Tải bản đầy đủ

Luận văn đánh giá hiệu quả một số mô hình nông lâm kết hợp trên địa bàn huyện mai sơn, tỉnh sơn la

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐÀO THANH HẢI

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MỘT SỐ MÔ HÌNH
NÔNG LÂM KẾT HỢP TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA

Ngành : Phát triển nông thôn
Mã số: 60.62.01.16

LUẬN VĂN THẠC SĨ ^
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Dương Văn Sơn

Thái Nguyên - 2015




3

LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công
trình nghiên cứu nào khác.
rp r _

•2

1

^_____

W

Tác giả luận văn

Đào Thanh Hải

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự
giúp đỡ nhiệt tình của cơ sở đào tạo, cơ quan công tác, địa bàn thực tập, bạn bè đồng
nghiệp và gia đình.
Trước hết tôi chân thành cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên, Phòng quản lý đào tạo sau đại học, Ủy ban nhân dân huyện
Mai Sơn, UBND các xã Chiềng Ban, Chiềng Mung, Chiềng Chung và các hộ gia
đình trong xã đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết

ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Dương Văn
Sơn,

người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ đạo, động viên trong suốt quá trình thực
hiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn các cá nhân, đơn vị đã giúp đỡ tôi trong quá trình
thực hiện đề tài này. Trân trọng cảm ơn người thân trong gia đình, bạn bè đã tạo điều
kiện, khích lệ tôi trong quá trình làm luận văn.
Mặc dù

luyện

đã



với tất cả

những cố gắng
năng

học

tập

và rèn

lực, sự

nhiệt tình và say mê nhưng do hạn chế về trình độ và thời gian nên luận văn không
tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng
góp xây dựng quý báu của các nhà khoa học cùng bạn bè đồng nghiệp để luận văn


4

được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2015
Tác giả

Đào Thanh Hải
MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Ký hiệu

FAO

Giải thích
Food and Agriculture Organization of the United
nations - Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc

HGĐ

Hộ gia đình

HTCT

Hệ thống canh tác

HTX

Hợp tác xã

NLKH
NNPTNT
PTCT
PRA
SALT
UBND

Nông lâm kết hợp
Nông nghiệp phát triển nông thôn
Phương thức canh tác
Paticipatory Rural Appasaisal - Phương pháp đánh giá
nhanh nông thôn có sự tham gia của cộng đồng
System Agro Land Technogogy - Hệ thống canh tác
trên đất dốc
Ủy ban nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH


6

MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Trong những năm qua do áp lực về dân số và để đảm bảo nhu cầu đời sống
trước mắt của mình, con người đã khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên để
đảm bảo cho nhu cầu cuộc sống hàng ngày bất chấp quy luật khách quan làm diện
tích rừng ngày càng bị thu hẹp. Đất rừng chuyển sang canh tác nông nghiệp đã làm
phá vỡ tính cân bằng vốn có của nó, môi trường suy thoái, hạn hán lũ lụt xảy ra ở
nhiều nơi, xói mòn rửa trôi đất diễn ra mạnh làm giảm độ phì nhiêu của đất. Năng
suất cây trồng ngày một giảm khiến đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn. Từ
thực trạng trên đòi hỏi con người phải biết giải quyết một cách khoa học mối quan
hệ giữa sản xuất nông nghiệp và sản xuất lâm nghiệp.
Tây Bắc là địa bàn cư trú sinh sống của các đồng bào dân tộc thiểu số với tập
quán canh tác lạc hậu kỹ thuật và tư duy sản xuất còn hạn chế. Thực tế cho thấy rằng
nếu chỉ chuyên về sản xuất lương thực thì người dân miền núi khó đảm bảo an ninh
lương thực trong tương lai. Vì vậy để thoát khỏi nghèo đói người dân miền núi phải
chuyển sang phương thức nông lâm kết hợp một cách toàn diện hơn nữa. Phát triển
bền vững là xu hướng, mục tiêu chung được đặt ra trên thế giới, nhận thức được điều
đó trong nhiều năm gần đây nhà nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách để phủ
xanh

đất trống đồi núi trọc bằng phương thức nông lâm kết hợp

(NLKH). Đây là một giải pháp đúng đắn đáp ứng nhu cầu lương thực cho người dân
phục hồi lại tài nguyên rừng.
Trong nghị quyết của Đại hội Đại biểu Đảng cộng sản lần thứ 5 nhấn mạnh
“Các tỉnh, huyện

miền núi phải khai thác tốt thế mạnh của mình từ nông, lâm

nghiệp mà đi lên nhất thiết phải sử dụng đất theo phương thức nông lâm kết hợp”.
Năm 1991 Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII đã chỉ ra phương hướng nhiệm vụ 5
năm 1991 - 1995 trong đó “hình thành cơ cấu hợp lý về nông, lâm, ngư và công
nghiệp phù hợp với sinh thái từng vùng. Trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc,
nâng cao hiệu quả khai thác sử dụng tài nguyên rừng, bảo vệ môi trường thiên nhiên
và môi trường sinh thái”. Nhiều mô hình sản NLKH có hiệu quả kinh tế cao đã đựơc
xây dựng, tổng kết và nhân rộng như xây dựng trang trại, vườn rừng, vườn -


7

ao - chuồng (VAC) vườn cây ăn quả,... Các mô hình nông lâm kết hợp đựơc mở
rộng cả về quy mô và chiều sâu, nhiều vùng miền núi đã từng bước phát triển cả về
kinh tế cũng như trình độ dân trí. Cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, tập
quán NLKH đã có ở Việt Nam

từ lâu đời, như các hệ thống canh tác nương rẫy

truyền thống của đồng bào các dân tộc ít người, hệ sinh thái vườn nhà ở nhiều vùng
địa lý sinh thái trên khắp cả nước,... Làng, bản truyền thống của người Việt cũng có
thể xem là hệ thống NLKH bản địa với nhiều nét đặc trưng về cấu trúc và các dòng
chu chuyển vật chất và năng lượng. Trong những năm gần đây, để đảm bảo vấn đề
an ninh lương thực trên cả nước, các hệ thống NLKH bắt đầu được chú trọng và phát
triển. Sự kết hợp giữa cây trồng dài ngày với cây lương thực, giữa cây công nghiệp
như chè, cà phê với cây ăn quả, cây che bóng, cây lấy gỗ..., đã phát huy được tác
dụng trong bảo vệ môi trường đất, tăng thêm nguồn thu nhập cho
người dân.
Mai Sơn là huyện trọng điểm về phát triển nông nghiệp của tỉnh Sơn La, đây
là nơi sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc anh em như: Kinh, Thái, Mông, Sinh
Mun,... với nhiều phương thức canh tác sử dụng đất trồng khác nhau. Với diện tích
rộng 143.247 ha, hiện nay huyện Mai Sơn chia thành 21 xã và 01 thị trấn, với 151,4
nghìn người sinh sống (dân số khu vực thành thị chiếm 11,22%, nông thôn chiếm
88,78%) (Tính đến thời điểm tháng 12 năm 2014). Trước áp lực về sự gia tăng dân
số trong khi diện tích đất canh tác không đổi, đòi hỏi cần phải có giải pháp nhằm
tăng hiệu quả kinh tế trên cùng một diện tích đất đai có sẵn, chính quyền và nhân
dân trong huyện cũng tích cực áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất,
đặc biệt các mô hình NLKH cũng được hình thành, tạo nên sự đa dạng về các hệ
thống NLKH trên địa bàn.
Bên cạnh những hiệu quả đã đạt được khi áp dụng phương thức canh tác
NLKH, cũng như nhiều vùng trên cả nước, huyện Mai Sơn cũng gặp không ít những
vấn đề còn tồn tại như: đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, sản xuất nông
lâm nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào tự nhiên là chủ yếu khiến cho các phương thức
canh tác truyền thống đạt năng suất thấp, tài nguyên thiên nhiên suy giảm nghiêm
trọng đặc

