Tải bản đầy đủ

Luận văn nghiên cứu các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp tại huyện yên sơn tỉnh tuyên quang

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG
LÂM

HÀ KIM TRUYỀN

NGHIÊN CỨU CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC
SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN YÊN SƠN
TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

THÁI NGUYÊN 2015


HÀ KIM TRUYỀN

NGHIÊN CỨU CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC
SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN YÊN SƠN
TỈNH TUYÊN QUANG

Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 60 62 01 16

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ MINH THỌ


3

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung
thực và chưa được sử dụng để bảo vệ học hàm, học vị nào.
Tôi xin cam đoan: Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 12 năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Hà Kim Truyền
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn "Nghiên cứu các hình thức
tổ chức sản xuất nông nghiệp tại huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang" tôi đã nhận
được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các tổ chức và các cá nhân. Tôi xin bày
tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn này.
Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nông lâm
Thái Nguyên, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Phòng Đào tạo trường Đại học
Nông lâm Thái Nguyên cùng các thầy cô giáo, những người đã trang bị kiến thức
cho tôi trong suốt quá trình học tập.
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn Cô
giáo, Tiến sĩ Nguyễn Thị Minh Thọ, đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn khoa học và
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Kế hoạch và
Đầu tư, Cục Thống kê, Chi cục Phát triển nông thôn, Liên minh HTX tỉnh, Phòng
Nông nghiệp và PTNT huyện Yên Sơn, Các Hợp tác xã nông lâm nghiệp, các cá
nhân là chủ các Trang trại, tổ trưởng Tổ hợp tác trên địa bàn huyện Yên Sơn đã giúp


4


đỡ, cung cấp thông tin, số liệu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận
văn.
Xin chân thành cảm ơn tất các bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ
nhiệt tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này.
Do thời gian nghiên cứu có hạn, và đề tài mang tính mới, luận văn của tôi
chắc hẳn không thể tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót, tôi rất mong nhận đuợc sự
đóng góp của các thầy cô giáo cùng toàn thể bạn đọc.
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 12 năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Hà Kim Truyền
MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVTV:
DNNN :

Bảo vệ thực vật
Doanh nghiệp nông nghiệp

DV:

Dịch vụ

ĐVT:

Đơn vị tính

SX - KD:

Sản xuất Kinh doanh

HTX:
HTXNLN:

Hợp tác xã
Hợp tác xã nông lâm nghiệp

HTTCSX:

Hình thức tổ chức sản xuất

HTTCSXNN:

Hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp

T.xã:

Toàn xã

Công ty TNHH MTV: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
THT :

Tổ hợp tác

Tr.đ:

Triệu đồng


DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Sự biến động tổng số thành viên các HTX qua 3 năm


6

MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Sau gần 30 năm thực hiện đổi mới, nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt
Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể: an ninh lương thực luôn được đảm bảo,
Việt Nam trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu sản phẩm nông sản hàng
đầu thế giới, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao... Có được
thành công trên là nhờ vào chính sách giao đất cho người dân trực tiếp sản xuất, lực
lượng sản xuất được giải phóng, hộ nông dân đã trở
chủ. Những thay đổi lớn

về vị

thành

đơn vị kinh tế tự

trí, vai trò của

kinh tế hộ đã khơi dậy các tiềm năng to lớn trong từng hộ gia đình nông dân, từ chỗ
không thiết tha đến ruộng đất, nông dân đã có ý thức chăm sóc và sử dụng đất đai có
hiệu quả hơn, có thể nói rằng kinh tế nông nghiệp ở nước ta phát triển được như hiện
nay phần lớn là nhờ vào sự năng động của kinh tế hộ. Tuy nhiên, khi bước vào thời
kỳ hội nhập, với xu thế sản xuất hàng hóa tập trung, số lượng lớn, đặc biệt là yêu cầu
về chất lượng sản phẩm, nguồn gốc xuất xứ ngày càng cao của thị trường trong cũng
như ngoài nước, thì kinh tế hộ đã và đang bộc lộ ngày càng nhiều điểm yếu của mình
như: phát triển manh mún, quy mô nhỏ, kém bền vững, sức cạnh tranh kém, ứng
dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất còn rất hạn chế. Thực tiễn này đòi
hỏi cơ cấu

của

các hình thức tổ

trong nông nghiệp
chuyển dịch

chức sản

xuất

nông thôn

dần sang những hình thức tổ chức sản xuất khác hiệu quả hơn

như hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp.
Yên Sơn là một huyện miền núi của tỉnh Tuyên Quang với trên 80% dân số ở
khu vực nông thôn.Trên địa bàn huyện có các tuyến giao thông đường bộ quan
trọng: Quốc lộ 2, quốc lộ 37 và các tuyến đường thuỷ: Sông Lô, sông Gâm, sông
Đáy. Huyện nằm bao bọc lấy thành phố Tuyên Quang (là trung tâm kinh tế - văn hoá
- chính trị lớn nhất trong toàn tỉnh). Các tuyến giao thông chính đến thành phố Tuyên


7

Quang đều đi qua địa bàn huyện, thuận tiện trong lưu thông, vận chuyển hàng hóa,
do đó có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng
sản xuất hàng hóa tập trung. Thế nhưng các hình thức tổ chức sản xuất trong nông
nghiệp, nông thôn với những thành phần là các hợp tác xã nông lâm nghiệp-thủy sản,
doanh nghiệp nông nghiệp, trang trại, tổ hợp tác, vốn là nòng cốt trong kinh tế toàn
huyện lại chưa có được những bước phát triển tương xứng với tiềm năng, lợi thế hiện
có, chưa tạo được động lực thúc đẩy kinh tế toàn huyện phát triển. Hiện nay vẫn
chưa có công trình nghiên cứu nào về các hình thức tổ chức sản xuất trên địa bàn
huyện Yên Sơn.
Xuất phát từ thực tiễn trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Nghiên cứu các
hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp tại huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang"
nhằm tìm hiểu thực trạng phát triển chung, những khó khăn cần ưu tiên giải quyết
nhằm

phát triển các hình

thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp

huyện Yên Sơn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.

