Tải bản đầy đủ

Luận văn đánh giá ảnh hưởng của một số mô hình sản xuất nông nghiệp đến phát triển kinh tế hộ nông dân tại thành phố thái nguyên, tỉnh thái nguyên

ĐẠIHUỆ
HỌC THÁI NGUYÊN
DƯƠNG THỊ KIM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ MÔ HÌNH
SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ
HỘ NÔNG DÂN TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN,
TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN


DƯƠNG THỊ KIM HUỆ

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ MÔ HÌNH
SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ
HỘ NÔNG DÂN TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN,
TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 60 62 01 16


LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRẦN VĂN ĐIỀN


3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu và kết quả
nghiên cứu trong luận án này là trung thực và chưa từng được dùng để bảo vệ một học vị
nào.
Tôi xin cam

đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc

thực hiện luận án đã

được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc.

Tác giả luận văn

Dương Thị Kim Huệ
LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, em đã nhận được giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô. Em xin bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc đến các thầy cô.
Để hoàn thành luận văn này em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Trần
Văn Điền đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn để em hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Trạm Khuyến nông thành phố Thái Nguyên, Ủy ban
nhân dân thành phố Thái Nguyên, Chi cục thống kê thành phố Thái Nguyên và các cơ quan,
tổ chức, cá nhân đã giúp đỡ tôi về nguồn tư liệu phục vụ cho việc thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn!


4

Tác giả luận văn


Dương Thị Kim Huệ
MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

NTM :

Nông thôn mới

CNH :

Công nghiệp hóa

CN-TTCN :

Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

DTTN :

Diện tích tự nhiên

HĐH :

Hiện đại hóa

KH-CN :

Khoa học công nghệ

MHSXNN :

Mô hình sản xuất nông nghiệp

TP :

Thành phố


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất của thành phố Thái Nguyên qua các năm (20012 -


6
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp

là một ngành sản xuất vật chất chủ yếu, giữ vị trí quan trọng

trong nền kinh tế quốc dân. Nó càng trở nên quan trọng đối với một quốc gia với gần 80%
dân số sống ở nông thôn và gần 70% lao động làm việc trong các ngành thuộc lĩnh vực
nông nghiệp như đất nước Việt Nam ta.
Có thể khẳng định trong quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn, đời sống của
các hộ dân cũng như kinh tế của hộ gia đình giữ vai trò quan trọng không thể thiếu. Xác
định nông dân là lực lượng nòng cốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, dân giàu là
tiêu chí của cuộc sống vật chất. Chính sách của Đảng và Nhà nước ta khuyến khích, tạo
điều kiện để mọi người dân làm giàu, dân có giàu thì nước mới mạnh. Ngày nay để làm
giàu, người dân chắc chắn cần phải dựa vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật, và khả
năng áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào thực tế sản xuất..
đoạn hiện nay, khi

chương

Đặc

trình xây dựng

biệt

trong

giai

nông

thôn mới của Đảng và Nhà nước đang được triển khai thì việc áp dụng các thành tựu khoa
học công nghệ trong phát triển nông nghiệp và nông thôn được coi là giải pháp có hiệu quả
và thực sự cần thiết.
Xây dựng nông thôn mới (NTM) không chỉ là xây dựng cơ sở hạ tầng, những công
trình công cộng...mà phải tạo được sự thay đổi ở mỗi hộ gia đình từ nhà cửa, vườn tược
thậm chí thay đổi cả từ nhà vệ sinh của người dân nông thôn. Khi đó, chúng ta sẽ thay đổi
được nếp sống của mỗi gia đình, mỗi xóm bản theo hướng tích cực. Nhìn tổng thể, xây
dựng NTM không chỉ làm thay đổi về hạ tầng cơ sở mà còn tạo sự chuyển biến trong tư
duy, nhận thức của người dân, đó chính là vấn đề lâu dài và rất quan trọng. Phát triển nông
nghiệp trong điều kiện hiện nay không thể theo cách thức đã làm trong quá khứ, mà cần có
những nghiên cứu đưa ra giống mới, phù hợp với tái cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Bên cạnh
đó những biện pháp canh tác mới cũng cần phải tương thích với những thay đổi trong quy
trình công nghệ.
Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ứng dụng các giống
cây trồng, vật nuôi mới đã đóng góp 30% sản lượng của các ngành sản xuất trong nông


7

nghiệp Việt Nam. Những năm qua, với việc tích cực xây dựng các mô hình sản xuất nông
nghiệp gắn với chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nhiều địa phương đã có bước chuyển rõ rệt
trên cả lĩnh vực kinh tế và đời sống xã hội. Trong sản xuất nông nghiệp, đối với thành phố
Thái Nguyên, việc triển khai xây dựng nông thôn mới đã có những kết quả nhất định. Các
mô hình sản xuất nông nghiệp được xây dựng và triển khai nhằm thay đổi tập quán canh tác
cũ của người dân, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới trong sản xuất nông nghiệp
giúp chuyển dịch cơ cấu cây trồng nhằm nâng cao giá trị hàng hoá, tăng năng suất, chất
lượng sản phẩm, giải phóng sức lao động đồng thời tăng thu nhập cho người dân. Những
mô hình sản xuất nông nghiệp đã có những ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, kinh tế
người dân nông thôn. Việc tìm hiểu, đánh giá ảnh hưởng của các mô hình sản xuất nông
nghiệp là rất cần thiết để đề xuất các giải pháp cho chương trình mục tiêu quốc gia xây
dựng NTM, chuyển dịch cơ cấu cây trồng. Chính vì những lý do trên mà tôi lựa chọn luận
văn nghiên cứu là: “Đánh giá ảnh hưởng của một số mô hình sản xuất nông nghiệp đến
phát triển kinh tế hộ nông dân tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.

Mục tiêu tổng thể
Đánh giá ảnh hưởng của một số mô hình sản xuất nông nghiệp đến phát triển kinh

tế hộ nông dân trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao
mức độ ảnh hưởng và mở rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp tốt góp phần đẩy nhanh
tiến độ xây dựng và phát triển nông thôn mới tại Thành phố Thái Nguyên.

2.2.
-

Mục tiêu cụ thể
Đánh giá được kết quả triển khai các mô hình sản xuất nông nghiệp ở một số xã, phường

có sản xuất nông nghiệp tại Thành phố Thái Nguyên.

-

Đánh giá được

mức độ ảnh hưởng của một số mô hình

sản xuất nông

nghiệp đến phát triển kinh tế hộ nông dân trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

-

Đề xuất một số giải pháp phát triển mở rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp có hiệu quả
góp phần xây dựng phát triển nông thôn mới.

3. Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài
3.1.

Ý nghĩa khoa học


8

Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa khoa học là góp phần hệ thống hóa một số
vấn đề về lý luận và thực tiễn cơ bản về mô hình sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng của một
số mô hình nông nghiệp đến phát triển kinh tế hộ nông dân.

3.2.

Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu có thể giúp cho Thành phố, tỉnh Thái Nguyên có cơ sở khoa

học về xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp.
Luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng các mô hình sản xuất nông
nghiệp tại TP Thái Nguyên thời gian tới, có ý nghĩa thiết thực cho quá trình phát
triển kinh tế - xã hội TP Thái Nguyên và đối với các địa phương có điều kiện tương
tự.


Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1.
1.1.1.
1.1.1.1.

Cơ sở lý luận
Mô hình sản xuất nông nghiệp
Khái niệm mô hình
Thực tiễn hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội rất phong phú, đa dạng và phức

tạp, người ta có thể sử dụng nhiều công cụ và phương pháp nghiên cứu có những ưu thế
riêng được sử dụng trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Mô hình là một trong những
phương pháp nghiên cứu được sử dụng rộng rãi, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu khoa
học theo cách tiếp cận khác nhau thì mô hình có những quan niệm, nội dung và cách hiểu
riêng, góc độ tiếp cận về mặt vật lý thì mô hình là vật cùng hình dạng nhưng thu nhỏ lại.
Theo Trung tâm từ điển học (1997)[17] khi tiếp cận sự vật để nghiên cứu thì coi mô hình là
sự mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật thể trình bày và nghiên cứu. Theo Paul và
Wiliam (1989)[18] khi mô hình hóa đối tượng nghiên cứu thì mô hình sẽ được trình bày
đơn giản về một vấn đề phức tạp giúp cho ta sẽ nhận biết được đối tượng nghiên cứu. Mô
hình còn được coi là ảnh quy ước của đối tượng nghiên cứu và còn là kiểu mẫu về một hệ
thống các mối quan hệ hay tình trạng kinh tế.
Như vậy mô hình có thể có các quan niệm khác nhau, sự khác nhau đó tùy thuộc
vào góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu, nhưng khi sử dụng mô hình người ta đều có
chung một quan điểm là dùng để mô phỏng đối tượng nghiên cứu. Dương Văn Hiểu (2011)
[5] Mô hình là hình mẫu để mô phỏng hoặc thể hiện đối tượng nghiên cứu,
diễn đạt hết

sức ngắn gọn,

được

phản ánh những đặc trưng cơ

bản nhất và giữ nguyên được bản chất của đối tượng nghiên cứu.

1.1.1.2.

Khái niệm về mô hình sản xuất nông nghiệp
Mô hình sản xuất: Sản xuất là một hoạt động có ý thức, có tổ chức của con người

nhằm tạo ra của cải vật chất cho xã hội bằng những tiềm năng, nguồn lực và sức lao động
của chính mình. Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh sự phát triển của
các công cụ sản xuất-yếu tố không thể thiếu được cấu thành trong nền sản xuất. Từ những
công cụ thô sơ, công cụ thường nay thay vào đó là các công cụ sản xuất hiện đại, công dụng


đa năng, đã thay thế một phần rất lớn cho lao động sống và lam giảm hao phí về lao động
sống trên một đơn vị sản phẩm.
Mô hình canh tác là mẫu canh tác, thể hiện sự kết hợp của các nguồn lực trong điều
kiện canh tác cụ thể, nhằm đạt được mục tiêu về sản phẩm và lợi ích kinh tế.
Mô hình trình diễn là một nội dung của dự án khuyến nông được thực hiện nhằm áp
dụng các tiến bộ khoa học công nghệ hoặc tiến bộ về quản lý có quy mô phù hợp để làm
mẫu nhân ra diện rộng.

1.1.2.

Các nguồn lực tham gia trong mô hình sản xuất nông nghiệp
Để phát

triển được mô hình sản xuất nông nghiệp

thì các ngành

sản

xuất,
triển khai cần
doanh. Đối với

quan tâm xem xét các
mọi ngành, mọi lĩnh

yếu tố tác động đến quá trình sản xuất, kinh
vực sản xuất, kinh doanh thì các

yếu tố như

điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, trình độ kỹ thuật, lực lượng lao động, các yếu tố đầu vào,
đầu ra... là những yếu tố tác động trực tiếp đến kết quả, hiệu quả kinh tế của quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh. Với sản xuất nông nghiệp c ũ ng v ậ y, các yếu tố tác động đến
việc phát triển mô hình sản xuất được thể hiện:

-

Yếu

tố

về con

người: Đây là nhân tố quan trọng bậc

nhất ảnh hưởng đến

hoạt động sẩn xuất nông nghiệp. Họ sẽ quyết định đến việc có tiếp thu những tiến bộ của
khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất để mang lại hiệu quả kinh tế, cũng như hiệu quả xã
hội cao nhất.

-

Điều kiện tự nhiên:
Với sản

xuất nông nghiệp đặc điểm nổi bật nhất là điều kiện tự nhiên,
đó

chính là đất đai, thời tiết, khí hậu, thủy văn... Do đó, muốn phát triển sản xuất nông nghiệp
thì cần phải hiểu rõ điều kiện tự nhiên của vùng sản xuất, để tạo tiền đề cho việc bố trí cây
trồng, vật nuôi đưa vào sản xuất sao cho phù hợp.

-

Nhóm yếu tố về điều kiện kinh tế - xã hội
Sản xuất nông nghiệp chịu sự chi phối của các quy luật như quy luật cung cầu, các
chính sách của nhà nước... và chịu tác động của rất nhiều yếu tố đầu vào, quy mô sản
xuất,

các nguồn lực như đất đai, lao động, vốn sản xuất, thị trường,


kinh nghiệm sẩn xuất, tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất...
+ Nguồn lực: Nguồn lực hiểu theo nghĩa rộng là tiềm năng phục vụ cho sản xuất:
vốn, lao động, tri thức, khả năng tổ chức, điều kiện tự nhiên.
về lao động:
công cụ