biệt là giảm diện tích rừng. Với vai trò rất to lớn về mặt kinh tế,


8

xã hội và môi trường thì NLKH từ lâu được xem là một hệ canh tác rất quan trọng ở
khu vực Mai Sơn. Mỗi khu vực mỗi dân tộc hay mỗi hộ gia đình có một cơ cấu cây
trồng, vật nuôi hay một điều kiện cụ thể cho việc sử dụng các nguồn tài nguyên đất
nước và môi trường sinh thái khác nhau. Hệ thống NLKH dựa trên cơ sở cây cà phê
của Sơn La nói chung và của huyện Mai Sơn nói riêng hiện nay còn đang gặp rất
nhiều bất cập mà chưa tìm được giải pháp phù hợp dẫn tới tình trạng đời sống của
người dân còn

gặp nhiều khó khăn, kỹ thuật sản xuất cây trồng còn hạn chế, thị

trường nông sản không ổn định. Để góp phần giải quyết những vấn đề đó cần có
những cách nhìn nhận đa chiều tổng hợp đặc biệt là tìm ra phương thức hỗ trợ và
thúc đẩy sản xuất phù hợp, không thể áp dụng một phương thức canh tác đồng nhất
mà cần tính toán đến sự đa dạng và thích nghi với điều kiện tự nhiên của khu vực.
Với mục đích tìm ra được các mô hình kinh tế bền vững về 3 mặt kinh tế, xã hội và
môi trường cho các hộ gia đình trồng cà phê trên địa bàn huyện Mai Sơn đề tài tiến
hành lựa chọn nghiên cứu : “Đánh giá hiệu quả một số mô hình nông lâm kết hợp
trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La”, để xác định được các hệ thống NLKH
tiềm năng có khả năng nhân rộng trên địa bàn huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La, làm cơ sở
đề xuất các giải pháp sản xuất NLKH phù hợp với khu vực nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1.

Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu chung của đề tài là xác định được mô hình NLKH dựa trên cơ sở

cây cà phê có hiệu quả và phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội tại địa
bàn nghiên cứu.
2.2.

Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu chung đó, đề tài xác định mục tiêu cụ thể như sau:

-

Thứ nhất là điều tra, xác định và phân loại các hệ thống canh tác nông lâm
kết hợp, các mô hình NLKH dựa trên cơ sở là cây cà phê hiện có tại địa bàn
nghiên cứu.

-

Thứ hai là phân tích đặc điểm và đánh giá hiệu quả các phương thức canh tác
nông lâm kết hợp, các mô hình nông lâm kết hợp tiêu biểu liên quan đến cây
Cà phê tại địa phương.


9

- Và cuối cùng dựa trên các phân tích hiện trạng các hệ thống NLKH
dựa
trên cơ sở cây Cà phê đề xuất các giải pháp bổ sung, hoàn thiện và nhân rộng các
phương thức canh tác nông lâm kết hợp có hiệu quả và bền vững trong tương lai.
3. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài cũng được coi là một tài liệu tham khảo cho Trường, Khoa, các cơ
quan trong ngành Nông Lâm và học viên, sinh viên các khóa tiếp theo.
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để các nhà quản lý, các cấp lãnh
đạo của huyện Mai Sơn và chính quyền và nhân dân các xã trên địa bàn
đưa ra những chính sách phát triển mô hình xây dựng NLKH dựa trên cơ
sở cây cà phê hiệu quả về mặt kinh tế, xã hội và bền vững về môi
trường.


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1.

Tình hình nghiên cứu và phát triển hệ thống canh tác

1.1.1.

Khái niệm về hệ thống canh tác

Khi đưa ra định

nghĩa về hệ thống Spendding (1979) đã nhấn mạnh
“hệ

thống là tổ hợp những thành phần có tương quan với nhau, giới hạn trong một ranh
giới rõ rệt, hoạt động như một tổng thể cùng chung mục tiêu có thể tác động qua lại
với môi trường bên ngoài” (dẫn theo Nguyễn Văn Hiền, 2007). [5]
Hệ thống là tập hợp các yếu tố trong đó có sự tương tác với các yếu tố khác
để sản xuất ra sản phẩm chung của hệ thống, khác với kết quả riêng lẻ của từng yếu
tố [8].
Hệ thống canh tác (HTCT) là một phạm trù rất rộng lớn, có rất nhiều khái
niệm về hệ thống canh tác, điển hình có một số khái niệm sau:
Theo Nguyễn Văn Hiền (2007),“hệ thống canh tác ” là thể thống nhất hoạt
động của con người sử dụng tài nguyên (sinh học, tự nhiên, kinh tế, xã hội) trong
một phạm vi nhất định để tạo ra sản phẩm thỏa mãn nhu cầu ăn, mặc của con người
(bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội) [5].
Hệ thống canh tác là một phức hợp của đất đai, cây trồng, vật nuôi, lao động
và các nguồn lợi đặc trưng khác trong một ngoại cảnh mà các nông hộ quản lý theo
sở thích khả năng và kỹ thuật có thể có. Hệ thống canh tác (Farming System) là sự
bố trí một cách thống nhất và ổn định các ngành trong nông trại, được quản lý bởi
các hộ gia đình trong môi trường tự nhiên, sinh học và kinh tế xã hội, phù hợp với
mục tiêu mong muốn và nguồn lực của nông hộ.
Phạm Chí Thành và Cs (1994) cho rằng hệ thống cây trồng gồm hệ thống
không gian và thời gian với hệ thống biện pháp kỹ thuật được thực hiện nhằm đạt
năng suất cây trồng cao và nâng cao độ phì nhiêu của đất đai. Trong hệ thống canh
tác thì luân canh cây trồng là biện pháp hữu hiệu nhất, các chế độ canh tác như bón
phân tưới nước, làm đất bao giờ cũng phải căn cứ vào hệ thống cây trồng [11].
1.1.2.

Đặc điểm và thuộc tính của HTCT


Đặc điểm của HTCT: Bất kỳ HTCT nào cũng có những đặc điểm sau:
-

Có mục tiêu chung: các thành phần trong hệ thống có cùng chung mục tiêu,
từ đó chức năng hoạt động của từng thành phần được xác định rõ hơn.

-

Có ranh giới rõ rệt: ranh giới của hệ thống cho biết quy mô và nội dung hệ
thống, nó giúp xác định cái bên trong (thành phần) và cái bên ngoài của hệ
thống.

