Tải bản đầy đủ

Luận văn khảo nghiệm hiệu lực một số loại thuốc hóa học trong phòng trừ bệnh hại chính cây mỡ (manglietia glauca BL ) trong giai đoạn vườn ươm tại tr ường đại học nông lâm thái nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LE THỊ THUY
__ >
Tên đề tài:
KHẢO NGHIỆM HIỆU Lực MỘT SỐ LOẠI THUỐC HÓA HỌC TRONG
PHÒNG
TRỪ BỆNH HẠI CHÍNH CÂY MỠ (MANGLIETIA GLAUCA BL.) TRONG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

Chính quy

Chuyên ngành

Lâm

Khoa Khóa


nghiệp

học

Lâm


LE THỊ THUY
__ >
Tên đề tài:

KHẢO NGHIỆM HIỆU LỰC MỘT SỐ LOẠI THUỐC HÓA HỌC TRONG
PHÒNG

TRỪ BỆNH HẠI CHÍNH CÂY MỠ (MANGLIETIA GLAUCA BL.)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

Chính quy

Chuyên ngành

Lâm nghiệp

Lớp Khoa

K43 - LN N01

Khóa học

Lâm nghiệp

Giảng viên HD

2011 - 2015
TS. Đặng Kim Tuyến



3
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá
trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu. Nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách
nhiệm!
Thái Nguyên, ngày 29 tháng 05 năm 2015 Xác nhận của GVHD
cam đoan

TS. Đặng Kim Tuyến

Lê Thị Thúy

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
Đã sửa chữa sai xót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu!
(Ký, ghi rõ họ tên)

Người viết


LỜI CẢM ƠN
Việc làm quen

với thực tiễn nghề nghiệp cùng với việc củng cố, hệ
4
thống lại các kiến thức đã học sẽ được các sinh viên năm cuối thể hiện trong quá trình thực tập tốt nghiệp của mình. Đây là giai
đoạn cuối cùng của quá trình học
phẩm

tập

của mỗi

sinh viên và

bước

đầu

rèn luyện



năng,

chất

chuyên môn nghiệp vụ cần thiết phục vụ cho công việc sau này. Được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp cùng
với sự hướng dẫn tận tình của cô giáo TS. Đặng Kim Tuyến chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài tại vườn ươm cây giống của
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Trong thời gian thực tập, do trình độ có hạn và thời gian thực tập ngắn nên bản khóa
luận tốt nghiệp của tôi không thể tránh khỏi thiếu sót. Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn
đồng nghiệp để bản khóa luận của tôi đươc hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin bày

tỏ lòng biết ơn tới ban giám hiệu trường Đại học Nông

Lâm Thái Nguyên, nơi đã gắn bó với tôi suốt 4 năm học và tu dưỡng tôi trở thành người có ích cho xã hội. Tôi cũng xin bày tỏ
lòng biết ơn tới ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp nơi đã trực tiếp đào tạo tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong
khoa Lâm nghiệp đã dìu dắt, giúp đỡ tôi, dạy cho tôi những kiến thức bo ích cho cuộc sống và kiến thức chuyên môn. Đặc biệt
tôi xin cảm ơn sâu sắc tới cô giáo TS. Đặng Kim Tuyến, người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình để tôi hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp này.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn ban quản lí vườn ươm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện để

tôi thực tập tại vườn
ươm cây giống của trường và giúp tôi có một địa điểm thực tập tốt nhất.
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Lê Thị Thúy
Trang

Bảng 4.1. Kết quả điều tra tỉ lệ nhiễm bệnh trước khi sử dụng thuốc (P%).... 21


Bảng 4.16.

l
Tong hợp kết quả điều tra mức độ hại của bệnh thán thư lá Mỡ


Trang
6
ODB
ĐC
CT1
CT2
CT3
CT4
CÁC CHỮ VIẾT TẮT

: Ô dạng
bản
: Đối chứng
DANH MỤC CÁC HÌNH
: Công thức
1
: Công thức
2
: Công thức
3
: Công thức
4


Trang

3.4.1...........................................................................................................................
3.4.2.

Phương pháp theo dõi (thu thập thông tin)


8

Phần 1
MỞ ĐẦU

1.1.

