Tải bản đầy đủ

Luận văn đánh giá thực trạng và nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và khai thác công trình cung cấp nước tập trung trên địa bàn huyện hàm yên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
______________■______■_______________

CAO XUÂN HUY

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ NGHIÊN CỨU
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VÀ
KHAI THÁC CÔNG TRÌNH CẤP NƯỚC SINH HOẠT


TẬP TRUNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÀM YÊN,
TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

THÁI NGUYÊN 2015


TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

______________■______■_______________

CAO XUÂN HUY

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ NGHIÊN CỨU
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VÀ
KHAI THÁC CÔNG TRÌNH CẤP NƯỚC SINH HOẠT
TẬP TRUNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÀM YÊN,
TỈNH TUYÊN QUANG
Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 06 62 01 16

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. ĐỖ ANH TÀI
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và
kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, chưa từng được sử dụng để bảo vệ
một học vị

nào. Các thông tin được

chỉ



trích dẫn trong luận văn này đều được


nguồn gốc.
rri r _

Thái Nguyên, tháng 12 năm 2015

•2

Tác giả

Cao Xuân Huy


LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành đến các thầy, cô giáo
trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã truyền đạt cho Tôi những kiến thức bổ
ích, đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện bản luận văn này. Tôi xin bày tỏ lòng
biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS. TS Đỗ Anh Tài - Trưởng ban Ban Hợp
tác Quốc tế, trường đại học Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo cho tôi
trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này. Tôi xin chân thành cảm ơn
Trung tâm Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn, Sở Nông nghiệp
và PTNT tỉnh Tuyên Quang, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông
thôn Tuyên Quang, UBND huyện Hàm Yên, các phòng, ban chuyên môn, UBND
các xã, các Ban quản lý khai thác công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn trên địa
bàn huyện và công ty TNHH Một thành viên Cấp, thoát nước Tuyên Quang đã cung
cấp những số liệu cần thiết và giúp đỡ tôi trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu tại địa
bàn. Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới gia đình, bạn bè
đã không ngừng động viên, giúp đỡ tôi cả về vật chất lẫn tinh thần trong

suốt

quá trình

nhưng

trình độ,

học tập,

rèn luyện. Dù đã

năng lực bản thân còn

cố

hạn chế nên trong báo cáo

gắng

của tôi

chắc chắn
không tránh khỏi sai sót, kính mong các thầy giáo, cô giáo, các đồng nghiệp góp ý
để nội dung nghiên cứu này hoàn thiện hơn.


Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2015
Tác giả

Cao Xuân Huy


5

MỤC LỤC


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HTX
NS - VSMT
PTNT
TNHH
UBND

:

Hợp tác xã

:

Nước sạch - Vệ sinh môi trường

:

Phát triển nông thôn

:

Trách nhiệm hữu hạn

:

Ủy ban nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Tổng hợp công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn tỉnh

Bảng 3.14: Phân tích mối liên hệ giữa tình trạng hoạt động của công trình với
mô hình quản lý, khai thác.............................................................................46
Bảng 3.15: Bảng tổng hợp ý kiến, cho điểm của các hộ sử dụng nước về mô
hình quản lý, khai thác công trình đang sử dụng...........................................47


8

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước là nhu cầu thiết yếu của sự sống, đóng vai trò quan trọng trong đời sống con
người và có liên quan tới tất cả các ngành, các lĩnh vực cũng như mọi mặt, mọi vấn
của

đề

đời sống xã hội. Nước sạch và vệ sinh môi trường là một trong

những vấn đề được quan tâm không chỉ ở phạm vi một quốc gia, một khu vực mà đang là
vấn đề được quan tâm trên phạm vi toàn cầu. Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là
một vấn đề có ý nghĩa quan trọng được Đảng, Nhà nước, Chính phủ đặc biệt quan tâm.
Trong những năm qua, vị trí, vai trò, ý nghĩa và các mục tiêu của công tác này đã liên tục
được đề cập đến trong nhiều loại hình văn bản quy phạm pháp luật của Đảng, Nhà nước và
Chính phủ, như: Nghị quyết Trung ương khóa IX, X, XI, Chiến lược toàn diện về tăng
trưởng và xóa đói giảm nghèo, Chiến lược quốc gia Nước sạch và vệ sinh nông thôn giai
đoạn 2000 đến 2020.
Đến nay

đã có nhiều

dự án, chương trình nhằm nâng cao

năng lực cho

chương trình nước sinh hoạt nông thôn nhất là về cơ sở hạ tầng và dịch vụ, nhưng cơ chế
và công tác quản lý còn thiếu đồng bộ ẩn chứa nhiều bất cập và hạn chế,
giảm tác dụng của các chương trình dự án nước sinh hoạt nông thôn. Mặc dù Trung tâm
Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn Quốc gia đã ban hành sổ tay, đĩa CD “Hướng
dẫn quản lý, vận hành, bảo dưỡng hệ thống cấp nước tự chảy’’, Trung tâm Nước sạch và Vệ
sinh môi trường nông thôn Tuyên Quang hàng năm đều tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật
về quản lý, vận hành, bảo dưỡng công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn. Tuy nhiên vẫn
chưa đáp ứng được những yêu cầu vô cùng phong phú của công tác quản lý công trình sau
đầu tư, nhiều ban quản lý đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc lựa chọn mô hình quản lý
phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương mình.
Không nằm ngoài tình hình chung nêu trên trên, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên
Quang cũng đang gặp rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý và xây dựng mô hình quản
lý công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn. Nhiều công trình nước sinh hoạt tập
trung nông thôn trên địa bàn được đầu tư xây dựng với nguồn vốn hàng chục tỷ đồng nhưng