-

Có đầu vào - đầu ra và các mối quan hệ: hệ thống có đầu vào đầu ra, các
thành phần trong hệ thống có mối quan hệ lẫn nhau, hệ thống lại có mối quan
hệ với môi trường. Tất cả quy định cách vận hành của hệ thống.

-

Có thuộc tính: thuộc tính xác định tính chất của hệ thống, phân biệt giữa các
hệ thống với nhau. Mỗi thành phần đều mang thuộc tính chung này và có đặc
điểm riêng.

-

Có thứ bậc:

thứ bậc có được là do ranh giới của hệ thống. Mỗi hệ

thống
bao giờ cũng gồm các hệ thống nhỏ bên trong (thành phần) và nằm trong một hệ
thống lớn hơn.
-

Thay đổi: hệ thống có tính ổn định tương đối nó thay đổi theo thời gian và
không gian do bị tác động của môi trường. Khi các thành phần thay đổi, hệ
thống cũng thay đổi theo.
Thuộc tính của HTCT

-

Sức sản xuất: là khả năng sản xuất ra giá trị sản phẩm trên một đơn vị tài
nguyên (đất, lao động, năng lượng, tiền vốn,..). Đơn vị đo lường có thể là
tấn/ha, kg/ngày công, kg/đồng,... Sức sản xuất của 1 HTCT có thể tăng, có thể
giảm hay cân bằng theo thời gian.

-

Khả năng sinh lợi nhuận: là hiệu quả kinh tế (cho người sản xuất và xã hội)
của một HTCT.

-

Tính ổn định: của một HTCT là khả năng duy trì sức sản xuất khi có rủi ro
như thay đổi điều kiện thời tiết, điều kiện kinh tế thị trường,...

-

Tính
hệ

bền vững: của một HTCT là khả năng duy trì sức sản xuất của


thống trong một thời gian dài khi chịu tác động của môi trường. Một hệ thống được
xem là bền vững nếu khi bị tác động của môi trường, sức sản xuất có thể
giảm
nghiêm trọng nhưng sau đó sức sản xuất được phục hồi và duy trì ổn định.
-

Tính công bằng: là sự phân bố sản phẩm hay lợi nhuận của hệ thống đến
những người tham gia quá trình sản xuất hoặc những người hưởng thụ trong
cộng đồng.

-

Tính tự chủ: là khả năng tự vận hành sao cho hiệu quả và ít bị lệ thuộc vào
các yếu tố môi trường, tự nhiên cũng như kinh tế, xã hội.
Như vậy, từ lý thuyết trên cho thấy nghiên cứu HTCT thích hợp cho từng

vùng và tiểu vùng sinh thái là cách tối ưu hóa việc sử dụng các tài nguyên đất, nước
và lao động để mang lại hiệu quả kinh tế cao và bảo vệ môi trường được bền vững.
Việc nghiên cứu này không thực hiện theo kiểu đơn ngành mà đòi hỏi phải nghiên
cứu đa ngành trên quan điểm hệ thống.
1.1.3.

Nghiên cứu về hệ thống canh tác

1.1.3.1.

Trên thế giới

HTCT thích hợp là một trong những yếu tố quan trọng để nghiên cứu, phát
triển và hoàn thiện hệ thống nông nghiệp, hiện đang được nhiều nước trên thế giới
quan tâm nghiên cứu. Trong những năm qua, nghiên cứu nông nghiệp theo tiếp cận
hệ thống là một vấn đề phổ biến trên thế giới nhằm phát triển nông nghiệp một cách
toàn diện, sử dụng một cách hữu hiệu các nguồn lực tại chỗ, hạn chế việc khai thác
quá mức tài nguyên thiên nhiên dẫn đến huỷ hoại môi trường sinh thái. Nghiên cứu
hệ thống góp phần tạo điều kiện cho các thành phần của hệ thống có cơ hội tác động
qua lại lẫn nhau, thúc đẩy lẫn nhau phát triển, tránh được tình trạng thành phần này
cản trở sự phát triển của thành phần khác.
HTCT Taungya (Taungya system) được bắt đầu vào năm 1856 ở Myanma.
Nhà nước đã cho trồng cây gỗ Tếch kết hợp trồng cây lúa cạn, ngô trong 2 năm đầu
khi rừng chưa khép tán. Mục tiêu chính của hệ thống này là khôi phục lại rừng bị tàn
phá, sản xuất lương thực là thu nhập phụ. Đây là dạng mô hình chuyển tiếp từ canh
tác nương rẫy sang canh tác NLKH (dẫn theo Phạm Xuân Hoàn, 1996) [6].


HTCT Ifugao trên dải núi cao ở Philippin, do Clofsam (1984) mô tả là HTCT
của người dân tộc Ifugao, họ biết canh tác lúa nước ở ruộng có hệ thống nước tưới
kết hợp trồng cây lấy gỗ, lấy củi, cây ăn quả và cây thuốc. HTCT hỗn hợp đã giúp
giữ được nước chống xói mòn và sạt lở đất (dẫn theo Viện Khoa học kỹ thuật nông
nghiệp, 1996) [15]. Ở Thái Lan, Hoey. M (1990) đưa ra mô hình sử dụng đất dốc
nhấn mạnh việc canh tác trên đường đồng mức, trồng cỏ thành băng, hạn chế làm đất
đến

mức tối thiểu góp phần phát triển nông lâm nghiệp ổn định trên đất dốc

dưới 200. Những kết quả nghiên cứu ở Kanđihult Bắc Thái Lan trồng cây ăn quả,
cây cà phê theo băng kết hợp với bón phân đã cho hiệu quả kinh tế cao và có tác
dụng cải tạo nâng cao độ phì của đất (trích dẫn theo Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm,
1999) [9].
Khi phân tích các HTCT theo mô hình nông lâm kết hợp, chăn thả,...
Agbool.A (1990) đã cho rằng hệ thống đa dạng hoá cây trồng là tốt nhất. Việc sử
dụng đất dốc để trồng các loài cây nào còn tuỳ thuộc vào các yếu tố khác như mưa
gây xói mòn, tính chất của đất và nhất là phụ thuộc vào các biện pháp canh tác được
sử dụng để chống xói mòn vào điều kiện cụ thể của từng địa phương. Trên các vùng
đất dốc, thường người ta không gieo trồng độc canh một loại cây liên tục mà trồng
gối, trồng xen, luân canh (trích dẫn theo Phạm Xuân Hoàn, 1996).
Ngày nay, mạng lưới nghiên cứu HTCT đã thu hút nhiều quốc gia trồng lúa
như Banglades, Myanma, Ản Độ, Indonesia, Malaysia, Nepan, Philippin, Triều Tiên,
Srilanca, Thailan và Việt Nam tham gia nghiên cứu.
1.1.3.2.

Ở Việt Nam

Trong những năm gần đây, các nhà khoa học trong nước đã không ngừng
nghiên cứu, áp dụng các HTCT được nghiên cứu ở trên thế giới nhằm tìm ra các hệ
thống phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, tự nhiên cho từng vùng của nước ta. Sử
dụng tốt các nguồn lợi và các mối quan hệ của sinh thái, với hiệu quả đầu tư cao
nhất, nhằm phát triển các HTCT hiệu quả và bền vững. Nhiều kết quả nghiên cứu về
HTCT của các Trường, Viện và các cơ quan nông nghiệp địa phương, đã đưa ra các
mô hình HTCT phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng, từng
địa phương và từng nông hộ.