Lao động là hoạt động có mục đích của con người thông qua

lao động tác động lên đối tượng

lao động. Tuy nhiên, lao

động của các

nông hộ có đông về số lượng nhưng về cơ bản vẫn là lao động thủ công, năng suất lao động
thấp, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật và kiến thức kinh doanh theo cơ chế thị trường
vẫn còn hạn chế. Để phát triển sản xuất nông nghiệp yêu cầu trước mắt và lâu dài là phải
bồi dưỡng một đội ngũ lao động có chất lượng cao phù hợp với tình hình mới.
Trình độ kinh nghiệm của người dân trong sản xuất nông nghiệp. Đối với các giống
cây trồng đòi hỏi sự chăm sóc kịp thời và đúng quy trình kỹ thuật mới làm năng suất tăng,
chất lượng tốt. Nếu hộ dân có trình độ, nhận thức, có kinh nghiệm sẽ lựa chọn được giống
cây trồng, biện pháp canh tác, sử dụng phân bón một cách hợp lý. Ngược lại hộ dân có trình
độ, nhận thức tấp, thiếu kinh nghiệm trong sản xuất sẽ không nắm bắt được kỹ thuật áp
dụng sẽ cho kết quả và hiệu quả thấp.
+Yếu tố thị trường:
Thị trường luôn là khâu cuối cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đặc điểm
của sản xuất nông nghiệp nên yếu tố này ngày càng quan trọng, nó ảnh hưởng đến quyết
định có sản xuất nữa hay không của người sản xuất, hay nó tác động trực tiếp đến hiệu quả
kinh tế của ngành
- Nhóm yếu tố kỹ thuật
Giống: Giống là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất. Ngày
nay, với trình độ khoa học phát triển, ngày càng có nhiều giống tốt đưa vào sản xuất. Tuy
nhiên, ngoài việc được hướng dẫn cụ thể về quá trình sản xuất thì người dân cũng cần phải
có một trình độ nhất định để khai thác có hiệu quả các loại giống tốt, thích nghi với điều
kiện sản xuất cụ thể.
Thời vụ: Đối với các loại cây trồng đều có đặc điểm sinh trưởng và quy luật phát
triển riêng. Thời vụ gieo trồng được xác định trong quá trình sản xuất. Lịch gieo trồng được
nghiên cứu trên cơ sở kết hợp giữa quy luật sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Như
vậy để nâng cao hiệu quả của mô hình sản xuất nông nghiệp, người nông dân không chỉ biết


có chăm sóc đầy đủ, hợp lý mà còn phải biết bố trí cơ cấu giống cây trồng mùa vụ thích
hợp.
Kỹ thuật chăm sóc: Đối với các mô hình sản xuất nông nghiệp, kỹ thuật chăm sóc là
yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm. Người sản xuất phải
tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật (Nguyễn Thị Nhàn (2009) [8].

1.1.3.
1.1.3.1.
-

Phát triển kinh tế hộ nông dân
Khái niệm hộ, hộ nông dân

Khái niệm hộ
Trong một số từ điển ngôn ngữ học cũng như một số từ điển chuyên ngành kinh tế,
người ta định nghĩa về “hộ” như sau: “Hộ” là tất cả những người sống chung trong một ngôi
nhà và nhóm người đó có cùng chung huyết tộc và người làm công, người cùng ăn chung.
Thống kê Liên Hợp Quốc cũng có khái niệm về “Hộ” gồm những người sống chung dưới
một ngôi nhà, cùng ăn chung, làm chung và cùng có chung một ngân quỹ.
Năm 1981, Haris (London-Anh) trong tác phẩm của mình cho rằng: “ Hộ là một
đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động” và trên góc độ ngày, nhóm các đại biểu thuộc trường
phái “Hệ thống Thế giới” (Mỹ) là Smith (1985-Martin và Beitell (1987), theo Trần Đức
Viên (1995) [24] có bổ sung thêm: “Hộ là một đơn vị đảm bảo quá trình tái sản xuất nguồn
lao động thông qua việc tổ chức nguồn thu nhập chung

-

Khái niệm hộ nông dân
Về hộ nông dân, Frank Ellis (1988) [25] định nghĩa : “Hộ nông dân là các hộ gia
đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ
yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống
kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có
xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”.
Trần Đức Viên (1995) [24]cho rằng: “Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định”
và ông coi

“hộ nông dân là

đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển

nông nghiệp”.
Luận điểm trên của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách nông nghiêp tại
nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển.
Chính vì vậy, cải cách kinh tế ở một số nước những thập kỷ gần đây đã thực sự coi


hộ nông dân là đơn vị sản xuất tự chr và cơ bản, từ đó đã đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh
trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm nông dân. Theo Lê Đình Thắng
(1993) [10] cho rằng: Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông
nghiệp và nông thôn. Đào Thế Tuấn (1997) [12]cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ
yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá, và hoạt động
phi nông nghiệp ở nông thôn”. Theo Nguyễn Sinh Cúc (2001) [4] cho rằng: “Hộ nông
nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc
gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông,
giống cây trồng, bảo vệ thực vật...) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông
nghiệp”.
Như vậy có thể khái quát khái niệm hộ nông dân:

-

Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp,
nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông. Ngoài hoạt động nông nghiệp, hộ
nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp (như tiểu thủ công nghiệp, thương
mại, dịch vụ,.) ở các mức độ khác nhau.

-

Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu
dùng. Như vậy hộ nông dân không thể là một đơn vị kinh tế độc lập tuyệt đối và toàn năng,
mà còn phải phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân. Khi trình
độ phát triển lên mức cao của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thị trường, xã hộ càng mở
rộng và đi vào chiều sâu, thì các hộ nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ thống
kinh tế rộng lớn không chỉ trong phạm vi một vùng, một nước. Điều này càng có ý nghĩa
đối với các hộ nông dân nước ta trong tình hình hiện nay.

1.1.3.2.

Kinh tế hộ
Kinh tế nông hộ là đơn vị sản xuất tiêu dùng của nền kinh tế nông thôn. Kinh tế

nông hộ chủ yếu dựa vào lao động gia đình để khai thác đất và các yếu tố khác nhằm đạt
thu nhập thuần cao nhất. Kinh tế nông hộ là đơn vị kinh tế tự chủ, căn bản dựa vào sự tích
lũy, tự đầu tư để sản xuất kinh doanh nhằm thoát khỏi nghèo đói và vươn lên giàu có, từ tự
cung tự cấp vươn lên sản xuất hàng hóa gắn với thị trường.
Frank Ellis (1988) [25] đưa ra một số định nghĩa về nông dân, nông hộ. Theo ông
các đặc điểm đặc trưng của đơn vị kinh tế mà chúng phân biệt gia đình nông dân với những


