Tải bản đầy đủ

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NGỮ văn dạy học THEO CHỦ đề TÍCH hợp

DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP,
VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN
ĐỂ GIẢI QUYẾT CÁC TÌNH HUỐNG THỰC TIỄN
PHẦN MỞ ĐẦU
Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế trong
việc xác định nội dung dạy học ở nhà trường phổ thông và trong xây dựng
chương trình môn học ở nhiều nước trên thế giới. Dạy học tích hợp được xây
dựng trên cơ sở những quan điểm tích cực về quá trình học tập và quá trình dạy
học. Vận dụng hợp lí quan điểm tích hợp trong giáo dục và dạy học sẽ giúp phát
triển các năng lực, giải quyết những vấn đề phức tạp và làm cho việc học tập trở
nên có ý nghĩa hơn với học sinh so với việc các môn học, các mặt giáo dục được
thực hiện riêng rẽ. Đối với nền giáo dục Việt Nam hiện nay việc hiểu đúng và
vận dụng phù hợp quá trình tích hợp có thể đem lại những hiệu quả cụ thể đối
với từng phân môn trong nhà trường phổ thông.
PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học tích hợp, vận dụng kiến thức liên
môn để giải quyết các tình huống thực tiễn.
1. Cơ sở lý luận
Dạy học tích hợp, vận dụng kiến thức liên môn được hiểu, là sự kết hợp, tổ
hợp các nội dung từ các môn học trong các lĩnh vực học tập khác nhau thành
một môn tổng hợp mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội

dung vốn có của môn học. Ví như lồng ghép nội dung dân số vào môn Sinh học,
môn Địa lí; nội dung giáo dục môi trường môn Ngữ văn, môn Sinh học, môn
Công dân… Như vậy thông qua dạy học tích hợp liên môn thì những kiến thức,
kỹ năng học được ở môn này có thể sử dụng như những công cụ để nghiên cứu,
học tập các môn học khác.
* Đặc điểm của dạy học tích hợp liên

môn:

- Lấy người học làm trung tâm.
- Định hướng, phân hóa năng lực người
- Dạy và học các năng lực thực tiễn.

học.

=> Dạy học tích hợp liên môn cho phép rút ngắn được thời gian dạy học đồng
thời vẫn tăng được khối lượng và chất lượng thông

tin.

2. Cơ sở thực tiễn
- Xu hướng tích hợp các môn khoa học xã hội trên thế giới.


- Chương trình Ngữ văn trong nhà trường phổ thông có nhiều tiềm năng, cơ hội
để xác định, xây dựng các nội dung, chủ đề tích hợp trong môn học hoặc với các
môn khoa học liên quan như sử, địa, âm nhạc, văn hóa...
- Định hướng vận dụng quan điểm tích hợp trong giáo dục giai đoạn sau năm
2015 của bộ Giáo dục - Đào

tạo.

II. Tìm hiểu về phương pháp và xu hướng dạy học tích hợp, vận dụng kiến
thức liên môn để giải quyết các tình huống thực tiễn.
1. Thế nào là dạy học tích hợp, vận dụng kiến thức môn?
“Dạy học tích hợp, vận dụng kiến thức liên môn là dạy cho học sinh biết
tổng hợp kiến thức, kĩ năng ở nhiều môn học để giải quyết các nhiệm vụ học tập
và hình thành năng lực giải quyết các tình huống thực tiễn”
2. Ưu điểm của dạy học tích hợp liên môn.
- Dễ dàng tiếp cận và thực hiện có hiệu quả, đáp ứng được mục tiêu của đổi mới

giáo dục theo xu thế giáo dục hiện đại.
- Ứng dụng vào thực tiễn cũng như ứng dụng trong các môn học khác.
- Vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, ít phải
ghi nhớ kiến thức một cách máy móc, thụ động.
3. Xu hướng của dạy học tích hợp liên
* Trên thế giới, hiện nay có

môn

hai xu hướng dạy học tích hợp:

- Tích hợp đơn môn, tích hợp đa môn, tích hợp liên môn hoặc tích hợp xuyên
môn.
- Tích hợp nhiều môn học, nhiều lĩnh vực thành một môn tổng hợp mới gồm có
tích hợp liên môn và tích hợp xuyên

môn.

