Tải bản đầy đủ

Đánh Giá Khả Năng Sinh Trưởng, Phát Triển Của Một Số Giống Cúc Và Biện Pháp Kỹ Thuật Sản Xuất Hoa Cúc Pha Lê Tại Hữu Lũng - Lạng Sơn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------------------

TRẦN THỊ DUYÊN

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG,
PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG CÚC VÀ
BIỆN PHÁP KỸ THUẬT SẢN XUẤT HOA CÚC
PHA LÊ TẠI HỮU LŨNG - LẠNG SƠN

NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 60.62.01.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ
KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐẶNG THỊ TỐ NGA

Thái Nguyên – 2014



i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu và những số liệu trình bày trong luận văn
này là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đều đã được cảm ơn. Các
thông tin, tài liệu trích dẫn trình bày trong luận văn này đều đã được ghi rõ nguồn gốc.

Thái Nguyên, ngày 23 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn

Trần Thị Duyên


ii

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của
các thầy cô Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Để bày tỏ lòng biết ơn, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên đã cho tôi cơ hội tham gia khoá đào tạo thạc sỹ khoá
k20 Khoa học cây trồng của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS. Đặng Thị Tố Nga đã hướng dẫn tận tình trong
suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo công tác tại Phòng quản lý đào
tạo sau Đại học đã giảng dạy, chỉ bảo, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt
quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn các đồng nghiệp, anh em bè bạn và gia
đình đã tạo điều kiện về thời gian, vật chất và tinh thần cho tôi trong thời gian học tập và
hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn

Trần Thị Duyên


iii


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài.......................................................................................1
2. Mục đích yêu cầu đề tài .......................................................................................2
2.1. Mục đích ..........................................................................................................2
2.2. Yêu cầu ............................................................................................................2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài ....................................................................2
3.1. Ý nghĩa khoa học..............................................................................................2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài ..............................................................................2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU....................................................................3
1.1. Giới thiệu chung về cây hoa cúc .......................................................................3
1.2. Nguồn gốc lịch sử phát triển cây hoa cúc..........................................................3
1.3. Đặc điểm thực vật học của cây hoa cúc.............................................................4
1.4. Yêu cầu ngoại cảnh và dinh dưỡng của cây hoa cúc..........................................6
1.4.1. Nhiệt độ.........................................................................................................6
1.4.2. Ánh sáng........................................................................................................6
1.4.3. Độ ẩm............................................................................................................7
1.4.4. Đất đai ...........................................................................................................7
1.4.5. Yêu cầu về dinh dưỡng của cây hoa cúc.........................................................8
1.5. Tình hình sản xuất và phát triển hoa cúc trên thế giới và ở Việt Nam................8
1.5.1. Tình hình sản xuất và phát triển hoa cúc trên thế giới ....................................8
1.5.2. Tình hình sản xuất và phát triển hoa cúc ở Việt Nam .....................................9
1.6. Tình hình nghiên cứu cây hoa cúc trên thế giới và ở Việt Nam ....................... 11
1.6.1. Tình hình nghiên cứu cây hoa cúc trên thế giới ............................................ 11
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......................... 21
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................... 21
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu .................................................................................. 21
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu ..................................................................................... 21
2.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu............................................................. 21
2.2.1. Nội dung...................................................................................................... 21
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................. 22
2.3. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi.............................................................. 25


iv

2.4. Các biện pháp kỹ thuật áp dụng ...................................................................... 27
2.5. Phương pháp xử lý số liệu .............................................................................. 27
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN................................. 28
3.1. Kết quả nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng hoa
của một số giống hoa cúc tại Lạng Sơn.................................................................. 28
3.1.1. Khả năng sống sau trồng của các giống hoa cúc trồng
tại Hữu Lũng - Lạng Sơn ....................................................................................... 28
3.1.2. Khả năng sinh trưởng của các giống hoa cúc trồng tại Hữu Lũng - Lạng Sơn........ 28
3.1.3. Các giai đoạn sinh trưởng phát triển của 5 giống hoa cúc trồng thí nghiệm......... 31
3.1.4. Ảnh hưởng của giống đến tình hình sâu hại của hoa cúc .............................. 32
3.1.5. Hiệu quả kinh tế........................................................................................... 34
3.2. Kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng đến sinh trưởng
phát triển và chất lượng hoa của giống cúc Pha Lê tại Lạng Sơn ............................. 35
3.2.1 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển và nở hoa của cúc Pha Lê

tại

các thời điểm trồng khác nhau ............................................................................... 35
3.2.2. Ảnh hưởng của thời điểm trồng đến tỷ lệ nở hoa, chất lượng hoa cúc Pha Lê...... 37
3.2.3. Ảnh hưởng của thời điểm trồng đến tình hình sâu, bệnh hại
hoa cúc Pha Lê vụ Đông Xuân 2013-2014 tại Hữu Lũng - Lạng Sơn..................... 39
3.2.4. Hiệu quả kinh tế........................................................................................... 40
3.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng
và phát triển hoa cúc Pha Lê .................................................................................. 41
3.3.1. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tỷ lệ sống hoa cúc Pha Lê
trồng tại Hữu Lũng - Lạng Sơn.............................................................................. 41
3.3.2. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái tăng trưởng chiều cao của
hoa cúc Pha Lê trồng tại Hữu Lũng - Lạng Sơn ..................................................... 42
3.3.3. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái ra lá hoa cúc Pha Lê
trồng tại Hữu Lũng - Lạng Sơn............................................................................. 44
3.3.4. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến các giai đoạn sinh trưởng phát triển
hoa cúc Pha Lê ...................................................................................................... 45
3.3.5. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất, chất lượng hoa cúc Pha Lê ...... 47
3.3.5. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tình hình sâu hại hoa cúc Pha Lê.............. 49
3.3.6. Hiệu quả kinh tế........................................................................................... 50


v

3.4. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá Đầu trâu 502
đến khả năng sinh trưởng và phát triển giống hoa cúc Pha Lê................................ 51
3.4.1. Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá Đầu trâu 502 đến động thái
tăng trưởng chiều cao hoa cúc Pha Lê trồng tại Hữu Lũng - Lạng Sơn .................. 51
3.4.2. Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá Đầu trâu 502 đến động thái
ra lá của hoa cúc Pha Lê trồng tại Hữu Lũng - Lạng Sơn ....................................... 54
3.4.3. Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá Đầu trâu 502 đến các giai đoạn
sinh trưởng phát triển của hoa cúc Pha Lê ............................................................. 55
3.4.4. Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá Đầu trâu đến năng suất, chất lượng
của hoa cúc Pha Lê................................................................................................ 57
3.4.5. Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá Đầu trâu 502 đến tình hình sâu,
bệnh hại của hoa cúc Pha Lê.................................................................................. 59
3.4.6. Hiệu quả kinh tế........................................................................................... 61
3.5. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích sinh trưởng
Gibber 4T đến sinh trưởng và phát triển của hoa cúc Pha Lê.................................. 61
3.5.1. Ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích sinh trưởng Gibber 4T đến động
thái tăng trưởng chiều cao của hoa cúc Pha Lê trồng tại Hữu Lũng - Lạng Sơn ..... 61
3.5.2. Ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích sinh trưởng Gibber 4T
đến động thái ra lá của hoa cúc Pha Lê trồng tại Hữu Lũng - Lạng Sơn ................ 63
3.5.3. Ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích sinh trưởng Gibber 4T
đến các giai đoạn sinh trưởng phát triển của hoa cúc Pha Lê ................................. 64
3.5.4. Ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích sinh trưởng Gibber 4T
đến năng suất, chất lượng của hoa cúc Pha Lê ....................................................... 65
3.5.5. Ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích sinh trưởng Gibber 4T
đến tình hình sâu hại của hoa cúc Pha Lê............................................................... 67
3.5.6. Hiệu quả kinh tế........................................................................................... 69
Chương 4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................... 70
4.1. KẾT LUẬN ................................................................................................. 70
4.2. ĐỀ NGHỊ ....................................................................................................... 70


