Tải bản đầy đủ

THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH hải PHÒNG

Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng

BỘ CÔNG THƯƠNG
TỔNG CÔNG TY CP ĐIỆN TỬ VÀ TIN HỌC VIỆT NAM
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ VIETTRONICS

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN DU LỊCH HẢI PHÒNG.

Người hướng dẫn
Đơn vị
Sinh viên thực hiên
Lớp
Ngành

: Ths.Nguyễn Thị Huệ.
: Khoa Quản Trị Kinh Doanh.
: Đặng Thị Thùy Trang.
: 2vh10.
: Việt Nam Học


Hải Phòng, tháng 6 năm 2015
Sinh viên: Đặng Thị Thùy Trang
Lớp: 2VH10

1


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng

LỜI CẢM ƠN
Để bài khóa luận tốt nghiệp được hoàn thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn
chân thành và sâu sắc tới tới sự động viên, giúp đỡ nhiệt tình của Ban Giám
Hiệu Trường Cao Đẳng Công Nghệ Viettronics và thầy cô giáo trong khoa quản
trị kinh doanh, cũng như các thầy cô giáo bộ môn đã dạy dỗ và giúp đỡ em trong
quá trình học tập.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo Nguyễn Thị Huệ
người đã trực tiếp hướng dẫn, nhiệt tình giúp đỡ, động viên em trong suốt quá
trình làm khóa luận này.
Xin cảm ơn sự hỗ trợ nhiệt tình, giúp đỡ, động viên của toàn thể bạn bè,
người thân trong suốt quá trình làm khóa luận này.
Mặc dù đã có những cố gắng song khóa luận không thể tránh khỏi những
thiếu sót. Kính mong quý thầy giáo, cô giáo cùng toàn thể bạn bè góp ý để đề tài
được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hải Phòng, tháng 6 năm 2015
Sinh viên

Đặng Thị Thùy Trang

Sinh viên: Đặng Thị Thùy Trang
Lớp: 2VH10

2


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng

MỤC LỤC


Sinh viên: Đặng Thị Thùy Trang
Lớp: 2VH10

3


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng

LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài.
Du lịch đang trở thành một trong những ngành kinh tế tổng hợp phát triển
nhanh nhất, lớn nhất trên bình diện thế giới, góp phần đặc biệt quan trọng vào sự
phát triển và thịnh vượng của nhiều quốc gia. Đặc biệt, đối với các nước đang
phát triển, du lịch được coi là ngành kinh tế trọng yếu, góp phần thúc đẩy các
ngành kinh tế khác phát triển, tăng thu ngoại tệ, tạo nhiều việc làm và nâng cao
mức sống của người dân. Phát triển du lịch là một trong những công cụ xóa đói,
giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế.
Ở nước ta hiện nay, du lịch đang trở thành ngành kinh tế quan trọng trong
chiến lược phát triển kinh tế xã hội, góp phần tích cực vào quá trình đổi mới và
hội nhập quốc tế.
Nước ta là một nước ven biển, có điều kiện tự nhiên và nguồn tài nguyên
thiên nhiên đa dạng và phong phú, là một trong những nước có tiềm năng lớn về
du lịch.
Cùng sự lớn mạnh của du lịch cả nước, du lịch Hải Phòng đã có sự phát
triển mạnh mẽ, trở thành một trong những trung tâm du lịch lớn hiện nay. Hải
Phòng là thành phố nằm trong tam giác tăng trưởng kinh tế quan trọng của khu
vực phía Bắc. Hải Phòng nằm ở vị trí giao lưu thuận lợi với các tỉnh trong nước
và quốc tế thông qua hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển,
đường sông và đường hàng không, có nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn
hết sức đa dạng và phong phú.
Những năm gần đây, Hải Phòng luôn là một điểm đến lý tưởng để du
khách trong và ngoài nước có cơ hội khám phá những nét độc đáo về du lịch
sinh thái. Sản phẩm tour du lịch của Hải Phòng ngày càng đa dạng và lôi cuốn,
với hệ thống biển, đảo, di tích đền miếu và lễ hội truyền thống, tài nguyên di sản
văn hoá…
Tuy nhiên, Du lịch Hải Phòng còn không ít hạn chế và yếu kém. Đó là
chưa khai thác hết tiềm năng, lợi thế, hoạt động du lịch chủ yếu còn dựa trên cơ
sở khai thác nguồn tài nguyên có sẵn, không có sự quảng bá tốt, thiếu những sản
Sinh viên: Đặng Thị Thùy Trang
Lớp: 2VH10

