Tải bản đầy đủ

Đặc Điểm Bệnh Lý, Lâm Sàng Của Bệnh Do Đơn Bào Histomonas Melegridis Gây Ra Ở Gà Tại Tỉnh Thái Nguyên Và Thử Nghiệm Thuốc Điều Trị

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------

-----------

CHU VĂN ĐIỆP
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ, LÂM SÀNG CỦA BỆNH DO
ĐƠN BÀO HISTOMONAS MELEGRIDIS GÂY RA Ở GÀ
TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ THỬ NGHIỆM THUỐC ĐIỀU TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y
Khoa: Chăn nuôi - Thú y
Khóa học: 2011-2015

Thái Nguyên, năm 2015



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------

-----------

CHU VĂN ĐIỆP
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ, LÂM SÀNG CỦA BỆNH DO
ĐƠN BÀO HISTOMONAS MELEGRIDIS GÂY RA Ở GÀ
TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ THỬ NGHIỆM THUỐC ĐIỀU TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y
Lớp: K43-CNTY
Khoa: Chăn nuôi - Thú y
Khóa học: 2011-2015
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Thu Trang

Thái Nguyên, năm 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------

-----------

CHU VĂN ĐIỆP
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ, LÂM SÀNG CỦA BỆNH DO
ĐƠN BÀO HISTOMONAS MELEGRIDIS GÂY RA Ở GÀ
TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ THỬ NGHIỆM THUỐC ĐIỀU TRỊ


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y
Lớp: K43-CNTY
Khoa: Chăn nuôi - Thú y
Khóa học: 2011-2015
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Thu Trang

Thái Nguyên, năm 2015


ii

LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình đào tạo trong nhà trường, thực hiện
phương châm “Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn với thực tiễn sản xuất”,
thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình học
tập của tất cả các trường Đại học nói chung và trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên nói riêng.
Giai đoạn thực tập chiếm một vị trí hết sức quan trọng đối với mỗi
sinh viên trước khi ra trường. Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng cố
và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên làm
quen với thực tiễn sản xuất, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được
phương thức tổ chức và tiến hành công việc nghiên cứu, ứng dụng những
tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, góp phần xứng đáng vào
sự nghiệp phát triển đất nước ngày càng đi lên.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự đồng ý của Ban
chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên,
được sự phân công của thầy cô giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của Trạm
thú y huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên chúng tôi đã tiến hành đề tài:
"Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh do đơn bào
Histomonas meleagridis gây ra ở gà tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái
Nguyên và thử nghiệm thuốc điều trị".
Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, kiến thức
chuyên môn chưa sâu, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều và thời gian thực tập
còn ngắn nên trong bản khóa luận này của em không tránh khỏi những hạn
chế, thiếu sót. Em kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu
của thầy, cô giáo cùng các bạn đồng nghiệp để bản khóa luận của em được
hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!


iii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng 4.1. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà tại một số địa phương của huyện
Phú Bình ....................................................................................... 38
Bảng 4.2. Triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh đầu đen ............................... 40
Bảng 4.3. Bệnh tích đại thể của gà bị bệnh đầu đen ....................................... 42
Bảng 4.4. Bệnh tích vi thể của gà bị bệnh đầu đen ......................................... 44
Bảng 4.5. Khối lượng cơ thể và các cơ quan nội tạng của gà bệnh và gà khỏe
...................................................................................................... 45
Bảng 4.6. Thể tích các cơ quan nội tạng của gà thí nghiệm ........................... 46
Bảng 4.7. Sự thay đổi một số chỉ số máu của gà bệnh so với gà khỏe ........... 47
Bảng 4.8. So sánh công thức bạch cầu của gà bị bệnh và gà khỏe ................. 48
Bảng 4.9. Thử nghiệm 2 phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho đàn gà trên diện
hẹp ................................................................................................ 50


iv

DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm H.meleagridis ở gà tại một số địa phương của
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên .............................................. 39


v

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Cs

: Cộng sự

H. meleagridis

: Histomonas meleagridis

KL

: Khối lượng

STT

: Số thứ tự

TP

: Thành phố

T

: Thuốc

Tr

: Trang


vi

MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN ......................................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG ...................................................................................................iii
DANH MỤC CÁC HÌNH..................................................................................................... iv
DANH MỤC CÁC HÌNH..................................................................................................... iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ....................................................................................... v
MỤC LỤC ............................................................................................................................ vi