9

hiệu quả sử dụng còn khá thấp. Có những công trình sau khi xây dựng, bàn giao đưa vào sử
dụng xong lại thiếu nước hoặc không có nước; có công trình giai đoạn đầu hoạt động rất có
hiệu quả xong trong quá trình quản lý còn nhiều bất cập, cộng với sự thiếu ý thức của đại đa
số người dân trong sử dụng và bảo vệ công trình dẫn đến xuống cấp, không thể sử dụng
được. Cùng với đó UBND tỉnh Tuyên Quang, UBND huyện Hàm Yên cũng đã áp dụng
nhiều mô hình quản lý công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn trên địa bàn huyện
như mô hình Doanh nghiệp quản lý, UBND xã trực tiếp quản lý, UBND xã giao khoán cho
các tổ chức như Hợp tác xã, Cá nhân và cộng đồng tự quản lý, nhưng hiệu quả đạt được của
các mô hình chưa cao cần phải hoàn thiện.
Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để mở rộng sự tham gia và khu vực được hưởng
lợi từ các chương trình đầu tư về nước sạch nông thôn trên địa bàn huyện? Làm sao để nâng
cao chất lượng nước phục vụ sinh hoạt trên địa bàn huyện? Những bất cập trong công tác
quản lý công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn trên địa bàn huyện như thế nào?
Cần xây dựng mô hình quản lý công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn như thế
nào cho phù hợp với từng khu vực? Sự tham gia của người dân trong công tác xây dựng và
quản lý các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung ở địa phương như thế nào? Những yếu
tố nào làm ảnh hưởng đến hoạt động của các mô hình quản lý công trình cấp nước sinh hoạt
tập trung ở đây? Các giải pháp được đưa ra ở đây là gì để hoàn thiện công tác quản lý, khai
thác công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn trên địa bàn huyện Hàm Yên, tỉnh
Tuyên Quang?
Trên cơ sở tồn tại của các vấn đề đã nêu ra ở trên tác giả đã thực hiện đề tài: “Đánh
giá thực trạng và nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và khai thác công
trình cung cấp nước tập trung trên địa bàn huyện Hàm Yên”.
2. Mục tiêu của đề tài
2.1.

Mục tiêu chung

Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng các mô hình quản lý và khai thác công
trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn trên địa bàn huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên
Quang từ đó đề xuất giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý và khai thác công trình cấp


1
0

nước sinh hoạt tập trung nông thôn trên địa bàn huyện.
2.2.
-

Mục tiêu cụ thể

Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý và khai thác công trình
nước sinh hoạt tập trung nông thôn.

-

Đánh giá được thực trạng cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn trên địa bàn
huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

-

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của các quản lý và khai thác công
trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn trên địa bàn huyện Hàm Yên, tỉnh
Tuyên Quang.

-

Đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý và khai
thác công trình nước sinh hoạt tập trung nông thôn huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên
Quang.

3. Yêu cầu của đề tài
-

Nắm vững chính sách pháp luật về quản lý, khai thác công trình cấp nước sinh hoạt
tập trung nông thôn và các văn bản có liên quan.

-

Công tác điều tra thu thập tài liệu, số liệu phải đầy đủ, chính xác trung thực, khách
quan, có nguồn gốc rõ ràng.

-

Phân tích, đánh giá đúng thực trạng về kết quả hoạt động của các công trình nước
sinh hoạt tập trung nông thôn trên địa bàn huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang từ đó
đánh giá được những tồn tại, khó khăn do nguyên nhân từ đâu, để đưa ra những giải
pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn.

-

Đề xuất một số giải pháp có tính khoa học và phù hợp điều kiện thực tế tại địa
phương góp phần nâng cao hiệu quả công trình sau đầu tư, phục vụ cấp nước sinh
hoạt cho nhân dân các vùng nông thôn huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

4. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài bám sát mục tiêu, nhận diện được những
thành công, bất cập trong công tác quản lý và khai thác công trình cấp
nước sinh hoạt tập trung nông thôn trên địa bàn huyện Hàm Yên, tỉnh
Tuyên Quang; Đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện
công tác quản lý và khai thác công trình nước sinh hoạt tập trung nông
thôn trên địa bàn huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Vì vậy, đề tài có giá


1
1
trị thực tiễn, giải quyết vấn đề vừa mang tính cấp bách, vừa lâu dài,
đồng thời góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận, nhận thức sâu sắc hơn
các vấn đề liên quan đến công tác quản lý và khai thác công trình cấp
nước sinh hoạt tập trung nông thôn trên địa bàn huyện.


Chương 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.

Cơ sở lý luận

1.1.1.

Một số khái niệm

*

Khái niệm nước sinh hoạt
Nguồn nước có thể cung cấp nước sinh hoạt hoặc có thể xử lý thành nước sinh hoạt

đáp ứng tối thiểu theo yêu cầu tại QCVN 02:2009/BYT của bộ Y tế, sau hệ thống phân
phối, dùng trong sinh hoạt gọi là nước sinh hoạt. [4].
Nước cung cấp cho sinh hoạt tại khu vực nông thôn nêu tại đây bao hàm nước cấp ở
những vùng nông thôn thuần tuý cùng các đô thị nhỏ loại V với số dân không quá 30.000
người. [5].
*

Khái niệm về quản lý công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn
Là việc thực thi các chính sách do hội đồng quyết định và phối hợp các hoạt động

hàng ngày để đạt được mục đích và mục tiêu của cơ quan hay tổ chức. Nâng cao điều kiện
sống cho người dân nông thôn thông qua cải thiện các dịch vụ cấp nước sinh hoạt; nâng cao
nhận thức và thay đổi hành vi của cộng đồng về bảo vệ môi trường. Giảm tác động xấu do
điều kiện cấp nước kém gây ra đối với sức khoẻ của dân cư nông thôn và giảm thiểu tình
trạng ô nhiễm môi trường nông thôn. [11].
*

Mô hình quản lý và khai thác công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn
Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam [16], mô hình được hiểu:

-

Theo nghĩa hẹp là mẫu, khuôn, tiêu chuẩn theo đó mà chế tạo ra sản phẩm hàng
loạt.