4


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng

phẩm du lịch độc đáo, thu hút và huy động vốn đầu tư vào lĩnh vực du lịch còn
khiêm tốn… Lực lượng lao động du lịch vừa thiếu, vừa yếu ở hầu hết các lĩnh
vực kỹ thuật, nghiệp vụ, công tác quản lý du lịch.
2. Mục đích nghiêm cứu.
Phân tích tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch Hải Phòng.
Đề xuất các định hướng chiến lược và một số giải pháp nhằm phát triển
du lịch Hải Phòng.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Đề xuất các định hướng chiến lược và một số giải pháp nhằm phát triển
du lịch Hải Phòng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Du lịch Hải Phòng
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về tiềm năng và thực
trạng du lịch đang được khai thác trong phạm vi của thành phố Hải Phòng.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu của đề tài.
+ Phương pháp thu thập và xử lí tài liệu.
+ Phương pháp tổng hợp số liệu.
+ Phương pháp nghiên cứu lý thuyết, tập hợp, phân loại, phân tích,
tổng hợp,so sánh... để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của đề tài.
6. Những đóng góp thực tiễn.
Là một sinh viên học ngành Văn hóa du lịch, lại được sinh ra và lớn lên
trên quê hương Hải Phòng, em có điều kiện được phần nào tiếp cận thực tế của
du lịch Hải Phòng, nhận thấy tầm quan trọng của du lịch ở thành phố. Với
những tình cảm tốt đẹp dành cho quê hương, em mong muốn được góp phần nào
đó vào việc xây dựng ngành du lịch Hải Phòng nói riêng và du lịch Việt Nam
nói chung ngày một tốt đẹp hơn. Chính vì vậy mà em đã chọn đề tài “ Thực
trạng và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng” để làm khóa luận tốt nghiệp.
7. Kết cấu đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về Hải Phòng.
Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triền của du lịch Hải phòng.
Sinh viên: Đặng Thị Thùy Trang
Lớp: 2VH10

5


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng

Chương 3: Một số giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HẢI PHÒNG.
1.1.Lịch sử hình thành và phát triển.
Hải Phòng là miền đất cổ với bề dày truyền thống lịch sử, văn hóa, xã hội
lâu đời. Sự hình thành và phát triển của Hải Phòng gắn liền với các chứng tích
của người tiền sử ở di chỉ khảo cổ học Cái Bèo (Cát Bà) thuộc Văn hóa Hạ Long
cách ngày nay khoảng từ 4000 đến 6000 năm với sự hình thành của nền văn
minh sông Hồng thuộc văn hóa Đông Sơn với các chứng tích của con người ở di
chỉ khảo cổ học Tràng Kênh (Thuỷ Nguyên), Núi Voi (An Lão) cách ngày nay
từ 2000 năm đến hơn 3000 năm, với truyền thuyết về tên tuổi của nữ tướng Lê
Chân - người lập Trang An Biên vào đầu Công nguyên - cái nôi hình thành nên
đô thị Hải Phòng ngày nay.
Hải Phòng là địa phương giàu truyền thống cách mạng. Đầu mối giao
thông quan trọng trên đường hàng hải quốc tế và là một trung tâm công nghiệp,
Hải Phòng đã trở thành một trong những cái nôi đánh dấu sự ra đời của giai cấp
công nhân và phong trào công nhân Việt Nam đấu tranh chống lại sự áp bức dân
tộc và giai cấp của thực dân tư bản Pháp. Là một trong những địa phương đầu
tiên của cả nước tiếp nhận và thể nghiệm Chủ nghĩa Mác-Lê nin do lãnh tụ
Nguyễn ái Quốc truyền bá vào trong nước, Hải Phòng có vai trò quan trọng
trong quá trình vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam từ những năm
1925-1930.
Hải Phòng là một trong những trung tâm của phong trào cách mạng cả
nước với các cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939 và 1939-1945. Trong
cao trào kháng Nhật cứu nước, Hải Phòng-Kiến An là nơi phong trào Việt Minh
phát triển mạnh mẽ.
Ngày 20-11-1946, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ ở Hải
Phòng. Đảng bộ, quân và dân Hải Phòng-Kiến An đã tiến hành thành công cuộc
chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện ngay trong vùng địch tạm chiếm sâu,
lập nhiều chiến công xuất sắc. Trong thời gian này, cuộc đấu tranh với địch trên
các mặt trận kinh tế, chính trị diễn ra vô cùng gay go, quyết liệt. Dưới sự lãnh
đạo của Đảng, quân và dân Hải Phòng đã đập tan ý đồ phá hoại thành phố Cảng,
phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ của thực dân Pháp và bọn tay sai, bảo vệ vững
chắc thành phố.
Sinh viên: Đặng Thị Thùy Trang
Lớp: 2VH10