vi

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BVTV

Bảo vệ thực vật

CCC

Chiều cao cây

CT

Công thức

Đ/c

Đối chứng

TV

Thời vụ

ĐK hoa

Đường kính hoa

DTNN

Di truyền nông nghiệp

NL

Nhắc lại


vii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Khả năng sống sau trồng của các giống tại Hữu Lũng - Lạng Sơn ......... 28
Bảng 3.2. Một số đặc trưng hình thái các giống cúc thí nghiệm tại
Hữu Lũng - Lạng Sơn............................................................................................... 29
Bảng 3.3: Các giai đoạn sinh trưởng phát triển của 5 giống hoa cúc trồng thí nghiệm........ 31
Bảng 3.4: Tình hình sâu, bệnh hại các giống cúc thí nghiệm .......................................... 32
Bảng 3.5: Hiệu quả kinh tế trồng các giống cúc thí nghiệm ................................... 34
Bảng 3.6: Đặc điểm sinh trưởng, phát triển và nở hoa của cúc Pha Lê
tại các thời điểm trồng khác nhau .......................................................................... 36
Bảng 3.7 Ảnh hưởng của thời điểm trồng đến một số chỉ tiêu năng suất,
chất lượng hoa cúc Pha Lê thí nghiệm ...................................................................... 37
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của thời điểm trồng đến tình hình sâu, bệnh hại hoa cúc
Pha Lê vụ Đông Xuân 2013-2014 tại Hữu Lũng - Lạng Sơn.................................. 39
Bảng 3.9: Hiệu quả kinh tế trồng giống cúc Pha Lê ở các công thức thí nghiệm .... 40
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tỷ lệ sống của hoa cúc Pha Lê
trồng tại Hữu Lũng - Lạng Sơn.............................................................................. 41
Bảng 3.11: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái tăng trưởng chiều cao
hoa cúc Pha Lê trồng tại Hữu Lũng - Lạng Sơn ..................................................... 42
Bảng 3.12: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái ra lá hoa cúc Pha Lê
trồng tại Hữu Lũng - Lạng Sơn.............................................................................. 44
Bảng 3.13: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến các giai đoạn sinh trưởng phát triển
hoa cúc Pha Lê ...................................................................................................... 46
Bảng 3.14: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất, chất lượng của ................ 47
hoa cúc Pha Lê ...................................................................................................... 47
Bảng 3.15: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tình hình sâu,
bệnh hại hoa cúc Pha Lê ........................................................................................ 49
Bảng 3.16: Hiệu quả kinh tế trồng giống cúc Pha Lê ở các công thức thí nghiệm .. 50
Bảng 3.17: Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá Đầu trâu 502 đến động thái
tăng trưởng chiều cao hoa cúc Pha Lê trồng tại Hữu Lũng - Lạng Sơn .................. 52
Bảng 3.18: Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá Đầu trâu 502 đến động thái
ra lá của hoa cúc Pha Lê trồng tại Hữu Lũng - Lạng Sơn ....................................... 54


viii

Bảng 3.19: Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá Đầu trâu 502 đến các giai đoạn
sinh trưởng phát triển của hoa cúc Pha Lê ............................................................. 56
Bảng 3.20: Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá Đầu trâu đến năng suất,
chất lượng của hoa cúc Pha Lê ................................................................................. 57
Bảng 3.21: Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá Đầu trâu 502 đến tình hình sâu,
bệnh hại của hoa cúc Pha Lê.................................................................................... 59
Bảng 3.22: Hiệu quả kinh tế trồng giống cúc Pha Lê ở các công thức thí nghiệm .. 61
Bảng 3.23: Ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích sinh trưởng Gibber 4T
đến động thái tăng trưởng chiều cao của hoa cúc Pha Lê ....................................... 62
trồng tại Hữu Lũng - Lạng Sơn.............................................................................. 62
Bảng 3.24: Ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích sinh trưởng Gibber 4T
đến động thái ra lá của hoa cúc Pha Lê trồng tại Hữu Lũng - Lạng Sơn ................. 63
Bảng 3.25: Ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích sinh trưởng Gibber 4T
đến các giai đoạn sinh trưởng phát triển của hoa cúc Pha Lê ................................. 65
Bảng 3.26: Ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích sinh trưởng Gibber 4T
đến năng suất, chất lượng của hoa cúc Pha Lê............................................................ 65
Bảng 3.27: Ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích sinh trưởng Gibber 4T
đến tình hình sâu hại của hoa cúc Pha Lê............................................................... 67
Bảng 3.28: Hiệu quả kinh tế trồng giống cúc Pha Lê ở các công thức thí nghiệm


ix

DANH MỤC CÁC HÌNH
Biểu đồ 1: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái tăng trưởng chiều cao hoa
cúc Pha Lê trồng tại Hữu Lũng - Lạng Sơn............................................................ 42
Biểu đồ 2: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái ra lá hoa cúc Pha Lê
trồng tại Hữu Lũng - Lạng Sơn.............................................................................. 44
Biểu đồ 3: Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá Đầu trâu 502 đến động thái
tăng trưởng chiều cao hoa cúc Pha Lê trồng tại Hữu Lũng - Lạng Sơn .................. 52
Biểu đồ 4: Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá Đầu trâu 502 đến động thái
ra lá của hoa cúc Pha Lê trồng tại Hữu Lũng - Lạng Sơn ....................................... 54
Biểu đồ 5: Ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích sinh trưởng Gibber 4T đến
động thái tăng trưởng chiều cao của hoa cúc Pha Lê trồng tại Hữu Lũng - Lạng Sơn.... 62
Biểu đồ 6: Ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích sinh trưởng Gibber 4T
đến động thái ra lá của hoa cúc Pha Lê trồng tại Hữu Lũng - Lạng Sơn ................. 64