-

Theo nghĩa rộng là hình ảnh (hình tượng, sơ đồ, sự mô tả...) ước lệ của một khách
thể (hay một hệ thống các khách thể, các quá trình hoặc hiện tượng). Khái niệm mô
hình được sử dụng rông rãi trong triết học, ngôn ngữ học, kinh tế học...
Trong kinh tế học, mô hình được hiểu là hình ảnh mang tính chất quy ước của đối

tượng nghiên

cứu, diễn tả các mối quan hệ đặc trưng giữa các yếu tố của

một hệ thống thực tế trong tự nhiên, xã hội...
Như vậy, mô hình quản lý và khai thác công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông


thôn có thể hiểu là hình ảnh (hình tượng, sơ đồ, sự mô tả...) mang tính chất quy ước của một
hệ thống quản lý công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn cụ thể trong thực tiễn.
* Quan điểm về quản lý và khai thác công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông
thôn
Phát huy

nội lực của toàn xã hội để thực hiện Chương trình, đồng thời phải

căn cứ đặc điểm của từng vùng, từng địa phương và nhu cầu của người sử dụng để lựa chọn
quy mô công nghệ, cấp độ dịch vụ phù hợp với khả năng tài chính và công tác quản lý, khai
thác, sử dụng công trình sau đầu tư.
Đẩy mạnh công tác xã hội hoá, phát triển thị trường nước sạch và dịch vụ vệ sinh
môi trường nông thôn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Nhà nước có cơ chế, chính sách hỗ trợ đối tượng nghèo, gia đình chính sách, vùng
đồng bào dân tộc và vùng đặc biệt khó khăn về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.
[2].
1.1.2.

Vai trò, vị trí của nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là một vấn đề được Đảng, Nhà nước
quan tâm đặc biệt và xác định là một bộ phận trong chính sách phát triển nông thôn; Việc
đảm bảo cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường là tiêu chí để phát triển nông thôn văn
minh, hiện đại, là nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước, của các ngành các cấp và
chính quyền địa phương. Công trình cấp nước còn được xác định là một trong 8 loại công
trình cần xây dựng ở các vùng nông thôn và là một trong 6 loại hạ tầng cơ bản nhất để đánh
giá điều kiện thoát nghèo ở các xã khó khăn (điện, đường, trường học, trạm xá, nước sạch
và chợ). Bên cạnh đó Việt Nam cũng đã tham gia từ
cam kết,

tuyên

rất

sớm và ký hàng

bố

quốc tế

loạt

về xoá đói

giảm nghèo, cải thiện cấp nước sạch và vệ sinh môi trường như: Chương trình nước uống
và vệ sinh môi trường thế giới; Tuyên bố Dudlin; Mục tiêu thiên niên kỷ... chính vì lẽ đó,
việc quản lý nước sinh hoạt nông thôn được xác định có những vai trò, vị trí quan trọng sau:
Vai trò đối với kinh tế: Các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn hiện
nay nếu được cải tiến và nhân rộng sẽ đem lại lợi ích to lớn, nâng cao điều kiện sống cho
người dân nông thôn, làm giảm bớt sự cách biệt giữa đô thị và nông thôn, góp phần thúc
đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn.


Vai trò đối với xã hội: Tăng cường sức khỏe cho dân cư nông thôn bằng cách giảm
thiểu các bệnh có liên quan đến nước nhờ cải thiện việc cấp nước sinh hoạt và nâng cao
thực hành vệ sinh của dân chúng.
Vai trò

đối với môi trường: Chống

cạn kiệt, chống ô nhiễm, bảo vệ chất

lượng nguồn nước ngầm và nước mặt tại các hồ, đầm, sông, suối.
Một trong

những giải pháp quan

trọng hàng đầu để thực hiện tốt

Chiến

lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020 đã được Chính phủ xác
định, đó là: “Xã hội hoá lĩnh vực cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn là vận động và tổ
chức, tạo cơ sở pháp lý để khuyến khích sự tham gia của nhân dân, của các thành phần kinh
tế và toàn xã hội vào sự phát triển cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn nhằm nâng cao điều
kiện sống cũng như tăng cường sức khoẻ cho dân cư nông thôn” [2].
1.1.3.

Các vấn đề liên quan tới quản lý và khai thác công trình cấp nước sinh

hoạt tập trung nông thôn
1.13.1.

Các yêu cầu của quản lý và khai thác công trình cấp nước sinh hoạt tập

trung nông thôn
Nâng cao nhận thức của người dân: Nâng cao nhận thức của chính quyền các cấp và
nhân dân sống ở nông thôn về việc sử dụng công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông
thôn. Đây là cơ sở hết sức quan trọng góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân
dân và xây dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Hiện nay, phần
lớn dân cư nông thôn còn thiếu hiểu biết về nước sinh hoạt, bệnh tật và sức khoẻ; về môi
trường sống xung quanh mình cần phải được cải thiện và có thể cải thiện được. Kinh
nghiệm trong nhiều lĩnh vực cho thấy nếu người nông dân nhận thức rõ được vấn đề thì với
sự trợ giúp của Chính phủ, họ có thể vươn lên khắc phục khó khăn, cải thiện được môi
trường sống cho mình tốt hơn.
Vì vậy, các hoạt động thông tin giáo dục và truyền thông có tầm quan trọng lớn đối với
thành công của chiến lược phát triển.
Cải tiến tổ chức, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và phát triển nguồn nhân
lực: Tổ chức phải thực hiện theo một số nguyên tắc chung, phân công trách nhiệm của từng
cấp quản lý từ trung ương tới cấp thấp nhất thích hợp gắn liền với các tổ chức cộng đồng.


Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước. Phát triển nguồn nhân lực nhằm: Cung cấp đủ và
sắp xếp cho hợp lý cán bộ nhân viên trong lĩnh vực cho phù hợp với nghề nghiệp và nhiệm
vụ; bồi dưỡng cho cán bộ trung ương và địa phương về chiến lược quốc gia về cấp nước
sạch và vệ sinh nông thôn, các kiến thức và kỹ năng về lập chương trình, kế hoạch, điều
phối, quản lý theo cách tiếp cận dựa trên nhu cầu đối với cấp nước sinh hoạt nông thôn;
huấn luyện nhân viên chịu trách nhiệm thực thi ở các cấp huyện, xã để thực hiện tốt vai trò
mới của mình.
Đổi mới cơ chế tài chính, huy động nhiều nguồn vốn để phát triển cấp nước sinh
hoạt nông thôn. Cơ chế tài chính phát huy nội lực dựa trên nguyên tắc người sử dụng phải
đóng góp phần lớn chi phí xây dựng công trình và toàn bộ chi phí vận hành, duy tu bảo
dưỡng và quản lý. Cấp nước sinh hoạt nông thôn phục vụ cho việc nâng cao sức khoẻ, giảm
thiểu các bệnh tật do thiếu nước sạch và kém vệ sinh gây ra, cải thiện điều kiện sinh hoạt
cho mọi gia đình. Đó là sự nghiệp của toàn dân, vì vậy cần xã hội hoá công tác này, huy
động mọi nguồn vốn trong nước, phát huy nội lực, đồng thời thu hút vốn nước ngoài cho
cấp nước sinh hoạt nông thôn.
Nghiên cứu phát triển và áp dụng công nghệ thích hợp. Đẩy mạnh công tác nghiên
cứu phát triển trong lĩnh vực cấp nước sinh hoạt nông thôn đồng thời giới thiệu các công
nghệ khác nhau cho người sử dụng giúp họ có kiến thức cần thiết để quyết định lựa chọn
loại công nghệ phù hợp. [2].
1.1.3.2.