Phần 1: MỞ ĐẦU…………………………………………………………….1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 2
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ................................................... 3
1.3.1. Ý nghĩa khoa học .................................................................................... 3
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn ..................................................................................... 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 4
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài .......................................................................... 4
2.1.1. Đặc điểm của đơn bào H. meleagridis ký sinh ở gia cầm....................... 4
2.1.2. Bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gà ....................................................... 15
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .............................................. 29
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước.......................................................... 29
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ........................................................ 29
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG............................................................. 31
3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu ............................................................. 31
3.1.1. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu ......................................................... 31
3.1.2. Vật liệu nghiên cứu ............................................................................... 31
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ............................................................ 31
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu ............................................................................. 31
3.2.2. Thời gian nghiên cứu ............................................................................ 32


i

LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và rèn luyện dưới mái trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên cũng như thực tập tốt nghiệp, em đã nhận được sự giúp đỡ
tận tình của các thầy cô trong khoa Chăn nuôi Thú y. Qua đây, em xin bày tỏ
lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới:
Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ
nhiệm khoa cùng các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn đề tài
ThS. Nguyễn Thu Trang đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành tốt khoá luận này.
Đồng thời, cho em gửi lời cảm ơn tới các cán bộ, công nhân viên chức
làm việc tại Trạm thú y huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện
giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập.
Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và người thân đã động viên, cổ
vũ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học.
Em xin chúc các thầy cô giáo luôn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt
trong cuộc sống, có nhiều thành công trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
Trong suốt quá trình viết khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót.
Em kính mong nhận được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các thầy cô để
khoá luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 05 tháng 06 năm 2015
Sinh viên

Chu Văn Điệp


1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Nước ta là một nước nông nghiệp có ngành chăn nuôi khá phát triển,
chăn nuôi gia cầm đã và đang đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển
đó. Có rất nhiều hình thức và quy mô chăn nuôi gia cầm khác nhau từ chăn
nuôi hộ gia đình đến quy mô trang trại đã giải quyết được việc làm, nâng cao
thu nhập cho người dân đồng thời ngành chăn nuôi gia cầm cũng đưa ra thị
trường một số lượng lớn sản phẩm thịt, đáp ứng được nhu cầu trong nước và
xuất khẩu.
Ngày 16 tháng 1 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số
10/2008/QĐ-TT về việc “Phê duyệt chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm
2020”. Đây là hành lang pháp lý vô cùng quan trọng và cần thiết, định hướng
cho sự phát triển của ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói
riêng. Theo đó cần “đẩy nhanh việc đổi mới và phát triển chăn nuôi gia cầm
theo hướng trang trại, công nghiệp và nuôi chăn thả có kiểm soát” để đến năm
2020, ngành chăn nuôi gia cầm phải trở thành ngành sản xuất hàng hoá hiệu
quả và bền vững. Mục tiêu phải đạt là tổng gà tăng bình quân từ 2008 đến
2020 là 5%/năm, đến năm 2020 đàn gà đạt 300 triệu con, trong đó gà công
nghiệp chiếm 33% sản lượng thịt gà, đạt 1.760 tấn, chiếm 32% tổng sản
lượng thịt xẻ, các loại sản lượng trứng đạt 14 tỷ quả, sản lượng thịt xẻ thuỷ
cầm đạt 293.000 tấn.
Là một nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm với đầy đủ các
điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của sinh vật, trong đó sự có mặt của hệ kí
sinh trùng gây bệnh cho đàn gia súc, gia cầm là không thể không nhắc đến.
Đặc biệt với tập quán chăn nuôi nhỏ lẻ, chủ yếu theo hình thức chăn thả thì


2

vấn đề nhiễm kí sinh trùng là điều không thể tránh khỏi. Có một loài kí sinh
trùng thường xuyên kí sinh và gây bệnh cho đàn gà đó là giun kim, sự ký sinh
và phát triển của giun kim đã kéo theo sự phát triển của bệnh do đơn bào
Histomonas meleagridis gây ra. Bệnh do đơn bào Histomonas meleagradis
(bệnh đầu đen) ở gà hiện nay đã xuất hiện ở hầu hết các địa phương trong cả
nước. Huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên là một trong những huyện có ngành
chăn nuôi gà khá phát triển, chủ yếu nuôi theo hình thức gà thả vườn. Trong
những năm gần đây trên địa bàn huyện liên tục xuất hiện bệnh đầu đen trên
đàn gà với tỷ lệ chết cao và gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi.
Bệnh đầu đen là một bệnh kí sinh trùng nguy hiểm ở gà và gà tây do
đơn bào Histomonas meleagradis gây ra. Bệnh gây ra những biểu hiện bất
thường ở da vùng đầu, ban đầu có màu xanh tím, sau đó chuyển sang thâm
đen nên có tên là bệnh đầu đen. Bệnh có những bệnh tích đặc trưng như:
Viêm hoại tử tạo mủ ở ruột thừa và gan, thể trạng xấu, da vùng đầu và mào
tích thâm đen. Gà bệnh chết rải rác và thường chết về ban đêm, mức độ chết
không ồ ạt nhưng sự chết kéo dài, tỷ lệ chết lên tới 85% - 95%.
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của việc khống chế dịch bệnh, nâng cao
năng suất chăn nuôi gà, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm
bệnh lý, lâm sàng của bệnh do đơn bào Histomonas meleagridis gây ra ở gà
tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và thử nghiệm thuốc điều trị”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu triệu chứng lâm sàng của bệnh do đơn bào H. meleagridis
gây ra ở gà.
- Nghiên cứu bệnh tích của bệnh do bệnh do đơn bào H. meleagridis
gây ra ở gà.
- Nghiên cứu việc thử nghiệm thuốc điều trị bệnh đầu đen.