người làm kinh tế khác trong một nền kinh tế thị trường là: Thứ nhất, đất đai: Người nông
dân với ruộng đất chính là một yếu tố hơn hẳn các yếu tố sản xuất khác vì giá trị của nó; nó
là nguồn đảm bảo lâu dài đời sống của gia đình nông dân trước những thiên tai. Thứ hai, lao
động: Sự tín nhiệm đối với lao động của gia đình là một đặc tính kinh tế nổi bật của người
nông dân. Người “lao động gia đình” là cơ sở của các nông trại, là yếu tố phân biệt chúng
với các xí nghiệp tư bản. Thứ ba, tiền vốn và sự tiêu dùng: Người ta cho rằng: “người nông
dân làm công việc của gia đình chứ không phải làm công việc kinh doanh thuần túy” nó
khác với đặc điểm chủ yếu của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm chủ vốn đầu tư vào tích
lũy cũng như khái niệm hoàn vốn đầu tư dưới dạng lợi nhuận. Từ những đặc trưng trên có
thể xem kinh tế hộ gia đình nông dân là một cơ sở kinh tế có đất đai, các tư liệu sản xuất
thuộc sở hữu của hộ gia đình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất và
thường là nằm trong một hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu được đặc trưng bởi sự
tham gia cục bộ vào các thị trường có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao.
Tóm lại trong nền kinh tế hộ gia đình nông dân được quan niệm trên các khía cạnh: Hộ gia
đình nông dân (nông hộ) là đơn vị xã hội làm cơ sở cho phân tích kinh tế; các nguồn lực
(đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao động...) được góp thành vốn chung, cùng
chung một ngân sách; cùng chung

sống dưới

một

mái nhà,

ăn

chung,

mọi người đều hưởng
phần thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý kiến chung của các thành viên là người lớn
trong hộ gia đình. Gia đình (family) là một đơn vị xã hội xác định với các mối quan hệ họ
hàng, có cùng chung huyết tộc. Trong nhiều xã hội khác nhau các mối quan hệ họ hàng xây
dựng nên một gia đình rất khác nhau. Gia đình chỉ được xem là hộ gia đình (Household) khi
các thành viên gia đình có cùng chung một cơ sở kinh tế (Frank Ellis (1988) [25].
Kinh tế nông hộ là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu
dùng.
Kinh tế nông hộ ở nông thôn hoạt động sản xuất nông lâm thủy sản gắn với đất đai,
điều kiện thủy văn, thời tiết khí hậu và sinh vật. Bên cạnh đó kinh tế nông hộ có hoạt động
phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau.
Kinh tế nông hộ là đơn vị kinh tế tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao về sản xuất và tiêu


dùng, căn bản dựa trên cân bằng nguồn lực sản xuất và nhu cầu tiêu dùng của gia đình.
Kinh tế nông

hộ từ tự cấp đến sản xuất hàng hóa, từ chổ chỉ có quan hệ với

tự nhiên, đến chổ có quan hệ xã hội.
Nền tảng tổ chức căn bản của kinh tế nông hộ vẫn là định chế gia đình với sự bền
vững vốn có.
Với lao động gia đình, đất đai được sử dụng nối tiếp qua nhiều thế hệ gia đình, với
tài sản và vốn sản xuất chủ yếu của gia đình,của quan hệ gia tộc, quan hệ huyết thống, kinh
tế nông hộ không thay đổi về bản chất, không bị biến dạng cả khi nó được gắn với khoa học
kỹ thuật và công nghệ hiện đại gắn với thị trường để phát triển.
Như vậy, kinh tế nông hộ có khả năng tồn tại và phát triển qua nhiều chế độ xã hội
khác nhau. Do đó kinh tế nông hộ vẫn tồn tại và phát triển ngay trong các nước tư bản phát
triển mà không biến dạng thành doanh nghiệp tư bản và hình thức hợp tác xã kiểu cũ ra đời
trong hợp tác hoá, tập thể hoá lại không thể tồn tại.

1.1.3.4.

Nội dung phát triển kinh tế hộ
Quan điểm để phát triển kinh tế nông hộ mang tính bền vững là khái niệm động,

gắn liền với phạm vi thời gian và không gian nhất định. “Phát triển kinh tế nông hộ không
tách rời phát triển bền vững nông thôn, cần đảm bảo nhu cầu hiện tại không làm giảm khả
năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ sau”. Đứng trên quan điểm tiếp cận hệ thống trong phát
triển nông thôn có những chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững, hợp lý.
Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ
nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng lên về quy mô sản lượng và tiến bộ mọi mặt của xã
hội hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý. Kinh tế hộ nông dân là một thành phần của kinh tế
nông nghiệp, do đó có thể hiểu rằng phát triển kinh tế hộ
nông dân chính là quá trình tăng trưởng về sản xuất, gia tăng về thu nhập, tích lũy của kinh
tế hộ nông dân, làm cho kinh tế nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung đi
lên.

a. Phát triển qui mô các yếu tố sản xuất của kinh tế hộ nông dân Các yếu tố sản xuất chủ yếu
của kinh tế hộ nông dân bao gồm: đất đai, vốn, lao động. Phát triển các yếu sản xuất là


nhằm gia tăng qui mô đất đai tính trên hộ nông dân (hoặc tính trên 1 lao động); gia tăng vốn
đầu tư cho sản xuất của hộ, gia tăng số lượng lao động.

b. Nâng cao trình độ

sản xuất của chủ hộ - Trình độ

của chủ hộ bao gồm

trình độ học vấn và kỹ năng lao động. Người lao động phải có trình độ học vấn và kỹ năng
lao động để tiếp thu những tiến hộ khoa học kỳ thuật và kinh nghiệm sản xuất tiên tiến.
Trong sản xuất, phải giỏi chuyên môn, kỹ thuật, trình độ quản lý mới mạnh dạn
dụng

áp

thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm mang lại lợi

nhuận cao. Điều này là rất quan trọng, ảnh 11 hưởng trực tiếp đến kết quả trong sản xuất
kinh doanh của hộ, ngoài ra còn phải có những tố chất của một người dám làm kinh doanh.

c. Gia tăng kết quả sản xuất của kinh tế hộ Kết quả sản xuất của kinh tế hộ biểu hiện ở đầu ra
của kinh tế hộ như: Sản lượng hàng hóa nông sản, giá trị tổng sản lượng, giá trị sản lượng
hàng hóa, doanh thu... Kết quả này có được nhờ sự kết hợp các yếu tố nguồn lực
động,

vốn, đất đai, trình độ

lao

sản xuất của chủ hộ và sự lựa

chọn phương án sản xuất kinh doanh như chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp, mở rộng
thị trường tiêu thụ nông sản cho hộ nông dân ...