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoa là một trong các loại cây trồng nông nghiệp có vai trò quan trọng trong
đời sống con người. Khi đời sống ngày càng nâng cao thì nhu cầu sử dụng hoa càng
lớn. Hoa không những đem lại cho con người sự thoải mái khi thưởng thức vẻ đẹp
của chúng mà nó còn là sản phẩm thiết yếu được dùng trong các dịp lễ tết, hội
nghị… Chính vì vậy hoa không chỉ mang lại giá trị tinh thần cho con người mà còn
mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất.
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi phía Bắc nước ta có điều kiện tự nhiên như
đất đai, khí hậu… rất thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây hoa cúc.
Hiện nay, khi đời sống ngày càng được nâng cao thì nhu cầu thẩm mỹ ngày càng
lớn, vì vậy với sự phát triển kinh tế của tỉnh Lạng Sơn, nhu cầu hoa ở đây trong
những năm tới ngày một tăng cao. Đây là một trong những điều kiện thuận lợi để
phát triển, mở rộng sản xuất hoa, cây cảnh trên địa bàn.
Hiện nay một số diện tích trên địa bàn tỉnh đã chuyển đổi sang mô hình mới
như trồng hoa và một số loại cây trồng khác. Tỉnh đã hình thành một số vùng sản
xuất hoa, cây cảnh mang tính chuyên canh. Tuy nhiên sản xuất hoa còn gặp nhiều
khó khăn như đất đai phân tán nhỏ lẻ, nguồn lao động dồi dào nhưng số lao động có
hiểu biết về hoa cây cảnh còn ít, cơ sở hạ tầng yếu kém, ngoài những khó khăn trên
thì vấn đề về kỹ thuật trong sản xuất hoa cây cảnh cũng là một trong những khó
khăn không nhỏ. Người dân vẫn còn sản xuất theo phương pháp truyền thống và
dựa vào kinh nghiệm là chính, ít áp dụng các biện pháp kỹ thuật như sử dụng chất
kích thích sinh trưởng, bón phân qua lá … nên năng suất, chất lượng hoa vẫn còn
thấp, mẫu mã chưa được đẹp và bắt mắt, chủng loại và hình dáng hoa chưa phong
phú nên chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường trong và ngoài nước.
Hoa cúc là giống cây trồng mới được trồng ở địa phương, các biện pháp kỹ
thuật trồng, chăm sóc phù hợp với điều kiện tự nhiên tại đây chưa được nghiên
cứu một cách hệ thống và đầy đủ. Chính vì vậy, chúng tôi triển khai đề tài: “ Đánh
giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống cúc và biện pháp kỹ thuật
sản xuất hoa cúc Pha Lê tại Hữu Lũng - Lạng Sơn”


2

2. Mục đích yêu cầu đề tài
2.1. Mục đích
- Xác định được giống cúc có năng suất, chất lượng tốt, màu sắc đẹp phù hợp
với thị hiếu người tiêu dùng và thích nghi với điều kiện sinh thái của Hữu Lũng Lạng Sơn
- Xác định được biện pháp kỹ thuật thích hợp để nâng cao năng suất, chất
lượng hoa và tăng hiệu quả kinh tế sản xuất hoa cúc Pha Lê tại Hữu Lũng - Lạng Sơn.
2.2. Yêu cầu
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống hoa cúc tại
Lạng Sơn.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật trồng đến sinh trưởng,
phát triển và chất lượng hoa của giống hoa cúc Pha Lê tại Hữu Lũng - Lạng Sơn.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ cung cấp số liệu khoa học có giá trị về đặc
điểm sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng các giống hoa cúc thí nghiệm, từ
đó tìm ra được giống hoa thích hợp trồng tại Lạng Sơn.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học để xác định ảnh hưởng của các
biện pháp kỹ thuật trồng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng hoa cúc.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo trong giảng dạy, nghiên
cứu hoa nói chung và hoa cúc nói riêng.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Bổ sung một số giống hoa mới vào cơ cấu chủng loại hoa phục vụ sản xuất
hoa tại Lạng Sơn.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học cho việc xây dựng quy
trình trồng, chăm sóc cho giống hoa cúc.


3

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giới thiệu chung về cây hoa cúc
Cây hoa cúc có tên khoa học là Chrysanthemum sp. có nguồn gốc từ Trung
Quốc, Nhật Bản và một số nước châu Âu. Chen. J (1985) [30] đã chứng minh rằng
cúc đã được trồng ở Trung Quốc cách đây 500 năm trước công nguyên. Ngày nay,
cúc đã được trồng hầu khắp các nước trên thế giới như Hà Lan, Ý, Đức, Pháp, Nhật
Bản. Ở Việt Nam, hoa cúc đã được trồng từ lâu, người Việt Nam coi hoa cúc là biểu
tượng của sự thanh cao, là một trong 4 loài thảo mộc được xếp vào hàng tứ quý
“Tùng, cúc, trúc, mai” hoặc “Mai, lan, trúc, cúc”.
Theo Võ Văn Chi, Lê Khả Kế (1969) [1], trong hệ thống phân loại thực vật
hoa cúc được xếp vào lớp hai lá mầm (Dicotyledonec), phân lớp cúc (Asterydae),
bộ cúc (Asterales), họ cúc (Asteraceae), phân họ giống hoa cúc (Asteroideae), chi
Chrysanthemum. Theo Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1978) [2] điều tra hiện nay
thì chi Chrysanthemum ở Việt Nam có 75 giống 200 loài và trên thế giới có tới
20.000 loài và trên 1.000 giống. Theo Trần Hợp (1993) [7], trong đó có 4 loài thông
dụng nhất, được sử dụng nhiều nhất để chơi hoa, làm cảnh đó là: C. morifolium; C.
maximum; C. coronarium; C.indicum.
1.2. Nguồn gốc lịch sử phát triển cây hoa cúc
Theo tài liệu cổ Trung Quốc thì hoa cúc có cách đây 3.000 năm. Trong văn
thơ Hán cổ hoa cúc có 30 đến 40 tên gọi khác nhau như: Nữ hoa, Cam hoa, Diên
hoa.... Hoa cúc có nguồn gốc từ một số loài dã sinh thuộc loại cúc (Dendran thema),
trải qua quá trình trồng trọt lai tạo và chọn lọc từ những biến dị để có được những
giống cúc ngày nay. Tuy không có những ghi chép về lịch sử trồng trọt bắt đầu từ
thời nào nhưng trong Sở từ (Trung Quốc) có nói đến “Thu Cúc”. Có một bộ sách
nổi tiếng về hoa cúc sớm nhất là vào năm 1104 đời Bắc Tống do Lưu Mông viết gọi
là cúc Phổ. Sau đời Tống, sách tài liệu về hoa cúc không dưới 30, 40 quyển, nội
dung đề cập đến những vấn đề giống, phân loại trồng trọt, sâu bệnh.... đã đóng góp
rất lớn trong việc phát triển hoa cúc ở Trung Quốc nói riêng và của thế giới nói
chung (Đặng Văn Đông, 2005) [5].