Đặt vấn đề
Hiện nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của xã hội thì nền kinh tế nước ta cũng

thay đoi từng ngày theo chiều hướng đi lên. Sự thay đoi diễn ra ở các ngành nghề lĩnh
vực khác nhau theo những mức độ khác nhau. Cùng với sự phát triển chung của ngành
kinh tế thì ngành lâm nghiệp cũng không nằm ngoài quy luật đó. Rừng đóng một vai
trò quan trọng đối với con người, rừng không chỉ cung cấp gỗ, củi và các lâm đặc sản
cho nền kinh tế quốc dân mà rừng còn tạo cảnh quan khu vực sinh thái, là lá phoi xanh
của nhân loại, điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trường và còn nhiều tác dụng to lớn khác,
nhưng bên cạnh đó thì nhu cầu của con người đối với rừng và các sản phẩm từ rừng
cũng ngày càng cao, trong khi diện tích rừng tự nhiên của nước ta đang bị thu hẹp ở
mức báo động. Trước thực trạng đó, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp thiết
thực nhằm giảm tình trạng khai thác nguồn tài nguyên rừng bừa bãi, tiếp tục
xanh

diện tích đất trống

phủ

đồi núi trọc, tiến hành trồng rừng

phòng hộ đầu nguồn, trồng rừng sản xuất tập trung nhằm đáp ứng các nhu cầu về các
nguyên liệu gỗ cho các nhà máy giấy, nhà máy sợi, các nhà máy xí nghiệp chế biến
ván dăm và cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến gỗ khác.
Tuy nhiên, khi trồng rừng trên một diện tích lớn số lượng cây nhiều và trồng
thuần loài lại rất dễ bị sâu, bệnh hại phát sinh phát triển. Để đạt được kểt quả tốt của
việc trồng rừng thì điều quan trọng nhất ở đây là phải tạo được nhiều cây giống tốt,
khỏe mạnh, không bị sâu hại và không có mầm bệnh. Muốn được như vậy thì ngoài
việc
giống tốt
pháp xử

chọnđược
đốivới những cây có khả

hạt

giống tốt, bảo

quản hạt

năng tái sinh bằng hạt, những phương

lý trước khi gieo ươm thì việc phòng

trừ sâu bệnh hại ở giai đoạn

vườm ươm là không thể thiếu được nếu giải quyết được vấn đề đó thì tốn thất do bệnh


9

hại gây ra sẽ giảm xuống một cách đáng kể.
Do vậy cần phải có các biện pháp phòng trừ bệnh hiệu quả và kịp thời để
phòng trừ bệnh đạt hiệu quả cao nhất trong đó biện pháp hóa học là một biện pháp có
hiệu quả tiêu diệt bệnh hại cao, dập dịch kịp thời và ít tốn thời gian. Tuy nhiên thuốc
hóa học trên thị trường có rất nhiều loại muốn phòng trừ bệnh hiệu quả thì phải lựa
chọn đúng loại thuốc.
Các loài cây con được gieo ươm ở miền Bắc nước ta hiện nay chủ yếu là Keo,
Mỡ, Thông, Bạch Đàn... Trong đó các bệnh hại Mỡ như thán thư lá, thối cố rễ thường
gây hại nặng ảnh hưởng không ít đến số lượng, chất lượng cây Mỡ trước khi xuất
vườn, gây nên những tốn thất đối với việc kinh doanh cây giống Lâm nghiệp nói
chung.
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo
nghiệm hiệu lực một số loại thuốc hóa học trong phòng trừ bệnh hại chính cây
Mỡ (Manglietia glauca BL.) trong giai đoạn vườn ươm tại trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên”.

1.2.
-

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định được các loại bệnh chính ở cây mỡ trong giai đoạn vườn ươm.

-

Xác định các loại thuốc hóa học có hiệu lực nhất so với các loại thuốc đem khảo
nghiệm và đề xuất biện pháp phòng trừ bệnh hại chính đối với cây mỡ ở giai đoạn
vườn ươm.

1.3.

Ý nghĩa của đề tài

1.3.1. Ý nghĩa trong khoa học
-

Giúp sinh viên củng cố, hệ thống lại những kiến thức đã học.

-

Quá trình làm đề tài đã giúp tôi nắm vững phương pháp điều tra, đánh giá bệnh hại tại
vườn ươm.

-

Quá trình thực hiện đề tài giúp tôi nắm vững trình tự các bước trong nghiên cứu một


1

đề tài khoa học.

-

Việc nghiên cứu đề tài là cơ sở để xác định loại thuốc hóa học có hiệu lực nhất tránh
tình trạng thuốc không có tác dụng đối với bệnh hại.