Chiến lược nước sinh hoạt nông thôn Việt Nam

Chiến lược Quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn được soạn thảo trong bối
cảnh có một số chương trình, dự án cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đã được thực hiện
trong nhiều năm nay và chương trình mục tiêu Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường
được Chính phủ phê duyệt ngày 03/12/1998 thực hiện giai đoạn I từ 1999-2005 và giai đoạn
II từ 2006-2010.
Chiến lược

Quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn

sẽ hướng dẫn

những nguyên tắc cơ bản: phát triển bền vững, cách tiếp cận dựa trên nhu cầu và xã hội hóa
công tác Cấp nước sạch và Vệ sinh nông thôn để chỉ đạo toàn bộ lĩnh vực cũng như các
chương trình, dự án về vấn đề này.
Trong giai đoạn 1999-2005 đã hình thành một chương trình hành động nhằm hỗ trợ


xây

dựng năng lực, cải cách tổ chức và các thể chế, trợ giúp kỹ thuật để tạo

các tiền đề quan trọng cho việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và
vệ sinh môi trường và các chương trình dự án khác, đồng thời xây dựng nền móng vững
chắc cho việc thực hiện Chiến lược Quốc gia Cấp nước sạch và Vệ sinh nông thôn, cụ thể
là:
Cần điều chỉnh các chương trình Cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn hiện có như
chương trình WATSAN, chương trình phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn do Ngân hàng
Phát triển châu Á tài trợ và các dự án Cấp nước sạch và Vệ sinh nông thôn khác sao cho
phù hợp với các nguyên tắc cơ bản, cách tiếp cận chung của Chiến lược Quốc gia. Chương
trình Mục tiêu Quốc gia nước sạch và Vệ sinh môi trường cũng cần được thực hiện theo các
nguyên tắc cơ bản của Chiến lược Quốc gia. [4].
Thực hiện tốt các chương trình hiện có và các chương trình thí điểm về Cấp nước
sinh hoạt, mở rộng việc thực hiện chương trình cấp nước sinh hoạt nhằm nâng cao tỷ lệ dân
cư nông thôn được dùng nước sạch theo mục tiêu đã đề ra. Cần kết hợp các chương trình thí
điểm để giải quyết yêu cầu bức bách nhất về cấp nước cho nhân dân ở những vùng bị hạn
hán và các vùng khác đang thiếu nước nghiêm trọng. Đồng thời rút ra các bài học về công
tác thông tin - giáo dục - truyền thông, phát triển nguồn nhân lực, cải cách hệ thống tổ chức,
xây dựng các cơ chế tài chính để bổ sung và hoàn thiện Chiến lược Quốc gia Cấp nước sạch
và Vệ sinh nông thôn.
1.1.3.3.

Tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý, khai thác công trình cấp nước sinh hoạt

nông thôn
Theo hướng dẫn đánh giá nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn ban hành
kèm theo Quyết định số 2570/QĐ-BNN-TCTL ngày 22 tháng 10 năm 2012 của Bộ trưởng
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì công trình cấp nước tập trung được đánh giá là
hoạt động có hiệu quả khi tình trạng hoạt động của công trình được đánh giá là công trình
cấp nước tập trung hoạt động trung bình.
Tình trạng hoạt động của các công trình cấp nước tập trung phải dựa trên các tiêu
chí sau:
-

Bộ máy tổ chức quản lý, vận hành, bảo dưỡng công trình: Nếu có và đã được đào
tạo hướng dẫn, được phân công cụ thể cho 2 điểm; nếu có nhưng chưa được đào tạo


hướng dẫn, được phân công cụ thể cho 1 điểm; nếu không cho 0 điểm.
-

Hiệu suất hoạt động (hiệu suất bằng công suất hiện tại /công suất thiết kế) %: Nếu
lớn hơn 70% cho 2 điểm; từ 50 - 60% cho 1 điểm; dưới 50% cho 0 điểm.

-

Phí sử dụng nước đủ chi quản lý, vận hành, duy tu bảo dưỡng không: Còn dư để tích
lũy cho 2 điểm; đủ chi tiêu cho 1 điểm; không đủ cho 0 điểm.

-

Tỉ lệ thất thoát nước: Nếu nhỏ hơn 25% cho 2 điểm; từ 25-35% cho 1 điểm; nếu lớn
hon 35% cho 0 điểm.

-

Nguồn nước cấp và chất lượng nước đầu ra ổn định: Luôn luôn ổn định cho 2 điểm;
không cấp nước dưới 1 tháng/ năm cho 1 điểm; không cấp nước từ 1 tháng/ năm trở
lên cho 0 điểm.

-

Công trình không hoạt động: không cấp nước liên tục 3 tháng tính đến ngày khảo
sát.
* Tổng hợp: Nếu công trình được 7 điểm trở lên đánh giá là Hoạt động Bền vững;

Công trình được 5 đến 6 điểm đánh giá là hoạt động bình thường; Công trình 5 điểm trở
xuống đánh giá là công trình hoạt động kém hiệu quả; Công trình không hoạt động là công
trình không cấp nước liên tục 3 tháng tính đến ngày khảo sát [3].
Như vậy để nâng cao hiệu quả quản lý và khai thác công trình cung cấp nước tập
trung trên địa bàn huyện Hàm Yên cần có giải pháp nâng cao tình trạng hoạt động của công
trình tối thiểu công trình được đánh giá là hoạt động trung bình.
1.2.

