuất hiện một thực tế là
các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng đến hạn không chịu trả nợ vay vì họ e ngại sau
khi trả sẽ rất khó vay lại được tiền từ ngân hàng. Vì thế, họ sẵn sàng chịu phạt lãi suất
quá hạn ghi trong hợp đồng vì như vậy, so ra vẫn còn thấp hơn lãi suất cho vay mới.
Chính điều này đã gây ảnh hưởng lớn đến khả năng thanh khoản của ngân hàng.
+ Thực hiện tốt quản lý rủi ro kỳ hạn: Sự không cân đối về kỳ hạn giữa tài sản nợ và
tài sản có của ngân hàng là lý do quan trọng làm cho các ngân hàng gặp khó khăn
thanh khoản trong thời gian qua. Vấn đề sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài
hạn với tỷ trọng lớn hoặc cùng là ngắn hạn và trung, dài hạn nhưng thời hạn cụ thể
khác nhau (ví dụ như huy động trung, dài hạn hai năm nhưng cho vay trung hạn ba
năm) cũng làm cho ngân hàng khó khăn trong việc kiểm soát dòng tiền ra và dòng tiền
vào của mình.
+ Thực hiện các biện pháp hạn chế rủi ro: Thị trường tiền tệ phái sinh ở Việt Nam còn
rất hạn chế, tuy nhiên, sau đợt biến động của thị trường tiền tệ trong thời gian qua,
16

16


chắc chắn các ngân hàng sẽ quan tâm nhiều hơn và nó sẽ giúp cho ngân hàng quản lý
tốt hơn tài sản nợ, tài sản có của mình. Thị trường REPO là công cụ khá hiệu quả
trong việc tạo ra tính lỏng cao cho các chứng khoán nợ và cơ cấu tài sản có nhằm hỗ
trợ thanh khoản cho các ngân hàng một cách nhanh chóng. Forward và Future cũng là
những công cụ để cầm giữ lãi suất giao dịch nhằm hạn chế rủi ro khi lãi suất thị
trường biến động. Đặc biệt SWAP là công cụ quan trọng để các ngân hàng có thể cơ
cấu lại tài sản nợ, tài sản có trên bảng cân đối tài sản của mình, nhằm hạn chế các tác
động của rủi ro lãi suất. rủi ro kỳ hạn.
Xây dựng mạng lưới an toàn tài chính quốc gia
+ Thực hiện liên kết hệ thống: Trong hệ thống ngân hàng, nếu một hay hai ngân hàng
rủi ro có thể lây sang ngay các ngân hàng khác. Bản thân một ngân thương mại không
chống đỡ được rủi ro hệ thống, do đó cần tính đến tính đồng đều trong quản trị thanh
khoản. Do vậy, hệ thống ngân hàng thương mại thời gian này cần tập trung vào xây
dựng chiến lược quản trị thanh khoản trong NHTM; tập trung nâng cao chất lượng
hoạt động kinh doanh; liên kết thống nhất giữa các NHTM để đảm bảo an toàn thanh
khoản .
Do những hậu quả nặng nề của khủng hoảng ngân hàng đối với nền kinh tế, các quốc
gia đã xây dựng những cơ chế nhằm ngăn ngừa và kiểm soát khủng hoảng ngân hàng.
Vì vậy, xây dựng một mạng lưới an toàn tài
chính có thể được cân nhắc và lựa chọn như một giải pháp tổng thể. Mạng lưới này
thường bao gồm Bộ Tài chính, Ngân hàng Trung ương, Uỷ ban giám sát tài chính
quốc gia và tổ chức BHTG. Đồng thời mạng lưới này phải đưa ra được các phương án
cụ thể để xử lý những khía cạnh riêng có thể gây ra trước hoặc tồn tại trong cuộc
khủng hoảng.
Xây dựng hệ thống quản trị rủi ro theo chuẩn mực quốc tế
Xu thế hội nhập quốc tế đòi hỏi các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam phải
đáp ứng các yêu cầu quản trị nói chung và quản trị rủi ro (QTRR) nói riêng theo chuẩn
mực quốc tế, đồng thời mở ra các cơ hội để ngành Ngân hàng có thể tiếp cận nhanh và
gần hơn với các chuẩn mực đó.
Hiện nay, bên cạnh nỗ lực giải quyết các khoản nợ xấu từ hoạt động cho vay trong quá
khứ, các NHTM Việt Nam đã bắt đầu chuẩn bị các bước dài hơi hơn bằng cách xây
17