4

Tuy nhiên phải từ những năm 1930 việc trồng hoa cúc ở Trung Quốc mới bắt
đầu được coi trọng, bảo hộ và đề cao. Lần đầu tiên vào năm 1982 Trung Quốc tổ
chức triển lãm hoa Cúc ở Thượng Hải với trên 1.000 giống, đánh dấu bước chuyển
quan trọng trong sự nghiệp trồng hoa cúc. Các nhà làm vườn thế giới đã thảo luận
rất sôi nổi về việc phân loại hoa cúc và tương đối thống nhất với cách phân loại của
Trung Quốc. Năm 1993 giáo sư Lý Hồng Triết trong tác phẩm “Hoa Cúc Trung
Quốc” đã thu thập và mô tả trên 6.000 mẫu giống hoa cúc sau đó chỉnh lý thành tập
sách trên 3.000 giống, ông đã chụp ảnh 3.302 mẫu giống và miêu tả tính trạng từng
giống. Ở Thượng Hải (1989), Khai Phong (1992), Vô Tích (1995) và Thành Đô
(1998) (Trung Quốc) đều đã có các cuộc triển lãm hoa cúc và có hàng vạn người
đến dự. Các cuộc triển lãm đã nâng cao trình độ nghiên cứu phát triển và kỹ thuật
trồng trọt của nghề trồng cúc.
Theo Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc (2003) [6], khi hoa cúc được di thực từ
Trung Quốc sang Nhật Bản, đã được đánh giá rất cao ở nước này và được mệnh
danh là “Hoàng thất quốc hoa”. Năm 1939 Edsmit người Nhật đã bắt đầu lai tạo
thành công nhiều giống Cúc và ông đã đặt tên cho hơn 100 giống của các thế hệ sau
đó; một số giống này vẫn còn duy trì và được trồng đến ngày nay.
Theo Amagasa K, Kameya T. (1989) [ 23], lịch sử phát triển nghề trồng cúc
ở châu Âu muộn hơn Trung Quốc. Năm 1843 một nhà thực vật học R. Fortune
(người Anh) đến Trung Quốc khảo sát và mang về giống hoa cúc Chusan Daisy,
giống này chính là giống bố mẹ của giống hoa cúc hình cầu và hình tán xạ ngày
nay. Năm 1889 nước Pháp nhập từ Trung Quốc 3 giống hoa cúc đại đoá về trồng và
đến năm 1827 Bernet (người Pháp) đã thành công trong việc lai tạo ra một số giống
cúc mới, từ đó dẫn đến một sự cải tiến rất mạnh mẽ về giống cúc ở châu Âu.
Từ đầu thế kỷ XVIII hoa cúc đã được trồng ở Mỹ, nhưng phải đến năm 1860
hoa cúc mới trở thành hàng hoá và được trồng trong nhà lưới. Hiện nay ở Mỹ, hoa
cúc là loại hoa rất quan trọng, chủ yếu là để cắt cành, một phần trồng trong chậu.
1.3. Đặc điểm thực vật học của cây hoa cúc
- Rễ
Theo Nguyễn Xuân Linh (1998) [11] rễ cây hoa cúc thuộc loại rễ chùm, chỉ
khi cây thực sinh còn nhỏ mới có rễ chính thức rõ ràng. Đầu chóp rễ có sức phân


5

nhánh mạnh, trong điều kiện đất thích hợp thì rất nhanh hình thành bộ rễ có nhiều
nhánh, điều đó có lợi cho sự hút nước và dinh dưỡng. Rễ của các cây nhân từ
phương pháp vô tính đều phát sinh từ thân và đều là rễ bất định. Thân cúc bất kể ở
đốt hay giữa lóng đều rất dễ hình thành rễ bất định, vì vậy cây hoa cúc là một loại
cây rất dễ nhân giống từ thể dinh dưỡng.
- Thân
Cây hoa cúc thuộc loại thân thảo có nhiều đốt giòn, dễ gãy, khả năng phân
cành mạnh. Thường là những giống cúc đơn thân mập thẳng, giống cúc chùm thân
nhỏ và cong. Vanderkamp (2000) [49] cho rằng thân đứng hay bò, cao hay thấp, đốt
dài hay ngắn, sự phân cành mạnh hay yếu còn tuỳ thuộc vào từng giống. Cây có thể
cao từ 30 đến 80 cm, thậm chí có khi đến 1,5 đến 2m.
- Lá
Theo Cockshull (1985) [26] mô tả: Lá cúc xẻ thuỳ có răng cưa, lá đơn mọc so le nhau,
mặt dưới bao phủ một lớp lông tơ, mặt trên nhẵn, gân hình mạng lưới. Từ mỗi nách lá thường
phát sinh ra một mầm nhánh. Phiến lá to nhỏ, dày mỏng, xanh đậm nhạt hay xanh vàng còn
tuỳ theo giống. Bởi vậy, trong sản xuất để đạt hiệu quả kinh tế cao thường tỉa bỏ các cành
nhánh phụ đối giống cúc đơn và để cây sinh trưởng phát triển tự nhiên đối với các giống cúc
chùm. Từ những đặc điểm về thân lá cho thấy, những giống cúc có năng suất cao thường có
bộ lá gọn, thân cứng mập và thẳng, khả năng chống đổ tốt.
- Hoa, quả, hạt
+ Hoa: Theo Cornish, Stevenson (1990) [27] và Okada (1994) [39] miêu tả
hoa cúc là hoa lưỡng tính hoặc đơn tính với nhiều màu sắc khác nhau, đường kính
hoa từ 1,5 đến12cm, có thể là đơn hay kép và thường mọc nhiều hoa trên 1 cành,
phát sinh từ các nách lá. Hoa cúc chính là gồm nhiều hoa nhỏ hợp lại trên một
cuống hoa, hình thành hoa tự đầu trạng mà mỗi cánh thực chất là một bông hoa.
Tràng hoa dính vào bầu như hình cái ống, trên ống đó phát sinh cánh hoa. Những
cánh nằm phía ngoài thường có màu sắc đậm hơn và xếp thành nhiều tầng, việc xếp
chặt hay lỏng còn tuỳ giống. Cánh có nhiều hình dạng khác nhau, cong hoặc thẳng,
có loại cánh ngắn đều, có loại dài, xoè ra ngoài hay cuốn vào trong.
Cũng theo Cockshull (1976) [25] và Zagorski, Ascher, Widmer (1983) [55]


6

hoa cúc có từ 4 đến 5 nhị đực dính vào nhau, bao xung quanh vòi nhụy. Vòi nhụy
mảnh, hình chẻ đôi. Khi phấn chín, bao phấn nở tung phấn ra ngoài, nhưng lúc này
vòi nhụy còn non chưa có khả năng tiếp nhận hạt phấn. Bởi vậy, hoa cúc tuy lưỡng
tính nhưng thường biệt giao, nghĩa là không thể thụ phấn trên cùng hoa, nếu muốn
lấy hạt phấn phải thụ phấn nhân tạo. Nên trong sản xuất, việc cung cấp cây con chủ
yếu thực hiện bằng phương pháp nhân giống vô tính.
+ Quả: Theo Anderson (1988) [22] và Ishiwara (1984) [32] quả cúc thuộc loại
quả bế khô, hình trụ hơi dẹt, trong quả chứa rất nhiều hạt. Hạt có phôi thẳng và
không có nội nhũ.
1.4. Yêu cầu ngoại cảnh và dinh dưỡng của cây hoa cúc
1.4.1. Nhiệt độ
Cây hoa cúc có nguồn gốc ôn đới nên ưa khí hậu mát mẻ, nhiệt độ thích hợp
cho cây cúc sinh trưởng, phát triển tốt từ 15 đến 200C, cúc có thể chịu được nhiệt độ
từ 10 đến 350C, nhưng trên 350C và dưới 100C sẽ làm cúc sinh trưởng, phát triển
kém. Deong (1984) [30], Hoogeweg (1999) [31] và Karlson (1989) [34] cho rằng,
nhiệt độ tối thích cho sự ra rễ của cúc là 160C, nên trong điều kiện miền Bắc Việt
Nam việc giâm cành cúc trong mùa Hè là hết sức khó khăn nếu không có biện pháp
kỹ thuật tác động phù hợp như tưới tiêu, bảo vệ thực vật và điều chỉnh hợp lý một
số yếu tố: nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm bằng phương pháp nhân tạo.
Trên cơ sở phản ứng ra hoa của cúc với nhiệt độ, Kawata (1987) [35] đã chia
thành 3 nhóm. Loại cúc có thể ra hoa ở bất kỳ nhiệt độ nào, trong khoảng từ 10 đến
270C nhưng tốt nhất ở 170C về ban đêm. Cúc ưa lạnh ở nhiệt độ thấp liên tục (10
đến 130C) và làm chậm sự hình thành chồi. Ở nhiệt độ trên 270C ra hoa chậm nhưng
hình thành chồi nhanh.
1.4.2. Ánh sáng
Yulian, Fujime (1995) [54] đã kết luận, cúc là cây ngày ngắn, ưa sáng và
đêm lạnh. Thời kỳ đầu mầm non mới ra rễ cây cần ít ánh sáng, nhưng trong quá
trình sinh trưởng, ánh sáng quá mạnh cũng làm cho cây chậm lớn. Ngoài ra, Jong J,
D (1989) [33] và Strojuy (1985) [48] đã khẳng định, thời gian chiếu sáng rất quan
trọng cho cây hay nói cách khác ngày đêm dài hay ngắn có tác dụng khác nhau đối
với loại hoa này. Hầu hết, các giống cúc trong thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng cần