6


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng

Ngày 13/5/1955, bộ đội ta rầm rập tiến vào tiếp quản thành phố. Cả rừng
cờ đỏ sao vàng chiến thắng kiêu hãnh tung bay trên bầu trời Hải Phòng, báo hiệu
một trang sử mới bắt đầu. Ngày 15/5/1955, những tên lính Pháp cuối cùng
xuống tàu tại bến Nghiêng (thuộc quận Đồ Sơn ngày nay) rút khỏi Hải Phòng.
Hải Phòng được giải phóng khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp. Từ ngày
13/5/1955 lịch sử ấy đến nay, Đảng bộ, quân và dân thành phố Hải Phòng đã
liên tục chiến đấu, xây dựng, phát triển, có những đóng góp xứng đáng cùng
toàn Đảng, quân và dân cả nước giành những thắng lợi vĩ đại, có ý nghĩa thời
đại và lịch sử sâu sắc trong thế kỷ thứ XX và trong những năm đầu của thế kỷ
thứ XXI.
Hải Phòng là thành phố duyên hải nằm ở hạ lưu của hệ thống sông Thái
Bình thuộc đồng bằng sông Hồng có vị trí nằm trong khoảng từ 20035’ đến
21001’ vĩ độ Bắc, và từ 106029’ đến 107005’ kinh độ Đông. Phía Bắc và Đông
Bắc giáp Quảng Ninh, phía Tây Bắc giáp Hải Dương, phía Tây Nam giáp Thái
Bình và phía Đông giáp biển Đông với đường bờ biển dài 125km, nơi có 5 cửa
sông lớn là Bạch Đằng, Cửa Cấm, Lạch Tray, Văn Úc và sông Thái Bình.
Diện tích tự nhiên là 1.507,57 km 2. Mật độ dân số là: 1.250 người/km².
Tính đến tháng 12/2011, dân số Hải Phòng là 1.907.705 người, trong đó dân cư
thành thị chiếm 46,1% và dân cư nông thôn chiếm 53,9%, là thành phố đông dân
thứ 3 ở Việt Nam, sau Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
1.2. Khái quát về du lịch Hải Phòng.
Hải Phòng có điều kiện tự nhiên rất phong phú, giàu đẹp, đa dạng và có
nhiều nét độc đáo mang sắc thái của cảnh quan nhiệt đới gió mùa. Nơi đây có
rừng quốc gia Cát Bà - Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới - là khu rừng nhiệt đới
nguyên sinh nổi tiếng, đặc biệt phong phú về số lượng loài động thực vật, trong
đó có nhiều loài được xếp vào loài quý hiếm của thế giới. Đồng thời, nơi đây
còn có cả một vùng đồng bằng thuộc vùng đồng bằng tam giác châu thổ sông
Hồng, tạo nên một cảnh quan nông nghiệp trồng lúa nước là nét đặc trưng của
vùng du lịch ven biển Bắc Bộ và cả một vùng biển rộng với nguồn tài nguyên vô
cùng phong phú, nhiều hải sản quý hiếm và bãi biển đẹp.
Khí hậu của Hải Phòng cũng khá đặc sắc, ôn hoà, dồi dào nhiệt ẩm và
quanh năm có ánh nắng chan hoà tạo điều kiện thuận lợi để thu hút khách từ
khắp mọi nơi.
Sinh viên: Đặng Thị Thùy Trang
Lớp: 2VH10

7


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng

Bờ biển Hải Phòng dài hơn 125 km, với 5 cửa sông lớn: Bạch Đằng, Văn
Úc, Cấm, Thái Bình, Lạch Tray. Địa hình bờ biển khúc khuỷu quanh co, tạo
nhiều đảo, hang động đẹp và rất nhiều những bãi tắm tự nhiên kỳ thú, rất thuận
tiện để phát triển du lịch. Bán đảo Đồ Sơn, quần đảo Cát Bà, khu di tích lịch sử
và danh thắng Tràng Kênh - Bạch Đằng nằm phía Đông Bắc thành phố, khu núi
Voi - An Lão phía Tây Nam thành phố... là những địa danh du lịch nổi tiếng
không chỉ đối với người Hải Phòng, mà còn đối với khách du lịch thập phương.
Hải Phòng là tỉnh có truyền thống văn hóa lâu đời và còn tồn tại rất nhiều
di tích lịch sử, lưu truyền biết bao truyền thuyết dân gian, để lại cho hậu thế
nhiều công trình văn hoá, nghệ thuật có giá trị, các lễ hội gắn với những truyền
thuyết, huyền thoại về lịch sử oanh liệt chống ngoại xâm và cho đến nay nét đẹp
về văn hóa truyền thống không thể thiếu trong các chương trình du lịch của Hải
Phòng. Với hàng trăm Đình, Đền, Chùa, Miếu cùng với những lễ hội truyền
thống đậm đà bản sắc văn hoá miền biển: hội chọi trâu Đồ Sơn, hội đua Thuyền
Rồng ở Cát Bà, hát Đúm ở Thuỷ Nguyên, đánh du ở núi voi - An Lão, múa rối
nước, nghề tạc tượng ở Đồng Minh - Vĩnh Bảo, hội thả Đèn trời... có thể nói Hải
Phòng là một vùng đất có truyền thống lịch sử, văn hoá lâu đời và là thành phố
tiềm ẩn nhiều thế mạnh để phát triển du lịch toàn diện, nhanh và bền vững.
Hải Phòng từ lâu đã nổi tiếng là một cảng biển lớn nhất ở miền Bắc, một
đầu mối giao thông quan trọng với hệ thống giao thông thuỷ, bộ, đường sắt,
hàng không trong nước và quốc tế, là cửa chính ra biển của thủ đô Hà Nội và
các tỉnh phía Bắc.
Nhắc đến du lịch Hải Phòng, hầu hết mọi người đều nghĩ tới đảo Cát Bà
hay bãi biển Đồ Sơn vì Hải Phòng là một trong những thành phố biển lớn nhất
nước ta. Tuy nhiên, ngoài những địa danh đã nổi tiếng từ rất lâu như vậy, du lich
Hải Phòng còn có rất nhiều nét hấp dẫn từ văn hóa, đời sống, cảnh quan thiên
nhiên như vườn quốc gia Cát bà, khu nghỉ dưỡng – sinh thái Đồ Sơn, danh thắng
Tràng kênh, đền Nghè…
1.3. Vai trò, vị trí của Hải Phòng đối với sự phát triển du lịch của quốc gia.
Với vị trí địa lý và hệ thống giao thông quan trọng, thuận lợi và tiềm năng
tài nguyên phong phú cả tự nhiên và nhân văn, Hải Phòng hội tụ đầy đủ mọi
điều kiện thuận lợi và luôn giữ vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển
du lịch nói riêng, kinh tế xã hội nói chung của vùng và của cả nước.
Sinh viên: Đặng Thị Thùy Trang
Lớp: 2VH10