Theo Phạm Chí Thành và Cs (1996), đã nghiên cứu về phương pháp luận
trong nghiên cứu xây dựng HTCT ở miền Bắc Việt Nam đã chỉ ra việc xây dựng hệ
thống canh tác phải được tiến hành ở từng biến sinh thái và cân đối trong phạm vi
các nhóm biến sinh thái, nếu làm đúng và có phương pháp chuyển giao tốt sẽ trở
thành lượng vật chất thực sự góp phần tăng năng suất cây trồng [12].
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đậu và các cộng sự về HTCT nông lâm
nghiệp ở vùng trung du miền núi phía Bắc Việt Nam, cho thấy hiệu quả của các mô
hình canh tác trên đất dốc như sau: Mô hình canh tác cây lương thực sắn xen đậu đỗ,
lạc, với các cây phân xanh chống xói mòn trên các loại đất phát triển trên sa thạch,
phiến thạch sét và phù sa cổ, là biện pháp giải quyết phân bón tại chỗ có hiệu quả
cao để thâm canh tăng năng suất sắn trên đất dốc.
Theo Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên (1999), đối với vùng cao, dân cư thưa,
trình độ dân trí thấp, sản xuất còn ở mức thô sơ, cơ sở hạ tầng thấp, an toàn lương
thực là vấn đề cấp bách vì vậy các mô hình canh tác có triển vọng là trồng cây đặc
sản, cây ăn quả, cây dược liệu phối hợp với bảo vệ rừng đầu nguồn, cây trồng dưới
tán rừng lâu năm, hạn chế du canh, chuyển đổi du canh thành nương định canh với
các loài cây họ đậu cải tạo đất [9].
Tác giả Vũ Biệt Linh, Nguyễn Ngọc Bình (1995) cho rằng cơ cấu cây trồng
được chọn vào mô hình NLKH bao gồm: cây phòng hộ (Muồng đen, Keo dậu, So
đũa, Phi lao, Keo lá tràm,...); cây dài ngày (Chè, Cà phê, Trám, Hồ tiêu, cây ăn
quả,...); cây ngắn ngày (Lúa nước, Ngô, Lúa nương, cây có củ, đậu đỗ,.) và sắp xếp
như sau:
-

Đất dốc trên 250 - 300 tốt nhất là để rừng che phủ, rừng cây rậm kín, hỗn giao
nhiều tầng tán, nhiều cỏ cây trong đó phải có những cây gỗ lớn với số lượng
đông đủ sẽ là chủ thể trong hệ sinh thái rừng và đất dốc.

-

Đất dốc từ 150 - 250, có thể tạo ra quần xã thực vật theo kiểu vườn rừng với tỷ
lệ cây to khoảng 30% - 40 % còn lại là cây phòng hộ và mương máng giữ đất,
giữ nước.

-

Đất dốc dưới 150 nếu sườn đồi ngắn nên san bằng thành ruộng bậc thang ở
phía dưới, có rừng ở phía trên càng tốt. Có thể sử dụng 60% - 70% đất nông


nghiệp, cây công nghiệp từ 20% - 30% cho cây lớn và 10% - 15% đất đai
dành cho bờ cây và mương máng [7].
Theo Võ Đại Hải (2003), việc cải tiến các HTCT nương rẫy theo hướng sử
dụng đất bền vững, chính là việc thiết lập các hệ thống NLKH và hiệu quả do nó
mang lại là cơ cấu thu nhập của người dân thay đổi, thời hạn sử dụng đất kéo dài,
năng suất cây trồng ổn định [4].
Đặng Thịnh Triều và cộng sự (2004) nghiên cứu một số HTCT ở miền núi và
vùng cao tại Việt Nam cho thấy, hiện nay ở nước ta đang tồn tại các HTCT sau:
nương rẫy du canh du cư, lúa nước, hoa màu định canh định cư, cây lâu năm tập
trung, chăn nuôi đại gia súc, nông lâm kết hợp [13].
Theo Nguyễn Văn Dung, Trần Đức Viên, Nguyễn Thanh Lâm (2005), khi
nghiên cứu về

ảnh hưởng của canh tác nương rẫy đến khả năng phục hồi dinh

dưỡng đất trong giai đoạn bỏ hóa của tỉnh Hòa Bình, đã đưa ra nhận xét việc canh
tác nương rẫy trên đất dốc làm tăng dòng chảy bề mặt, đây là nguyên nhân chính gây
nên xói mòn trên

đất dốc, lượng nước chảy mặt trên đất canh tác nương rẫy

tăng gấp 1,35 lần (765 mm) so với rừng tái sinh.
Như vậy, trên thế giới và Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về các HTCT và
sự tương tác qua lại lẫn nhau với các mặt kinh tế, xã hội và môi trường. Nghiên cứu
HTCT thích hợp cho từng vùng và tiểu vùng sinh thái là cách tối ưu hóa việc sử
dụng các tài nguyên đất, nước và lao động để mang lại hiệu quả kinh tế cao, bảo vệ
môi trường sinh thái. Do vậy nội dung nghiên cứu của đề tài là rất cần thiết đối với
khu vực nghiên cứu.
1.2.

Tình hình nghiên cứu và phát triển hệ thống nông lâm kết hợp

1.2.1.

Khái niệm và đặc điểm chung về hệ thống nông lâm kết hợp

1.2.1.1.

Khái niệm

Nông lâm kết hợp và một lĩnh vực khoa học mới đã được đề xuất vào thập
niên 60 bởi Keng (1969). Qua nhiều năm, nhiều khái niệm khác nhau được phát triển
để diễn tả hiểu biết rõ hơn về nông lâm kết hợp. Hiện nay có rất nhiều các khái niệm
khác nhau về nông lâm kết hợp [10].
Theo Bene và các cộng sự (1977), Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý


đất vững bền làm gia tăng sức sản xuất tổng thể của đất đai, phối hợp sản xuất các
loại hoa màu (kể cả cây trồng lâu năm), cây rừng và /hay với gia súc cùng lúc hay kế
tiếp nhau trên một diện tích đất và áp dụng các biện pháp canh tác tương ứng với
điều kiện văn hóa xã hội của dân cư đia phương.
Theo PCARRD (1979), Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất đai
trong đó các sản phẩm của rừng và trồng trọt được sản xuất cùng một lúc hay kế tiếp
nhau trên các diện tích đất thích hợp để tạo ra các lợi ích kinh tế, xã hội, sinh thái
cho cộng đồng dân cư tại địa phương.
Theo Lundgren và Raintree (1983), Nông lâm kết hợp và tên chung của
những hệ thống sử dụng đất trong đó các cây lâu năm (cây gỗ, cây bụi, cọ tre, cây ăn
quả, cây công nghiệp,...) được trồng có suy tính trên cùng một đơn vị diện tích quy
hoạch đất với hoa màu và/hoặc với vật nuôi dưới dạng xen theo không gian hay xen
theo thời gian. Trong các hệ thống nông lâm kết hợp có mối tác động tương hỗ qua
lại về cả mặt sinh thái lẫn kinh tế giữa các thành phần của chúng.
Các khái niệm trên đơn giản mô tả nông lâm kết hợp như là một loạt các
hướng dẫn cho một sự sử dụng đất liên tục. Ngày nay, nông lâm kết hợp được định
nghĩa như là một hệ thống quản lý tài nguyên đặt cơ sở trên đặc tính sinh thái và
năng động nhờ vào sự phối hợp cây trồng lâu năm vào nông trại hay đồng cỏ để làm
đa dạng và bền vững sự sản xuất cho gia tăng các lợi ích về xã hội, kinh tế và môi
trường của các mức độ nông trại khác nhau từ kinh tế hộ nhỏ đến “kinh tế trang
trại”. Một cách đơn giản, NLKH được hiểu là trồng cây trên nông trại.
Trung tâm nghiên cứu nông lâm kết hợp quốc tế (ICRAF) đã định nghĩa nó
như là một hệ thống quản lý tài nguyên tự nhiên năng động và lấy yếu tố sinh thái
làm chính, qua đó cây được phối hợp trồng trên nông trại và vào hệ sinh thái nông
nghiệp làm đa dạng và bền vững sức sản xuất để gia tăng các lợi ích kinh tế, xã hội
và sinh thái cho người canh tác ở các mức độ khác nhau.
Ngoài ra có thể hiểu nông lâm kết hợp theo định nghĩa rộng hơn đó là một
phương thức sử dụng đất tổng hợp trên một vùng hay một lưu vực trong đó có mối
quan hệ tương tác giữa các hệ sinh thái tạo ra cân bằng sinh thái để sử dụng triệt để
tiềm năng sản xuất của một vùng hay một lưu vực và hệ sinh thái rừng giữ vai trò


chủ đạo. Nông lâm kết hợp không chỉ là sinh kế của một hộ gia đình mà là sinh kế
và mang lại lợi ích cho cả cộng đồng người dân sống tại đó.
* Mô hình nông lâm kết hợp
Theo từ điển Việt Nam, mô hình được hiểu là một mẫu thu nhỏ cấu tạo của
một vật, hoặc một cấu trúc đề xuất, thường là trên một quy mô nhỏ hơn so với bản
gốc [16].
Theo Chevallard (1989), ông đưa ra khái niệm mô hình là một mẫu, một đại
diện, một minh họa được thiết kế để mô tả cấu trúc của hệ thống, cách vận hành của
một hoặc các sự vật hiện tượng thuộc hệ thống. Người ta thường sử dụng khái niệm
mô hình với hai nghĩa khác nhau: Theo nghĩa thứ nhất, mô hình là một bản sao, một
ví dụ, có những tính chất đặc trưng cho sự vật gốc mà mô hình đó biểu diễn; theo
nghĩa thứ hai, thì mô hình là một

biểu diễn cho các phần quan trọng của một hệ

thống (có sẵn hoặc sắp được xây dựng) với mục đích nghiên cứu hệ thống đó [15].
* Mô hình NLKH: Mô hình NLKH có thể được hiểu là một đại diện thu nhỏ
của một hệ thống canh tác NLKH, có những thành phần cây trồng được bố trí theo
không gian và thời gian giống với hệ thống, có thể đã có sẵn hoặc sắp được xây
dựng với mục đích nghiên cứu hệ thống đó.
1.2.1.2.

Đặc điểm chung của hệ thống nông lâm kết hợp

Hệ canh tác sử dụng đất được gọi là nông lâm kết hợp cần có các đặc điểm
sau:
-

Hệ thống NLKH thường gồm hai hay nhiều hơn hai loài thực vật (có thể cả
thực vật và động vật) trong đó có ít nhất phải có một loài cây trồng lâu năm.

-

Có ít nhất hai hay nhiều hơn sản phẩm từ hệ thống.

-

Chu kỳ sản xuất thường dài hơn là một năm.

-

Đa dạng hơn về sinh thái (cấu trúc và chức năng) và về kinh tế so với canh
tác độc canh.

-

Cần phải có mối quan hệ tương hỗ có ý nghĩa giữa các thành phần cây lâu
năm và các thành phần khác.

-

Trong các hệ thống nông lâm kết hợp sự hiện diện của các mối quan hệ tương
hỗ bao gồm về sinh thái và kinh tế giữa các thành phần của hệ thống là đặc


điểm cơ bản.
Theo Nair (1987) [17], các đặc điểm mấu chốt của hệ thống nông lâm kết
hợp đã được đa số các nhà khoa học chấp nhận như sau: Nó là tên chung để chỉ các
hệ thống sử dụng đất bao gồm việc trồng cây lâu năm kết hợp với hoa màu và gia
súc trên cùng một đơn vị diện tích; Phối hợp giữa sự sản xuất các loại sản phẩm với
việc bảo tồn các nguồn tài nguyên cơ bản của hệ thống; Chú trọng sử dụng loài cây
bản địa đa tác dụng; Hệ thống đặc biệt thích hợp cho hoàn cảnh dễ bị thoái hóa và
đầu tư thấp; Quan tâm nhiều hơn về các giá trị nhân sinh xã hội so với các hệ thống
sử dụng đất khác; Cấu trúc và chức năng của hệ thống phong phú đa dạng hơn so với
canh tác độc canh.
Tóm lại, nông lâm kết hợp với sự phối hợp có suy tính giữa các thành phần
khác nhau của nó đã mang đến cho các hệ thống sản xuất nông nghiệp các điểm
chính sau:
-

Tạo nên một hệ thống quản lý đất đai bền vững.

-

Gia tăng năng suất và dịch vụ trên một đơn vị diện tích sản xuất.

-

Sắp xếp hoa màu canh tác phù hợp giữa các thành phần cây lâu năm, hoa
màu và/hoặc vật nuôi theo không gian trên cùng một diện tích đất.

-

Đóng góp vào phát triển cho các cộng đồng dân cư về các mặt dân sinh, kinh
tế và hoàn cảnh sinh thái mà vẫn tương thích với các đặc điểm văn hóa xã hội
của địa phương.

-

Kỹ thuật mang đậm nét bảo tồn những yếu tố sinh thái môi trường.

1.2.2.

Tình hình nghiên cứu và phát triển NLKH trên thế giới

Canh tác cây thân gỗ kết hợp với cây trồng nông nghiệp trên cùng một đơn vị
diện tích là tập quán sản xuất lâu đời của nhân dân ở nhiều nơi trên thế giới. Chính
vì vậy khó có thể xác định một cách chính xác thời điểm mà tại đó cội nguồn của các
hệ thống NLKH ra đời.
Như vậy sự hình thành các hệ thống NLKH cận đại gắn liền với sự
hình
thành và phát triển của hai ngành khoa học Nông học và Lâm học. Theo King (1978)
cho đến thời trung cổ ở Châu Âu vẫn tồn tại một tập quán phổ biến là chặt và đốt rồi