Mục tiêu tổng quát

Thông qua việc Nghiên cứu về thực trạng của các hình thức tổ chức sản xuất
nông nghiệp tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang để tìm ra được giải pháp chủ yếu
nhằm phát triển các hình thức tổ chức SXNN của huyện Yên Sơn Tuyên Quang nói
riêng và vùng có điều kiện tương tự nói riêng.
2.2.
-

Mục tiêu cụ thể

Bổ sung thêm cơ sở lý luận và thực tiễn về hình thức tổ chức sản xuất nông
nghiệp trong nông thôn.
-Đánh giá được thực trạng của những hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp

chủ yếu tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang;
-

Đề xuất được giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả của các hình thức tổ chức
sản xuất nông nghiệp tại huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang.


8

3. Nội dung nghiên cứu
-

Tìm hiểu những chính sách hỗ trợ cho các hình thức tổ chức sản xuất đang
được triển khai trên địa bàn huyện.

-

Tìm hiểu, đánh giá thực trạng phát triển chung của các Hợp tác xã, tổ hợp tác,
doanh nghiệp nông nghiệp,trang trại.

-

Tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc chính cản trở sự phát triển của các hình
thức tổ chức sản xuất nông nghiệp.

-

Đề xuất những giải pháp tháo gỡ những khó khăn nhằm giúp các hình thức tổ
chức sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện phát triển.

4. Bố cục của đề tài
-

Mở đầu;

-

Chương

1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hình thức tổ chức sản xuất

nông nghiệp trong nông thôn;
-

Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu;

-

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận;

-

Kết luận.

5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài cung cấp cái nhìn tổng quát về những hình thức tổ chức sản xuất nông
nghiệp tỉnh Tuyên Quang, những thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân của thực trạng
trên và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hình thức tổ chức sản xuất tại địa
phương.
Đề tài là cơ sở để các nhà hoạch định chính sách đưa ra những điều chỉnh phù
hợp nhằm khuyến khích, hỗ trợ phát triển những hình thức tổ chức sản xuất nông
nghiệp tỉnh Tuyên Quang.


9

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.

Cơ sở lý luận

1.1.1.

Khái niệm và đặc điểm nông thôn

ỉ.ỉ.ỉ.ỉ. Khái niệm
Nông thôn là những vùng lãnh thổ có không gian nhất định, là nơi sinh kế
cộng đồng gắn bó, có quan hệ trực tiếp đến khai thác, sử dụng môi trường và tài
nguyên thiên nhiên cho hoạt động sản xuất nông nghiệp. Có nhiều quan điểm khác
nhau để phân biệt nông thôn với thành thị. Có quan điểm cho rằng chỉ cần dựa vào
trình độ phát triển cơ sở hạ tầng. Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu
trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn. Với
mỗi quan điểm khác nhau lại có những khái niệm khác nhau về nông thôn. Khái
niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối và luôn biến động theo thời gian để phản
ánh biến đổi về kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới. Trong điều kiện Việt
Nam có thể hiểu: “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó chủ yếu
là lao động nông nghiệp, hoạt động kinh tế phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên”
hoặc “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị
xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân xã”. [1]
ỉ.ỉ.ỉ.2. Đặc điểm nông thôn
- Nông thôn gắn chặt với một nghề lao động xã hội truyền thống, đặc trưng
và nổi trội là hoạt động sản xuất nông nghiệp. Điều này thể hiện ở chỗ phương tiện
sản xuất chủ yếu ở nông thôn là đất đai, nó cũng tạo ra sự gắn kết nghề nghiệp giữa
những người dân nông thôn.
-

Trình độ phát triển sản xuất thấp, thu nhập bình quân so với thành thị là rất
thấp.


1
0

-

Mật

độ dân cư thưa,

so với thành thị thì dân cư thưa hơn rất nhiều,

mật độ dân số ở các vùng nông thôn Việt Nam hiện nay khoảng trên 100 người/km 2,
trong khi ở những vùng thành thị mật độ có nơi đạt tới khoảng 1000 người/km 2.
-

Con người nông thôn sống gần gũi với thiên nhiên, hình ảnh của nông thôn vì
thế thường gắn với cây đa, bến nước, con đò, dòng sông...

-

Nông thôn có lối sống đặc thù hình thành chủ yếu trên cơ sở của hoạt động
lao động nông nghiệp.

-

Đặc điểm nổi trội của nông thôn khác hoàn toàn so với thành thị là tính cố
kết, tính cộng đồng, tính tự trị, người dân nông thôn sống quần tụ theo làng,
xóm tạo nên sức bền chặt, thân thiết. Nhờ tính cộng đồng nên người

nông dân có khả năng liên kết, hợp tác, tinh thần tương thân tương ái, dân chủ và
bình đẳng. Tính tự trị tạo nên khả năng tự lập, cần cù, tự cung tự cấp. Tuy nhiên các
thuộc tính này cũng có những nhược điểm của nó
-

Lối

ứng xử của người dân nông thôn nặng về tập tục lễ nghi hơn


tính pháp lý và luật pháp.
-

Đặc trưng không thể thiếu ở nông thôn là những nét văn hóa truyền thống

mang những nét độc đáo, riêng biệt ở mỗi vùng.
1.1.2.
Khái niệm về một số hình thức tổ chức sản xuất tại nông thôn
Mỗi hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp trong nông thôn đều có lịch sử
hình thành riêng, nếu như kinh tế hộ nông dân có từ rất lâu thì các trang trại ở nước
ta mới hình thành từ thời nhà Trần (thời đó gọi là điền trang, chủ yếu là trang trại của
quý tộc phong kiến), còn các Hợp tác xã phải tới năm 1960 mới bắt đầu xuất hiện từ
các HTX quy mô thôn, sau đó mới phát triển dần thành các HTX liên thôn, liên xã,
liên tỉnh. Trải qua quá trình dài phát triển đến nay trong nông thôn Việt Nam đã hình
thành thêm các hình thức tổ chức sản xuất khác trong nông nghiệp như tổ hợp tác,