8


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng

Trong hệ thống các tuyến, điểm du lịch trọng điểm quốc gia, Hải Phòng
luôn giữ một vị trí quan trọng, một cực hút và cũng là điểm trung chuyển trên
tuyến du lịch quốc gia và nối với quốc tế. Điều kiện phát triển du lịch của Hải
Phòng cả về đường bộ, đường biển, đường hàng không đều hết sức thuận lợi,
đóng góp vào sự phát triển chung của hệ thống các tuyến, điểm du lịch quốc gia
trọng điểm của Việt Nam, trong đó tuyến du lịch Hà Nội - Đồ Sơn - Cát Bà - Hạ
Long là một trong ba hành lang phát triển du lịch Hà Nội - Hải Phòng đã thực
sự trở thành động lực phát triển du lịch của các vùng trong cả nước, góp phần
thực hiện các mục tiêu của ngành và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Đối với vùng du lịch Bắc Bộ, Hải Phòng cũng được xác định là một trong
ba hạt nhân để tập trung phát triển mang tính động lực thúc đẩy sự phát triển du
lịch của cả vùng. Theo quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của cả vùng du lịch
Bắc Bộ thì Hải Phòng có vị trí quan trọng trên một trong hai tuyến du lịch ven
biển quan trọng theo đường bộ.
Về đường biển, Hải Phòng là địa phương có ưu thế hơn hẳn các địa
phương khác trong vùng Bắc Bộ để phát triển tuyến du lịch đường biển. Thông
qua Hải Phòng, vùng Bắc Bộ không những tiếp cận được với các thị trường
khách du lịch từ các vùng khác trong cả nước mà còn nối với quốc tế.
Về đường hàng không, Hải Phòng có sân bay Cát Bi là sân bay thứ hai
của vùng Bắc Bộ, nối Hải Phòng với các thị trường khách du lịch trong cả nước
như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng… đồng thời là cửa khẩu quốc tế
nối Hải Phòng với Ma Cao (Trung Quốc) bằng đường hàng không, đáp ứng
được việc vận chuyển khách bằng các máy bay hành khách lớn.
Về đường sắt, Hải Phòng được nối với Hà Nội bằng tuyến đường sắt Hải
Phòng - Hà Nội và tiếp nối với tuyến đường sắt đi Lào Cai – Vân Nam (Trung
Quốc), đi Lạng Sơn – Quảng Tây (Trung Quốc) và nối với tuyến đường sắt
xuyên Việt Bắc - Nam.
Với hệ thống giao thông quan trọng, thuận lợi và là một cực của tam giác
tăng trưởng kinh tế trọng điểm Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, Hải Phòng
hội tụ đầy đủ mọi điều kiện thuận lợi trong phát triển du lịch nói riêng, kinh tế
xã hội nói chung và là cơ hội để thu hút khách du lịch.
Hải Phòng cũng là vùng đất in đậm dấu ấn chống ngoại xâm trong suốt
quá trình lịch sử 4000 năm của dân tộc Việt Nam, với các chiến thắng trên sông
Sinh viên: Đặng Thị Thùy Trang
Lớp: 2VH10