7

ánh sáng ngày ngắn, đêm dài trên 13 giờ, còn trong giai đoạn trổ hoa cây chỉ cần
ánh sáng ngày ngắn từ 10 đến 11h và nhiệt độ không khí dưới 200C. Bởi vậy, trong
điều kiện Việt Nam cúc rất phù hợp với thời tiết thu đông, nhưng hiện nay một số
giống cúc nhập nội có thể ra hoa trong điều kiện ngày dài, điển hình như các giống
CN93, CN98 rất thích hợp với vụ Xuân Hè và Hè Thu, nên cúc có thể trồng quanh
năm thay vì trước đây chỉ có hoa vào mùa Đông.
Nhiệt độ, ánh sáng không tác động một cách riêng rẽ mà phối hợp nhau, kìm
hãm hay thúc đẩy sự sinh trưởng và phát triển của cây hoa cúc. Okada (1999) [41]
đã cho rằng: đối với nhóm cúc ra hoa mùa Thu, sự hình thành và phát triển chồi là
trong điều kiện ngày ngắn, chồi hoa hình thành ở nhiệt độ >150C. Còm nhóm ra hoa
mùa Đông dù trong điều kiện ngày ngắn, nhưng nếu nhiệt độ cao sẽ ức chế sự phát
triển của chồi hoa. Riêng nhóm ra hoa mùa Hè, chồi thường hình thành ở nhiệt độ
100C trong điều kiện ngày trung tính.
Theo Hoogeweg (1999) [31], thời gian chiếu sáng 11 giờ cho chất lượng hoa
cúc tốt nhất, nhưng nếu ở nhiệt độ cao vẫn ức chế sự ra hoa nên vào những năm
nóng ẩm sự ra hoa của cúc sẽ gặp khó khăn hơn mặc đù điều kiện ánh sáng có thể
đã phù hợp. Nhiều nghiên cứu khác cũng cho thấy độ dài ngày có ảnh hưởng tới sự
ra hoa của cúc, vào thời kỳ ra hoa, cây yêu cầu thời gian chiếu sáng là 10 giờ, nhiệt
độ thích hợp là 180C, nếu thời gian chiếu sáng dài sẽ kéo dài thời gian sinh trưởng
của cây, cây cao, lá to và ra hoa muộn.
1.4.3. Độ ẩm
Shewell Cooper (1975) [45] và Vidalie (1986) [51] cho rằng, độ ẩm đất từ 60
đến 70% và độ ẩm không khí 75 đến 80% là rất thuận lợi cho cúc sinh trưởng. Nếu
độ ẩm trên 80% cây phát triển mạnh nhưng lá dễ bị mắc một số bệnh nấm. Đặc biệt
vào thời kỳ thu hoạch, hoa cúc cần thời tiết khô ráo. Nếu độ ẩm không khí quá cao
sẽ làm cho hoa lá bị thối dập, cây dễ đổ non, gây khó khăn cho việc thu hoạch.
1.4.4. Đất đai
Do cúc có bộ rễ ăn ngang, rễ phát triển mạnh và nhiều rễ phụ nên đất thích
hợp cho cúc phải là đất thịt nhẹ, cát pha, tơi xốp, nhiều mùn, có tầng canh tác dầy,
tương đối bằng phẳng, thoát nước tốt. Độ pH đất từ 6 đến 7 là thích hợp. Đất trồng
cúc nên có một chế độ luân canh hợp lý và phải cày sâu bừa kĩ rồi phơi ải để tăng


8

cường sự hoạt động của sinh vật hữu ích, tăng cường sự lưu thông không khí trong
đất, làm cho đất giữ nước tốt, theo Nguyễn Xuân Linh và các cộng sự (1998) [11].
1.4.5. Yêu cầu về dinh dưỡng của cây hoa cúc
Dinh dưỡng cho cây hoa cúc bao gồm cả dinh dưỡng đa lượng (N,P,K) và vi
lượng (Bo, Cu, Zn, Fe…).
Trong sản xuất hoa nói chung và hoa cúc nói riêng thì dinh dưỡng hay phân
bón đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra năng suất và chất lượng hoa cao
hay thấp. Nếu thiếu dinh dưỡng cây sẽ bị còi cọc, chậm lớn dễ bị sâu bệnh hại, hoa
nhỏ, không đạt tiêu chuẩn chất lượng. Nhưng nếu thừa dinh dưỡng cây sẽ phát triển
quá mức, cây vống cao, dễ bị đổ, sâu bệnh nhiều, cây ra hoa muộn và chất lượng
hoa cũng kém. Vì vậy, việc bón phân bón đầy đủ, cân đối, đúng lúc là một kỹ thuật
quan trọng sản xuất hoa cúc nói riêng và sản xuất hoa nói chung. Đồng thời việc sử
dụng phân bón một cách hợp lý không những làm tăng năng suất, chất lượng hoa
mà còn làm giảm được tác hại của nó đến kết cấu đất và môi trường theo Hoàng
Ngọc Thuận (2005) [18]
1.5. Tình hình sản xuất và phát triển hoa cúc trên thế giới và ở Việt Nam
1.5.1. Tình hình sản xuất và phát triển hoa cúc trên thế giới
Hoa cúc ngày nay là một trong những loại hoa thời vụ phổ biến nhất trên thế
giới và được ưa chuộng bởi sự đa dạng, phong phú về màu sắc, kích cỡ, hình dáng
hoa và hơn thế người ta có thể chủ động điều khiển sự ra hoa của cây để tạo nguồn
sản phẩm hàng hoá liên tục và ổn định quanh năm.
Ở các nước Bắc Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản, hoa cúc đứng vị trí thứ hai chỉ sau
hoa hồng và năm 1993 tại công ty bán đấu giá ở Hà Lan, cúc là một trong mười loại
cây trồng bằng chậu bán chạy nhất. Theo Yahel và Sukamoto (1985) [52], bốn nhà
sản xuất chính là Hà Lan 800 triệu cành/năm, Colombia 600 triệu cành/năm, Ý 500
triệu cành/năm và liên bang Mỹ 300 triệu cành/năm.
Trong các nước châu Á thì hiện nay Nhật Bản là nước dẫn đầu về sản xuất
hoa cúc, khoảng 200 triệu cành mỗi năm phục vụ cho tiêu dùng nội địa và xuất
khẩu. Mỗi năm sản lượng cúc đạt 26 tỷ yên, chiếm 27% diện tích trồng hoa ở Nhật
(Shibata và Kawata, 1987) [46].