1
1

doanh nghiệp nông nghiệp.
Ỉ . Ỉ . 2 . Ỉ . Hợp tác xã
-

Khái niệm: Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách
pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ
lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng
nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình

-

đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã.[2]
Đặc điểm của hợp tác xã:
+ Các thành viên liên kết với nhau vì một lợi ích chung.
+ Các thành viên luôn

kinh tế của

cố gắng theo đuổi mục tiêu cải thiện điều kiện

mình bằng cách phối kết hợp với nhau trong quá trình

sản xuất-

kinh doanh.
+ Các thành viên có cùng sở hữu và vận hành một đơn vị cung cấp hàng hoá
và dịch vụ cho họ.
+ Mục đích của HTX là nhằm sử dụng tối đa các nguồn lực chung để phát
triển sản xuất.[3]
11.2.2. Trang trại
-

Khái niệm: Trang trại phải hiểu đầy đủ là kinh tế trang trại, hoặc kinh tế của
chủ trang trại - đơn vị kinh doanh cơ sở trực tiếp sản xuất trồng trọt trên đồng
ruộng và chăn nuôi trong chuồng trại. Đó là một hình thức tổ chức sản xuất cơ
sở trong nông, lâm và thủy sản với mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, có
quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất đủ lớn, có trình độ kỹ thuật cao, tổ

-

chức và quản lý tiến bộ.[4]
Đặc trưng của trang trại:
+ Trang trại là một đơn vị kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp.
+ Mục đích chủ yếu của trang trại là kinh doanh nông sản phẩm hàng hoá

theo nhu cầu thị trường.
+ Trong trang trại, các yếu tố sản xuất trước hết là ruộng đất và tiền vốn được


1
2

tập trung tới quy mô nhất định theo yêu cầu phát triển sản xuất hàng hoá.
+ Lao động trong các trang trại chủ yếu là dựa trên các thành viên trong hộ,
ngoài ra có thuê mướn lao động.
1.1.2.3. Doanh nghiệp nông nghiệp
-

Khái niệm: Doanh nghiệp nông nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng,

có tài

sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy

định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực nông
nghiệp.
-

Đặc điểm của doanh nghiệp: Doanh nghiệp nông bao gồm một tập thể những
người lao động, có sự phân công và hợp tác lao động để khai thác và sử dụng
một cách có hiệu quả các yếu tố, các điều kiện của sản xuất nông nghiệp
nhằm sản xuất ra nông sản hàng hoá và thực hiện dịch vụ theo yêu cầu của xã
hội.
+ Tư liệu sản xuất chủ yếu là ruộng đất. DNNN phải cần một diện tích đất

tương đối lớn để sản xuất. Nguồn đất được đưa vào sản xuất hầu hết là mặt đất, mặt
nước, bao gồm những cánh đồng, cánh rừng, ao hồ, sông suối.
+ Đối tượng sản xuất kinh doanh là cây trồng, vật nuôi đáp ứng nhu cầu của
thị trường.
+ Quá trình sản xuất kinh doanh áp dụng nhiều tiến bộ khoa học công nghệ,
kỹ thuật vào sản xuất song vẫn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, thời gian ra sản phẩm
thường kéo dài. [5]
1.1.2.4. Tổ hợp tác
-

Khái niệm: Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có
chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn của từ ba cá nhân trở
lên, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định,
cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm là chủ thể trong các quan hệ dân sự.
Tổ hợp tác còn có tên gọi khác là: “Nhóm cùng sở thích”; “Tổ đổi công”,


1
3

“Nhóm liên kết”,...
-

Đặc điểm: Tổ hợp tác có những đặc điểm tương tự hợp tác xã, các thành viên
liên kết với nhau vì một lợi ích chung. Bằng cách phối kết hợp với nhau trong
quá trình sản xuất- kinh doanh, các thành viên đều được hưởng lợi từ một
nguồn cung cấp hàng hóa dịch vụ cho họ.
Tuy nhiên, điểm khác biệt của Tổ hợp tác với Hợp tác xã là:
+ Tổ hợp tác không có tư cách pháp nhân;
+ Tổ hợp tác là hình thức hợp tác đơn giản, quy mô thành viên, quy mô hoạt

động, tài sản và vốn chung thường nhỏ bé. Với đặc điểm vốn góp nhỏ nên tổ hợp tác
khuyến khích được sự tham gia của các hộ nghèo và cận nghèo.[6]
1.1.2.5. Kinh tế hộ nông dân
-

Khái niệm: Là một tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu của hộ gia đình, trong
đó các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động

-

kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp.
Đặc điểm:
+ Kinh tế hộ nông dân được hình thành theo một cách thức tổ chức riêng

trong phạm vi gia đình. Các thành viên trong hộ cùng có chung sở hữu các tài sản
cũng như kết quả sản xuất kinh doanh của họ;
+ Trong kinh tế

hộ nông dân thì

chủ hộ cũng là người lao động trực

tiếp, tùy vào điều kiện cụ thể, họ có thể thuê thêm lao động;
+ Quy mô sản xuất của kinh tế hộ gia đình thường nhỏ, vốn đầu tư ít. Sản
xuất của kinh tế hộ còn mang nặng tính tự cung, tự cấp, hướng tới mục đích đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của hộ là chủ yếu;
+ Quá trình sản xuất chủ yếu dựa vào sức lao động thủ công và công cụ
truyền thống, do đó năng suất lao động thấp. Vì vậy, tích lũy của hộ chủ yếu dựa vào
lao động gia đình là chính;