-

Học tập hiểu biết thêm kinh nghiệm về kĩ thuật được áp dụng trong thực tiễn tại địa
bàn nghiên cứu.

-

Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu tiếp theo
trong phòng trừ bệnh hại cây Mỡ nói riêng và cây con Lâm nghiệp tại vườn ươm nói
chung.

1.3.2.

Ý nghĩa thực tiễn

-

Quá trình thu thập số liệu giúp tôi học hỏi và làm quen với thực tế sản xuất.

-

Kết quả của quá trình khảo nghiệm sẽ xác định được các loại thuốc hóa học có hiệu
lực cao trong phòng trừ bệnh hại chính cho cây trong giai đoạn vườn ươm.
Từ đó có thể ứng dụng trong công tác phòng trừ bệnh tại vườn ươm Trường
đại học Nông Lâm nói riêng và các vườn ươm khác nói chung. Góp phần
nâng cao chất lượng cây giống, đáp ứng mục tiêu kinh doanh.


Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1.

Cơ sở khoa học
Ở giai đoạn vườn ươm cây con đang trong thời gian sinh trưởng mạnh, dễ bị

ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài dẫn đến bệnh hại cây con. Cây mỡ ở giai đoạn
vườn ươm thường

mắc các bênh

chủ yếu như: thối co rễ cây con,

cháy lá, thán thư lá,... nguyên nhân chủ yếu do nấm gây ra. Do vậy, trong khi ở vườn
ươm xuất hiện bệnh về phương pháp phòng trừ là cần tìm ra một loại thuốc có hiệu
quả cao nhất, có lợi về mặt kinh tế nhằm hạn chế tác hại của bệnh bảo vệ giúp cây
sinh trưởng tốt.
Trong thực tế có rất nhiều biện pháp hóa học có tác dụng phòng trừ các bệnh
hại trong vườn ươm và mang lại tác dụng đáng kể. Việc sử dụng thuốc hóa học như
phun các loại thuốc có tác dụng đến nấm bệnh để trực tiếp tiêu diệt sợi nấm, bào tử
nấm trên lá, vỏ cây, thân cây. Đồng thời nó cũng phát huy tác dụng phòng bệnh tránh
lây lan cho những cây khác.
Biện pháp hóa học được xem là một biện pháp trừ bệnh hiệu quả và có tác
dụng kịp thời bởi vậy mà nó được sử dụng rộng rãi khi cần thiết. Ở nước ta một số thí
nghiệm dùng hóa chất để chống bệnh cây đã đem lại kết quả tốt và được ứng dụng
trong phòng ngừa bảo vệ cây không bị bệnh. Thuốc bảo vệ được sử dụng khi phun
thuốc lên cây, lên trên lá, thân cây có bào tử nấm không cho bào tử nấm thì thuốc sẽ
ngăn ngừa bào tử nấm nảy mầm hoặc tiêu diệt nấm không cho bào tử nấm xâm nhập
vào bên trong mô thực vật được. Khi bệnh đã xâm nhập vào rồi thì ta phải dùng thuốc
chữa bệnh (Đặng Kim Tuyến, 2005) [16].
Thuốc bảo vệ cũng được dùng để phun lên cây chưa bị nhiễm bệnh. Nếu trong
quá trình hình thành bào tử nấm không bị ngăn chặn thì ở giai đoạn nào đó trong chu
kì phát triển nấm phải bị tiêu diệt khi chưa xâm nhập vào cây mới. Thuốc bảo vệ bằng
cách trực tiếp tiêu diệt nguồn bệnh gọi là thuốc diệt nấm. Phun thuốc diệt nấm trực


tiếp vào ổ bệnh cây bệnh để tiêu diệt nấm trước khi lây lan sang cây khác.

2.2.

Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước

2.2.1.

Tinh hình nghiên cứu trên thế giới
Hiện tượng gây bệnh cho cây gỗ và những tổn thất do chúng gây ra đã có

những ghi nhận nhưng đến cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX bệnh cây rừng mới trở
thành môn khoa học thực sự.
Từ thời