Cơ sở thực tiễn

1.2.1.

Quản lý và khai thác công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn

một số nước đang phát triển trên thế giới
Kinh nghiệm quản lý nước sinh hoạt của Trung Quốc
Chìa khoá thành công của Trung Quốc chính là quá trình lập kế hoạch, xác định
trách nhiệm

tham gia của các cấp chính quyền,

các ngành

của TW và địa

phương. Theo kinh nghiệm của Trung Quốc sau khi lập kế hoạch việc đảm bảo nguồn tài
chính là rất quan trọng. Chiến lược huy động vốn từ 3 nguồn: Từ nguồn vốn của chính phủ
TW và địa phương, huy động quyên góp vốn từ các tổ chức, giới kinh doanh, đóng góp của
người hưởng lợi từ chương trình.
Ví như trong dự án vay vốn WB cho nước sạch và VSMT 50% vốn từ WB, 25% từ


Chính phủ TQ và 25% còn lại là đóng góp của hộ gia đình (đối tượng được hưởng lợi).
Chiến lược huy động vốn ở Trung Quốc rất hiệu quả, trung bình mỗi năm huy động trên 10
tỷ nhân dân tệ cho VSMT nông thôn.
Về lĩnh vực cấp nước: Trung Quốc chủ trương khuyến khích hình thức cấp nước
bằng đường ống và tuỳ theo từng điều kiện cụ thể mà lắp đặt các hệ thống cho phù hợp.
Đến cuối năm 2004, tỷ lệ người dân được sử dụng nước máy là 60%. Hỗ trợ kỹ thuật của
chính phủ qua các thiết kế mẫu, hướng dẫn kỹ thuật theo từng loại hình cấp nước khác
nhau, ban hành tiêu chuẩn nước ăn uống. Trong khoảng thời gian 20 năm Trung Quốc đã có
4 giai đoạn vay vốn của WB cho lĩnh vực phát triển hệ thống cấp nước tại 17 tỉnh điểm.
Trung bình 4-5 tỷ Nhân dân tệ/năm. Giai đoạn đầu tập trung vốn cho các tỉnh có điều kiện
kinh tế giàu có. Sau đó người dân trả lại vốn thông qua trả tiền nước; giai đoạn 2 tập trung
cho các tỉnh nghèo. Trong số người thụ hưởng có khoảng 30% người nghèo sẽ hỗ trợ 100%
vốn góp, 70% số còn lại trả vốn qua tiền nước sử dụng, Kinh nghiệm về quản lý nước sạch
và vệ sinh môi trường tại Trung Quốc, 2005). Quản lý chất lượng nước: Năm 1985 ban
hành tiêu chuẩn nước ăn uống áp dụng cho toàn Trung Quốc. Tiêu chuẩn Quốc gia là tiêu
chuẩn nước uống duy nhất cho toàn Trung Quốc. Năm 1991 do ở nhiều vùng nông thôn khó
đạt được tiêu chuẩn này Quốc gia do vậy Trung Quốc đã ban hành Hướng dẫn giám sát chất
lượng nước cho vùng nông thôn. Kinh nghiệm thực tế nếu chỉ ban hành các tiêu chuẩn hay
hướng dẫn

thì chưa đủ mà cần có các cơ quan quản lý,

giám sát và các giải pháp phù hợp, xây dựng tổ chuyên trách và đề ra chế tài xử lý sẽ góp
phần đảm bảo chất lượng nước.
Trong 10 năm qua Trung Quốc đã đạt được thành công lớn trong lĩnh vực giáo dục
vệ sinh: Các cấp lãnh đạo từ trung ương cho tới các cấp nhỏ nhất và người dân đều đã hiểu
được tầm quan trọng của nước sạch và VSMT.
Điều phối và phối hợp liên ngành trong lĩnh vực cấp nước nông thôn: Trung Quốc
đã lập Uỷ ban phát triển chiến dịch y tế với mục tiêu đẩy truyền thông đi trước một bước.
Uỷ ban này có nhiệm vụ phối hợp với Bộ Nông nghiệp và 2 tổ chức lớn nhất Trung Quốc là
thanh niên và phụ nữ. Trong đó thanh niên là lực lượng trẻ, thích tiếp cận các vấn đề mới và
thường cập nhật thông tin mới. Phụ nữ thường hay quan tâm

đến

các

vấn

đề


của phụ nữ

và gia

đình đặc

biệt là

vấn đề vệ

sinh nông thôn và nước sạch. Các địa phương cũng có mô hình tổ chức và hợp tác tương tự
như Trung ương, hợp tác theo cấp với 2 tổ chức quần chúng ở cấp mình quản lý (Y tế Nông nghiệp - Thanh niên - Phụ nữ).
Nước sạch -Vệ sinh trong nhà trường: Trung Quốc không có một chương trình hay
dự án riêng về lĩnh vực này. Nhưng các can thiệp đầu tiên ở địa phương thuộc lĩnh vực NS
-VSMT là ở trường học. Các hoạt động trong trường học rất có lợi do học sinh vừa là đối
tượng được truyền thông vừa là các truyền thông viên về NS-VSMT cho cộng đồng.
Trường học là nơi có độ tập trung đông người, nếu các điều kiện vệ sinh không đảm bảo sẽ
xảy dịch và lan nhanh do dó cần quan tâm và đầu tư các điều kiện vệ sinh cho nhà trường.
Năm 2004, Bộ Y tế và Bộ Giáo dục phối hợp nghiên cứu để đưa ra thiết kế NS - VSMT
trong trường học. [10].
Bài học về kinh nghiệm quản lý nước sạch và vệ sinh môi trường ở Trung Quốc cho
thấy, việc thành công chỉ có thể có được khi chiến lược, quy hoạch phải phù hợp với điều
kiện và tập quán của nhân dân, công tác truyền thông thông qua các chiến dịch phải được
duy trì thường xuyên và rộng rãi kết hợp giữa các bộ, các cấp chính quyền và các tổ chức xã
hội, đoàn thể ở địa phương, đặc biệt là thanh niên và phụ nữ.
1.2.1.2.