1
4

+ Trình độ quản lý và chuyên môn nghiệp vụ của chủ hộ rất hạn chế, chủ yếu
là theo kinh nghiệm từ đời trước truyền lại cho đời sau. Do đó, nhận thức của chủ hộ
về pháp luật, về kinh doanh, cũng như kinh tế thị trường rất hạn chế. [7]
1.1.3.
Vai trò của các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp nông
thôn
Việt Nam là nước nông nghiệp, với hơn 70% dân số sống ở vùng nông thôn
và canh tác nông nghiệp. Trong chiến lược phát triển nông nghiệp và quá trình xây
dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay cho thấy các hình thức tổ chức trong nông
nghiệp nông thôn đóng vai trò thiết yếu trong việc liên kết hộ nông dân đi lên sản
xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn, đặc biệt tạo ra sức cạnh tranh hàng hóa và chuỗi
giá trị nông sản. Các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp nông thôn không chỉ
đóng vai trò trong phát triển kinh tế mà còn góp phần đảm bảo sự ổn định về an ninh,
trật tự ở các vùng nông thôn, do tạo nhiều công ăn việc làm cho người dân trong
vùng.
1.1.4.

Kinh nghiệm phát triển các hình thức tổ chức sản xuất trong nông

nghiệp nông thôn ở Việt Nam và trên thế giới [8]
* Hợp tác xã:
Hợp tác xã (HTX) đầu tiên trên thế giới được hình thành vào năm 1761 tại
Vương quốc Anh, sau đó phát triển ra ở hầu hết các nước trên thế giới, không phân
biệt ở nước có nền kinh tế phát triển hay đang phát triển; HTX đều có vai trò quan
trọng trong việc phát triển kinh tế và ổn định xã hội. HTX là tổ chức kinh tế mang
tính xã hội cao, HTX hoạt động như một doanh nghiệp dựa trên các giá trị và nguyên
tắc tương trợ, tự chịu trách nhiệm, dân chủ, bình đẳng, công bằng và đoàn kết, tạo
nên sức mạnh trong việc giúp các hộ gia đình, cá thể, tiểu chủ hoạt động kinh doanh


1
5

có hiệu quả hơn, tăng khả năng cạnh tranh mạnh hơn trên thị trường. Hơn thế, ở
nhiều nước, HTX được coi là tổ chức để thông qua đó Nhà nước có thể thực hiện
được nhiều chương trình quan trọng
nghèo,

như:

xoá đói

ứng dụng công nghệ mới,

giảm
công

nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn, khôi phục và phát huy ngành nghề truyền thống,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tham gia bảo đảm an ninh chính trị và xã hội... Dovị
và vai trò quan

trọng của các HTX

trí

như vậy, nên số lượng

người tham gia xã viên của HTX ngày càng đông, tổ chức của HTX ngày được hoàn
thiện và mở rộng phạm vi hoạt động trong nước và quốc tế. Mỗi nước đều có hệ
thống tổ chức HTX từ cơ sở đến toàn quốc, rồi tổ chức HTX từng châu lục đến khu
vực và toàn thế giới. Liên minh HTX quốc tế (ICA) là tổ chức cao nhất của phong
trào HTX toàn thế giới và từ năm 1946 ICA là đối tác của Liên hiệp quốc về các vấn
đề kinh tế-xã hội thông qua Ủy ban kinh tế- xã hội (COPAC) của Liên hiệp quốc.
- Mô hình kinh tế hợp tác xã của một số nước Châu Á:
+ Tại Ấn Độ:
Ở Ấn Độ, tổ chức hợp tác xã (HTX) được ra đời từ lâu và chiếm vị trí quan
trọng trong nền kinh tế của nước này, trong đó, Liên minh HTX Quốc gia Ấn Độ
(NCUI) là tổ chức cao nhất, đại diện cho toàn bộ HTX ở Ấn Độ. NCUI có 212 thành
viên, gồm 17 liên đoàn HTX chuyên ngành cấp quốc gia, 171 liên đoàn HTX thuộc
các bang và 24 liên hiệp HTX đa chức năng cấp quốc gia. Mục tiêu chính của NCUI
là hỗ trợ và phát triển phong trào HTX ở Ấn Độ, giáo dục và hướng dẫn nông dân
cùng nhau xây dựng và phát triển HTX. Nhiệm vụ quan trọng của NCUI là công tác
đào tạo với hệ thống đào tạo 3 cấp: Viện Đào tạo quốc gia có nhiệm vụ đào tạo và
cấp bằng cao đẳng về quản lý kinh doanh HTX; Viện Đào tạo cấp bằng đào tạo và
bằng trung cấp về quản lý, kinh doanh HTX; Trung tâm đào tạo cấp quận, huyện đào