3

1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ, về
bệnh học và quy trình phòng chống bệnh đầu đen cho gà, có một số đóng góp
mới cho khoa học.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp
dụng quy trình phòng, trị bệnh đầu đen cho gà nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và
thiệt hại do bệnh đầu đen gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc
đẩy ngành chăn nuôi gà phát triển.


4

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Đặc điểm của đơn bào H. meleagridis ký sinh ở gia cầm
2.1.1.1. Vị trí của đơn bào H. meleagridis trong hệ thống phân loại động vật
nguyên sinh
Trong mô tả đầu tiên của Smith T. (1895) [30], H. meleagridis được
biết đến là amip.
Căn cứ vào kết quả phân tích trình tự gen, Cepicka và cs (2010) [8], đã
cho biết vị trí phân loại của H. meleagridis như sau:
Giới: Protozoen
Ngành: Parabasalia
Lớp: Tritrichomonadea
Bộ: Tritrichomonadida
Họ: Dientamoebidae
Giống: Histomonas
Loài: Histomonas meleagridis
2.1.1.2. Hình thái học loài H. Meleagridis
Khi nghiên cứu về bệnh đầu đen, Smith T. (1895) [30] đã mổ khám 50
gà tây mắc bệnh đầu đen. Tác giả thấy rằng: ở gà mắc bệnh thì gan và manh
tràng là 2 cơ quan bị tổn thương nặng nề nhất. Lấy chất chứa trong manh
tràng gà bệnh soi tươi, tác giả đã tìm thấy tác nhân gây bệnh là một sinh vật
đơn bào (Amoeba meleagridis) có hình tròn hoặc ovan, đường kính 8 - 14 µm.
Trong mô gan được cố định và nhuộm màu, đơn bào có dạng hình ovan,
đường kính dao động từ 6 - 10 µm, ở giữa có nhiều cấu trúc nhỏ tập trung lại
thành thể nhân. Sau đó tác nhân gây bệnh được đổi tên thành H. meleagridis.


5

Tyzzer và Fabyan (1922) [34] đã báo cáo: khi quan sát dưới kính hiển
vi, tác giả thấy H. meleagridis tồn tại lưỡng hình (dạng amip và có roi). Trong
mô (giai đoạn xâm lấn) nó có dạng amip, trong lòng manh tràng H.
meleagridis ở dạng có roi. H. meleagridis ở dạng amip thường có đường kính
8 - 15 µm, trong khi ở hình dạng có roi đường kính có thể lên tới 30 µm.
Tyzzer (1934) [31] đã nghiên cứu sự chuyển động của H. meleagridis ở
42oC và mô tả, roi của đơn bào này nhịp nhàng rung động giúp nó có thể xoay
ngược chiều kim đồng hồ.
Lê Văn Năm (2010) [6] khi đề cập đến bệnh đầu đen ở Việt Nam đã
báo cáo rằng, H. meleagridis là một loại đơn bào đa hình thái: hình trùng roi
(4 roi), hình amip và hình lưới hợp bào, tùy thuộc vào giai đoạn phát triển để
có hình dạng tương ứng phù hợp,… H. meleagridis với hình amip có kích
thước 8 - 30 µm, với hình roi có kích thước từ 20 - 30 µm, bé nhất khi H.
meleagridis ở thể lưới: 5 - 10 µm, nhưng ở thể hợp bào (bao gồm nhiều H.
meleagridis thể hình lưới) thì chúng có kích thước cực đại đến 60 - 80 µm.
Trong các dạng hình thái thì hình roi là phổ biến nhất và dễ nhận biết nhất bởi
chúng có 2 nhân (1 nhân to và 1 nhân nhỏ), từ nhân to mọc ra 4 roi, H.
meleagridis vận động theo hai phương thức: xoắn hoặc theo kiểu làn sóng
(impuls).
Các nhà khoa học cho biết, theo thứ tự từ ngoài vào trong, đơn bào H.
meleagridis cấu tạo gồm 3 phần: màng, nguyên sinh chất và nhân.
Màng đơn bào H. meleagridis là một màng đơn.
Nguyên sinh chất của H. meleagridis chứa ß-glycogen, Ribosome và
ARN, một số không bào và hạt nhân.
Nhân hình trứng hoặc hình chữ U, bao gồm một Nucleotid. Màng nhân
là một màng kép. Trong vùng lân cận của nhân có bộ máy Golgi.