9

Theo Narumon (1988) [38], Roberson (1990) [42], Thái Lan cũng là nước
sản xuất hoa cúc tương đối mạnh. Hiện nay ở Thái Lan, cúc được trồng quanh năm
với sản lượng là 50.841.500 cành cắt/năm, đạt năng suất 101.700 cành/Rai (theo tỉ
giá 25 bath = 1USD và 1bath = 6,25Rai).
Ở Trung Quốc, theo Blabjerg (1997) [24], Yangxiaohan (1997) [53], cúc là
một trong 10 loại hoa cắt quan trọng chỉ sau hồng và cẩm chướng, chiếm khoảng
20% tổng số hoa cắt trên thị trường bán buôn ở Bắc Kinh và Côn Minh. Vùng sản
xuất chính là Quảng Đông, Thượng Hải và Bắc Kinh.
Ở Malaixia, cúc chiếm 23% trong tổng số hoa cắt, các giống mới chủ yếu
nhập từ Hà Lan như Reagan yellow, Reagan dark. Việc sản xuất hoa cúc có nhiều
tiến bộ trong việc cải tiến chế độ dinh dưỡng, sử dụng quang chu kỳ, phòng trừ sâu
bệnh hại và công nghệ sau thu hoạch để nâng cao phẩm chất hoa (Limhengjong
Mohd (1997) [36].
1.5.2. Tình hình sản xuất và phát triển hoa cúc ở Việt Nam
Hiện nay, nhiều chủng loại hoa cúc đã được trồng phổ biến ở khắp nước ta.
Một số vùng sản xuất chính là Hà Nội, Hải Phòng, Sapa, Thành phố Hồ Chí Minh
và tỉnh Lâm Đồng, trong đó Đà Lạt là nơi lý tưởng cho việc sinh trưởng và phát
triển của hầu hết các loại hoa cúc. Theo Dadlani (2000) [29], Đà Lạt có đất đai phù
hợp, khí hậu thuận lợi, người dân có truyền thống trồng hoa, nên một số công ty
nước ngoài đã lập doanh nghiệp hoặc liên doanh để sản xuất hoa, riêng tỉnh Lâm
Đồng đã có 4 công ty như Nhật Bản, Thái Lan ở Bảo Lộc; Đài Loan ở Di Linh;
Chánh Đài Lâm ở Đức Trọng và Hasfarm ở Đà Lạt với 100% vốn nước ngoài
chuyên trồng hoa cắt, đặc biệt là hoa cúc chùm trong nhà kính, nhà che… đây là nơi
cung cấp 60% sản lượng hoa cho thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Bắc chủ
yếu là Hà Nội, Hải Phòng…. Năm 1996 đã xuất khẩu gần 1 triệu cành hoa cắt mà
phần lớn là hoa cúc sang Hồng Kông, Nhật Bản, Thái Lan tăng 25% so với năm
1995 và chiếm hơn 80% sản lượng hoa được trồng. Năm 1997 dự kiến sẽ xuất khẩu
1,5 triệu cành (Thông tin KHKT rau quả) (1997) [14].
Thành phố Hồ Chí Minh là thị trường tiêu thụ hoa lớn nhất của Việt Nam,
nhu cầu hoa cắt trong ngày từ 25.000 đến 30.000 cành. Hiện nay, thành phố vẫn


10

phải đi nhập các loại hoa cắt, trong đó có cúc chùm từ Hà Lan, Đài Loan, Singapo.
Đặc biệt là các loại cúc đơn (CN98, CN93…) từ Hà Nội vào với giá từ 3000 đến
4000đ/cành.
Sau Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội cũng là một trong những vùng sản xuất
và tiêu thụ hoa lớn ở Việt Nam. Theo số liệu điều tra sơ bộ của Nguyễn Xuân Linh
và cộng sự (1996) [9], những năm 1995 diện tích trồng cúc của cả nước mới chỉ có
khoảng 300 ha thì đến năm 1998 chỉ riêng Hà Nội đã có diện tích là 411,8 ha và đến
năm 1999 là 460,8 ha. Trong đó, Từ Liêm là huyện có diện tích trồng hoa cúc lớn
nhất 310 ha (1999), riêng hợp tác xã Tây Tựu có đến 200 ha trồng cúc trong tổng số
330 ha gieo trồng, cả xã có 2400 hộ thì có tới 2000 hộ trồng cúc. Tây Tựu trở thành
một trong những trung tâm cung cấp hoa và giống hoa cúc cho thị trường Thủ đô và
các vùng lân cận.
Theo thống kê từ các địa phương sản xuất và các hộ kinh doanh buôn bán
hoa, từ những năm 1999 sản lượng hoa cúc cắt cành của Hà Nội là 41,1 tỷ đồng, thị
trường tiêu thụ chủ yếu là nội tỉnh, chiếm 69% với giá bán từ 200 đến 300
đồng/bông. Các tỉnh khác là 22%, giá bán tới 400 đến 500 đồng/bông và xuất khẩu
là 9%, chủ yếu xuất sang Trung Quốc theo con đường tiểu ngạch với giá cúc cao
gấp 2 đến 3 lần giá nội địa, đạt doanh thu lên 3,6 tỷ đồng (Đặng Văn Đông,
2000)[3]. Điều này cho chúng ta thấy ý nghĩa quan trọng của việc xuất khẩu hoa
sang các nước, mở ra một triển vọng mới cho việc xây dựng các vùng sản xuất hoa
với chất lượng cao.
Cùng với giống cúc Vàng Đài Loan, từ năm 1998 đến nay, giống hoa cúc
mới CN 98 đã thực sự bổ sung vào cơ cấu trồng cúc quanh năm thay vì trước đây
chỉ có cúc vào mùa Đông. Hai giống chủ lực vào mùa Hè không thể thay thế các
giống khác đó là CN93, CN98 và mùa Đông là một số giống như CN97, Vàng Đài
Loan… và một số giống cúc Chi của Singapo và Hà Lan. Tuy nhiên, trong mấy năm
trở lại đây, hàng loạt các giống cúc khác nhau đã được nhập về một cách ồ ạt mà
một số giống đã không qua trồng khảo nghiệm để đánh giá một cách khoa học đã
đưa ra trồng ngoài sản xuất nên gặp phải rủi ro là cây ra hoa ngay khi còn nhỏ.