1
6

tạo cán bộ HTX cơ sở, đào tạo nghề. Do có các chính sách và phân cấp đào tạo hợp
lý nên Ấn Độ đã có một đội ngũ cán bộ có trình độ cao, thúc đẩy khu vực kinh tế
HTX phát triển, và mô hình HTX trở thành lực lượng vững mạnh, tham gia vào hầu
hết các hoạt động kinh tế của đất nước. Là một nước nông nghiệp, sự phát triển kinh
tế của Ấn Độ phụ thuộc rất nhiều vào việc phát triển nông nghiệp. Người nông dân
coi HTX là phương tiện để tiếp nhận tín dụng, đầu vào và các nhu cầu cần thiết về
dịch vụ. Khu vực HTX có cơ sở hạ tầng rộng lớn, hoạt động trong các lĩnh vực tín
dụng, chế biến nông sản, hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ và xây dựng nhà ở
với tổng số vốn hoạt động khoảng 18,33 tỷ USD. Nhận rõ vai trò của các HTX
chiếm vị trí trọng yếu trong các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, Chính phủ Ấn Độ
đã thành lập công ty quốc gia phát triển HTX, thực hiện nhiều dự án khác nhau trong
lĩnh vực chế biến, bảo quản, tiêu thụ nông sản, hàng tiêu dùng, lâm sản và các mặt
hàng khác, đồng thời thực hiện các dự án về phát triển những vùng nông thôn còn lạc
hậu. Ngoài ra, Chính phủ đã thực hiện chiến lược phát triển cho khu vực HTX như:
Xúc tiến xuất khẩu; Sửa đổi Luật HTX, tạo điều kiện cho các HTX tự chủ và năng
động hơn; Chấn chỉnh hệ thống tín dụng HTX; Thiết lập mạng lưới thông tin hai
chiều giữa những người nghèo nông thôn với các tổ chức HTX; Bảo đảm trách
nhiệm của các liên đoàn HTX đối với các HTX thành viên.
+ Tại Nhật Bản:
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tổ chức HTX Nhật Bản là nhân tố tích cực,
góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Các loại hình tổ
chức HTX Nhật Bản bao gồm: HTX nông nghiệp, HTX tiêu dùng. HTX tiêu dùng
Nhật Bản phát triển mạnh từ những năm 1960-1970. Liên hiệp HTX tiêu dùng
(JCCU) là tổ chức cấp cao của khu vực HTX ở Nhật Bản. Hiện nay, JCCU có 617
HTX thành viên. Các HTX thành viên đã sản xuất trên 10.000 sản phẩm khác nhau


1
7

mang nhãn hiệu “Co-op”, bao gồm lương thực, thực phẩm và hàng hóa tiêu dùng.
JCCU có các chức năng và nhiệm vụ như: tăng cường hướng dẫn quản lý và hỗ trợ
hoạt động kinh doanh cho các HTX thành viên; Lập kế hoạch; Phát triển và cung cấp
sản phẩm, các chương trình bảo hiểm và mạng lưới thông tin, đáp ứng nhu cầu của
các xã viên; Tổ chức các khóa học và hội thảo về công tác quản lý và giáo dục cho
các HTX thành viên; Xuất-nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng...
HTX Nông nghiệp Nhật Bản được đặc trưng bởi hệ thống 3 cấp: các HTX
nông nghiệp cơ sở, các liên hiệp và các liên đoàn quốc gia. Các tổ chức HTX cơ sở
được tổ chức ở cấp làng, thị trấn và thành phố trực thuộc tỉnh,
gồm những thành viên thường xuyên là nông dân và các thành viên liên kết khác.
HTX nông nghiệp cơ sở có 2 loại: HTX nông nghiệp đa chức năng và HTX nông
nghiệp đơn chức năng. HTX nông nghiệp đa chức năng có nhiệm vụ hoạt động trong
các lĩnh vực nông nghiệp, tiếp thị sản phẩm nông nghiệp, cung cấp nguyên liệu sản
xuất và các vật dụng thiết yếu hàng ngày; Cho vay và đầu
cấp

bảo hiểm...

HTX nông nghiệp



vốn, cung

đơn chức năng hoạt

động trong các lĩnh vực sản xuất cụ thể như chế biến sữa, nuôi gia cầm và các nghề
truyền thống khác. Ngoài ra, còn có chức năng tiếp thị sản phẩm của các xã viên
thành viên và cung cấp nguyên liệu sản xuất.
Các tổ chức HTX cấp tỉnh: Các HTX nông nghiệp được điều hành, quản lý
thông qua các liên đoàn, các hiệp hội HTX nông nghiệp tỉnh và các liên minh HTX
nông nghiệp tỉnh. Các liên đoàn HTX cấp tỉnh điều phối các hoạt động của các HTX
trong phạm vi, quyền hạn của mình, đồng thời cung cấp các dịch vụ tài chính, bảo
hiểm, tiếp thị cho các HTX thành viên. Các liên hiệp HTX tỉnh chỉ đạo các vấn đề về
tổ chức, quản lý, giáo dục, nghiên cứu cũng như đưa các kiến nghị lên các cơ quan
của Chính phủ. Các liên minh HTX nông nghiệp tỉnh có nhiệm vụ giám sát và quản
lý toàn bộ hoạt động của các HTX nông nghiệp liên kết.


1
8

Để giúp các

tổ chức HTX hoạt động, Chính

phủ Nhật Bản đã tăng

cường xây dựng hệ thống phục vụ xã hội hóa nông nghiệp, coi HTX nông nghiệp là
một trong những hình thức phục vụ xã hội hóa tốt nhất và yêu cầu các cấp, các ngành
phải giúp đỡ và bảo

vệ quyền lợi hợp pháp cho tổ chức

này. Đồng thời, Chính phủ còn yêu cầu các ngành tài chính, thương nghiệp giúp đỡ
về vốn, kỹ thuật, tư liệu sản xuất v.v..., tuy nhiên, không làm ảnh hưởng đến tính tự
chủ và độc lập của các HTX này.
+ Tại Thái Lan:
Ở Thái Lan, HTX tín dụng nông thôn được thành lập từ lâu. Do hoạt động
của HTX này có hiệu quả, nên hàng loạt HTX tín dụng được thành lập khắp cả nước.
Cùng với sự phát triển của các HTX tiêu dùng, các loại hình HTX nông nghiệp, công
nghiệp cũng được phát triển mạnh, và trở thành một trong những yếu tố quan trọng
trong việc phát triển kinh tế của đất nước cũng như giữ vững ổn định xã hội
Liên đoàn HTX Thái Lan (CLT) được thành lập, là tổ chức HTX cấp cao
quốc gia, thực hiện chức năng đại diện, hỗ trợ, giáo dục và bảo vệ quyền lợi hợp
pháp của các HTX và xã viên theo luật định.
Hiện nay, Thái Lan có một số mô hình HTX tiêu biểu: HTX nông nghiệp và
HTX tín dụng. HTX Nông nghiệp được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu của xã viên
trong các lĩnh vực: Vay vốn, gửi tiền tiết kiệm và tiền ký quỹ, tiêu thụ sản phẩm, tiếp
thị, hỗ trợ phát triển nông nghiệp và các dịch vụ khác. Thông qua sự trợ giúp của
Chính phủ, Ngân hàng Nông nghiệp và HTX Nông nghiệp, xã viên được vay vốn với
lãi suất thấp với thời hạn ưu đãi thích hợp cho việc kinh doanh hoặc sản xuất của họ.
Hoạt động của HTX tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu của xã viên về các lĩnh vực:
Khuyến khích gửi tiền tiết kiệm của các xã viên; Góp cổ phần; Cung cấp các dịch vụ
vốn vay cho xã viên...