6

H. meleagridis là sinh vật kỵ khí vì thiếu ty thể. Lưới nội chất đã bị
thoái hóa.
2.1.1.3. Phương thức truyền lây của Histomonas meleagridis
H. meleagridis sinh sản bằng hình thức phân đôi (trực phân), lây truyền
bằng 2 con đường: truyền bệnh trực tiếp và truyền bệnh gián tiếp.
a) Truyền bệnh trực tiếp
Trong báo cáo ban đầu của Smith T. (1895) [30], sự lây truyền trực tiếp
bệnh đầu đen đã được chứng minh qua thí nghiệm cho gà khỏe nuốt H.
meleagridis.
Năm 1922, Tyzzer và Fabyan (1922) [34], đã lấy gan của gà bị bệnh
nặng nghiền nhỏ cho gà và vịt 4, 6, 16, ngày tuổi ăn. Sau đó, Tyzzer và
Collier (1925) [32] tiếp tục gây nhiễm bệnh đầu đen trên một số gà 5 ngày
tuổi bằng cách cho ăn gan nhiễm bệnh. Sau hàng loạt thí nghiệm, Tyzzer
(1926) [35], đã kết luận H. meleagridis có thể được truyền đến một mức độ
nào đó trong tự nhiên bằng cách ăn, uống các cơ quan của gà bệnh có chứa
mầm bệnh.
Mc Dougald L. R. (2003) [27] đã làm thí nghiệm gây nhiễm bệnh cho
gà 2 tuần tuổi. Tác giả tiến hành đưa vào lỗ huyệt mỗi gà đơn bào H.
meleagridis nuôi cấy với liều 200.000 H. meleagridis trên con. Kết quả, tất cả
gà gây nhiễm đã chết ở ngày 10 - 18, tiến hành mổ khám gà chết thấy gan và
manh tràng xuất hiện tổn thương điển hình của Histomonosis.
Hu J. và cs. (2004) [15] tiến hành gây nhiễm cho gà tây bằng hai
đường, ăn uống và qua lỗ huyệt, kết quả như sau: gà gây nhiễm qua đường
miệng và tử vong thấp hơn so với gà gây nhiễm qua lỗ huyệt. Cụ thể, gây
nhiễm qua đường miệng tỷ lệ mắc bệnh là 20%, tỷ lệ chết 2%, trong khi gây
nhiễm qua lỗ huyệt tỷ lệ mắc bệnh 65%, tỷ lệ chết 45%.


7

Gần đây, Armstrong P. L và McDougald L. R. (2011) [7] tiếp tục
nghiên cứu sự truyền bệnh trực tiếp cho gà tây mà không cần sự có mặt của
các vật chủ trung gian và điều tra khả năng lây nhiễm khi tiếp xúc. Ông đã
tiến hành 3 lô thí nghiệm như sau:
Lô 1: tiến hành nuôi nhốt chung với gia cầm đã mắc bệnh đầu đen.
Lô 2 và 3: gây nhiễm trực tiếp bằng 2 đường, thông qua đường miệng
(lô 2) và bơm trực tiếp vào lỗ huyệt (lô 3) (bằng cách tiêm hỗn hợp phân và
manh tràng của gà bệnh có H. meleagridis).
Theo dõi thí nghiệm: sau 14 ngày gây nhiễm, tác giả tiến hành mổ
khám và thấy 31 gà trong số 44 gà ở lô 2 được bơm trực tiếp vào lỗ huyệt có
bệnh tích điển hình ở cả gan và manh tràng, trong khi đó gà ở lô 3 không thấy
có tổn thương khi gây nhiễm qua đường miệng. Ở lô 1, khi cho nuôi nhốt
chung với đàn gà mắc bệnh đầu đen trước đó, mổ khám thấy có 11 gà mắc
bệnh và có bệnh tích điển hình ở gan và manh tràng trong số 36 gà thí nghiệm
(chiếm 30,5 %).
Các kết quả trên cho thấy: có thể gây nhiễm bệnh đầu đen cho gà khỏe
bằng 2 đường, qua đường miệng và qua lỗ huyệt. Do ảnh hưởng của axit
đường tiêu hóa nên tỷ lệ nhiễm bệnh không cao khi gây nhiễm qua đường
miệng. Bệnh đầu đen có thể xảy ra bất cứ khi nào lỗ huyệt của gà khỏe tiếp
xúc với phân tươi bị nhiễm mầm bệnh. Ngay sau khi lỗ huyệt gà khỏe tiếp
xúc với phân tươi của gà bệnh, H. meleagridis sẽ di chuyển ngược theo nhu
động ruột vào ký sinh ở manh tràng.
b) Truyền bệnh gián tiếp qua giun kim
* Giun kim (Heterakis gallinarum)
+ Đặc điểm sinh học của Heterakis gallinarum
- Hình thái:
Bùi Lập và cs (1969) [5] và J. Kaufmann (1996) [17] cho biết về hình
thái H. gallinarum:


8

H. gallinarum có màu vàng nhạt.
Giun đực dài 5,84 - 11,1 mm. Thực quản phình rộng ở phía sau thành
hình củ hành, rộng nhất ở gần giữa cơ thể 0,27 - 0,39 mm. Thực quản dài 1,2
- 1,4 mm, diều 0,26 - 0,31 mm. Gai sinh dục không bằng nhau. Gai trái dài
1,62 - 2,1 mm, gai phải dài 0,54 - 0,72 mm, không có gai điều chỉnh. Có 12
đôi núm đuôi. Trước hậu môn có những núm và giác trước huyệt dạng hình
tròn, đường kính 0,07 - 0,08 mm và phần cuối đuôi nhọn như kim.
Giun cái có kích thước 8 - 12 mm, rộng 0,27 - 0,45 mm. Thực quản dài
1,15 - 1,37 mm, diều kích thước 0,27 - 0,33 mm. Lỗ sinh dục nằm ở cuối cơ
thể, cách mút đầu khoảng 4,38 - 6,44 mm.
Trứng H. gallinarum hình ô van kích thước: 0,05 - 0,075 x 0,03 0,039 mm.
- Vòng đời của H. gallinarum
Nguyễn Xuân Bình, Trần Xuân Hạnh, Tô Thị Phấn (2002) [1] viết về
vòng đời của H. gallinarum như sau: Trứng H. gallinarum bài xuất cùng với
phân ra ngoài, trứng phát triển đến giai đoạn cảm nhiễm ở môi trường bên
ngoài trong thời gian từ 6 - 17 ngày, hoặc hơn nữa, tuỳ thuộc vào nhiệt độ và
độ ẩm. Sự phát triển của trứng H. gallinarum đến giai đoạn cảm nhiễm ở
nhiệt độ 30 - 37oC trong vòng 6 - 7 ngày, ở nhiệt độ 20 - 27oC từ 10 - 15 ngày
và 10 - 15oC là 72 ngày. Ấu trùng lột xác trong trứng một lần, sau đó trứng
chứa ấu trùng này trở nên có khả năng truyền lây bệnh. Mùa đông trứng
không phát triển. Nhưng vẫn duy trì khả năng sống. Đến mùa xuân, thời tiết
ấm áp, trứng sống được qua mùa đông lại phát triển thành trứng cảm nhiễm
và có thể là nguồn gây bệnh. Gà, gà tây mắc bệnh này là do ăn phải trứng H.
gallinarum có chứa ấu trùng cảm nhiễm. Sau 1 - 2 giờ xâm nhập vào đường
tiêu hoá, ấu trùng chui ra khỏi trứng xuống manh tràng. Ở manh tràng, ấu
trùng chui vào thành ruột, nhưng sau từ 5 - 7 ngày sau khi vào máu chúng lại
trở lại ruột. Thời gian phát triển của chúng đến giai đoạn trưởng thành trong
cơ thể từ 25 - 34 ngày, nhưng thời gian sống thì không quá 1 năm.


9

+ Bệnh giun kim (Heterakiosis)
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [4]: Heterakis và ấu trùng có tác hại
rất lớn đối với vật chủ: Ấu trùng sau khi xâm nhập vào đường tiêu hoá của vật
chủ (gà) chúng thoát vỏ đến manh tràng và ruột. Sau khi tới manh tràng chúng
chui vào niêm mạc, gây tụ huyết, xuất huyết. Ngoài ra giun còn cướp chất
dinh dưỡng, tiết độc tố đầu độc vật chủ làm cho vật chủ bị gầy yếu, còi cọc,
chậm lớn và giảm sức đề kháng. Để không bị đào thải theo phân ra ngoài giun
phải bám vào thành niêm mạc ruột và trong quá trình di chuyển giun đã tác
động cơ học lên thành ruột làm cho niêm mạc ruột bị tổn thương, tạo điều
kiện cho vi khuẩn xâm nhập như: Salmonella gallisepticum, S. pullorum và
các chủng E.coli. Dẫn đến gà dễ bị nhiễm trùng và mắc một số bệnh kế phát.
Ngoài ra, trứng giun chứa đơn bào Histomonas meleagridis (gây bệnh
Histomonosis) làm cho gan bị viêm và làm nặng thêm tổn thương ở manh
tràng. Khi bị ấu trùng xâm nhập từ bên ngoài vào thì gà sẽ mắc cả hai bệnh
này. Ở những gà bị chết, bệnh tích thường thấy là xác gà gầy, niêm mạc dày
và bị loét, đôi khi gan bị cứng do tác động bởi các độc tố và quá trình di
chuyển của ấu trùng.
* Truyền bệnh gián tiếp qua giun kim
Cushman và cs (1894) [10] nhận thấy, gà và gà tây bị nhiễm bệnh khi
chúng được nuôi trên khu vực mà trước đó gà và gà tây đã bị mắc bệnh.
Smith T. (1895) [30] đã tiến hành thí nghiệm với quy mô lớn và cho
biết: H. meleagridis không lây truyền theo chiều dọc từ gà mái đẻ sang trứng,
mặc dù phát hiện gà con mắc bệnh đầu đen rất sớm và chết ở 12 - 14 ngày
tuổi. Tác giả cho rằng, những gà con này bị nhiễm bệnh do được nuôi trong
khu đất nơi mà đàn gà nuôi trước đó đã mắc bệnh. Thí nghiệm được bố trí
như sau:


ii

LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình đào tạo trong nhà trường, thực hiện
phương châm “Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn với thực tiễn sản xuất”,
thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình học
tập của tất cả các trường Đại học nói chung và trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên nói riêng.
Giai đoạn thực tập chiếm một vị trí hết sức quan trọng đối với mỗi
sinh viên trước khi ra trường. Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng cố
và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên làm
quen với thực tiễn sản xuất, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được
phương thức tổ chức và tiến hành công việc nghiên cứu, ứng dụng những
tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, góp phần xứng đáng vào
sự nghiệp phát triển đất nước ngày càng đi lên.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự đồng ý của Ban
chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên,
được sự phân công của thầy cô giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của Trạm
thú y huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên chúng tôi đã tiến hành đề tài:
"Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh do đơn bào
Histomonas meleagridis gây ra ở gà tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái
Nguyên và thử nghiệm thuốc điều trị".
Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, kiến thức
chuyên môn chưa sâu, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều và thời gian thực tập
còn ngắn nên trong bản khóa luận này của em không tránh khỏi những hạn
chế, thiếu sót. Em kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu
của thầy, cô giáo cùng các bạn đồng nghiệp để bản khóa luận của em được
hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!


11

c) Truyền bệnh gián tiếp qua giun đất
* Giun đất
+ Đặc điểm chung về hình thái bên ngoài:
Giun đất hay trùn đất thuộc ngành hoàn tiết trùng (Annelida) lớp
Lygochaetae, họ Lumbricidae. Giun có phân đốt bên ngoài và bên trong cơ
thể cũng chia thành từng đốt tương ứng, ngăn cách gần như những phần độc
lập. Số lượng đốt biến thiên từ 110 - 180 đốt. Di chuyển nhờ các sợi tơ ngắn
hai bên hông.
Giống giun quế (Perionyx excavatus) là một loại giun đất, có mùi gần
giống như mùi quế nên gọi là giun quế. Giun trưởng thành dài 10 - 15 cm,
dường kính từ 0,1 - 0,2 cm, cân nặng xấp xỉ 1 gam. Giun có màu đỏ, sậm hơn
ở mặt lưng và nhạt dần về phía bụng.
+ Các cơ quan của giun đất:
Hệ thống tiêu hóa là một hệ thống bắt đầu từ lỗ miệng ở đỉnh đầu tiếp
nhận thức ăn và tận cùng là hậu môn ở đốt cuối. Tham gia tiêu hóa thức ăn có
mề, dạ dày, và manh tràng. Thức ăn từ dạ dày vào ruột có dạng hồ nhuyễn
thuận lợi cho việc hấp thụ các dưỡng chất ở ruột. Các chất không tiêu hóa
được tích tụ ở trực tràng và được đẩy ra ngoài dưới dạng các viên tròn rất nhỏ
(phân giun).
Hệ thống sinh dục: Giun đất là động vật lưỡng tính, trên một cơ thể có
đủ cả cơ quan sinh dục đực và cái. Tuy nhiên để sinh sản được, giun phải tiến
hành thụ tinh chéo nhau. Giun đất từ 60 - 90 ngày tuổi, xuất hiện đai sinh dục,
đó là lúc giun bắt đầu sinh sản. Đai sinh dục chiếm khoảng 3 đốt thân về phía
đầu (khoảng từ đốt 13 - 15), có màu đỏ nhạt. Phần cuối sát sau đai ở đốt 15 có
các lỗ sinh dục đực để chuyển tinh qua cá thể khác khi giao hợp. Ở đốt 14 có
các lỗ sinh dục cái, nằm bên trong màng đai sinh dục. Khi trứng rụng qua lỗ
sinh dục cái ra ngoài, sau đó màng đai tróc, tuột ra về phía đầu có mang theo