kì cổ đại đến giữa thế kỉ XIX: Thời kì này con

người chưa

thực sự hiểu rõ nguyên nhân gây bệnh, mặt khác do hệ ý thức duy tâm còn đang
khống chế, con người cho rằng mọi nguyên nhân gây ra bệnh cây đều do thần thánh
(thần Robigo).
Đầu thế kỉ XVIII có nhiều giả thiết cho rằng bệnh cây là do nấm gây ra, năm
1711 người ta đã tìm ra mối quan hệ giữa nấm phấn đen với biện
pháp xử lí hạt giống Dillen (1719), Minichi (1725) nhà phân loại thực vật đã đưa nấm
vào bảng phân phối (Weber (G.F), 1973 [20].
Từ giữa thế kỉ XIX đến cuối thế kỉ XIX: Đây là thời kì xác nhận bản chất vật
gây bệnh. Khoa học bệnh cây rừng được xem như một phân nhánh của khoa học bệnh
cây. Người đã sáng lập ra môn khoa học bệnh cây rừng là Robert Hartig trong khi
nghiên cứu bệnh cây rừng lần đầu tiên ông đã phát hiện ra sợi nấm trong gỗ và mối
quan hệ giữa hình thành thể quả nấm đến hiện tượng mục gỗ. Cho đến nay có nhiều
bệnh cây rừng xuất hiện, trong tất cả vật gây bệnh thì nấm chiếm số lượng lớn nhất tới
83% gồm các bệnh hại lá, thân, cành,
cuốn bệnh cây

rễ và

năm 1882 ông đã

rừng

đầu

viết

tiên

(Gibson (I.A. S), 1979) [18].
Từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX được xem là thời kì phát triển tương đối của
khoa học bệnh cây. Thời kì này các nhà bác học tập chung vào phân loại bệnh cây và
điều tra mức độ bị hại, sau đó nghiên cứu biện pháp phòng trừ các loại bệnh chủ yếu
và người đầu tiên đề cập đến những chủng loại và mức độ bị hại liên quan đến sinh lí


cây rừng, sinh thái cây chủ và vật gây bệnh là G.Hapting (1940 - 1970) nhà bệnh lí
cây rừng người Mỹ. Trong thời kì này ngoài việc phát hiện nấm là vật gây bệnh, các
nhà khoa học còn phát hiện ra virut do Ivanopski (1864 - 1927), vi khuẩn do Berin
(1938 - 1916) (Gibson (I.A. S), 1979) [18].
Cũng trong thời kì này các vấn đề về sinh thái bệnh cây, miễn dịch cây trồng
đã được nghiên cứu đến và giải quyết được những nhu cầu cơ bản trong sản xuất
đương thời. Đến thế kỉ XIX các nhà khoa học bệnh cây do nấm gây ra. Những người
có cống hiến nghiên cứu quyết định là bác học người Đức Anton Đơbari (1831 1888), nhà bác học người Nga Voronin (1838 - 1903)... Ngay từ năm 1953 Anton
Đơbari đã công bố các tài liệu nghiên cứu lịch sử nấm than đen, nấm gỉ sắt, nấm mốc
sương. Qua đó khang định luận điếm của mình là nấm kí sinh không phải là hậu quả
mà là nguyên nhân gây bệnh cây. Ông là người đầu tiên dùng phương pháp lây bệnh
nhân tao đế xác minh nấm Phytophthorainfstans là sinh vật gây nấm mốc sương khoai
tây đã phá hủy khủng khiếp ở Châu Âu (Weber (G.F), 1973) [20].
Từ đầu thế

kỉ XX đến nay: Đây là thời kì phát triến cao độ của khoa

học bệnh cây rừng là thời kì vận dụng duy vật biện chứng trong việc nghiên cứu
nguyên nhân gây bệnh, các đặc điếm sinh vật học, sinh thái học của vật gây bệnh và
tìm ra biện pháp phòng trừ có hiệu quả nhất. Những năm thập kỉ 1950 nhiều nhà bệnh
lí cây rừng đã tập trung xác định loài, mô tả nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng bệnh
và đặc biệt hơn vấn đề này đã được các nước Đông Nam Á quan tâm trong đó có cả
Việt Nam.
Khoa học bệnh cây được hình thành và phát triến là do sự đòi hỏi thực tiễn
sản xuất nông lâm nghiệp. Ngay từ thời đầu của lịch sử trồng trọt, nhân dân lao động
đã thông qua thực tiễn sản xuất và những kinh nghiệm của mình để phát hiện và có
biện pháp phòng trừ bệnh hại nguy hiểm.
Thuốc bảo vệ thực

vật ra đời từ đầu thế kỉ XVIII, nguồn gốc

ra đời

xuất phát từ loài sâu hại cây nông nghiệp, biện pháp chủ yếu để chống lại các loài sinh