1
9

Để tạo điều kiện cho khu vực HTX phát triển và khuyến khích xuất khẩu,
Chính phủ Thái Lan đã ban hành nhiều chính sách thiết thực như chính sách giá, tín
dụng nhằm khuyến khích nông dân phát triển sản xuất. Mục tiêu của chính sách giá
cả là: Đảm bảo chi phí đầu vào hợp lý để có giá bán ổn định cho người tiêu dùng,
đồng thời góp phần làm ổn định giá nông sản tại thị trường trong nước, giữ giá trong
nước thấp hơn giá thị trường thế giới, khuyến khích xuất khẩu. Ngoài ra, Chính phủ
đã thành lập Bộ Nông nghiệp và HTX, trong đó có 2 vụ chuyên trách về HTX là Vụ
phát triển HTX và Vụ kiểm toán HTX. Vụ phát triển HTX đóng vai trò quan trọng
trong việc giúp đỡ các HTX thực hiện các hoạt động kinh doanh, nhằm đạt được các
mục tiêu do các HTX đề ra; Vụ kiểm toán HTX thực hiện chức năng kiểm toán HTX
và hướng dẫn nghiệp vụ kế toán trong công tác quản lý tài chính, kế toán HTX. Hàng
năm, Liên đoàn HTX Thái Lan tổ chức hội nghị toàn thể với sự tham gia của các đại
diện từ các loại hình HTX trong cả nước và đại diện các cơ quan của Chính phủ liên
quan đến tổ chức HTX. Sự hỗ trợ, giúp đỡ của Chính phủ Thái Lan thực sự có hiệu
quả trong việc hoạch định các chính sách đối với phát triển khu vực HTX.
+ Tại Malaysia:
Ở Malaysia, các tổ chức HTX được thành lập từ những năm đầu của thế kỷ
XX. Hiện nay, tổ chức HTX đang là một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển
kinh tế của đất nước. Tổ chức HTX Malaysia (ANGKASA) là tổ chức cấp cao của
các HTX Malaysia. ANGKASA có nhiệm vụ hỗ trợ các HTX thành viên về phương
thức điều hành và quản lý các hoạt động của HTX bằng cách tư vấn, giáo dục hoặc
tổ chức những dịch vụ cần thiết. Hiện nay, ANGKASA có 4.049 HTX các loại với
4,33 triệu xã viên, trong đó, HTX tín dụng và ngân hàng có 442 HTX với 1,32 triệu
xã viên; HTX nông nghiệp có 205 HTX với 0,19 triệu xã viên; HTX xây dựng nhà ở


2
0

có 103 HTX với 0,07 triệu xã viên; HTX công nghiệp có 51 HTX với 0,01 triệu xã
viên; HTX tiêu dùng có 2.359 HTX với 2 triệu xã viên; HTX dịch vụ có 362 HTX
với 0,14 triệu xã viên,... Sự phát triển vững chắc của các khu vực kinh tế HTX đã
thúc đẩy nền kinh tế Malaysia có bước phát triển mới.
Các nguyên tắc của HTX được ANGKASA nêu cụ thể như sau: Quản lý dân
chủ; Thành viên tự nguyện; Thu nhập bình đẳng; Phân phối lợi nhuận kinh doanh
theo mức độ sử dụng các dịch vụ của các xã viên và mức đóng góp cổ phần của xã
viên; Hoàn trả vốn theo mức đầu tư; Xúc tiến công tác đào tạo phổ cập kiến thức
quản lý và KHKT nông nghiệp cho các xã viên.
Năm 1922, Pháp lệnh đầu tiên về HTX của Nhà nước Malaysia ra đời. Sau
đó, năm 1993, Luật HTX ra đời, là khung khổ pháp lý để các HTX hoạt động, đồng
thời xây dựng kế hoạch phát triển và đào tạo cán bộ quản lý HTX, củng cố quyền
của xã viên cũng như công tác đào tạo xã viên. Luật cũng quy định việc kiểm toán
nội bộ và xây dựng báo cáo toàn diện của Ban chủ nhiệm HTX trong Đại
xã viên

hội

thường kỳ hàng năm. Đặc biệt, Chính phủ

Malaysia đã thành lập Cục Phát triển HTX với một số hoạt động chính như: Quản lý
và giám sát các hoạt động của HTX; Giúp đỡ tài chính và cơ sở hạ tầng để HTX có
thể tồn tại hoạt động; Xây dựng kế hoạch phát triển HTX, kế hoạch đào tạo cán bộ
quản lý.
* Trang trại:[9]
Theo các nhà nghiên cứu, kinh tế trang trại được hình thành từ rất sớm, từ khi
phương thức sản xuất tư bản thay thế phương thức sản xuất phong kiến, từ khi bắt
đầu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất ở châu Âu, nghĩa là kinh tế trang trại
ra đời gắn liền với quá trình công nghiệp hóa.