9


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng

Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938, của Lê Hoàn năm 981, của Trần Hưng
Đạo năm 1288 ... mà đến nay, các chiến tích đó vẫn còn tồn tại rất nhiều di tích
lịch sử, lưu truyền biết bao truyền thuyết dân gian, để lại cho hậu thế nhiều công
trình văn hoá, nghệ thuật có giá trị. Cho nên đến Hải Phòng, đặt chân đến bất cứ
đâu chúng ta cũng bắt gặp các di tích, các lễ hội gắn với những truyền thuyết,
huyền thoại về lịch sử oanh liệt chống ngoại xâm của Hải Phòng. Những di tích,
lễ hội này chính là nguồn tiềm năng quan trọng cần được quan tâm bảo vệ tôn
tạo để phục vụ phát triển du lịch.
Với tài nguyên du lịch cả về tự nhiên lẫn nhân văn mà tiêu biểu là bán đảo
Đồ Sơn, hải đảo Cát Bà, các di tích lịch sử – văn hoá gắn liền với di chỉ Cái Bèo
(Cát Bà), Tràng Kênh, Việt Khê (Thuỷ Nguyên), với kinh đô triều Mạc, với
chiến công lẫy lừng Bạch Đằng Giang, với danh nhân văn hoá Nguyễn Bỉnh
Khiêm… Tất cả những yếu tố trên đã và sẽ làm cho Hải Phòng trở thành một địa
danh du lịch nổi tiếng trong nước và quốc tế và Hải Phòng thực sự là một trong
những trọng điểm du lịch hấp dẫn ở vùng ven biển Bắc Bộ, góp phần xứng đáng
trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam.
Hải Phòng là một thành phố cảng và công nghiệp ở miền Bắc Việt Nam
và là một thành phố biển nằm trong Vùng duyên hải Bắc Bộ, còn là 1 trong 28
tỉnh/thành phố duyên hải .
Hải Phòng là một trong năm thành phố trực thuộc trung ương và là một đô
thị loại 1 trung tâm cấp quốc gia, là thành phố lớn thứ 3 của Việt Nam, có vị trí
quan trọng về kinh tế xã hội và an ninh, quốc phòng của vùng Bắc Bộ và cả
nước. Là thành phố cảng, cửa chính ra biển quan trọng của nước ta, là đầu mối
giao thông quan trọng Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, trên hai hành lang một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc. Hải Phòng là đầu mối
giao thông đường biển phía Bắc. Với lợi thế cảng nước sâu nên vận tải biển rất
phát triển, đồng thời là một trong những động lực tăng trưởng của vùng kinh tế
trọng điểm Bắc bộ.
Với điều kiện tự nhiên - xã hội thuận lợi Hải Phòng đã góp một phần quan
trọng đối với sự phát triển du lịch của quốc gia, thúc đẩy các lĩnh vực kinh tế xã hội khác phát triển.

Sinh viên: Đặng Thị Thùy Trang
Lớp: 2VH10

10


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA DU LỊCH HẢI
PHÒNG.
2.1. Tiềm năng phát triển của du lịch Hải Phòng.
2.1.1.Tài nguyên du lịch.
2.1.1.1.Tài nguyên du lịch tự nhiên.
a. Địa hình.
Địa hình phía bắc của Hải Phòng là vùng trung du, có đồi xen kẽ với đồng
bằng và ngả thấp dần về phía nam ra biển. Khu đồi núi này có liên hệ với hệ núi
Quảng Ninh, di tích của nền móng uốn nếp cổ bên dưới, nơi trước đây đã xảy ra
quá trình sụt võng với cường độ nhỏ, gồm các loại cát kết, đá phiến sét và đá vôi
có tuổi khác nhau được phân bố thành từng dải liên tục theo hướng Tây Bắc Đông Nam từ đất liền ra biển gồm hai dãy chính.
b. Khí hậu.
Thời tiết Hải phòng mang tính chất cận nhiệt đới ẩm ấm đặc trưng của
thời tiết miền Bắc Việt Nam: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, mùa đông khô và
lạnh, có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông tương đối rõ rệt. Nhiệt độ trung bình vào
mùa hè là khoảng 32,5 °C, mùa đông là 20,3 °C và nhiệt độ trung bình năm là
trên 23,9 °C. Lượng mưa trung bình năm là khoảng 1600 – 1800 mm. Độ ẩm
trong không khí trung bình 85 - 86%.
c. Tài nguyên nước.
- Sông ngòi: khá nhiều và dày đặc, mật độ trung bình từ 0,6-0,8 km/1 km².
Độ dốc khá nhỏ, chảy chủ yếu theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Đây là nơi tất
cả hạ lưu của sông Thái Bình đổ ra biển, tạo ra một vùng hạ lưu màu mỡ, dồi
dào nước ngọt phục vụ đời sống con người nơi đây.
- Hệ thống sông với các con sông chính ở Hải Phòng gồm:
1. Sông Đá Bạc - Bạch Đằng dài hơn 32 km là ranh giới giữa Hải Phòng với
Quảng Ninh.
2. Sông Cấm dài trên 30 km là nhánh của sông Kinh Môn, chảy qua nội
thành và đổ ra biển ở cửa Cấm.
3. Sông Lạch Tray dài 45 km, là nhánh của sông Kinh Thầy, từ Kênh Đồng
ra biển bằng cửa Lạch Tray qua địa phận Kiến An, An Hải và cả nội
thành.