Kinh nghiệm quản lý nước sinh hoạt của Israel

Hiện nay, tổng trữ lượng khai thác các nguồn nước tự nhiên ở đất nước Israel
khoảng 2 tỷ m3/năm, trong đó 63% là nguồn nước ngầm chủ yếu khai thác từ Địa Trung
Hải; còn 33% trữ lượng nước là nguồn nước mặt lấy từ hồ Kinnerret (nằm ở phía Bắc vùng
cao nguyên Goland). Ngoài ra, khoảng 4% nước được khai thác theo cách thu nước chảy bề
mặt.
Để đáp

ứng nhu cầu sử dụng nước cho sinh

hoạt, công nông nghiệp...

ngoài việc sử dụng nguồn nước mặt ra, nhà nước Israel luôn chú trọng đến việc tăng cường
tìm kiếm

các nguồn nước mới, sử dụng triệt để các giải pháp bảo vệ

nguồn nước ngọt. Đó là lý do mà nước này cho xây dựng hệ thống chuyển nước quốc gia
như một “động mạch chính”, được dẫn từ hồ Kinnerret tới hàng ngàn trang trại, khu dân cư,
thành phố, các nhà máy công nghiệp suốt từ miền Trung, đến miền Nam đất nước.


Bí quyết của sự thành công: Đối với từng người dân Israel, một giọt nước cũng rất
quý và tuyệt đối không được lãng phí. Nhận thấy sự khan hiếm nguồn nước, nhằm thực
hiện việc kiểm soát, mở rộng khai thác nguồn nước ngầm, Israel đã xây dựng hẳn một bộ
luật về đo lường mức nước tiêu thụ, Luật về kiểm soát khai thác nước ngầm và thành lập
Uỷ ban nhà nước, nhằm ngăn cấm khai thác nước ngầm “lậu” làm suy thoái và ô nhiễm các
mạch nước ngầm, ảnh hưởng tới việc cung cấp nước cho hệ thống.
Để nâng cao chất lượng nguồn nước cung cấp, hiện nay Israel chủ yếu sử dụng
phương pháp sinh học để xử lý và bảo vệ, mục đích tránh ô nhiễm do tảo, các loài sinh vật
độc hại gây nên. Ngoài ra, nước này còn áp dụng phương pháp nuôi các loại cá làm sạch
nước như các loại cá chép bạc, chép đầu to, kết hợp sử dụng các loại cá tầng đáy như cá
Talapia (rô phi), cá đồi... ăn các loại thực vật và tảo tầng đáy, một số loại cá ăn cá con, điều
chỉnh lượng cá trong hồ. Đối với đất nước này, luật đã quy định rõ, nước thải cũng là nguồn
tài sản quốc gia, mọi đối tượng phải hoàn trả lại sau khi sử dụng nước tại các trạm xử lý tập
trung. Hiện cả nước có trên 600 trạm xử lý nước thải, đảm bảo xử lý 100% tổng lượng nước
thải sinh hoạt của toàn quốc, vào khoảng trên 380 triệu m3, trong tổng số 685 triệu m3 nước
cung cấp. Trong đó, lượng nước thải sử dụng lại trong nông nghiệp chiếm 24,4% tổng
lượng nước cấp cho nông nghiệp. Hiện nay, nhà nước Israel vẫn đang kêu gọi toàn dân phải
lưu ý đến lượng nước thải và tận dụng để sử dụng rộng rãi hơn, tức là cần phải sử dụng
nước quay vòng, kết hợp với các phương pháp thu giữ nước, chọn lọc để sử dụng cho từng
loại cây nông nghiệp. Tưới đúng mục đích nhu cầu của cây; dùng nước quay vòng trong các
xí nghiệp, các khu công nghiệp cũng đang được đề cao. Như vậy, sẽ ngăn chặn được việc
sử dụng nước lãng phí và tăng hiệu quả sử dụng nước cao hơn. [11].
1.2.1.3.

Kinh nghiệm quản lý nước sinh hoạt của Pakistan

Các công trình cấp nước sạch nông thôn của Pakistan dựa vào cộng đồng phổ biến ở
Bang Azad Jammu và Kashmir (AJK), đây là bang có dân số khoảng trên 2 triệu người. Các
công trình này do cộng đồng đề xuất và được xây dựng dựa trên cơ sở tự giúp đỡ với sự hỗ
trợ chi phí từ Vụ Phát triển Nông thôn của Chính quyền địa phương (LGRDD). Nhờ sự
hướng dẫn của lãnh đạo địa phương và những người có hiểu biết, các cộng đồng đã lựa
chọn công nghệ và mức dịch vụ, lập kế hoạch và thiết kế các hệ thống với sự hướng dẫn kỹ


thuật của LGRDD và nhà tư vấn. Kinh nghiệm của AJK biểu thị cả tính hiệu quả và tính
bền vững, đây là mô hình có thể áp dụng trên qui mô lớn.
Thôn Bangrila ở Quận Mirpur (bang AJK) là một ví dụ về hệ thống cấp nước sinh
hoạt bằng đường ống dựa vào cộng đồng. Bangrila có dân số gần 5000 người, sống rải rác
trên các sườn dốc của vùng có địa hình đồi núi. Năm 1981, để đáp ứng nhu cầu
về nước uống,

cộng đồng người địa

phương

cấp thiết

đã quyết định xây

dựng hệ thống cấp nước riêng của mình. Dân làng đã thành lập một ban về nước và sau đó
thông qua liên

đoàn lao động và Hội đồng của huyện để tiếp cận

với

LGRDD. Cộng đồng đã thoả thuận chia sẻ chi phí xây dựng cơ bản củ dự án và toàn bộ chi
phí vận hành và bảo dưỡng. Ban cấp nước xây dựng quĩ cần thiết từ các khoản đóng góp
của nhân dân. Dự án được thực hiện như một dự án liên doanh của cộng đồng với Vụ của
chính quyền địa phương. Gần 250 hộ gia đình được sử dụng nước. Số tiền đóng góp hàng
tháng có thể bù đắp được chi phí điện năng, trả lương cho một người vận hành và một
người đóng mở của van nước. Chủ tịch của Ban về nước duy trì một sổ sách ghi chép tiền
đóng góp hàng tháng của từng hộ gia đình và các chi phí nảy sinh. Khi có hộ nào đó yêu
cầu, họ có thể kiểm tra cuốn sổ này. Sau khi xây dựng, các công trình đều làm việc tốt [11].
1.2.2.