* Ở Việt Nam, trước những yêu cầu có tính pháp lý về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục giáo dục phổ thông sau năm 2015 đã được thể hiện trong các văn
bản, nghị quyết của đại hội Đảng. Đặc biệt mới nhất là trong Nghị quyết 29/NQTW với mục tiêu thay đổi “phương pháp dạy học từ truyền thụ kiến thức sang tổ
chức hướng dẫn định hướng phát triển năng lực nhận thức học sinh”.
III. Thực tế của dạy học tích hợp, vận dụng kiến thức liên môn trong dạy
học môn Ngữ văn hiện nay.
Hiện tại giáo dục của chúng ta vẫn chưa thoát khỏi nền giáo dục “ứng thí”
nên mục tiêu dạy và học môn Ngữ văn vẫn chưa định hướng đúng với vị trí của
nó, việc dạy môn này chủ yếu theo yêu cầu trước mắt của học sinh là để thi tốt
nghiệp, tuyển sinh vào đại học. Số lượng trường đại học tuyển sinh khối C,D…
ít, số ngành liên quan đến Ngữ văn chưa thực sự cuốn hút nên số học sinh ham
mê, do vậy việc dạy học môn Ngữ văn mới chỉ dừng lại ở mức trang bị kiến


thức. Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và dạy học thử nghiệm tích hợp liên
môn cho môn Ngữ văn chúng tôi nhận thấy có những thuận lợi và khó khăn nhất
định.
1. Thuận lợi
Thực hiện dạy học tích hợp liên môn sẽ mang lại nhiều lợi ích trong việc
hình thành và phát triển năng lực hành động, năng lực giải quyết vấn đề
cho học sinh. Trong dạy học môn Ngữ văn có thể tích hợp giáo dục với nội
dung như: giáo dục ý thức BVMT, giáo dục kỹ năng sống, giáo dục lòng yêu
nước tự hào dân tộc… đặc biệt là những vấn đề mang tính thời sự như: sự ô
nhiễm môi trường, tình hình biển Đông, sự già hóa dân số, hậu quả của nó với
việc giải quyết các vấn đề phúc lợi xã hội, vấn đề y tế và chăm sóc sức khỏe…
Học sinh có thể sử dụng kiến thức ở nhiều môn học “liên quan” để giải
quyết một số vấn đề: tình cảm yêu quí, trân trọng những tác phẩm nghệ thuật,
niềm tự hào về truyền thống cách mạng, lịch sử hào hùng của dân tộc; lòng yêu
quê hương, đất nước, con người Việt Nam; mối quan hệ thân thiện với thiên
nhiên; ư thức về trách nhiệm của công dân với cộng đồng, với sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, với vấn đề cấp thiết của nhân loại (bảo vệ môi trường).
2. Khó khăn
* Từ phía đội ngũ giáo viên :
Đội ngũ giáo viên hiện nay chưa được trang bị về cơ sở lý luận dạy học tích
hợp liên môn một cách chính thống, khoa học nên khi thực hiện thì phần lớn là
do giáo viên tự tìm hiểu không tránh khỏi việc hiểu chưa đúng, chưa đầy đủ về
mục đích, ý nghĩa cũng như cách thức tổ chức dạy học tích hợp liên môn.
Phần lớn giáo viên đã quen với việc dạy học đơn môn là chính nên giáo viên các
môn “liên quan” ít có sự trao đổi chuyên môn do vậy khi dạy học tích hợp liên
môn chưa có sự thống nhất về nội dung, phương pháp, thời gian tổ chức các nội
dung, chủ đề dạy học tích hợp liên môn của các môn “liên quan”.
* Từ phía các em học sinh :
Phần lớn các em học môn Ngữ văn vẫn theo xu hướng học thụ động; các em
không tích cực, không chủ động cho việc chuẩn bị, tìm hiểu, khai thác kiến thức
môn học trong các giờ học.
Các em vẫn đang theo xu hướng học lệch của ngành giáo dục “ứng thí”
hiện nay, nên không tích cực hợp tác cho việc chuẩn bị giờ học tích hợp liên
môn hoặc không thể sử dụng kiến thức của các môn “liên quan” như một công
cụ để khai thác kiến thức mới ở môn Ngữ văn.
IV. Kết quả và giải pháp cho dạy học tích hợp liên môn trong dạy Ngữ văn.