Sinh viên: Đặng Thị Thùy Trang
Lớp: 2VH10

11


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng

4. Sông Văn Úc dài 35 km đổ ra biển qua cửa sông Văn Úc làm thành ranh
giới giữa hai huyện An Lão và Tiên Lãng.
5. Sông Thái Bình có một phần là ranh giới giữa Hải Phòng với Thái Bình.
6. Sông Bạch Đằng
7. Ngoài ra còn có nhiều con sông khác khá nhỏ nằm ở khu vực nội thành
quận Hồng Bàng.
- Bờ biển: Hải Phòng dài trên 125 km, thấp và khá bằng phẳng, nước biển
Đồ Sơn hơi đục nhưng sau khi cải tạo nước biển đã có phần sạch hơn, cát mịn
vàng, phong cảnh đẹp. Ngoài ra, Hải Phòng còn có đảo Cát Bà là khu dự trữ
sinh quyển thế giới có những bãi tắm đẹp, cát trắng, nước trong xanh cùng các
vịnh Lan Hạ.... đẹp và kì thú.
* Ðồ Sơn: là khu nghỉ mát và tắm biển nổi tiếng ở miền Bắc, cách thành
phố Hải Phòng 20km theo hướng Ðông Nam. Ðồ Sơn là một bán đảo nhỏ do
dãy núi Rồng vươn dài ra biển, nơi đây có bãi cát mịn, bên bờ biển rợp bóng phi
lao, sau là những ngọn núi và đồi thông. Vào ngày hè, Ðồ Sơn thật sống động.
Du khách khắp mọi miền đất nước cũng như khách quốc tế về đây tắm biển,
nghỉ ngơi và leo núi, ngắm nhìn ba thế biển đẹp.
* Quần đảo Cát Bà (Hải Phòng) đã được công nhận là khu dự trữ sinh
quyển thế giới. Vườn quốc gia Cát Bà là loại rừng nguyên sinh trên hải đảo
(thuộc Hải Phòng). Cát Bà là tên lớn nhất trong hệ thống quần đảo bao gồm 366
hòn lớn nhỏ, cách thành phố Hải Phòng gần 70km, tiếp nối với các hòn đảo nằm
trong vịnh Hạ Long (Quảng Ninh).
Trên đảo chính có thảm rừng nhiệt đới xanh tươi quanh năm. Đây là một
khu rừng nguyên sinh và là một trong những khu vườn quốc gia lớn nhất đất
nước. Rừng Cát Bà được công nhận là vườn quốc gia từ ngày 23.05.1983.
Hệ động vật có tới 20 loài thú, 69 loài chim, 20 loài bò sát và lưỡng cư.
Những loài thú hiếm là voọc đầu trắng sống ở vách núi đá cheo leo, khỉ lông
vàng, sơn dương và nhiều loài chim đẹp như cao cát, bói cá, hút mật, đầu rìu. Ở
Cát Bà cũng có chim yến và rùa biển được chăm sóc bảo tồn. Hệ thực vật trong
bảng tạm kê có 495 chi, 149 họ, trong đó có 250 loài cây thuốc. Nhiều cây cần
bảo tồn như chò chỉ, trai lý, lát hoa, kim giao và cọ Bắc Sơn. Trên đảo có hệ
sinh thái rừng ngập mặn, trên núi đá vôi có cả ao, hồ, suối ngầm, nước ngọt
cùng suối nước khoáng có cả khả năng chữa trị bệnh, nhất là thấp khớp.
Sinh viên: Đặng Thị Thùy Trang
Lớp: 2VH10