Tình hình quản lý và khai thác công trình cấp nước sinh hoạt tập trung

nông thôn ở Việt Nam
Qua việc thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi
trường nông thôn giai đoạn 2006 - 2010 đã cho thấy:
Những mặt đạt được:
về khoa học công nghệ: Đã xác định và ứng dụng được một số giải pháp khoa học
công nghệ trong cấp nước và vệ sinh tuỳ theo điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, đặc điểm
dân cư, tập quán và truyền thống sử dụng nước sinh hoạt của từng địa phương; ngoài ra còn
có nhiều loại hình cấp nước phân tán và nhiều giải pháp phù hợp để cấp nước cho các vùng
khó khăn (như vùng nhiễm mặn, vùng núi cao, vùng đá vôi, vùng lũ lụt ...). Ở những nơi kết
hợp công trình nước sạch với các công trình thuỷ lợi đã
về nguồn nước,

tạo

sự

ổn

nhờ

đó việc

định


cấp nước được đảm bảo [2].
Đối với công trình cấp nước: Theo thống kê sơ bộ hiện nay có khoảng 16 loại hình
công nghệ cấp nước khác nhau, trong đó có 6 mô hình cấp nước phân tán (giếng khoan,
giếng đào lắp bơm tay hoặc bơm điện, bể, lu chứa nước mưa...) và 10 mô hình cấp
tập

trung

(hệ cấp nước tự chảy, cấp nước bơm

nước

dẫn, cấp nước

bằng bơm thuỷ luân, cấp nước bằng vải địa kỹ thuật...).
Các địa phương đã lựa chọn và áp dụng các loại hình thích hợp để nâng cao số dân
được sử dụng nước ở một số vùng nông thôn rất khó khăn về nước như Lục Khu của tỉnh
Cao Bằng, vùng núi đá của tỉnh Hà Giang, các vùng nhiễm mặn ở ven biển, vùng ngập lụt ở
đồng bằng sông Cửu Long... [2].
về các mô hình quản lý: Đã hình thành được nhiều mô hình về tổ chức quản lý vận
hành các công trình cấp nước. Hiện nay, ở các tỉnh có các loại hình tổ chức quản lý sau: Tổ
dịch vụ nước sạch của HTX nông nghiệp, UBND xã, HTX dịch vụ nước sạch, Tư nhân,
cộng đồng dân cư cấp thôn (Hà Giang, Bắc Cạn và tỉnh Ninh Thuận), Trung tâm Nước sạch
và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh được giao quản lý và áp dụng nhiều mô hình mới
trong quản lý khai thác công trình như: Trung tâm là chủ đầu tư, thực hiện nhiệm vụ quản
lý toàn bộ ngay từ sau khi hoàn thành công trình (Thái
Nguyên, Tuyên Quang, Hải Dương ...). Các mô hình quản lý công trình này tùy từng nơi đã
và đang hoạt động có hiệu quả và đang tiệm cận dần đến mô hình bền vững [2]
Hiện nay đại bộ phận dân cư nông thôn là những người làm ăn nhỏ, sống trong các
thôn xóm, làng bản tương đối tập trung, có tổ chức hành chính tương đối vững chắc và
truyền thống cộng đồng lâu đời với cơ cấu hạt nhân là hộ gia đình bình quân có 4,5 người.
Nhưng mức sống còn thấp, một bộ phận đáng kể dân cư nông thôn còn nghèo, thu nhập chỉ
đủ cho nhu cầu tối thiểu về ăn mặc không còn kinh phí cho các việc khác, nhận thức về cấp
nước và vệ sinh môi trường còn rất hạn chế.
Những hạn chế, tồn tại:
Tính bền vững của các thành quả đó đạt được về cấp nước chưa cao. Số lượng và
chất lượng nước cung cấp từ nhiều công trình cấp nước hiện đang bị giảm sút nên hàng năm
sẽ có một số người đã được hưởng nước sạch sẽ trở thành người chưa được hưởng nước


sạch. Thêm vào đó là việc giám sát và kiểm tra chất lượng nước chưa đúng quy định, đặc
biệt là đối với các công trình cấp nước nhỏ lẻ. Quản lý bền vững công trình cấp nước sinh
hoạt tập trung nông thôn sau khi xây dựng còn yếu, các mô hình quản lý công trình cấp
nước tập trung mới là thử nghiệm, chưa có tổng kết, đánh giá tính phù hợp.
Thị trường nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn chưa hình thành rõ ràng, các
chính sách khuyến khích đầu tư và cơ chế tín dụng hiện có chưa thu hút được sự tham gia
của các thành phần kinh tế trong xã hội, đặc biệt là khu vực Tư nhân.
Những thách thức trong thời gian tới:
Mặc dù đã có 80% dân số nông thôn được tiếp cận với nguồn nước sinh hoạt hợp vệ
sinh, trong đó có 40% sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng
nước sinh hoạt ban hành kèm theo thông tư số 05/2009/TT-BYT ngày 17/6/2009 của Bộ Y
tế, trong khi mục tiêu của Việt Nam đến 2020 là đảm bảo cho 100% dân cư nông thôn được
tiếp cận với nguồn nước sạch với số lượng tối thiểu là 60 lít/người/ngày. Như
quả

đạt được về

vậy,

kết

cấp nước sạch mới chỉ là sự khởi

đầu và chắc chắn sẽ còn nhiều khó khăn, thách thức trong giai đoạn tới.
Xu hướng tất yếu trong những năm tới là phát triển mạnh các công trình cấp nước tập trung
để thay thế dần các công trình cấp nước nhỏ lẻ không còn phù hợp.
Tuy thế việc quản lý các công trình cấp nước tập trung như thế nào là vấn đề đến nay vẫn
chưa có phương án trả lời thích hợp, vì khác với các công trình hạ tầng khác, cấp nước vừa
mang tính xã hội, tính nhân văn nhưng đồng thời cũng phải đảm bảo nguyên tắc “nước là
một loại hàng hoá kinh tế xã hội”.
Một thách thức nữa không thể không nói đến đó là tình hình thời tiết theo dự báo sẽ
có diễn biến phức tạp trong những năm tới, do đó cần phải có những biện pháp dự phòng.
Các mô hình quản lý và khai thác công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông
thôn:
Qua thực tế

triển khai chương

trình cho thấy, hiện nay nước ta đang tồn

tại các loại hình quản lý và khai thác công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn sau:
-

Đơn vị sự nhiệp công lập quản lý, khai thác công trình.