11

Để nâng cao năng suất, chất lượng hoa cắt thì bên cạnh yếu tố về giống, phân
bón, công tác bảo vệ thực vật, chúng ta cần nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật tác
động. Chẳng hạn, giống Cúc Vàng Đài Loan, CN97 … là những giống thích hợp vụ
Đông Xuân, nhưng để nâng cao chất lượng hoa cắt cần tác động biện pháp kỹ thuật
như điều khiển quang chu kỳ, sử dụng chất kích thích sinh trưởng… hay biện pháp
giâm cành kết hợp nuôi cấy mô trong khâu kỹ thuật nhân nhanh giống cúc.
Như vậy, có thể thấy rằng: việc sản xuất và phát triển hoa cúc ở nước ta có
nhiều thuận lợi nhưng bên cạnh đó cũng gặp không ít khó khăn. Để phát triển ngành
sản xuất hoa nói chung và hoa cúc nói riêng thì cần có sự kết hợp giữa 3 nhà: nhà
nước cần có các chính sách về hỗ trợ vốn đầu tư sản xuất, các nhà khoa học chuyên
môn cần nghiên cứu tìm ra các biện pháp kỹ thuật tác động nhằm nâng cao năng
suất, phẩm chất hoa để từ đó chuyển giao những tiến bộ khoa học kỹ thuật đến
người sản xuất.
1.6. Tình hình nghiên cứu cây hoa cúc trên thế giới và ở Việt Nam
Cây hoa cúc tuy có nguồn gốc từ rất lâu đời, song mãi đến đến thế kỷ XX,
khi nó đã trở thành sản phẩm hoa cắt có giá trị cao trên thị trường hoa cắt thế giới
thì hoa cúc mới được nhiều nước quan tâm nghiên cứu trên các lĩnh vực khác nhau
như: tạo giống, nhân giống, kỹ thuật trồng và chăm sóc…
1.6.1. Tình hình nghiên cứu cây hoa cúc trên thế giới
1.6.1.1. Nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ và ánh sáng đến sinh trưởng và phát triển
của hoa cúc

Do giá trị kinh tế cũng như giá trị sử dụng của cây hoa cúc trên thế giới đã có
nhiều nước đi sâu nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực như: Kỹ thuật trồng, nhân giống,
tạo giống mới, điều kiện ngoại cảnh… và đã có nhiều thí nghiệm cho thấy điều kiện
ngoại cảnh ảnh hưởng đến cây hoa cúc, đặc biệt là nhiệt độ và ánh sáng.
Nhiệt độ và ánh sáng ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng, phát triển, nở
hoa và chất lượng hoa cúc. Nhiệt độ, ánh sáng không tác động riêng rẽ đến cây hoa
cúc mà nó còn phối hợp với nhau một cách kìm hãm hay thúc đẩy đến sự sinh
trưởng, phát triển của cây hoa cúc.
Theo Strelitus V.P và Zhuravie Y.P (1986) [47], thì tổng tích ôn của hoa cúc
là 17000C và nhiệt độ thích hợp là 20 đến 250C, nhiệt độ nhỏ hơn 100C ảnh hưởng


12

đến sự phát triển của cây hoa cúc, nhiệt độ lớn hơn 300C ảnh hưởng đến màu sắc
chất lượng của hoa.
Theo nghiên cứu của Runkle, Heins, Cameron, Carlson (1998) [43] muốn để
cho hoa của giống cúc Snow nở hoa hoàn toàn, tập trung với số lượng lớn cần phải
xử lý lạnh 50C trong vòng 6 tuần, sau đó xử lý ánh sáng ngày dài lớn hơn hoặc bằng
10h xử lý quang gián đoạn 4h đêm.
Các tác giả Van Ruiten, De Jong (1984) [52], Okada(1994) [40] cũng cho
rằng: sự ra hoa của cây cúc ngoài ảnh hưởng của quang chu kỳ, còn chịu ảnh hưởng
của nhiệt độ. Nhiệt độ không chỉ ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của nụ mà còn ảnh
hưởng đến sự phân hoá và phát dục của hoa cúc. Nụ được phân hoá nếu gặp nhiệt
độ thấp, quá trình phát dục sẽ bị chậm nên hoa cũng nở muộn. Thời gian nở hoa
sớm hay muộn tuỳ thuộc vào chế độ nhiệt và đặc tính di truyền của giống.
Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ tới sự ra hoa của các giống cúc tại
châu Âu, Karlsson [34] chia cúc ra làm 3 nhóm:
- Nhóm không bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ: trong phạm vi từ 10 đến 270C,
nhiệt độ không ảnh hưởng gì đến sự phân hoá và phát dục của hoa. Nhưng nhiệt độ
cao hơn hoặc thấp hơn nhiệt độ trên sẽ ức chế sự ra hoa.
- Nhóm giống bị nhiệt độ thấp ức chế ra hoa: bình thường chúng bắt đầu phân
hoá mầm hoa từ 160C trở lên, nhiệt độ thấp hơn 160C sẽ ức chế sự phân hoá hoa.
- Nhóm giống bị nhiệt độ cao ức chế ra hoa: thời điểm bắt đầu phân hoá của
nhóm này ở nhiệt độ cao trên 200C, nhưng nếu nhiệt độ quá cao trên 350C kéo dài
thì sự phát dục của nụ bị ngừng trệ.
1.6.1.2. Nghiên cứu về phân bón lá
Năm 1993, Nakamura và Kageyama [37] khi nghiên cứu lượng phân đạm
bón cho giống cúc Fukusuke đã kết luận rằng: hàm lượng đạm tốt nhất để cung cấp
cho mỗi cây/vụ là 800mg, kết quả này đã được áp dụng rộng rãi trong sản xuất và
thu được chất lượng hoa cúc trồng chậu rất cao.
1.6.1.3. Nghiên cứu về chất kích thích sinh trưởng
Các chất kích thích sinh trưởng của thực vật là những chất có bản chất hoá
học khác nhau nhưng đều có vai trò rất quan trọng trong quá trình điều khiển sinh


13

trưởng. Tuỳ thuộc vào các chất khác nhau mà chúng có thể tham gia vào các quá
trình cơ bản như: điều khiển quá trình phát chồi, tăng trưởng chiều cao, đường kính
thân, điều khiển quá trình ra lá, ra hoa, ra rễ (đối với cành giâm, cành chiết..)
Năm 1992, Sanjaya.L [44], khi nghiên cứu ảnh hưởng của 6 công thức xử lý
chất điều tiết sinh trưởng là IBA, IAA, NAA, Biorota, Rootonef và đối chứng
không xử lý, đã chỉ ra IBA là có hiệu quả cao nhất trong việc nâng cao số lượng rễ
cũng như chiều dài rễ.
Khi nghiên cứu hiệu quả của IBA đến sự ra rễ của cành giâm, Nong Kran.K
(1989) [39], đã nhận thấy rằng nồng độ 1000ppm khi xử lý ở các kiểu cúc chùm và
cúc đơn cho hiệu quả tốt nhất so với các nồng độ 3000ppm và 8000ppm.
.
Mặc dù cây hoa cúc đã được trồng ở nước ta từ rất lâu, nhưng các kết quả
nghiên cứu về cây hoa này vẫn còn hạn chế. Trước năm 1992 các nghiên cứu chủ
yếu tập trung vào việc tập hợp các kinh nghiệm trồng hoa và phân loại cúc. Từ năm
1993 trở lại đây, cùng với sự xuất hiện của các giống cúc nhập nội mới thì đã có rất
nhiều các nghiên cứu về cây hoa này ở các lĩnh vực khác nhau.
1.6.2.1. Nghiên cứu về giống
Hoa cúc được du nhập vào nước ta từ thế kỷ 15, đến đầu thế kỷ 19 đã hình
thành một số vùng chuyên trồng cúc, các vùng trồng nổi tiếng hiện nay như Hà nội,
TP Hồ Chí Minh, Đà Lạt, Hải Phòng.
Từ năm 1993 đến 1999 một số giống cúc nhập nội đã được chọn lọc và
khẳng định được về vị thế trên thị trường hoa cắt như: CN93 (cúc Trắng) được nhập
từ Nhật Bản về, được chọn lọc và được đưa ra sản xuất từ trung tâm Hoa và cây
cảnh Viện Di truyền nông nghiệp (DTNN). Đây là giống có ưu điểm phù hợp với
điều kiện khí hậu nước ta có thể trồng nhiều vụ trong năm, hoa to màu sắc đẹp, cành mập
thẳng, thời gian sinh trưởng ngắn, độ bền hoa cắt lâu. Ngoài ra một số giống nhập nội đang sử
dụng trong sản xuất như: CN97, CN98…là kết quả nghiên cứu, khảo sát, chọn lọc, đánh giá
những đặc điểm nông sinh học, năng suất, phẩm chất của Viện DTNN
Để lựa chọn được những giống hoa cúc phù hợp với điều kiện phía Bắc
Việt Nam, từ năm 1995 Viện Nghiên cứu Rau quả đã tiến hành trồng thử nghiệm