sau đó tiếp tục trồng cây thân gỗ cùng với cây nông nghiệp hoặc sau khi thu hoạch
cây nông nghiệp. Hệ thống canh tác này tồn tại ở Phần Lan cho đến thế kỷ 19 và
được duy trì ở một số vùng của Đức đến tận năm 1920 (Dẫn theo Vũ Biệt Linh và
Cs (1995) [7].
Vùng nhiệt đới của nước Mỹ nhiều tổ chức đã áp dụng điều kiện của rừng
nhằm đạt được những ảnh hưởng có lợi của hệ sinh thái rừng, một thời gian dài ở
Trung Mỹ đã tồn tại một phương thức truyền thống là trồng trung bình 24 loài cây
trên khoảng đất lớn hơn 10 ha. Họ trồng tầng trên cùng là dừa, tầng dưới là cam,
quýt, một tầng cây thấp hơn là Cà phê hoặc Ca cao, cây mùa vụ có Ngô, Lạc,... và
cuối cùng lớp mặt đất được che phủ bằng các loài cây thấp, có thân bò như: Bí, Dưa
chuột,.. Đây là hệ thống kết hợp thân thiện của nhiều loài cây, mỗi tầng cây có cấu
trúc riêng, ngoại hình tấng thứ giống như rừng hỗn giao nhiệt đới.
Vùng Châu Á, người Hunnunoo ở Philippin có kinh nghiệm sử dụng phương
pháp du canh một cách kinh tế. Ở những nơi chặt rừng để canh tác nông nghiệp
người ta cân nhắc kỹ lưỡng để lại các cây gỗ nhất định cho tới cuối vụ lúa, nó sẽ tạo
nên sự che bóng nhờ những cây thân gỗ còn lại đó chống được sự phơi nắng thái quá
bề mặt đất. Các cây gỗ là bộ phận không thể thiếu được trong hệ thống canh tác của
người Hununoo và nó có thể được trồng hoặc giữ lại từ rừng cũ, nó còn có tác dụng
cung

cấp gỗ xây dựng, củi đun và mỹ phẩm (Conklin - 1957) [7]. Các

hệ

thống canh tác tương tự còn gặp ở các vùng nhiệt đới ẩm của Châu á, còn ở Châu
Phi có phần khác biệt hơn, ở phía Nam Nigeria người ta trồng Khoai, Ngô, Bí ngô và
Đậu với nhau được sự che chở của tầng cây gỗ (Forde - 1937) [15].
NLKH mang đặc điểm chủ yếu là hệ thống có hai hay nhiều loài cây nhưng ít
nhất phải có một loài cây thân gỗ có chu kỳ kinh doanh dài hơn một năm, sản phẩm
của

hệ thống luôn đa dạng có hai hoặc nhiếu sản phẩm đầu ra. Hệ thống

NLKH dù đơn giản nhất cũng phức tạp hơn hệ thống độc canh về cả phương diện
kinh tế học và sinh thái học. NLKH có vai trò quan trọng hạn chế suy giảm tài
nguyên rừng, bảo vệ và nâng cao độ phì của đất. Chính vì vậy mà ngay từ các kỳ
họp năm 1967 và 1969 của tổ chức lương thực và nông nghiệp thế giới (FAO) đã
quan tâm đền vấn đề này và đi đến một sự thống nhất đúng đắn là áp dụng các biện


pháp NLKH là phương pháp tốt nhất để sử dụng đất rừng nhiệt đới một cách hợp lý,
tổng hợp nhằm giải quyết vấn đề về lương thực, thực phẩm và sử dụng lao động dư
thừa đồng thời thiết lập lại cân bằng sinh thái của môi sinh [3].
Năm 1977, Hội đồng quốc tế về nghiên cứu NLKH được thành lập, năm
1991 đổi thành trung tâm quốc tế nghiên cứu nông lâm kết hợp (ICRAF). Nhờ có sự
quan tâm đầu tư nghiên cứu và tuyên truyền phổ biến thông tin của các tổ chức quốc
tế nên nông lâm kếp hợp có một bước phát triển nhảy vọt trong thời kỳ này. Người
ta đi sâu vào phân loại các phương thức canh tác, điều tra đánh giá, tổng hợp các mô
hình tổ chức xây dựng các mô hình mới phù hợp với từng vùng hình thành các tổ
chức chuyên nghiên cứu tuyển chọn, sưu tầm các loài cây đa tác dụng cây cố định
đạm, cây gỗ củi, cây cho thực phẩm,... Nhiều công trình nghiên cứu đã đi sâu vào sự
ảnh hưởng qua lại của các thành phần trong mô hình NLKH, vòng tuần hoàn dinh
dưỡng khoáng chất trong NLKH.
1.2.3.

Tình hình nghiên cứu và phát triển NLKH ở Việt Nam

Cũng như trên

thế giới từ “NLKH” mới đến với người Việt Nam trong

những năm gần đây nhưng nội dung của phương thức sản xuất này đã được nhân dân
ta áp dụng từ lâu đời và được nhân dân sáng tạo theo nhiều phương thức khác nhau
cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, cũng như phong tục tập quán của cộng đồng.
Các mô hình NLKH có thể gặp cả ở vùng trung du, miền núi. Việc tổng kết đánh giá
trên quan điểm khoa học về NLKH mới được du nhập vào Việt Nam trong mấy năm
gần đây.
Trong chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước về NLKH (CT:0402)
từ 1981 - 1985 do Bộ trưởng bộ Lâm nghiệp Phan Xuân Đợi làm chủ nhiệm đã xúc
tiến một bước quan trọng trong việc tổng kết và xây dựng các mô hình NLKH mới
cho từng vùng, đồng thời nghiên cứu các chính sách có liên quan đến việc phát triển
sản xuất NLKH.
Các nghiên cứu đã làm rõ kinh nghiệm truyền thống hiện có về NLKH trên
từng vùng sinh thái. Với chương trình nghiên cứu NLKH (1981 - 1985) lần đầu tiên
ở Việt Nam việc nghiên cứu đánh giá về NLKH đã được xem xét và thực hiện trên
các quan điểm khoa học đảm bảo lý luận, thực tiễn và đảm bảo tính chặt chẽ dựa