-

Doanh nghiệp quản lý, khai thác công trình.


-

Ủy ban nhân dân cấp xã trực tiếp quản lý hoặc giao khoán cho các tổ chức, cá nhân
có đủ năng lực để quản lý, khai thác công trình.
Mặc dù công tác tuyên truyền đã được các cấp chính quyền quan tâm thực hiện,

nhưng đến nay phần lớn cư dân nông thôn còn thiếu hiểu biết về vệ sinh, nước sạch, bệnh
tật và sức khoẻ; về môi trường sống xung quanh mình cần phải được cải thiện và có thể cải
thiện được. Kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực cho thấy nếu người nông dân nhận thức rõ
được vấn đề thì với sự giúp đỡ của Chính phủ, họ có thể vươn lên, khắc phục khó khăn, cải
thiện môi trường sống cho mình tốt hơn.
Sự tham gia của cộng đồng vào chương trình đã có nhiều tiến bộ, vai trò của người
sử dụng đặc biệt là của phụ nữ tham gia vào quá trình quyết định về đầu tư và quản lý được
tăng

cường hơn nhiều, từ việc đề xuất nhu cầu, lựa chọn quy mô, loại

hình công trình, hình thức tham gia vốn đầu tư, giới thiệu người thay mặt cộng đồng để
quản lý đầu tư và vận hành công trình... [2].
Việc phân cấp thực hiện Chương trình cho cấp tỉnh và các cấp thấp hơn là một chủ
trương đúng đắn, tuy thế để thực hiện tốt hơn thì phải gắn liền với công tác đào tạo nâng
cao năng lực cho cán bộ cấp cơ sở. Đây là một bài học rất quan trọng, vỡ kết quả những
năm qua đó cho thấy, những địa phương làm tốt công tác này đều đó vượt các mục tiêu về
cấp nước và vệ sinh.
Phương châm, nguyên tắc, cách tiếp cận chung và phạm vi thực hiện.
*

Phương châm
Phát huy

nội lực của dân cư nông thôn,

dựa vào nhu cầu, trên cơ sở

đẩy
mạnh xã hội hoá trong đầu tư, xây dựng và quản lý, đồng thời tăng cường hiệu quả quản lý
nhà

nước trong các

dịch vụ cung cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn.

Người sử dụng quyết định mô hình cung cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn phù hợp với
khả năng cung cấp tài chính, tổ chức thực hiện và quản lý công trình. Nhà nước đóng vai trò
hướng dẫn và hỗ trợ, có chính sách giúp đỡ các gia đình chính sách, người nghèo, vùng dân
tộc ít người và một số vùng đặc biệt khó khăn.
Hình thành thị trường nước sạch và dịch vụ vệ sinh nông thôn theo định hướng của


Nhà nước. [2].
*

Nguyên tắc cơ bản là phát triển bền vững
Nguyên tắc này coi trọng sự phát triển vững chắc: Làm đâu được đấy, hơn là sự

phát triển nhanh nhưng nóng vội. Đồng thời phải đảm bảo phát triển trước mắt không làm
tổn hại đến tương lai và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên nước. [2].
12.2.1.

Kinh nghiệm quản lý công trình cấp nước sinh hoạt ở tỉnh Lào Cai.

Đến hết năm 2011, toàn tỉnh xây dựng được 743 công trình cấp nước hệ tự chảy tập
trung, 430 hệ tự chảy nhỏ, trên 3.500 công trình cho hộ gia đình. Đáng chú ý, nhiều công
trình tiềm ẩn nguy cơ hoạt động kém bền vững. Các cơ quan chức năng và chính quyền địa
phương vẫn đang “loay hoay” đi tìm mô hình quản lý hiệu quả công trình đặc thù này.
Theo dự án quy hoạch thủy lợi (Quyết định 3188/QĐ-UBND) được UBND tỉnh phê
duyệt, đến năm 2015 sẽ đặt mục tiêu cấp nước đủ cho sinh hoạt của 869.637 người, 90%
dân cư nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, tiêu chuẩn 80 lít/người/ngày. Giải pháp
cấp nước là xây dựng các hệ thống cấp nước tự chảy tập trung, giếng khoan, giếng đào, bể,
lu, chứa nước. Thu nước từ nguồn nước mặt, nguồn nước ngầm và nước mưa qua công
nghệ lắng, lọc xử lý nước hợp vệ sinh.
Giai đoạn 2006 - 2010, toàn tỉnh đã đầu tư làm mới 385 công trình, cải tạo nâng cấp
120 công trình hệ tự chảy tập trung. Trên địa bàn tỉnh, công trình cấp nước sinh hoạt nông
thôn chủ yếu có quy mô nhỏ, công nghệ thô sơ với các loại hình: Công trình cấp nước tự
chảy tập trung, giếng đào, giếng khoan, lu hứng nước mưa... Việc quản lý, khai thác, vận
hành các công trình cấp nước hầu hết đều giao cho các tổ chức hợp tác dùng nước nằm
trong một xã hoặc thôn, bản, một số ít công trình còn lại giao khoán cho tư nhân hoặc
doanh nghiệp đứng ra đảm nhận. Cái khó là ở chỗ, chính quyền địa phương đều muốn các
tổ hợp tác tại địa phương đứng ra quản lý hệ thống này, nhưng khi quản lý lại bộc lộ nhiều
yếu kém. Trong số 739 công trình giao cho cộng đồng quản lý, chỉ có khoảng 20% công
trình được đánh giá hoạt động bền vững, còn lại 559 công trình (chiếm 75,2%) đang hoạt
động bình thường, nhưng luôn tiềm ẩn nguy cơ kém tính bền vững. khó thu tiền sử dụng
nước được cho là nguyên nhân chính dẫn đến không có kinh phí để chi cho công tác vận
hành, duy tu, sửa chữa và bảo dưỡng công trình.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×