17


dựng hệ thống quản lý rủi ro (QLRR) tiên tiến, nhằm phòng ngừa rủi ro trong tương
lai, thay vì phải giải quyết “sự đã rồi”.
QTRR vẫn là một chức năng khá mới mẻ đối với các NHTM Việt Nam trong bối cảnh
các ngân hàng đang chật vật xây dựng “khẩu vị” rủi ro, khả năng chịu đựng và các
giới hạn rủi ro, cũng như làm thế nào để nâng cao quy trình, kiểm soát và quản lý các
nguồn lực. Giải quyết các vấn đề rủi ro trong ngân hàng không chỉ đơn giản là chi phí
thực hiện kinh doanh mà còn là con đường để hiểu rõ hơn hoạt động kinh doanh của
ngân hàng. Hơn thế nữa, sự kết hợp giữa giám sát của Ngân hàng Nhà nước (NHNN)
và sự sẵn sàng chủ động của các ngân hàng sẽ giúp xây dựng hệ thống ngân hàng Việt
Nam vững mạnh.
Trước tình hình đó, Hiệp ước Basel là một thước đo chung để QLRR tại các NHTM
Việt Nam. Một ngân hàng tuân thủ Hiệp ước Basel II đồng nghĩa với việc có một hệ
thống QLRR tiên tiến, hiện đại. Hiệp ước Basel II không chỉ là tuân thủ, tiếp nhận
thực hiện Hiệp ước Basel chính là thực hiện chuẩn mực tối thiểu đánh giá rủi ro ngân
hàng phải đối mặt và để đảm bảo đủ vốn, tăng hiệu quả hoạt động nói chung.
Hiệp ước Basel II đưa ra các chỉ dẫn, phương pháp tính toán, còn dữ liệu, đặc thù về
con người, “khẩu vị” rủi ro của ngân hàng và danh mục tài sản mà các ngân hàng đang
nắm giữ lại rất khác nhau. Cơ quan quản lý sẽ đưa ra các quy định, hướng dẫn về triển
khai Hiệp ước Basel II cho các ngân hàng, đồng thời, phê chuẩn ngân hàng nào sẽ
được coi là tuân thủ Basel II. Các ngân hàng đang dần nhận ra các lợi ích thương
mại/kinh doanh khi thực hiện Basel cũng như các cơ hội tiết kiệm vốn tiềm năng.
Các ngân hàng cần xem lại cơ cấu danh mục tài sản nợ, tài sản có cho phù hợp, nhằm
hạn chế thấp nhất rủi ro có thể xảy ra, đó là cơ cấu lại nguồn vốn huy động và cho vay
trên thị trường; cơ cấu lại dư nợ cho vay ngắn hạn với cho vay trung hạn, giữa nguồn
huy động ngắn hạn dùng để cho vay trung, dài hạn.
Thực hiện việc phát hành giấy tờ có giá, điều chỉnh cơ cấu cho vay vào các lĩnh vực
nhạy cảm và rủi ro nhiều như chứng khoán, bất động sản và tiêu dùng. Các ngân hàng
đều phải duy trì một tỷ lệ dự trữ (bao gồm tiền mặt trong ngân hàng, tiền gửi tại Ngân
hàng Trung ương và các tài sản có tính lỏng cao khác).

18

18


Giám sát chặt chẽ tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng tổng tài sản của từng NHTM.
Tránh tính trạng dòng vốn được tái cấp vốn/ tái chiết khấu không đi vào sản xuất kinh
doanh/ tăng trưởng tín dụng nóng/ chạy vào đầu cơ bất động sản, chứng khoán.
Ngân hàng Nhà nước vừa yêu cầu các ngân hàng thương mại cần chủ động cân đối
nguồn vốn, tích cực tham gia nghiệp vụ thị trường mở tại Ngân hàng Nhà nước và các
hình thức huy động vốn khác để đảm bảo khả năng thanh khoản

KẾT LUẬN
Trong các loại rủi ro thì rủi ro thanh khoản được xem là “rủi ro nguy hiểm nhất”.
Thanh khoản và quản lý rủi ro thanh khoản là yếu tố quyết định đến sự an toàn trong
hoạt động của mỗi bất kỳ ngân hàng thương mại nào. Thực tế, chỉ một hay hai ngân
hàng gặp rủi ro về thanh khoản có thể lây lan ngay sang ngân hàng khác. Trong khi
đó, bản thân một ngân hàng thương mại sẽ không đủ sức chống đỡ được rủi ro hệ
thống. Ngân hang Brings là một ví dụ cụ thể về tác hại của rủi ro thanh khoản. Từ sự
việc của ngân hàng này, đã không ít những chuyên gia kinh tế đã phân tích và tìm ra
các bài học kinh nghiệm để cho những ngân hang trên thế giới. Tuy nhiên, vấn đề ở
chỗ trong chiến lược quản trị rủi ro của NHTM này chưa chắc đã phù hợp với NHTM
kia. Do đó các nhà hoạch định chiến lược quản trị cần có sự quan tâm thích đáng đối
với vấn đề quản trị rủi ro thanh khoản.

19

19


20

20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×