12


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng

d. Tài nguyên sinh vật.
Tài nguyên đất đai: Hải Phòng có diện tích đất là 1507,57 km²,trong đó
diện tích đất liền là 1208,49 km², đất dùng cho nông nghiệp chiếm 33,64%, đất
lâm nghiệp chiếm 14,45%, còn lại là đất chuyên dụng nằm ở ven biển nên chủ
yếu là đất phèn, đất mặn, phù sa, đất đồi feralit màu nâu vàng.
Tài nguyên rừng: Hải Phòng có rừng ngập mặn và rừng cây lấy gỗ, ăn
quả, tre, mây… với diện tích 17.000 ha. Rừng nguyên sinh Cát Bà với thảm thực
vật phong phú, đa dạng, nhiều loại thảo mộc quý hiếm như lát hoa, kim giao,
đinh...hệ động vật đa dạng với 36 loài chim (đại bàng, hải âu, đa đa, én,…), 28
loài thú (khỉ mặt đỏ, khỉ mặt vàng, sơn dương, sóc đuôi đỏ, rái cá, mèo rừng,…).
Đặc biệt là loài voọc đầu trắng, trên thế giới chỉ thấy ở Cát Bà. Bên cạnh đó, Đồ
Sơn là một bán đảo đồi núi, rừng thông nối tiếp nhau vươn ra biển dài đến 5 km,
có giá trị chủ yếu về phong cảnh và môi trường sinh thái…là những địa danh nổi
tiếng của thành phố Cảng.
2.1.1.2.Tài nguyên du lịch nhân văn.
Theo con số thống kê chưa đầy đủ, thành phố Hải Phòng hiện còn lưu giữ
hơn 1.000 di tích, bao gồm 537 ngôi chùa, 107 nhà thờ, số còn lại là các đình
đền, miếu phủ…Trong đó, có 103 di tích được Bộ Văn hóa thể thao và Du lịch
xếp hạng di tích quốc gia, 165 di tích được Uỷ ban nhân dân thành phố xếp hạng
di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố. Đặc biệt Hải Phòng có quần đảo Cát Bà
được tổ chức UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thiên nhiên thế giới
và 3 khu danh lam thắng cảnh là vùng non nước Đồ Sơn, danh thắng Tràng
Kênh Bạch Đằng, Núi Voi Xuân Sơn. Hai làng nghề cổ truyền gồm tạc tượng
Đồng Minh, sơn mài Bảo Hà ở huyện Vĩnh Bảo. Toàn thành phố có 252 lễ hội
cổ truyền. Trong đó có một lễ hội cấp quốc gia (Hội chọi trâu Đồ Sơn), 1 lễ hội
cấp ngành (Lễ hội làng cá đảo Cát Bà), 5 lễ hội cấp vùng, 91 lễ hội cấp xã và
156 lễ hội làng.
a. Di tích lịch sử.
Hải phòng là nơi lưu giữ một kho tàng di sản văn hóa quý báu gắn liền
với lịch sử thành phố và của dân tộc. Hải Phòng là vùng đất đầu sóng, ngọn gió,
phía Đông của đất nước, có vị thế chiến lược trong toàn bộ tiến trình đấu tranh
dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Người Hải Phòng với tinh thần yêu nước
nồng nàn, tính cách dũng cảm, kiên cường, năng động, sáng tạo, đã từng chứng
Sinh viên: Đặng Thị Thùy Trang
Lớp: 2VH10

13


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng

kiến và tham gia vào nhiều trận quyết chiến chiến lược trong chiến tranh giải
phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Đây là vùng đất in đậm dấu ấn chống ngoại
xâm trong suốt quá trình lịch sử 4000 năm của dân tộc Việt Nam.
Đến Hải Phòng, đặt chân đến bất cứ đâu chúng ta cũng bắt gặp các di tích,
các lễ hội gắn với những truyền thuyết, huyền thoại về lịch sử oanh liệt chống
ngoại xâm của Hải Phòng. Những di tích, lễ hội này chính là nguồn tiềm năng
quan trọng cần được quan tâm bảo vệ tôn tạo để phục vụ phát triển du lịch. Tiêu
biểu với những di tích lịch sử như:
*Đền Nghè:
Ngôi đền xinh xắn với quy mô vừa phải nhưng từ lâu đã trở thành một
trong số những di tích lịch sử và danh thắng nổi tiếng của địa phương. Đó là đền
Nghè là ngôi đền thờ nữ tướng Lê Chân, người có công khai phá, tạo dựng vùng
đất Hải Phòng. Dân làng bèn nơi đây để dựng đền thờ bà.
Lúc đầu, đền thờ chỉ là một gian miếu nhỏ, mái lợp gianh. Năm 1919, đền
Nghè mới được xây dựng khang trang như hiện nay.
Đền có 2 nhà chính - Tiền tế và Hậu cung. Nóc nhà Tiền tế nổi bật hàng
chữ Hán lớn "An Biên cổ miếu". Giữa Tiền tế và Hậu cung là nhà Thiên Hương
2 tầng, mái tâm đầu đao. Trong toà hậu cung đặt tượng bà Lê Chân, hai bên thờ
song thân bà.
Đến thăm Đền Nghè, quí khách thường chú ý đến hai vật tích độc đáo - đó
là Khánh đá và Sập đá. Khánh làm bằng một tấm đá nguyên dày 5cm được tách
ra thành hình chiếc khánh (có chiều cao 1m, rộng 1,6m). Mặt trước khánh khắc
nổi hai con rồng chầu mặt nguyệt và hình mây bay xung quanh. Mặt sau khánh
khắc hình mây bay và sóng nước, cả hai mặt có hai núm tròn, lồi cao là chỗ để
gõ. Tiếng khánh đá trong ngân vang êm dịu, lan tỏa, hướng ta tới cõi tâm linh
huyền ảo mà thiêng liêng. Sau khi tu bổ, tôn tạo những nét đẹp của đền được gìn
giữ với diện mạo khang trang đáp ứng nhu cầu thăm viếng của nhân dân và du
khách thập phương.
*Bến tàu không số:
Bến tàu không số (là Bến nghiêng Đồ Sơn hiện nay) ở chân đồi Vạn Hoa
cạnh thung lũng xanh, nay là khách sạn 100 phòng của công ty du lịch quốc tế
Đồ Sơn. Dấu tích cầu cảng K15 nay còn lại là những cột bê-tông. Cầu cảng này