d. Nâng cao thu nhập, đời sống và tích lũy của kinh tế hộ Phát triển kinh tế hộ cuối cùng phải
có tác động tích cực đến thu nhập các hộ nông dân, phải làm gia tăng thu nhập bình quân
của hộ nông dân, gia tăng mức sống, thỏa mãn các điều kiện sống cơ bản như nhà ở, điện,
nước sạch, nhà vệ sinh. và ngày càng gia tăng mức tích lũy của hộ.
- Các chỉ tiêu phản ánh phát triển của kinh tế hộ nông dân
Chỉ tiêu phản ánh các yếu tố sản xuất chủ yếu của hộ nông dân bao gồm: Đất đai
bình quân l hộ, l lao động, 1 nhân khấu; vốn sản xuất bình quân 1 hộ và cơ cấu vốn theo
tính chất vốn; lao động bình quân 1 hộ, lao động bình quân/người tiêu dùng bình quân.
Chỉ tiêu đánh giá trình độ sản xuất của hộ nông dân bao gồm các chỉ tiêu phản ánh
về chủ hộ, về điều kiện sản xuất, phương hướng sản xuất.
Chỉ tiêu
môn nghiệp vụ,

phản ánh về chủ hộ nông dân: Trình độ
kinh nghiệm

học vấn, trình độ chuyên

sản xuất, khả năng tiếp thu khoa

học kỳ thuật,

khả

năng tiếp cận thị trường, độ tuổi bình quân, giới tính.
Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất của hộ nông dân: Sản lượng hàng hóa; gía trị sản


xuất; giá trị sản lượng hàng hóa; doanh thu...
Chỉ tiêu phản ánh thu nhập, đời sống và tích lũy của hộ nông dân bao gồm: tổng thu
nhập của hộ, thu nhập bình quân người/ tháng; tổng chi tiêu trong năm; cơ cấu chi tiêu
trong năm; chi đời sống; chi tiêu bình quân người / tháng; chi đời sống bình quân người
/tháng. tỷ lệ thặng dư và tích luỹ của hộ.

1.1.4.
1.1.4.1.

Những lý luận cơ bản về khuyến nông
Khái niệm khuyến nông
Khuyến nông là một thuật ngữ khó định nghĩa một cách chính xác vì khuyến nông

được tổ chức bằng nhiều cách khác nhau, để phục vụ nhiều mục đích rộng rãi. Có nhiều
quan niệm và định nghĩa về khuyến nông như sau:

-

Khuyến nông là khuyên mở mang phát triển trong nông nghiệp.

-

Khuyến nông là phương pháp động, nhận thông tin có lợi tới người dân và giúp họ thu được
những kiến thức, kỹ năng và những quan điểm cần thiết nhằm sử dụng có hiệu quả thông tin
hoặc kỹ thuật này.

-

Khuyến nông là sự giao tiếp thông tin tỉnh táo nhằm giúp nông dân hình thành các ý kiến
hợp lý và tạo ra các quyết định đúng đắn.

-

Khuyến nông được xem như một tiến trình của việc hòa nhập các kiến thức khoa học kỹ
thuật hiện đại, các quan điểm, kỹ năng để quyết định việc gì cần làm, cách thức làm trên cơ
sở cộng đồng địa phương sử dụng các nguồn tài nguyên tại chỗ với sự trợ giúp bên ngoài để
vượt qua những trở ngại.

-

Khuyến nông là làm việc với nông dân, lắng nghe những khó khăn, nhu cầu và giúp họ tự
quyết định giải quyết vấn đề chính của họ.
Tóm tắt và hiểu khuyến nông theo 2 nghĩa:
+ Theo nghĩa rộng, khuyến nông là khái niệm chung để chỉ tất cả những hoạt động
hỗ trợ sự nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn. Nghĩa là hướng dẫn cho nông dân tiến
bộ kỹ thuật mới, giúp họ liên kết với nhau để chống thiên tai, tiêu thụ sản phẩm, hiểu biết
các chính sách pháp luật, giúp nông dân phát triển khả năng tự quản lý, điều hành, tổ chức
các hoạt động xã hội cho ngày càng tốt hơn.
+ Theo nghĩa hẹp, khuyến nông là một tiến trình giáo dục không chính thức mà đối
tượng của nó là nông dân, nhằm đem đến những thông tin và lời khuyên cho nông dân, giúp


họ giải quyết những vấn đề khó khăn trong cuộc sống. Khuyến nông hỗ trợ phát triển các
hoạt động sản xuất, nâng cao hiệu quả canh tác, cải thiện chất lượng cuộc sống của nông
dân. Khuyến nông giúp phổ biến, mở rộng các kết quả nghiên cứu tới nông dân để họ có thể
áp dụng nhằm thu được nhiều sản phẩm hơn.
Trên cơ sở đúc kết hoạt động khuyến nông ở Việt Nam, chúng ta có thể định nghĩa
về khuyến nông như sau:
Khuyến nông là cách đào tạo và rèn luyện tay nghề cho nông dân, đồng thời giúp
cho họ hiểu được những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ
thuật, kinh nghiệm quản lý, những thông tin thị trường, để họ có đủ khả năng giải
quyết được các vấn đề

của gia đình và

cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản

xuất, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn
(Nguyễn Văn Long (2006) [7].

1.1.4.2.

Nguyên tắc hoạt động của khuyến nông
Theo Nghị định 02/2010/NĐ-CP ngày 08/01/2010 của Chính phủ về khuyến nông,

nguyên tắc hoạt động khuyến nông như sau:

-

Xuất phát từ nhu cầu của nông dân và yêu cầu phát triển nông nghiệp của Nhà nước.

-

Phát huy vai trò chủ động, tích cực và sự tham gia tự nguyện của nông dân trong hoạt động
khuyến nông.

-

Liên kết chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, cơ sở nghiên cứu khoa học, các doanh nghiệp với
nông dân và giữa nông dân với nông dân.

-

Xã hội hóa hoạt động khuyến nông, đa dạng hóa dịch vụ khuyến nông để huy động nguồn
lực từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia hoạt động khuyến nông.