2
1

Kinh tế trang trại được xem là xuất hiện sớm nhất ở Pháp. Sau cuộc đại cách
mạng tư sản Pháp năm 1789, ở Pháp xuất hiện những chủ trại trong nông nghiệp. Từ
đó kinh tế trang trại phát triển và lan rộng khắp thế giới. Có thể nói, đến nay trang
trại gia đình trở thành mô hình phổ biến nhất của nông nghiệp thế giới, nó chiếm tỷ
trọng lớn tuyệt đối về đất đai canh tác và số lượng nông sản làm ra. Ở Mỹ có khoảng
2,2 triệu trang trại đã sản xuất ra hơn 50% sản lượng đậu tương và ngô của toàn thế
giới.
Quá trình phát triển kinh

tế trang trại gia đình có sự biến đổi về số

lượng cũng như quy mô. Thực tiễn ở nhiều nước cho thấy trong thời kỳ đầu CNH do
lao động nông nghiệp còn đông, khả năng phân công lao động xã hội còn hạn chế thì
số lượng trang trại gia đình tăng lên. Đến thời kỳ công nghiệp hoá phát triển, khả
năng thu hút lao động của công nghiệp, dịch vụ tăng lên nhanh chóng thì số lượng
trang trại nông nghiệp bắt đầu giảm đi. Cuối thế kỷ XX số lượng ở các trang trại gia
đình ở các nước đang phát triển ở châu Á tăng 2,5% mỗi năm, trong khi dó ở các
nước công nghiệp phát triển châu Âu giảm 2,35% mỗi năm.
Quy mô trang trại gia đình lại biến động theo chiều hướng ngược lại với số
lượng trang trại của mỗi quốc gia. Tuỳ điều kiện các nước mà quy mô trang trại có
thể rất khác nhau.
Việc cơ giới hoá, hiện đại hoá nông nghiệp trong các trang trại không chỉ
diễn ra ở các nước phát triển mà ngay cả đối với các trang trại tại các nước đang phát
triển: “Năm 1985, cơ cấu động lực nông nghiệp của các trang trại ở các nước công
nghiệp phát triển có 7% sức người, 10% sức súc vật và 82% sức máy, cơ điện còn
các trang trại của các nước đang phát triển có 25 đến 30% sức người, 50% sức súc
vật và 20% sức máy...”. Ngoài ra, các trang trại còn ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật


2
2

trong các lĩnh vực sinh học, tin học: “Ở
Mỹ, đến nay đã có 20% trang trại gia đình sử dụng máy tính phục vụ việc lập trình
sản xuất kinh doanh trên đồng ruộng và trong trang trại. Ở Đức 50% các trang trại
quy mô 50 ha trở lên đã sử dụng máy vi tính vào quá trình điều hành sản xuất...”.
- Lao động sử dụng trong trang trại ở Tây Âu và Mỹ đang có xu hướng giảm
dần. Hiện nay ở Mỹ chỉ có từ 1 -2 lao động/ trang trại; Nhật bản khoảng 3 lao động/
trang trại (1990); Đài loan mỗi trang trại chỉ có 1,3 lao động. Số lao động của một
trang trại của các nước trên thế giới là từ 2 đến 4 lao động/ trang trại. Số lượng lao
động trong các trang trại không phụ thuộc vào quy mô sản xuất của trang trại mà phụ
thuộc vào trình độ công nghệ sản xuất.
Thực tiễn phát triển nông nghiệp của các nước trên Thế giới đã khẳng định
điều kiện cần và đủ cho việc phát triển kinh tế trang trại gia đình là sự hình thành
nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá
đất nước. Ngoài ra trang trại gia đình muốn hoạt động có hiệu quả cần phải có sự tác
động trực tiếp hoặc gián tiếp của Nhà nước thông qua các chính sách và các công cụ
quản lý vĩ mô như: Chính sách thuế, chính sách tài chính, tín dụng, chínhsách bảo trợ
nông nghiệp, bảo hộ lao động... Kinh tế trang trại là những đơn vị kinh tế tự chủ sản
xuất kinh doanh, nhưng các trang trại gia đình có thể tham gia kinh tế hợp tác với nội
dung và hình thức khác nhau. Các hợp tác xã để bảo đảm đầu vào và đầura của quá
trình sản xuất với chi phí thấp, lợi nhuận cao để bảo vệ lợi ích lâu dài của trang trại.
* Doanh nghiệp nông nghiệp[5]
Kinh nghiệm phát triển doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao của một số
địa phương:
+ Mô hình rau hoa thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng):


2
3

Thành phố Đà Lạt thuộc tỉnh Lâm Đồng là thành phố nằm trên vùng Tây
Nguyên mà huyện Chư Sê (Gia Lai) có nhiều điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội
tương đồng. Thành phố có 40.000 ha, trong đó nông nghiệp: 10.000 ha, lâm nghiệp:
30.000 ha, sản xuất rau: 500ha, hoa: 200 ha, chè: 30 ha, cà phê: 2000 ha, cây ăn quả:
1000 ha.
Mô hình sản xuất rau an toàn 35 ha/500ha canh tác được sản xuất theo hai
dạng: Công nghệ sản xuất cách ly trong nhà lưới không sử dụng phân bón, nông
dược vô cơ và công nghệ sản xuất cách ly trong nhà lưới có sử dụng giới hạn nông
dược vô cơ. Mô hình này đã được triển khai tổng số khoảng 20 ha ở Công ty trách
nhiệm hữu hạn Kim Bằng 7 ha, Công ty trách nhiệm hữu hạn Trang Food: 3 ha, các
hộ nông dân trên 10 ha.
Về hoa, trồng trong nhà có mái che plastic là 260 ha/650 ha trồng hoa (như
trồng rau cao cấp), trong đó của nông dân là 80ha, sản lượng 200.000 cành và xuất
khẩu 20.000 cành, tiêu thụ trong nước: 18.000 cành/ngày. Lãi ròng từ trồng hoa cúc
trên 1000m2 đạt 28,0 triệu đồng với công nghệ nhà sáng, 17,9 triệu đồng với công
nghệ nhà lưới, 12 triệu đồng với phương thức truyền thống ngoài trời. Công ty trách
nhiệm hữu hạn Đà Lạt Hasfarm là mô hình ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất
hoa cao cấp có quy mô 24 ha trong đó có 15 ha nhà kính và 2 ha nhà bằng thép; đạt
năng suất 1,8 triệu cành/ha/năm, xuất khẩu 55% (trong đó 90% sang Nhật Bản) tiêu
thụ trong nước 45% với 26 đại lý của Công ty.
+ Mô hình rau, hoa, quả, chăn nuôi thủy sản thành phố Hà Nội
Mô hình 1.000 ha hoa ở huyện Mê Linh: Mê Linh là một huyện thuộc tỉnh
Vĩnh Phúc trước đây. Từ 1/8/2008, được chuyển về Hà Nội để trở thành
một huyện