trên các điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của mỗi vùng. NLKH được xem như
một phương án sản xuất chủ yếu để xây dựng các mô hình lâm nghiệp xã hội tại các
địa bàn sản xuất lâm nghiệp quan trọng trong toàn quốc như: Tây Nguyên, Duyên
Hải Trung Bộ, Trung du Miền núi phía Bắc,..
Nhiều vấn đề về cơ cấu cây con nông nghiệp và lâm nghiệp đã được đặt ra ở
vùng đất ngập mặn ven biển, đất phèn, đất dốc,. Vấn đề chế biến, tiêu thụ các sản
phẩm nông lâm được đặt ra cũng như các chính sách nghiên cứu để áp dụng thích
hợp cho từng vùng cụ thể.
Bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, Việt Nam còn được sự giúp đỡ của các tổ
chức quốc tế như FAO đã giúp Việt Nam xây dựng chương trình NLKH (1987 1989) thực hiện ở vùng đất ven biển [3].
Vào tháng 10/1992 với sự hỗ trợ của tổ chức nông, lâm, gỗ củi khu vực châu
á thái bình dương (dự án GCT/RAS - 131 NET), hội thảo quốc gia về NLKH ở khu
vực trung du và miền núi Việt Nam đã được tổ chức tại trường Đại học Lâm Nghiệp
Việt Nam, một trong những nội dung chính của hội thảo là đề cập tới các mô hình
NLKH trên các vùng sinh thái Tây Bắc, Đông Bắc, Duyên hải Miền Trung và Tây
Nguyên, ngoài ra hội thảo cũng đề cập tới một số vấn đề có liên quan đến NLKH.
Từ những năm 1990 trở lại đây Đảng và Nhà nước đã quan tâm đẩy mạnh sản
xuất nông, lâm nghiệp cũng như NLKH cùng sự quan tâm hỗ trợ của các tổ chức
quốc tế. Nhiều mô hình NLKH có hiệu quả kinh tế cao đã được tổng kết, hoàn thiện
và từng bước nhân rộng. Theo báo cáo của Hoàng Hoè tại hội nghị NLKH vùng
châu Á Thái Bình Dương 1990 ở Việt Nam có thể kể tới một số mô hình sau đây:
* Phương thức du canh du cư:
Người Gia Lai và Ê Đê ở Tây Nguyên chặt phá và đốt lớp thực vật che phủ ở
những nơi có tầng đất màu mỡ, sau khi canh tác nông lâm từ một đến hai năm họ
chuyển đi nơi khác sau 10 đến 15 năm họ quay trở lại sản xuất,
Người Mường ở Hoà Bình và Thanh Hoá có truyền thống phát quang rừng
sau đó trồng hạt xoan, tiếp đó họ đốt lớp thực bì đã phát quang nhằm mục đích kích
thích sự nảy mầm của hạt xoan, sau đó họ trồng lúa nương. Sau 3 vụ thu cây xoan đã
lớn người ta không thể tiếp tục trồng lúa nữa mà để các cây trong họ tre nứa mọc tự
nhiên. Sau 10 năm họ quay lại khai thác để làm tiếp luân kỳ 2.


Người Dao ở Thanh Hoá, Lào Cai, Yên Bái có truyền thống trồng lúa nương,
sắn, quế trong 3 năm đầu, cây lúa nương và cây sắn đáp ứng nhu cầu lương thực cho
người

dân trồng quế vừa có tác dụng bảo vệ đất trong những năm rừng quế

chưa khép tán. Các mô hình NLKH ở Đồng bằng: ở đây nhân dân ta thường trồng
một số đai rừng phòng hộ đồng ruộng, các đai rừng này vừa có tác dụng ngăn gió
bão vừa có tác dụng cung cấp một số lượng của cải đáng kể cho nhu cầu địa phương
Mô hình kinh tế VAC: Đây là mô hình đã được tuyên truyền phổ biến ở Việt Nam
trong vài thập kỷ qua, ngày nay đang được phát triển trên quy mô rộng hơn.
Mô hình VAC thể hiện rõ tính NLKH ở vùng trung du miền núi thông qua mối quan
hệ giữa phát triển vườn rừng, chăn nuôi, ao cá. Mối quan hệ qua lại của 3 thành
phần trong cùng một hệ thống đã làm nâng cao năng suất của hệ thống và cả tính ổn
định của nó.
Các mô hình NLKH trên đất dốc: Các hệ thống NLKH được chia thành hai
nhóm chính đó là [14].
Nhóm 1. Các hệ thống nông lâm kết hợp truyền thống. Đây là các hệ thống
được phát triển, tích lũy kinh nghiệm qua nhiều thế hệ được kiểm nghiệm qua thời
gian. Hình thức canh tác này được phổ biến ở các cộng đồng người dân sống gần
rừng hay ngay tại rừng. Nói cách khác hệ thống NLKH truyền thống là các kiểu
canh tác được phát triển bởi chính người dân địa phương. Nhiều kỹ thuật NLKH đã
được đúc kết tồn tại và thử nghiệm bởi người nông dân qua hàng năm. Các hệ thống
NLKH truyền thống ở vùng núi Việt Nam gồm mấy dạng sau:
Thứ nhất: Hệ thống hoang hóa/nương rẫy cải tiến. Hình thức lâu đời này
nhằm khắc phục các ảnh hưởng tiêu cực của canh tác nương rẫy liên tục, tạo điều
kiện để rừng phục hồi độ phì của đất. Mấu chốt của sự bền vững của kỹ thuật canh
tác này là thời gian ngừng canh tác để đất được phục hồi, họ thường lui tới nương bỏ
hóa để thu hái các sản phẩm trên đất bỏ hóa; như ở Tây Nguyên, người dân thường
coi nơi rẫy bỏ hóa như là nơi dự trữ rau, củi đun, trái cây, lương thực, thuốc chữa
bệnh,... Khi mật độ dân cư còn thưa thớt, đất đai canh tác nhiều thì thời gian nghỉ đất
dài. Trong bối cảnh hiện nay, dân số đông cộng với chính sách giao đất, giao rừng
đến hộ nông dân đã hạn chế phần nào đất canh tác của người dân địa
phương. Để khắc phục tình trạng thiếu đất, ở nhiều nơi đồng bào đã trồng các loài


cây cải tạo đất trong giai đoạn bỏ hóa. Nhiều nơi chính quyền địa phương có sáng
kiến quy hoạch vùng sản xuất canh tác nương rẫy như ở Nghệ An, Sơn La,... chính
quyền địa phương cùng nông dân chia đất canh tác ra nhiều lô để trông luân canh
cây hoa màu và các cây cải tạo đất. Thời gian canh tác từ 2 - 5 năm phụ thuộc vào số
lô luân canh, tổng diện tích đất canh tác và khả năng sinh trưởng của cây cải tạo đất.
Thứ hai: Hệ thống rừng và ruộng bậc thang. Hệ thống rừng và lúa trồng theo
ruộng bậc thang tồn tại từ rất lâu đời ở Việt Nam, được áp dụng một số nơi ở miền
núi phía Bắc và miền núi Trung Bộ. Kỹ thuật này hạn chế việc xói mòn và chủ động
được lượng nước tưới, hệ thống này đóng vai trò quan trọng trong việc giữ nước và
điều hòa nước, cung cấp nước cho các ruộng bậc thang, chống sạt lở. Ngoài ra nó
còn cung cấp nguồn lâm sản cho nhân dân.
Thứ ba: Hệ canh tác nương rẫy tổng hợp. Đây là hình thức canh tác phổ biến
của nông hộ các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc và cộng đồng dân cư khác sống ở
ven thung lũng, với ba nhân tố cơ bản là luân canh rừng - rẫy trên sườn dốc, canh tác
lúa nước dưới thung lũng kết hợp với chăn nuôi gia súc và thu hái các lâm sản phụ
từ rừng.