vật gây hại này là biện pháp hóa học, tuy nhiên biện pháp này chưa có ý nghĩa thực
tiễn nhưng bắt đầu từ thế kỉ XIX cùng với sự phát triển của ngành hóa học và sinh hóa
cùng nhiều môn khoa học khác như sản xuất nông lâm nghiệp đã ảnh hưởng đến việc
sử dụng những biện pháp hóa học chống lại những sinh vật có hại cho cây trồng. Vào
những năm 1820 người ta đã dùng thủy ngân clorua (HgCl2) để bảo vệ gỗ. Năm 1848
lưu huỳnh được dùng để chống bệnh sương bột nấm Eviryphaceae gây nên, hỗn hợp
đồng sunfat và vôi bắt đầu được dùng. Đến cuối thế kỉ XIX biện pháp hóa học chống
sâu bệnh hại phát triển nhanh chóng. Những sự phát triển của chúng mang tính tự phát
(Weber (G.F), 1973) [20].
Sau cách mạng tháng 10 Nga thành công, công nghiệp bắt đầu điều chế với
lượng cần thiết. Cuối năm 1930, để hướng dẫn bảo vệ thực vật ủy ban liên hiệp toàn
cầu các liên bang chống sâu bệnh được thành lập, một mạng lưới cơ quan hóa học
nghiên cứu các biện pháp hóa học bảo vệ thực vật được ra đời (Trần Văn Mão, 1997)
[8].
Các công tác được tiến hành ở việc bảo vệ thực vật, toàn liên bang (1932) đã
to chức ở Matxcova, to chức này bắt đầu chế tạo thuốc phun ở dạng lỏng, thuốc bột và
dụng cụ xử lí..) (Trần Văn Mão, 1997) [8].

2.2.2.

Tình hình nghiên cứu trong nước
Trước cách mạng tháng 8 năm 1945 Việt Nam là một nước thuộc địa nửa

phong kiến. Nền sản xuất nông nghiệp vô cùng lạc hậu, phân tán mang tính tự cung tự
cấp, nền khoa học bệnh cây hầu như không phát triển vì vậy công tác nghiên cứu, ứng
dụng các biện pháp phòng

trừ sâu bệnh cho cây

trồng không được quan tâm nghiên cứu, chỉ có vài hình thức và tố chức hoạt động đơn
độc.
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, nhất là từ ngày miền Bắc hoàn toàn giải
phóng (1954). Nước ta xây dựng một nền nông nghiệp lớn xã hội chủ nghĩa với
phương thức sản xuất tập trung thì phương pháp bảo vệ cây, chống sâu bệnh có nhiều


thuận lợi hơn trước, sản xuất có kế hoạch, có tố chức, có điều kiện để đi sâu hơn tìm
hiếu nguyên nhân gây bệnh, chủ động các biện pháp phòng trừ (Phạm Quang Thu,
2003) [12].
Cho đến nay, công tác bảo vệ thực vật nói chung và công tác phòng trừ bệnh
hại cây nói riêng mới được chú trọng đúng mức và ngày càng phát triển nhanh, mạnh.
Hệ thống tố chức điều tra nghiên cứu và chỉ đạo công tác bệnh hai từ trung ương đến
địa phương và các đơn vị sản xuất Lâm nghiệp mới được xây dựng hoàn chỉnh.
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có lượng mưa điều hòa,
nhiệt độ không khí cao tạo điều kiện cho sinh vật gây bệnh phát triển mạnh. Hầu hết
các loại cây bị bệnh là do ẩm độ không khí cao. Ví dụ như: bệnh thán thư lá Mỡ, nấm
đốm nâu, gỉ sắt, bệnh khô lá thông, đốm đen lá trầu... Vì vậy khống chế các nhân tố đó
đế làm giảm các bệnh ở cây là điều quan trọng trong việc phòng trừ.
Hiện nay thuốc bảo vệ thực vật có rất nhiều chủng loại khác nhau và được áp
dụng đế phòng bệnh hại cho cây ở vườn ươm, rừng non mới trồng hoặc khi có dịch
lớn (Trần Văn Mão, 1993) [9].
Khi tiến hành nghiên cứu khảo nghiệm hiệu lực một số loại thuốc hóa học
phòng trừ bệnh gỉ sắt Keo tai tượng ở rừng mới trồng, tác giả Đặng Kim Tuyến cũng
đã chỉ ra thuốc Anvil 5sc là thuốc có hiệu lực phòng trừ cao nhất so với các loại thuốc
đem thử nghiệm như: Manage 5wp, Encoleton 25wp.
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1.
3.1.1.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là cây Mỡ (Manglietia glauca BL.)
Thuộc chi: Manglietia Họ Ngọc Lan: Magnoliaceae Bộ Ngọc
Lan: Magnoliales
Là cây gỗ nhỡ cao 20-25m, đường kính 30-60cm. Lá đơn mọc cách, hình trái