12

trứng vừa rụng. Khi qua đốt 9 - 10, nơi có các lỗ của túi dựng tinh (tinh do con
khác chuyển sang), tinh từ các túi đựng tinh tiết ra phủ lên trứng, sự thụ tinh
diễn ra. Màng đai sinh dục tiếp tục tuột ra khỏi đầu của giun, 2 đầu màng đai
thắt lại tạo thành kén, nằm lẫn trong môi trường và 21 ngày sau, giun con nở và
chui ra khỏi kén. Vị trí đai sinh dục trên cơ thể giun thay đổi tùy theo loài.
Hệ thống tuần hoàn là 1 hệ thống khép kín, có các đôi tim ở phía trước
đầu. Máu không có hồng cầu, huyết sắc tố tan trong huyết tương, các mao
quản huyết lan tỏa vách cơ thể, lấy Oxy và nhả khí Carbonic trực tiếp qua
màng cutin ẩm ướt bao bọc bên ngoài cơ thể giun. Vì vậy nếu màng này bị
khô sẽ hạn chế sự hô hấp của giun, có thể làm cho giun chết. Ngoài ra trong
máu giun còn có bạch cầu, giúp giun chống đỡ bệnh tật.
Hệ thần kinh của giun gồm có 2 hạch thần kinh ở đầu (hạch não) và các
hạch thần kinh bụng, chúng được nối với nhau bởi các dây thần kinh. Ngoài
ra giun còn có một số tế bào cảm nhận được ánh sáng nằm phân tán dưới da,
chủ yếu ở phần đầu.
* Truyền bệnh gián tiếp qua giun đất
Khi nghiên cứu về vai trò của giun đất trong việc truyền tải bệnh đầu
đen, Curtice (1907) [9] đã tiến hành thí nghiệm cho gà khỏe ăn giun đất thu
thập từ vùng có gà bị nhiễm bệnh. Theo dõi một thời gian thấy gà xuất hiện
triệu chứng, mổ khám kiểm tra gan và manh tràng có bệnh tích điển hình của
bệnh đầu đen. Kết quả trên đã chứng minh rằng sự lan truyền bệnh đầu đen từ
gia cầm này sang gia cầm khác còn do gia cầm ăn phải giun đất mang ấu
trùng giun kim (H. gallinarum) chứa H. meleagridis. Theo tác giả, giun đất
chính là tác nhân làm dịch bệnh đầu đen phát triển. Đây là một phát hiện quan
trọng vì đã xác định được vật chủ trung gian truyền bệnh, từ đó có những
khuyến cáo để ngăn ngừa bệnh đầu đen.


13

Lund và cs (1956) [22] báo cáo: sau khi cho gà và gà tây ăn giun đất
chứa ấu trùng H. gallinarum mang mầm bệnh, thấy gà mắc bệnh đầu đen, mổ
khám gà có bệnh tích điển hình ở gan và manh tràng. Sau đó, các tác giả tiến
hành đun nóng giun đất trong phòng thí nghiệm, quan sát thấy rất nhiều ấu
trùng giun kim (H. gallinarum) nổi lên trên bề mặt cơ thể. Một lần nữa các
nhà nghiên cứu kết luận giun đất chính là vật chủ trung gian chứa ấu trùng
giun kim mang mầm bệnh Histomonosis gây bùng phát bệnh đầu đen.
Kemp và cs (1975) [18] cho biết: gà trống và gà tây bị nhiễm cả
Histomonas meleagridis và Heterakis gallinarum khi cho ăn giun đất từ nơi
trước đây mầm bệnh đã xảy ra.
Gà có thể mắc bệnh đầu đen khi vô tình ăn phải giun đất có chứa trứng
giun kim nhiễm H. meleagridis. Khi ký sinh trong giun đất cùng ấu trùng giun
kim, H. meleagridis có thể tồn tại hơn 1 năm. Sau khi gà và gà tây nuốt phải
giun đất nhiễm bệnh, ấu trùng giun kim sẽ di hành xuống manh tràng, đồng
thời các đơn bào H. meleagridis cũng được giải phóng và gây bệnh.
Ngoài ra, gà tây có thể lây truyền từ con này sang con khác khi mổ ăn
phân của gia cầm nhiễm bệnh. Tuy nhiên, H. meleagridis tự do trong phân mà
không được bảo vệ bởi trứng giun kim sẽ chết một cách nhanh chóng, đặc biệt
là trong thời tiết khô nóng.
2.1.1.4. Vòng đời của Histomonas meleagridis
Lê Văn Năm và cs (2010) [6] tóm tắt vòng đời phát triển của đơn bào
H. meleagridis như sau:
Trong mô tổ chức của kí chủ (gà ta và gà tây). H. Meleagridis sinh sản
theo phương thức tự phân đôi và sinh sản mạnh nhất ở giai đoạn thể lưới
(Incistio) hay thể hợp bào. Khi theo phân ra khỏi kí chủ, ở thể hình roi và thể
amip chúng chỉ sống được trong vòng 24h, trong khi đó ở thể lưới chúng có
thể tồn tại hàng năm trong các trứng của giun kim H. gallinarum. Điều kiện