Hệ thống này tỏ ra khá bền vững khi mật độ dân số tăng cao đến

khoảng 100 người/1km2.
Thứ tư: Hệ canh tác vườn nhà truyền thống. Vườn nhà truyền thống là một
trong những hình thức nông lâm kết hợp phổ biến ở các vùng nông thôn khắp cả
nước. Trong vườn nhà các cây lâu năm, cây ngắn ngày, vật nuôi và thủy sản kết hợp
hài hòa tận dung có hiệu quả khả năng sản xuất của đất, không gian trên mặt đất
được tận dụng triệt để và phát huy một cách tối đa thời gian và nguồn lao động trong
gia đình để sản xuất lương thực, thực phẩm và tạo nguồn thu nhập cho gia đình.
Thứ năm: Hệ canh tác vườn rừng. Đây là những khu đất được sử dụng để
trồng cây lâm nghiệp và cây ăn quả theo hướng thâm canh để cung cấp nhiều loại
sản phẩm có giá trị hàng hóa cao. Tùy theo điều kiện sinh thái, tập quán và kinh
nghiệm truyền thống

của

từng vùng, cũng

trường mà người

như

nhu cầu

thi

dân

chọn những loài cây phù hợp như Tre Diễn ở Phú Thọ, Luồng ở Thanh Hóa, Hòa
Bình; Quế ở Yên Bái, Thanh Hóa; Trám ở Phú Thọ,... Tầng thấp thường trồng kết
hợp để tận dụng đất đai và năng lượng mặt trời, sản xuất thêm lương thực ngắn


ngày (như lúa, ngô, sắn, đậu, đỗ,...), cây dược liệu (gừng, nghệ, sả,...).
Ngoài ra còn có hệ thống canh tác vườn cây công nghiệp, vườn cây ăn quả,
hệ thống Vườn - Ao - Chuồng (VAC); hệ thống Rừng - Vườn - Ao - Chuồng
(RVAC), hệ thống Rừng - Hoa màu - Lúa nước .
Nhóm thứ hai đó là các hệ thống NLKH cải tiến. Các hệ thống NLKH cải
tiến thường được tiến hành phát triển và giới thiệu một vùng nào đó do các nhà kỹ
thuật bên ngoài vì vậy nó khác với hệ thống truyền thống được phát triển do chính
người dân sáng tạo ra. Các hệ thống cải tiến thường đơn giản hơn về số loài cây
trồng cũng như mứcđộ đa dạng sinh học so với truyền thống. Đây là hệ thống kỹ
thuật sử dụng đất mới ở Việt Nam trong thời gian gần đây. Hiện nay ở Việt Nam có
rất nhiều hệ thống NLKH cải tiến đã và đang được giới thiệu và áp dụng trên nhiều
vùng đất dốc khác nhau của cả nước như: Hệ thống canh tác xen theo băng, hệ thống
đai phòng hộ chắn gió,.... Ngày 19/02/2013 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn đã ký quyết định phê duyệt dự án: “Xây dựng các thử nghiệm nông lâm
kết hợp tại tỉnh Sơn La, Điện Biên và Yên Bái” trong khuôn khổ dự án NLKH cho
sinh kế các nông hộ nhỏ vùng Tây Bắc Việt Nam do Trung tâm Nông lâm Thế giới
(ICRAF) tài trợ.

Với mục tiêu là cải thiện hiệu quả của các hệ thống

canh tác của nông hộ nhỏ tại khu vực Tây Bắc kết hợp nhằm tăng gia sản lượng của
các cây ngắn ngày và vật nuôi kết hợp hướng đến các hệ thống sản xuất bền vững,
đa dạng hơn và đem lại lợi nhuận tốt hơn từ cây.
1.2.4.

Vài nét về tình hình nghiên cứu và phát triển các MH NLKH tại

điểm nghiên cứu
Sơn La là một tỉnh miền núi có khoảng 10% diện tích canh tác nông nghiệp
có độ dốc dưới 15%. Chính bởi vậy, người dân ở Sơn La, hầu hết phải canh tác sản
xuất nông nghiệp ở nhiều diện tích có độ dốc lớn hơn 15% thậm chí có những nơi
người dân phải canh tác ở vùng đất có độ dốc 20%, 25% như huyện Bắc Yên, Sông
Mã, các xã vùng cao thuộc các huyện Thuận Châu, Mường La v.v...Với tập quán
canh tác truyền thống đó là trồng độc canh cây trồng trên một diện tích. Biểu hiện rõ
nhất là cây Ngô, Lúa, Sắn v.v. Do canh tác độc canh cây ngô nên đất canh tác ngày
càng bị xói mòn và rửa trôi, năng suất các loại cây trồng ngày càng giảm, khả năng
cân

bằng về sự bền vững giữa nhu cầu sản xuấtcủa người dân và với tài


nguyên đang có nguy cơ tạo ra một khoảng cách khá xa: Tài nguyên đất bị mất dần
đi khó khôi phục lại, còn việc làm, thu nhập của người dân càng bị thu hẹp và khó
khăn hơn. Chính bởi vậy, việc tìm ra các mô hình sản xuất nông lâm thích hợp ở
vùng đất dốc là sự cần thiết không chỉ mang giá trị trước mắt mà nó còn mang ý
nghĩa lâu dài cho tương lai phát triển mang tính bền vững đã được Trung tâm Khoa
học Lâm nghiệp Tây Bắc, triển khai các hoạt động nghiên cứu lồng ghép với các dự
án khoa học, để giúp bà con nông dân thực hiện mô hình canh tác trên đất dốc:
Huyện Mai Sơn cũng là một địa phương có diện tích tự nhiên lớn, đất đai
mầu mỡ thích hợp trồng cây ăn quả và cây công nghiệp dài ngày và vùng này cũng
được người dân chú ý đưa nhiều loại cây màu vào trồng và trồng xen canh. Ở những
vùng có độ

dốc lớn, đất đai nghèo nàn đã được Trung tâm Khuyến nông

Quốc gia hỗ trợ một số địa phương trong tỉnh và huyện Mai Sơn thực hiện mô hình
trồng 30 ha trồng cây Bạch đàn xen đậu tương, lạc. Những năm đầu bạch đàn chưa
khép tán, trồng xen đậu đỗ, lạc vừa tăng thêm thu nhập vừa có tác dụng cải tạo đất,
tăng lượng mùn, tăng độ phì nhiêu của đất cho quá trình cây bạch đàn sinh trưởng và
phát triển. Thành công bước đầu của dự án đã giúp nông dân biết quy hoạch, bố trí
cây trồng hợp lý bảo đảm canh tác bền vững trên đất dốc, góp phần chống xói mòn
đất và bảo vệ môi trường. Hiện nay, MH vẫn đang tiếp tục được theo dõi, đánh giá,
rút kinh nghiệm để nhân rộng trên địa bàn trong thời gian tới, tạo việc làm, tăng thu
nhập cho người dân. Năm 2013 Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp Tây Bắc (Thuộc
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) đã xây dựng mô hình trồng xen cây họ đậu
và cà phê vào mô hình trồng cây Mắc ca tại một số điểm thuộc xã Chiềng Mung, Cò
Nòi. Trồng xen ngô với nhãn ghép trên đồi có độ dốc hơn 15% tại bản Sài Lương xã
Chiềng Chăn. Đó là những mô hình được xem là một giải pháp hiệu quả để dần phá
vỡ hệ

thống độc canh ngô trên đất dốc của huyện Mai Sơn, giúp

người dân nâng cao thu nhập cho người dân, đa dạng hoá cây trồng, bảo vệ môi
trường sinh thái. Từ khi được lựa chọn xây dựng mô hình thí nghiệm trồng xen cây
cà phê và cây họ

đậuvới cây Mắc ca, một số hộ gia đình đã bước đầu có được

những kết quả đáng mừng khi năng suất và sản lượng của các loại hàng nông sản có
chất lượng và giá cả ổn định. Tuy nhiên các mô hình khảo nghiệm này cần phải theo
dõi chặt chẽ đảm bảo tính bền vững về mặt kinh tế cho người nông dân. Đặc biệt là


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×