* Về phía học sinh :
- Các em học sinh tích cực, chủ động, hứng thú trong việc tìm ra các tri thức
mới với những biểu hiện như: các em sôi nổi, tích cực trao đổi, chủ động bày tỏ
quan điểm.
- Các em được quan sát, trải nghiệm thực tế rồi tự rút ra kiến thức => Hiểu bản
chất, dễ nhớ và nhớ lâu.
- Các kiến thức mới hình thành đều được gắn với những tình huống cụ thể =>
Tăng khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống.
- Phát huy kiến thức ở nhiều môn học => Tạo động lực cho học sinh học toàn
diện các môn, tránh xu hướng học lệch ở các

em.

- Các em được phát triển các năng lực quan sát, năng lực sử dụng ngôn ngữ,
năng lực phán đoán, năng lực thu nhận thông tin, năng lực giao tiếp, năng lực tư
duy sáng tạo…
* Về phía giáo viên:
- Giáo viên được tự tìm hiểu, tự trang bị cho mình cơ sở lí luận của dạy học
tích hợp liên môn.
- Giáo viên được tăng cường trao đổi thảo luận về các kiến thức liên quan để
lựa chọn được phương pháp tối ưu.
- Biết “tích hợp” vừa đủ kiến thức các môn “liên quan”, tránh trùng lặp, nặng nề
hay ngược lại.
- Tận dụng được sức mạnh của công nghệ thông tin vào quá trình dạy học.
* Bài “An Dương Vương, Mị Châu và Trọng Thủy” sử dụng PP tích hợp và vận
dụng kiến thức liên môn:
- Về kiến thức:
+ Môn Ngữ văn: HS có sự khắc sâu, nâng cao nội dung các bài học. Hiểu
được giá trị của thể loại truyền thuyết, giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Thái độ
tình cảm của nhân dân dành cho An Dương Vương, Mị Châu và Trọng Thủy.
+ Môn Lịch sử: HS có sự khắc sâu, nâng cao nội dung các bài học như bài về
nước Văn Lang, Âu Lạc; quá trình dựng nước của giữ nước của cha ông ta.
+ Môn Địa lí: HS có sự khắc sâu, nâng cao nội dung các bài học như vị trí địa
lý, địa hình, sự hình thành và phát triển của đất nước.
+ Môn GDCD: HS có sự khắc sâu, nâng cao nội dung các bài học như Công
dân với cộng đồng, Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Công
dân với một số vấn đề cấp thiết của nhân loại. Ý thức bảo vệ tổ quốc của cá
nhân. Nâng cao ý thức cảnh giác với kẻ thù.


+ HS có kiến thức tổng hợp về văn hóa, xã hội … ngày nay. Hiểu được lịch
sử của các cụm di tích lịch sử thành Cổ Loa, sự hình thành, ảnh hưởng qua lại
với môi trường lịch sử- văn hóa với cụm di tích. Lí giải lí do mất nước Âu Lạc
với cái nhìn của nhân dân.
- Về kĩ năng:
+ HS có hệ thống kĩ năng như sử dụng công nghệ thông tin, sưu tầm tư liệu,
phân tích, đánh giá, so sánh, kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng thuyết trình, phản
biện…
+ Kĩ năng sống như: Tự nhận thức bài học về tinh thần cảnh giác được gửi
gắm qua truyền thuyết; Tư duy sáng tạo: Xác định được mối quan hệ giữa tình
yêu cá nhân và vận mệnh non sông qua câu chuyện và liên hệ với cuộc sống
hôm nay; Giao tiếp, trình bày suy nghĩ, ý tưởng, cảm nhận của bản thân về mối
quan hệ và cách xử lí mối quan hệ giữa tình yêu cá nhân và vận mệnh non sông
đặt ra trong câu chuyện.
- Về thái độ, học sinh có: Tình cảm yêu quí, trân trọng những tác phẩm nghệ
thuật; Niềm tự hào về quá khứ của dân tộc; Lòng yêu quê hương, đất nước, con
người Việt Nam; Mối quan hệ cá nhân với cộng đồng; Ý thức về trách nhiệm
của công dân với cộng đồng, với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với
vấn đề cấp thiết của nhân loại (bảo vệ môi trường). Ý thức bảo tồn di sản văn
hóa của dân tộc.
- Về năng lực, HS có năng lực thực hành bộ môn

như:

+ Cảm thụ, phân tích, giảng bình thơ;
+ Chọn lọc, phân tích, đánh giá các sự kiện lịch sử theo chủ điểm, chủ đề;
+ Quan sát, phân tích, giải thích một cách khoa học các cụm di tích lịch sử;
+ Bình luận vấn đề xã hội về tư tưởng đạo lí, vai trò của cá nhân với cộng
đồng.
1. Mục tiêu liên môn
- HS có vốn kiến thức phong phú, tổng hợp kiến thức lịch sử về đất nước trong
quá khứ và hiện tại.
- HS có năng lực tự học, tự nghiên cứu những vấn đề có tính liên môn chưa
được biên soạn thành bài học trong sách giáo khoa.
- HS có năng lực vận dụng kiến thức liên môn của các môn học khác nhau như
Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân,… để giải quyết các tình huống
thực tiễn đời sống, mối quan hệ và cách xử lí mối quan hệ giữa tình yêu cá nhân
và vận mệnh non sông đặt ra trong câu chuyện.
2. Khuyến nghị


- Xây dựng được các chủ đề, các nội dung dạy học tích hợp liên môn, các chủ đề
định hướng phát triển năng lực học

sinh.

- Tăng cường trao đổi chuyên môn ở trong tổ nhóm và các bộ môn “liên quan”
để xác định: mục tiêu dạy học, mục đích và mức độ tích hợp, liên môn, phương tiện
dạy học, cách thức tổ chức các hoạt động dạy học.
- Xây dựng quy trình và tổ chức các hoạt động dạy học cho phù hợp với đối tượng
học sinh, nội dung và mức độ dạy học tích hợp liên môn đảm bảo thực hiện được
mục tiêu dạy học, được thể hiện cụ thể ở các hoạt động của học sinh, hoạt động của
giáo viên và thời gian tổ chức cho từng hoạt động (Thiết kế giáo án)
- Tổ chức dạy học tích hợp liên môn và rút kinh nghiệm.
* Khi xây dựng các nội dung, các chủ đề tích hợp liên môn cần đảm bảo các
nguyên tắc sau :
- Đảm bảo tính hệ thống, chọn lọc nhưng có sự thống nhất, đồng bộ giữa các môn
liên quan.
- Có tính thực tế: phù hợp với năng lực, thời gian và điều kiện cơ sở vật chất, các
thiết bị dạy học hiện nay…
- Đạt được mục tiêu giáo dục chung và

riêng.

- Cần lựa chọn các phương pháp dạy học tích cực, đảm bảo có được sự hợp tác, gắn
liền với thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui và hứng thú cho học
sinh.
- Tăng cường hợp tác với giáo viên khác cùng môn, các môn “liên quan”.
PHẦN KẾT LUẬN
Việc vận dụng dạy học tích hợp liên môn vào dạy học ở môn Ngữ văn là có
hiệu quả đã góp phần nâng cao một bước chất lượng dạy và học trong nhà trường
phổ thông. Trong quá trình thực hiện, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị
như sau:
1. Đối với tổ, nhóm chuyên môn tăng cường đổi mới nội dung sinh hoạt để dạy thử
nghiệm, rút kinh nghiệm cả về nội dung và phương pháp tổ chức.
2. Bộ và các Sở giáo dục và đào tạo kết hợp tổ chức hội thảo với việc bồi dưỡng
năng lực dạy học tích hợp cho giáo

viên.

3 Các trường Đại học Sư phạm phải xác định năng lực dạy học tích hợp cần đào tạo sinh viên sư
phạm theo hướng nâng cao năng lực dạy học tích hợp liên mô



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×