14

khô ráo và nhiệt độ thấp giúp cho H. meleagridis tồn tại lâu trong môi trường
thiên nhiên ngoài cơ thể. Do đó gà bị nhiễm bệnh khi ăn thức ăn, nước uống
bị nhiễm trứng giun kim H. gallinarum có chứa thể hợp bào H. meleagridis.
H. meleagridis có thể nuôi cấy ở môi trường nhân tạo và yếm khí.
2.1.1.5. Nuôi cấy đơn bào H. meleagridis
Drbohlav (1924) [12] là người đầu tiên tiến hành nuôi cấy đơn bào
H. meleagridis đã báo cáo rằng: H. meleagridis sinh trưởng tốt nhất ở độ
pH 7,2 - 7,8.
DeVolt (1943) [11] cũng tiến hành thí nghiệm nuôi cấy đơn bào H.
Meleagridis trong môi trường đơn giản và dễ chuẩn bị (pH = 9). Môi trường
nuôi cấy bao gồm dung dịch Locke (dung dịch đẳng trương với huyết tương
có chứa Clorua natri, Kali, Canxi và Natri bicarbonate và Dextrose và được
sử dụng tương tự như nước muối sinh lý) với 2% huyết thanh gà tây, 2%
NaOH và hấp tiệt trùng ở 1200C trong 20 phút. Trước khi nuôi cấy, mỗi ống
nghiệm cho thêm một ít tinh bột gạo đã được vô trùng. Tác giả báo cáo rằng,
có một số vi khuẩn tồn tại trong môi trường nuôi cấy đơn bào H. meleagridis
và chúng có vai trò thúc đẩy sự phát triển của đơn bào ở một mức độ nào đó.
Sau đó, các nhà nghiên cứu khác đã thay đổi môi trường của DeVolt và
tiến hành nuôi cấy H. meleagridis ở các môi trường khác nhau. Lesser
(1960b) [21] thử nghiệm thay thế huyết thanh ngựa bằng sữa tươi và sữa bò.
Ông nhận thấy chỉ có sữa tươi đã được tiệt trùng hoặc chưa tiệt trùng và được
lọc qua màng lọc Selas (0,6 micron) là có kết quả tương tự với huyết thanh
ngựa. Việc thay thế sữa tươi bằng sữa bò tươi cũng không đạt kết quả.
Sau này Lesser (1960b) [21] đã nuôi cấy H. meleagridis trong môi
trường M199 pha loãng 10 lần bằng nước cất và bổ sung 10% kem tươi đã
được lọc hoặc huyết thanh gà tây và 0,05% NaHCO3. Nhận thấy H.
meleagridis sinh trưởng tốt.


iii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng 4.1. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà tại một số địa phương của huyện
Phú Bình ....................................................................................... 38
Bảng 4.2. Triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh đầu đen ............................... 40
Bảng 4.3. Bệnh tích đại thể của gà bị bệnh đầu đen ....................................... 42
Bảng 4.4. Bệnh tích vi thể của gà bị bệnh đầu đen ......................................... 44
Bảng 4.5. Khối lượng cơ thể và các cơ quan nội tạng của gà bệnh và gà khỏe
...................................................................................................... 45
Bảng 4.6. Thể tích các cơ quan nội tạng của gà thí nghiệm ........................... 46
Bảng 4.7. Sự thay đổi một số chỉ số máu của gà bệnh so với gà khỏe ........... 47
Bảng 4.8. So sánh công thức bạch cầu của gà bị bệnh và gà khỏe ................. 48
Bảng 4.9. Thử nghiệm 2 phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho đàn gà trên diện
hẹp ................................................................................................ 50


16

meleagridis. Từ đó, bệnh cũng được gọi bằng tên khoa học là Histomoniasis.
Tuy nhiên, vì lý do tiêu chuẩn hóa đã được đề xuất (năm 1990) về việc sử
dụng hậu tố osis cho các bệnh ký sinh trùng, do đó bệnh có tên khoa học là
Histomonosis.
Sau sự bùng nổ đầu tiên ở Rhode Island, Histomonosis đã nhanh chóng
lây lan trên đàn gà tây khắp nước Mỹ và gây thiệt hại nhiều nhất trong số các
bệnh gặp trên gà tây. Tiếp sau Hoa Kỳ, bệnh xảy ra tại Nhật Bản vào năm 1905.
Ở Đông Âu, Mincheva đã thông báo bệnh có mặt ở Bungari vào 1950.
Ngày nay, bệnh có mặt trên khắp năm châu, nhất là ở các nước có ngành chăn
nuôi gà tây và gà theo lối tập trung chăn thả.
Một số nước khác ở châu Âu, dịch Histomonosis cũng xuất hiện và đã
được báo cáo ở Áo (2006), Bỉ (2007), Anh (2007) và Hà Lan (2009). Ngày nay,
Histomonosis là bệnh phổ biến trên toàn thế giới (McDougald, 2005) [25].
Ở Việt Nam, bệnh được phát hiện vào tháng 3 năm 2010 (Lê Văn Năm
và cs) [6] đã quan sát thấy hàng loạt đàn gà nuôi tập trung thả vườn tại một số
tỉnh phía bắc bị mắc bệnh. Bệnh gây thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi,
làm ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội của một bộ phận không nhỏ người
dân ở nước ta.
2.1.2.2. Những thiệt hại kinh tế do bệnh Histomonosis gây ra
Trong những thập kỷ gần đây, Histomonosis đã gây ra thiệt hại nghiêm
trọng cho ngành chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là gà và gà tây. Những năm
1930, dịch bệnh đầu đen đã phá hủy hầu như hoàn toàn ngành chăn nuôi gà
tây ở khu vực Đông và Trung Tây của Hoa Kỳ. Trong năm 1945, bệnh đầu
đen chiếm 32,2 % tỉ lệ chết của gà tây ở Bắc Carolina.
Những năm tiếp theo dịch bệnh đầu đen ở gia cầm vẫn thường xuyên
phát triển, tiếp tục gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho người chăn nuôi.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×