xoan hoặc trứng ngược, đầu và đuôi lá nhọn dần.
Cây mỡ chủ yếu dùng phủ xanh đất trống, phục hồi rừng, lấy gỗ phục vụ sản
xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
Gỗ mỡ mềm, thớ thẳng, mịn, dễ gia công, khó bị mối mọt.
Phạm vi nghiên cứu

3.1.2.

Theo dõi tình hình phát sinh phát triển của bệnh thối co rễ cây con và bệnh
thán thư lá hại cây mỡ trong giai đoạn vườn ươm tại vườn ươm trường đại học Nông
Lâm Thái Nguyên và tiến hành thử nghiệm một số loại thuốc hóa học (Đồng đỏ CuO
50SC, Daconil 75WP, Vidoc 30BTN, Boocdo 1%, Zinep) cho 2 loại bệnh trên.

3.2.

Địa điểm và thời gian tiến hành

3.2.1.

Địa điểm
Tại vườn ươm trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên

3.2.2.

Thời gian
Đề tài thực hiện từ 18/8/2014 đến 30/05/2015

3.3.

Nội dung nghiên cứu
- Tình hình quản lí vườn ươm và sinh trưởng phát triển của cây con tại khu vực

nghiên cứu.

-

Khảo

nghiệm hiệu lực của một số loại thuốc phòng trừ bệnh hại

chính cây Mỡ trong vườn ươm và đánh giá mức độ bệnh hại của các loại bệnh hại
chính sau mỗi lần sử dụng thuốc và tìm ra loại thuốc hiệu quả nhất.

-

Đề xuất một số biện pháp phòng trừ hiệu quả một số loại bệnh hại chính cây Mỡ trong
vườn ươm.

3.4.

Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi

3.4.1.

Phương pháp bố trí thí

nghiệm Bố trí thí nghiệm
Mỗi công thức thí nghiệm được bố trí ở mỗi ODB khác nhau trên các luống
với 3 lần nhắc lại ( mỗi ODB=0,8m2).

3.4.2.

Phương pháp theo dõi (thu thập thông tin)
Điều tra sơ bộ


-

Tiến hành quan sát toàn bộ khu vực vườn ươm, tình hình sinh trưởng của cây trồng.

-

Đánh dấu những luống bị bệnh, loài cây bị bệnh nặng, loài bệnh hại chủ yếu.

-

Đánh giá sơ bộ về mức độ bệnh hại.

Để điều tra tình hình phân bố bệnh của mỗi ODB tiến hành điều tra số cây trong ô và
xác định số cây nhiễm bệnh kết quả điều tra ghi vào mẫu bảng
Mẫu bảng 1: Kết quả điểu tra tình hình phân bố cây bệnh
9 r
^rp
^
Số cây Số cây
Đán
STT
Tông số
Tỉ
lệ
h
chết
nhiễm
A
/A
ODB
p(%)
giá
cây/ô
bệnh
1
2

Điều tra

tỉ mỉ - thu thập số liệu trên mỗi ô dạng bản trước

và sau khi

phun thuốc
Sau khi thu thập số liệu về quá trình phân bố bệnh ta thu thập số liệu về mức
độ gây hại.
Đe có số liệu đối chứng cho công thức sử dụng thuốc thì trước khi phun
thuốc tôi tiến hành thu thập số liêu về mức độ gây hại trên các ô thí nghiệm
trước và sau mỗi lần sử dụng thuốc.
Điều tra mức độ gây hại trên các ODB trong mỗi công thức thí nghiệm.
+ Đối với bệnh thối cổ rễ thì điều tra tất cả số cây trong ODB.
+ Đối với bệnh thán thư lá Mỡ thì tại ODB cứ cách 2 hàng điều tra một
hàng trong hàng điều tra tất cả số cây, trên cây điều tra tất cả số lá.
Để điều tra mức độ bị hại của lá ta dựa vào cơ sở phân cấp mức độ
bệnh hại lá làm 5 cấp sau :
Cấp 0: lá không bị hại
Cấp I: < 25 % diện tích lá bị hại.