ngoại thành. Hiện nay, trên địa bàn huyện

có 3 đơn vị gồm xã

Tráng Việt, xã Tiền Phong và thị trấn Mê Linh tổ chức mô hình DN chuyên canh sản


2
4

xuất hoa với khoảng 1.000 ha chuyển hẳn sang trồng và cung cấp hoa cho nội thành
Hà Nội và các tỉnh trong toàn quốc. Các công nghệ mới gồm tạo giống tốt, nhà lưới,
vườn ươm, kho mát bảo quản, đóng gói hoa trình độ cao. Hiện nay, các DN đã có
10% hoa được xuất khẩu.
Thành phố Hà Nội đã phát triển và triển giao công nghệ cho các dự án như:
Xây dựng 100 trang trại nấm, sản xuất trên 500 tấn/năm ở các xã Thanh Lãng,Hương
Canh, Thanh Trù, Hợp Thịnh theo mô hình làng nấm, liên hợp trang trại sản xuất
nấm; Chuyển giao đến hộ nông dân công nghệ bả chuột sinh học BSC, thuốc kích
thích sinh trưởng diệp lục tố và công nghệ vi sinh hữu cơ; Triển khai dự án rau an
toàn với 130 ha ở 16 xã với 9.000 hộ nông dân, sản xuất 2,5 vạn tấn/năm, với công
thức 5 cấm trong rau sạch, 3 chỉ tiêu an toàn (dư lượng N03,thuốc sâu, vi sinh vật
gây bệnh).
Mô hình rau, hoa, quả, chăn nuôi thủy sản: Ngoài mô hình trồng hoa của một
số DNNN ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội còn có các mô hình ứng dụng tiến bộ
kỹ thuật và công nghệ mới có kết quả như: bò sữa Phù Đổng (Gia Lâm), hoa cây
cảnh ở Từ Liêm và Tây Hồ, cam bưởi ở Vân Canh (Từ Liêm), thuỷ sản Đông Mỹ,
rau an toàn tại Vĩnh Tuy, Lĩnh Nam, (Thanh Trì), Vân Nội (Đông Anh)... Thành phố
chủ động xây dựng các dự án Nông nghiệp công nghệ cao như: mô hình rau, hoa
chất lượng cao Từ Liêm 16 ha (Trung tâm rau, hoa quả 24 tỷ đồng); mô hình nông
nghiệp công nghệ cao Nam Hồng (Đông Anh) 30 ha; mô hình nông nghiệp công
nghệ caoKim Sơn (Gia Lâm) 15 ha. Dự án hỗ trợ hạ tầng thủy đặc sản chất lượng
cao ở Đông Mỹ (Thanh Trì) 60 ha, 15 tỷ đồng...
+ Doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh.
Thành phố đã quy hoạch: Khu nông nghiệp công nghệ cao diện tích trên 88
ha và

cấp phép hoạt động cho 5 dự án với tổng vốn đầu tư 220 tỷ


2
5

đồng. Hoạt động của Trung tâm ươm tạo DN được triển khai tương đối có hiệu quả
Từ năm 2000 đến nay, tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp thành phố Hồ Chí
Minh ngày càng cao hơn. Năm 2007 là 15,9%, năm 2008 đạt 3,8% và năm 2009 là
4,87%. Hơn 100 ha đất tại huyện Củ Chi đã được Thành phố chọn để xây dựng khu
nông nghiệp công nghệ cao như sau:
Trồng trọt: trồng rau bằng kỹ thuật thuỷ canh (hydroponic), màng dinh dưỡng
(deep pond & ílooting board technology) và canh tác trên giá thể không đất; công
nghệ nuôi cấy mô (tissue culture) cho rau, hoa, lan, cây cảnh, cây ăn trái...; ứng dụng
chất điều hoà sinh trưởng thực vật (plant regulators) trong điều khiển cây trồng; ứng
dụng công nghệ gene; sản xuất nấm và các chế phẩm vi sinh.
Chăn nuôi thú y: ứng dụng công nghệ cấy chuyển phôi (embryonic
technology) cho bò sữa và bò thịt; sản xuất và bảo quản tinh đông lạnh bò (bull
semen); áp dụng công nghệ di truyền để sản xuất vaccine thế hệ mới; áp dụng công
nghệ gene để sản xuất chất kích thích sinh trưởng cho động vật; ứng dụng kỹ thuật
sinh học phân tử (PCR) để chẩn đoán bệnh và chọn giống gia súc; ứng dụng công
nghệ thông tin trong quản lý con giống.
Thuỷ sản: lai tạo và kích thích sinh sản để sản xuất cá giống và cải tiến chất
lượng cá; nuôi trồng tảo đa bào và vi tảo làm thực phẩm và vật liệu trong xử lý môi
trường.
Lâm nghiệp: ứng dụng công nghệ sinh học để nhân giống nhanh một số cây
lâm nghiệp có chất lượng gỗ tốt, thời gian sinh trưởng ngắn phục vụ cho phát triển
rừng; nhân giống các loại cây lâm nghiệp có dạng tán và tốc độ sinh trưởng phù hợp
cho phát triển cây xanh đô thị...
Dịch vụ: bảo quản, chế biến nông sản, đóng gói bao bì; cung ứng, tiếp thị các
sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao...


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×