-

Dân chủ, công khai, có sự giám sát của cộng đồng.
-Nội dung, phương pháp khuyến nông phù hợp với từng vùng, miền, địa bàn và
nhóm đối tượng nông dân, cộng đồng dân tộc khác nhau.
Như vậy, để hoạt động có hiệu quả, cần chú ý một số nguyên tắc chung
Khuyến nông là cùng làm với dân, không làm thay cho dân, không áp đặt, không
mệnh lệnh
Chỉ có bản thân người nông dân mới có thể quyết định được phương thức canh tác


trên mảnh đất của họ, cán bộ khuyến nông không thể quyết định thay cho nông dân. Cán bộ
khuyến nông cần cung cấp thông tin, trao đổi, thảo luận, hướng dẫn, bàn bạc với nông dân
trên cơ sở điều kiện cụ thể của nông trại, từ đó khuyến khích họ tự đưa ra quyết định cho
mình. Cán bộ khuyến nông cần tìm hiểu cặn kẽ những yêu cầu, nguyện vọng của người dân
trong sản xuất nông nghiệp, đưa ra những kỹ thuật, phương pháp canh tác phù hợp để họ tự
cân nhắc, lựa chọn. Vụ này chưa áp dụng vì họ thấy chưa đủ điều kiện, chưa thật tin tưởng
nhưng đến vụ sau, thông qua một số hộ đã áp dụng mô hình khuyến nông thành công, lúc
đó họ sẽ tự áp dụng.
Khuyến nông là một công việc đầy trách nhiệm
Một mặt, khuyến nông phải tuân theo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng
và nhà nước trong khi thực hiện nhiệm vụ. Mặt khác, khuyến nông phải có trách nhiệm với
dân trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, là người phục vụ tận tụy của nông dân. Nông
dân có quyền đánh giá hiệu quả của hoạt động khuyến nông. Tính hiệu quả của hoạt động
khuyến nông trước hết được đánh giá trên cơ sở đường lối, chính sách phát triển nông thôn
hoặc chương trình khuyến nông của nhà nước có được thực hiện tốt hay không, thu nhập và
cuộc sống của nông dân có phải nhờ công tác khuyến nông mà được cải thiện hay không?
Do đó, các chương trình khuyến nông phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của nông dân nói
riêng và nhu cầu phát triển nền kinh tế nông thôn nói chung. nhiệm vụ của người cán bộ
khuyến nông là thỏa mãn hài hòa hai nhu cầu đó.
Khuyến nông là nhịp cầu cho thông tin hai chiều
Khuyến nông là nhịp cầu vừa chuyển giao kiến thức khoa học kỹ thuật của các cơ
quan nghiên cứu đến cho nông dân, vừa tiếp nhận thông tin của nông dân chuyển đến các
cơ quan nghiên cứu.
Thông tin hai chiều sẽ xảy ra trong những trường hợp sau:

-

Do tiếp xúc thường xuyên với nông dân, cán bộ khuyến nông có thể hiểu rõ hơn những vấn
đề canh tác và những khó khăn của nông dân. Vì vậy có thể giúp những người làm nghiên
cứu tiếp xúc trực tiếp với nông dân để đảm bảo chắc chắn đề xuất của những người làm
nghiên cứu luôn phù hợp với nhu cầu của nông dân.

-

Khuyến nông giúp những người làm nghiên cứu tiến hành các thực nghiệm trên đất đai của


nông dân để có thể đánh giá đúng hiệu quả của nó, một khuyến cáo mới có thể tốt trong khu
vực thí nghiệm nhưng chưa chắc đã có hiệu quả trên đất đai của nông dân.

-

Đôi khi người nông dân có thể phát hiện ra những vấn đề còn bỏ sót trong quá trình nghiên
cứu. Những phát hiện này rất có ích nếu như được cán bộ khuyến nông phản ánh kịp thời
cho người làm nghiên cứu để điều chỉnh hoặc bổ sung.
Khuyến nông hợp tác với những tổ chức phát triển nông thôn khác
Khuyến nông chỉ là một trong nhiều hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và chính trị
của sự nghiệp phát triển nông thôn. Khuyến nông phải phối hợp với các tổ chức khác với
mục đích hỗ trợ nông dân. Đó là những tổ chức:

-

Chính quyền địa phương: chính quyền và lãnh đạo địa phương rất nhiệt tình
với công tác khuyến

nông. Do đó, khuyến nông

cần hợp tác để dễ dàng tiếp cận

nông dân và đạt được hiệu quả cao hơn.

-

Các tổ chức dịch vụ: khuyến nông cần phối hợp các tổ chức dịch vụ nông nghiệp để tạo
điều kiện cho những dịch vụ đó được cung cấp đầy đủ, đúng lúc, đúng chỗ theo nhu cầu của
nông dân.

-

Các cơ quan y tế: mục đích làm cho các chương trình khuyến nông luôn phù hợp với nhu
cầu y tế của địa phương.

-

Các tổ

chức

quần chúng như Hội phụ nữ,

Hội nông dân, Hội cựu chiến

binh, Đoàn thanh niên,... và các tổ chức phi chính phủ Việt Nam hoặc quốc tế đang hoạt
động tại địa bàn. Đây là những tổ chức có cùng mục tiêu giáo dục với khuyến nông. Khi
phối hợp với họ, khuyến nông có thể giúp đỡ họ phát triển những chương trình hành động
mang tính cộng đồng. Hai bên cần biết được việc làm của nhau trong công
tránh

hiện tượng

lặp

lại

những việc

người

đồng

để

khác đang làm và

phối hợp hài hòa các chương trình phát triển nông thôn khác nhau.
Khuyến nông làm việc với các đối tượng khác nhau
Ở nông thôn, không phải mọi hộ nông dân đều có những vấn đề như nhau. Vì vậy
không

thể có một chương trình khuyến

nông duy nhất cho tất cả mọi người.

Cần xác định những nhóm nông dân có tiềm năng và lợi ích khác nhau để phát triển những
chương trình khuyến nông phù hợp với điều kiện của từng nhóm (Nguyễn Văn Long (2006)


[7].

1.1.4.3.
-

Mục tiêu của khuyến nông

Nâng cao nhận thức về chủ trương, chính sách, pháp luật, kiến thức, kỹ năng về khoa học
kỹ thuật, quản lý, kinh doanh cho người sản xuất.

-

Góp

phần thúc đẩy chuyển

dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn;

nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, phát triển sản xuất theo hướng bền vững, tạo việc
làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp và nông thôn.

-

Huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia khuyến nông.

1.1.4.4.
-

Chức năng của khuyến nông

Đào tạo, tập huấn nông dân: tổ chức các khóa tập huấn, xây dựng mô hình, tham quan, hội
thảo đầu bờ cho nông dân.

-

Thúc đẩy, tạo điều kiện cho người nông dân đề xuất các ý tưởng, sáng kiến và thực hiện
thành công các ý tưởng sáng kiến của họ. Phát triển các hình thức liên kết hợp tác của nông
dân nhằm mục tiêu phát triển nông lâm nghiệp và nông thôn.