Cấp II: từ 25% đến 50% diện tích lá bị hại
Cấp III: > 50% - 75 % diện tích lá bị hại
Cấp IV: trên 75 % diện tích lá bị hại
Kết quả thu được ghi vào mẫu bảng sau
Mẫu bảng 2: Mức độ bệnh hại rễ
trước khi phun thuốc
rp9^ r
^
STT

Số cây nhiễm

Tông số

ODB

bệnh

cây trong
ODB

1
2

Tỉ lệ L (%)

Đánh giá
mức độ hại
rễ


Mẫu bảng 3: Tên thuốc và nồng độ sử dụng

D Dụng cụ cân thiết đê tiến hành thí nhiệm

-

Bình phun

-

Các loại thuốc khảo nghiệm: Daconil 75WP, Vidoc 30BTN, Boocdo
1%, Zinep.

-

Thước dây

-

So ghi chép và bảng

-

Xô chậu và các dụng cụ cân thiết khác
Cách sử dụng thuốc :
Các phương pháp sử dụng thuốc khác nhau chủ yếu dựa vào phương pháp lan
truyền bệnh. Đối với những bệnh con đường lây lan nhờ gió, tiếp xúc của các bộ phận
trên cây như: lá, thân, cành, hoặc do nguồn nước tưới có thê dùng biện pháp xử lí đất.
cân lựa chọn phương pháp phun thuốc phù hợp đê tránh sự xâm nhập lan truyền của
bệnh.
Mẫu bảng 4: Điều tra mức độ bệnh hại rễ sau khi sử dụng thuốc lần 1
9 r
Đánh giá
STT
Tỉ lệ
Số cây nhiễm Tông số cây
mức độ
ODB
L(%)
bệnh
trong ODB
hại rễ
1
2

Sau khi
dụng thuốc lần
sử
1
hành phun thuốc lần 2 và lần 3.

nếu thấy bệnh chưa dừng

lẳn lại thì
ta

Nếu sử dụng thuốc lần 3 thấy bệnh đã hết thì ngừng sử dụng thuốc. Nếu bệnh
chưa dừng hẳn thì tiếp tục sử dụng đến khi nào dừng hẳn mới thôi.
Mẫu bảng 5: Mức độ bệnh hại lá Mỡ trước khi phun thuốc
Tên thuốc :..............Ngày điều ra................


ODB........Luống điều tra....
STT

Cấp hại

R%

Cây điều
tra

0

1

2

3

4

Ghi
chú

1
2

Sau khi điều tra xong trên các ô thí nhiệm ta tiến hành phun thuốc ngay.
Cứ sau 12 ngày tôi tiến hành điều tra lại và phun thuốc lần thứ tiếp theo cho
đến khi bệnh giảm hẳn thì dừng phun.
Đặc điểm của các loại thuốc thí nghiệm


Mẫu bảng 6: Tên thuốc và nồng độ sử dụng

Dụng cụ cân thiết đê tiến hành thí nhiệm
Bình phun
Các loại thuốc khảo nghiệm: Daconil 75wp, Đồng đỏ, Vidoc 30BTN, Zinep.
Thước dây
So ghi chép và bảng

-

Xô chậu và các dụng cụ cân thiết khác
Cách sử dụng thuốc :
Các phương pháp sử dụng thuốc khác nhau chủ yếu dựa vào phương pháp

lan truyền bệnh. Đối với những bệnh con đường lây lan nhờ gió, tiếp xúc của các bộ
phận trên cây như: lá, thân, cành, hoặc do nguồn nước tưới có


thể dùng biện pháp xử lí đất. Cần lựa chọn phương pháp phun thuốc phù hợp để tránh sự xâm nhập lan truyền của bệnh.
Mẫu bảng 7: Điều tra mức độ bệnh hại lá sau khi sử dụng thuốc lần 1
T ên thuốc thí nghiệm: Ngày điều tra:....
ODB:..................................Luống điều tra:
STT

Cấp hại

Cây
điều

R%
0

I

II

III

IV

Ghi
chú

tra

Sau khi sử dụng thuốc lần 1 nếu thấy bệnh chưa dừng hẳn lại thì ta tiến hành phun thuốc lần 2 và lần 3.
Mỗi loại bệnh phun thuốc thử nghiệm 3 lần.
Nếu sử dụng thuốc lần 3 thấy bệnh đã hết thì ngừng sử dụng thuốc. Nếu bệnh chưa dừng hẳn thì tiếp tục sử dụng đến
khi nào dừng hẳn mới thôi.