14

các giống hoa mới nhập nội, kết quả đã chọn được những giống hoa có năng suất,
chất lượng cao như giống CN07-6, Vàng Đông, Chi Trắng, Chi Vàng, Thọ Đỏ, Đỏ
Nhung, Tím Sen, Pha Lê...
Ngoài ra trung tâm kỹ thuật Rau - Hoa - Quả Hà Nội cũng nghiên cứu, chọn
lọc một số cúc nhập nội từ tập đoàn giống của Hà Lan, và cũng đã chọn lọc được
giống cúc Vàng Đài Loan, đây là giống cúc chủ lực trong vụ Đông hiện nay.
Năm 1998, các tác giả Nguyễn Xuân Linh - Nguyễn Thị Kim Lý [10] đã tiến
hành trồng thử nghiệm một số giống cúc và chúng đều sinh trưởng, phát triển tốt,
trong đó 2 giống có tiềm năng cho năng suất cao và chất lượng tốt nhất là CN93,
CN98. Hai giống Tím Hồng, Tím Sẫm mặc dù hoa nhỏ hơn nhưng có ưu điểm thân
cây thẳng cao, bộ lá gọn, nên có khả năng trồng dày để tăng thu nhập trên một đơn
vị diện tích.
*Những giống địa phương (giống cúc ở Việt Nam)
- Giống cúc vàng Hè Đà Lạt: Cây cao 40 đến 50cm, thân mảnh và cong,
phiến lá to, màu xanh vàng, đường kính hoa 4 đến 5cm. Cánh ngắn mềm, màu vàng
tươi, chịu nóng tốt, thời gian sinh trưởng 3 đến 4 tháng.
- Cúc Họa mi: Cây cao 40 đến 50cm, khả năng phân cành mạnh, hoa đơn
nhỏ, đường kính 3 đến 4cm, cánh dài mềm, màu trắng, khả năng chịu rét kém, thời
gian sinh trưởng dài tới 5 đến 6 tháng.
- Cúc chi Đà Lạt: Cây cao 40 đến 50cm cây bụi thân nhỏ cong, phiến lá to
mỏng màu xanh nhạt, hoa đơn nhỏ đường kính 2 đến 2,5cm. Cánh vòng ngoài có
màu trắng, giữa có màu vàng nhạt. Thời gian sinh trưởng 3 đến 4 tháng.
- Cúc Gấm (cúc Mâm Xôi): Dạng cây bụi cao khoảng 30 đến 40cm khả năng
phân cành rất mạnh tạo thành một thế hình hơi tròn trông xa giống như mâm xôi.
Trong sản xuất thường bấm ngọn và cành phụ nhiều lần để tạo cho cây có đường
kính tán lớn nhất rất thích hợp cho trang trí khuôn viên, vườn hoa, nhà cửa. Hoa kép
nhỏ khoảng 2 đến 3cm có màu vàng nghệ pha đỏ nâu, thời gian sinh trưởng dài
nhưng khả năng chịu rét tốt.
- Cúc Đại Đoá Vàng: Còn gọi là Hoàng Long Chảo, cây cao 60 đến 80cm,
thân yếu phải có cọc đỡ, dạng hoa kép to, đường kính 8 đến 10cm, cánh dày xếp


15

không chặt, khả năng chịu rét kém nhưng chịu hạn tốt, thời gian sinh trưởng dài từ 5
đến 6 tháng.
- Cúc Kim Tử Nhung: Cây cao 50 đến 60cm, thân cứng, lá dài to, răng cưa
sâu có màu xanh đậm, hoa kép to đường kính 8 đến 10cm, hoa có màu vàng nghệ
pha đỏ nâu, thời gian sinh trưởng dài nhưng khả năng chịu rét rất tốt. Ra hoa vào
dịp Tết Nguyên đán.
* Những giống cúc mới nhập nội
- Cúc CN93: Là giống cúc trắng nhập nội, được chọn lọc và đưa ra sản xuất
từ Trung tâm hoa cây cảnh - Viện Di truyền nông nghiệp. Đây là giống có giá trị
kinh tế cao. Thân mập thẳng, lá to xanh, hoa kép to có đường kính từ 10 đến 12cm
cánh dày xếp sít chặt, hoa bền, thời gian cắm lọ trên 2 tuần. Thời gian sinh trưởng
ngắn, có thể trồng được nhiều vụ trong năm. Năm 1996 giống này đã được công
nhận là giống quốc gia và hiện nay được phát triển rất rộng rãi khắp các tỉnh.
- Cúc CN97: Là giống cúc được nhập nội, chọn lọc và đưa ra sản xuất từ
trung tâm Hoa cây cảnh - Viện Di truyền nông nghiệp. Cây cao 55 đến 65 cm, thân
to mập, lá xanh dày, hoa kép màu trắng sữa, cánh dày đều, xếp sít chặt, đường kính
hoa 10 đến 12cm, khả năng chịu rét tốt.
- Cúc CN98: Là giống cúc được nhập nội, chọn lọc và đưa ra sản xuất từ
Trung tâm Hoa cây cảnh – Viện Di truyền nông nghiệp. Giống cúc CN98 có các đặc
điểm giống như cúc CN 93. Cây cao thẳng từ 60 đến 70 cm, hoa to bền mầu vàng
chanh, thời gian sinh trưởng ngắn từ 2,5 đến 3 tháng, chịu nóng tốt. Giống cúc CN
98 đã được hội đồng khoa học Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho phép
khu vực hoá năm 1998. Hiện đang phát triển rộng trong sản xuất.
- Cúc vàng Đài Loan: Cây cao 60 đến 70cm, lá xanh dày, hoa kép to có nhiều
tầng xếp rất chặt đường kính hoa 10 đến 12 cm. Tuổi thọ của hoa dài, hoa có màu
vàng nghệ. Thời gian sinh trưởng từ 5 đến 6 tháng, khả năng chịu rét trung bình.
- Cúc Tím Hè: Cây cao 60 đến 65 cm, thân thẳng mập, lá thuôn dài, răng cưa
sâu, hoa to, đường kính hoa 8 đến 10 cm có mầu sẫm.
- Cúc Tím Hà Lan: Cây cao 40 đến 55 cm, phiến lá dày màu xanh đậm,
đường kính hoa 5 đến 6 cm, có màu tím hồng.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×