-

Trao đổi truyền bá thông tin: bao gồm việc xử lý, lựa chọn các thông tin cần thiết, phù hợp
từ các nguồn khác nhau để phổ biến cho nông dân giúp họ cùng nhau chia sẻ và học tập.

-

Giúp nông dân giải quyết các vấn đề khó khăn tại địa phương: tạo điều kiện giúp họ có thể
phát hiện, nhận biết và phân tích được các vấn đề khó khăn trong sản xuất, đời sống và bàn
bạc cùng nông dân tìm biện pháp giải quyết. Trên cơ sở cùng cộng đồng dân cư phân tích
thực trạng địa phương, xây dựng kế hoạch, thực hiện các chương trình khuyến nông phù
hợp, đáp ứng được nhu cầu và lợi ích của nhiều người dân trong cộng đồng.

-

Giám sát và đánh giá hoạt động khuyến nông: đây là một nội dung rất quan trọng, nếu làm
tốt được công việc giám sát đánh giá, có nghĩa là chúng ta đã cụ thể hóa được quan điểm
của Đảng và Nhà nước về công tác dân chủ ở cơ sở: "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
tra, dân quản lý và hưởng thụ".

-

Phối hợp với nông dân tổ chức các thử nghiệm phát triển kỹ thuật mới, hoặc thử nghiệm
kiểm tra tính phù hợp của kết quả nghiên cứu trên hiện trường, từ đó làm cơ sở cho việc
khuyến khích lan rộng.


-

Hỗ trợ nông dân về kinh nghiệm quản lý kinh tế hộ gia đình, phát triển sản xuất quy mô
trang trại.

-

Tìm kiếm và cung cấp cho nông dân các thông tin về giá cả, thị trường tiêu thụ sản phẩm.

1.1.4.5.
-

Nội dung của hoạt động khuyến nông

Thông tin, tuyên truyền: chủ trương, chính sách, pháp luật, tiến bộ khoa học công nghệ,
thông tin

thị trường, giá cả, các kinh nghiệm

sản xuất, các gương sản

xuất giỏi, phát hành các ấn phẩm khuyến nông...

-

Bồi

dưỡng,

tập huấn, đào tạo: tập huấn tiến bộ kỹ thuật

mới, bồi dưỡng

nâng cao kiến thức, tổ chức tham quan học tập kinh nghiệm, hội thảo đầu bờ, đào tạo
nghề...

-

Xây dựng mô hình và chuyển giao khoa học công nghệ: xây dựng các mô hình trình diễn
phù hợp với địa phương, các mô hình công nghệ cao, chuyển giao kết quả khoa học công
nghệ từ các mô hình trình diễn ra diện rộng.

-

Tư vấn và dịch vụ: tư vấn, hỗ trợ về chính sách, pháp luật, về khoa học công nghệ... Dịch
vụ cung ứng vật tư kỹ thuật, xét nghiệm bệnh...

-

Hợp tác quốc tế về khuyến nông: tham gia các chương trình khuyến nông trong các hợp tác
quốc tế và trao đổi kinh nghiệm khuyến nông (Nguyễn Văn Long (2006) [7].

1.2.
1.2.1.
-

Cơ sở thực tiễn
Quá trình phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam

Thời kỳ Pháp thuộc: Ở thời kỳ này tuyệt đại bộ phận nông dân đi theo làm thuê cho địa chủ,
một bộ phận rất ít nông dân sản xuất hàng hoá nhỏ theo kiểu cổ truyền với kinh nghiệm và
kỹ thuật thô sơ.

-

Từ năm 1955-1959: Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng Đảng và Nhà nước ta đã thực
hiện chính sách cải cách ruộng đất với mục đích: “ Người cày có ruộng”. Chính nhờ cải
cách ruộng đất cùng với công tác khuyến nông đã làm cho kinh tế nông hộ có điều kiện phát
triển.

-

Từ 1981-1987: Chỉ thị 100 CT/TW được Ban bí thư Trung ương Đảng ban hành, quyết định
thực hiện chế độ khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động, đời sống nhân
dân phần nào được cải thiện, tích luỹ cho hợp tác xã. Đây có thể nói là bước đầu cho sự đổi
mới.

-

Từ năm 1988 đến nay: Ngày 5/5/1988 Bộ chính trị và Ban chấp hành trung


uơng Đảng đã ban hành nghịu quyết 10 về: “ Đổi mới quản lý kinh tế trong nông nghiệp
nông thôn”. Công

nhận kinh tế hộ là kinh tế cơ bản trong sản xuất nông

nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Hộ gia đình đựoc giao quyền sử dụng đất lâu dài, hộ trở
thành đơn vị kinh tế độc lập. Tháng 8/2008 Bộ chính trị ban hành nghị quyết Trung ương 7
về nông nghiệp nông thôn với 3 chương trình quốc gia gồm:
Xây dựng nông thôn mới, đào tạo nguồn nhân lực và chương trình mục tiêu thích
ứng với sự biến đổi khí hậu.. .Hàng loạt những chính sách đổi mới đó đã tạo được động lực
thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển. Đưa nước ta trở thành nước xuất khẩu nông sản với số
lượng lớn.
Nông nghiệp là ngành cổ truyền của dân tộc Việt nam, dĩ nông vi bản là vậy, cha
ông chúng ta bao đời làm nông mà nuôi sống bản thân, xây dựng đất nước. Ngày nay trên lộ
trình công nghiệp hoá thì nông nghiệp đứng vị trí thứ yếu trong ưu tiên phát triển, có các
nhà khoa học nghiên cứu còn cho rằng chúng ta đang hi sinh nông nghiệp nhằm phục vụ
mục tiêu công nghiệp hoá, như Liên xô và Trung quốc trước đây, sẽ dẫn đến những tác hại
khó lường trước đây. Và vấn đề này nổi trội nhất ở các mặt: ô nhiễm môi trường, đất canh
tác bị thu hẹp (chủ yếu là do công nghiệp hoá, do xây dựng sân gôn và chuyển đổi mục đích
sử dụng từ đất nông nghiệp sang các loại đất khác), cũng như đời sống và thu nhập người
nông dân vẫn bị chê là thấp, bị xem là ở hố ngăn cách giàu nghèo: Một nhà miền Trung 5
sào lúa, thu nhập bình quâ trên vụ khoảng trên dưới 1 triệu đồng, cà phê 1 ha thu hoạch 3
tấn, giá 25 triệu đồng/tấn vị chi là 75 triệu đồng.
Việt nam với khoảng 70% dân số ở khu vực nông nghiệp, nông thôn, phần lớn các
mặt hàng xuất khẩu trong lĩnh vực nông nghiệp như cao su, cà phê, gạo,.. .Trong những
năm qua kim ngạch xuất khẩu nông sản chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng kim ngạch xuất
nhập khẩu của Việt Nam (Dương Công Tùng (2012), [13].