.3.

Phương pháp xử lí số liệu
Xác định mức độ gây hại của bệnh hại chính cây Mỡ trong giai đoạn vườn ươm.
Để đánh giá mức độ gây hại của bệnh nặng hay nhẹ trước và sau khi sử dụng thuốc dùng một số chỉ tiêu đánh giá sau
+ Đánh giá tình hình phân bố bệnh hại rễ cây theo công thức:
v'N

P(%) = — x100

P : Tỉ lệ cây bị hại n : Tổng số cây bị hại N : Tổng số cây trong ô Đánh giá tỉ lệ phân bố bệnh cây P< 10% : phân bố cá
thể P>= 10% - 15% : phân bố cụm P> 15% - 25% : phân bố đám P >25% : phân bố đều + Mức độ hại rễ theo công
thức:
L(%) = n x 100


N
Trong đó:
L: Tỉ lệ hại n: Tổng số cây bị hại N: Tổng số cây điều tra
Để đánh giá mức độ bị hại ở các công thức thí nghiệm dựa trên cơ sở sau:
<10%: hại nhẹ L từ 10 - 15%: hại vừa L từ 15 - 25%: hại nặng L>25%: hại rất nặng
+ Đánh giá tình hình phân bố bệnh hại lá cây theo công thức:
N

P(%) = n x100

P : Tỉ lệ cây bị hại n : Tổng số cây bị hại N : Tổng số cây trong ô
Đánh giá tỉ lệ phân bố bệnh cây P< 10% : phân bố cá thể P>= 10% - 15% : phân bố
cụm P> 15% - 25% : phân bố đám P >25% : phân bố đều + Mức độ bệnh hại lá theo
công thức :
z nv
R% = NV x100
Trong đó:
R: Mức độ bệnh tính theo phần trăm n : Số lá bị hại mỗi cấp N : Tong số lá quan
sát

V : Là trị số bệnh hại cấp cao nhất
V : Là trị số của cấp hại tương ứng
Để đánh giá mức độ bị hại ở các công thức thí nghiệm dự trên cơ sở sau R < 25% : hại nhẹ R từ 25% - 50%: hại vừa R từ
50% - 75%: hại nặng R > 75%: hại rất nặng
-Đánh giá hiệu quả của các loại thuốc khác nhau Tiến hành phân tích phương sai một nhân tố


r p •r A r
Trị sô quan sát

Công thức

A

XnX12....X1n

1

X21X22.- - .
X2n
X31X32.- - .
X3n

2
3

Tổng theo công

Trung bình

thức
S1

X1

S2

X2

S3

X3

i

Xi1Xi2....Xin

Si

Xi

I

Pi1Pi2....Pin

S=Ế ẾX ij
Ĩ=1 Ĩ=1

X

Trong đó :
i: Thứ tự công thức
Xij : Trị số quan sát thứ j của công thức thứ i Si: trị số bình quân của công thức thứ i Ci:
Số công thức Ni: Số lần nhắc lại
Pi: Tong quan sát theo lần nhắc lại thứ i X: Trị số quan sát bình quân mỗi công thức + Nếu Ftính < FO O 5
thì kết luận giữa các công thức thí nghiệm không có sự sai khác.
+ Nếu Ftính > FO 05 thì kết luận việc sử dụng các loại thuốc khác nhau ở các công thức thí nghiệm khác nhau là có ý
nghĩa.
Khi đó cần chọn công thức có kết quả tốt nhất để ứng dụng vào sản xuất.
- Tính hiệu lực của thuốc
Công thức: HL%= ^1 - TaCb 1
Tb.

x10


Trong đó
HL(%): Hiệu lực của thuốc
Ta: Tỉ lệ bệnh hại ở công thức thí nghiệm sau phun thuốc Tb: Tỉ lệ bệnh hại ở công thức thí nghiệm trước phun
thuốc Ca:Tỉ lệ bệnh hại ở công thức đối chứng sau phun thuốc Cb:Tỉ lệ bệnh hại ở công thức đối chứng trước
phun thuốc - Đánh giá hiệu lực HL<100%: Kết luận thuốc có hiệu lực HL=100%: Kết luận thuốc không có hiệu lực
HL>100%: Kết luận thuốc làm cho bệnh tăng lên Sau khi có kết quả xử lí số liệu tôi tiến hành tong hợp theo từng
nội dung và viết báo cáo đề tài


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×