1.2.2.

Thực trạng phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
Ngày 5 tháng 12 năm 2014, tại Hà Nội, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia tổ chức

Hội nghị giao ban khuyến nông toàn quốc năm 2014 với chủ đề "Đổi mới hoạt động khuyến
nông phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới". Hội nghị nhằm
đánh giá công tác khuyến nông giai đoạn 2011 - 2014 và định hướng đổi mới khuyến nông
giai đoạn 2015 - 2020.


Phan Huy Thông (2014) [11] báo cáo trình bày tại hội nghị đã khái quát tình hình
hoạt động khuyến nông sau 20 năm xây dựng và phát triển hệ thống khuyến nông đã không
ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng; tích lũy nhiều kinh nghiệm, phương pháp
hoạt động tốt; lực lượng khuyến nông ngoài nhà nước, bao gồm khuyến nông của các doanh
nghiệp... cũng từng bước phát triển góp phần đa dạng hóa nguồn lực và phương pháp
khuyến nông. Nhiều kỹ thuật công nghệ, mô hình quản trị nông nghiệp tiên tiến, các
phương pháp khuyến nông hiện đai được giới thiệu và ứng dụng nhanh vào sản xuất, tạo
điều kiện đổi mới nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động khuyến nông. Trong giai đoạn
2011 - 2014, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan nghiên
cứu, đào tạo ở trung ương và hệ thống khuyến nông địa phương đẩy mạnh hoạt động đào
tạo, tập huấn với các hình thức đa dạng, phong phú, bình quân mỗi năm tổ chức khoảng 250
- 300 lớp tập huấn ToT;

tổ chức bồi dưỡng

cấp chứng chỉ "Kỹ năng dạy học" cho

trên 5.000 cán bộ khuyến nông. Hệ thống khuyến nông địa phương tổ chức khoảng 31.260
lớp tập huấn cho khoảng 1,3 triệu lượt nông dân, 2.200 cuộc hội nghị, hội thả o đầu bờ, gần
400 đoàn nông dân tham quan trao đổi kinh nghiệm...
Trong những năm qua, hoạt động thông tin tuyên truyền khuyến nông bám sát các
chủ trương định hướng của ngành, thực tế sản xuất và nhu cầu của nông dân, thường xuyên
đổi mới về nội dung và hình thức, ứng dụng công nghệ thông tin tạo sức lan tỏa và
hiệu quả rõ rệt. Từ năm 2013 đến nay, thực hiện Đề án tái cơ cấu
ngành nông nghiệp của chính phủ, hoạt động thông tin tuyên truyền đã tập trung vào các nội
dung phục vụ tái cơ cấu ngành và xây dựng nông thôn mới; tăng cường sự phối hợp tham
gia của các cơ quan nghiên cứu, đào tạo chuyển giao tiến bộ kỹ thuật thông qua các sự kiện
khuyến nông, chuyên mục tư vấn trên truyền thanh, truyền hình, internet, xây dựng tài liệu
và ấn phẩm khuyến nông. Ở địa phương đã có các hình thức tuyên truyền khuyến nông sáng
tạo và hiệu quả như: Câu lạc bộ khuyến nông, tủ sách khuyến nông, điểm tư vấn, hỏi đáp
khuyến nông và quán "cà phê khuyến nông" tại Tiền Giang, Đồng Tháp, An Giang; "Nhịp
cầu khuyến nông" trên truyền hình tại Long An, Vĩnh Long và Cần Thơ.
Trong 4 năm qua, triển khai tích cực và có hiệu quả các dự án khuyến nông về xây
dựng mô hình trình diễn và nhân rộng các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới góp phần chuyển
đổi cơ cấu sản xuất, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, tăng giá trị thu nhập, tăng


hiệu quả kinh tế xã hội và môi trường trên phạm vi rộng. Một số dự án khuyến nông tiêu
biểu có hiệu quả cao được mở rộng nhanh ra sản xuất và tạo
lan tỏa nhanh

như:

Dự án phát

sự chuyển biến

có sức

triển sản xuất

giống lúa lai F1 trong nước; Dự án cơ giới hóa đồng bộ trong sản xuất lúa; Dự án áp dụng 3
giảm 3 tăng và kỹ thuật canh tác lúa cải tiến (SRI) nhằm nâng cao hiệu quả và góp phần
giảm phát thải khí nhà kính; Dự án phát triển kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và vỗ béo bò; Dự án
phát triển chăn nuôi trâu sinh sản, chăn nuôi lợn gia cầm, thủy cầm an toàn...;
phát

triểnnuôi tôm nước lợ,

cá rô phi đơn

Dự án

tính đực theo

VIETGAP; ứng dụng thiết bị khai thác và công nghệ bảo quản sản phẩm tiên tiến trên tàu
đánh bắt xa bờ...
Năm 2015 và những năm tiếp theo, hệ thống khuyến nông cả nước cần quán triệt,
bám sát chủ trương và định hướng tái cơ cấu ngành, các chương trình, đề án trọng điểm của
ngành nông nghiệp và Phát triển nông thôn để tham mưu, đề xuất các nội dung, dự án
khuyến nông phục vụ trực tiếp cho các chương trình, đề án đó (Phan Huy Thông (2014)
[11].

1.2.3.
1.2.3.1.

Chính sách của Đảng, Nhà nước
Chính sách

của Đảng và Nhà nước về phát

triển kinh tế hộ và xây dựng

nông thôn mới
Kinh tế hộ gia đình là một lực lượng sản xuất quan trọng ở nông thôn Việt Nam. Hộ
gia đình nông thôn

thường sản xuất, kinh doanh

đa dạng, kết hợp trồng

trọt với chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh ngành nghề phụ. Sớm nhận thức rõ
vai trò của nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong quá trình đổi mới và phát triển đất
nước, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách

về

nông nghiệp, tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình phát triển. Từ khi thực hiện Nghị quyết
10 của Bộ Chính trị khóa VI (1988), hộ nông dân đã thực sự được trao quyền tự chủ trong
sản xuất, và do đó đã khơi dậy nhiều nguồn lực và tiềm năng để kinh tế hộ gia đình phát
triển; người nông dân gắn bó với ruộng đất hơn, chủ động đầu tư vốn để thâm canh tăng
vụ, ruộng

đất được sử dụng tốt hơn... Nghị

quyết Trung

ương 6 lần 1 (khoá VIII) với chủ trương tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước,


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×