Sinh viên: Đặng Thị Thùy Trang
Lớp: 2VH10

14


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng

được xây dựng và bảo vệ tuyệt đối bí mật, là nơi đỗ của những chiếc tàu không
số, chở vũ khí chi viện cho miền Nam.
Ngày 11/10/1962 chiếc tàu gỗ chở 30 tấn vũ khí đã xuất phát ở đây. Sau 6
ngày lênh đênh trên biển cả, tàu đã cập bến tại Cà Mau, chuyển giao toàn bộ vũ
khí cho quân khu 9. Tất cả có gần 100 thuyền với tổng số 168 chuyến đi xuất
phát tại đây. Vì vậy, bến tầu này là điểm xuất phát của đường được mệnh danh
là 'đường mòn Hồ Chí Minh trên biển'.
“Bến tàu không số” là điểm khởi đầu của con đường huyền thoại Hồ Chí
Minh trên biển, tại Đồ Sơn, Hải Phòng, vừa được xếp hạng di tích lịch sử quốc
gia năm 2008.
*Chùa Dư Hàng:
Chùa Hàng tọa lạc ở số 121 phố Dư Hàng, phường Hồ Nam, quận Lê
Chân. Chùa có nguồn gốc từ thời Tiền Lê (980 - 1009).
Chùa Hàng xây theo kiểu chữ "đinh", hai bên là nhà tổ, đằng trước có tam
quan rất đẹp, phía trong là sân rộng. Nội thất tòa Phật điện được trang trí nhiều
bức hoành phi, câu đối, cửa võng sơn son, thếp vàng rực rỡ, đường nét mềm
mại, kỹ thuật tinh xảo, được thể hiện qua các mảng đề tài hoa lá, cỏ cây, muông
thú, mang phong cách nghệ thuật triều Nguyễn cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20.
Gian tiền đường của tòa Phật điện được trang trí bằng nhiều mảng chạm khắc
nổi trên cửa võng, nhiều mảng đề tài quen thuộc: mai điểu, ngũ phúc, rồng
mây... thể hiện ước muốn của muôn dân cho "mưa thuận, gió hòa, cỏ cây tươi
tốt". Hiện nay, chùa Dư Hàng còn bảo lưu nhiều di vật quý giá như chuông,
khánh, đỉnh đồng, đồ trang trí mỹ thuật bằng gốm sứ, đá xanh và đặc biệt là bộ
sách kinh Tràng A Hàm là tài liệu cổ về giáo lý đạo phật được lưu truyền từ
nhiều đời sư trụ trì.
*Đình Hàng Kênh:
Đình Hàng Kênh (tên chữ là Nhân Thọ đình), nằm trên đường Nguyễn
Công Trứ, phường Hàng Kênh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Theo bia ký còn lưu giữ tại di tích, đình Hàng Kênh ngày nay khởi dựng
vào năm 1719, đời vua Lê Dụ Tông và được trùng tạo vào năm 1841 đến 1850.
Đình Hàng Kênh tọa lạc trên một khuôn viên rộng chừng 6000m 2 với kiến
trúc truyền thống: đại đình, tọa ống muống và hậu cung. Ngoài kiến trúc chính
còn có hai toà giải vũ, văn miếu, hồ bán nguyệt.
Sinh viên: Đặng Thị Thùy Trang
Lớp: 2VH10

15


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng

Toà đại đình là phần kiến trúc trọng yếu nhất của ngôi đình, có quy mô bề
thế gồm 7 gian, mái lợp ngói mũi hài, đầu đạo cong vút. Nét đặc sắc, độc đáo
của toà đại đình là các mảng trang trí chạm khắc cầu kỳ, tinh xảo như chạm
bong hình, chạm nổi, chạm thủng trên các xà, cột... Đình Hàng Kênh có giá trị
lớn về nghệ thuật kiến trúc.
Toà hậu cung thâm nghiêm thờ Ngô Vương Quyền, người có công đánh
tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938, giành nền độc lập tự chủ cho
dân tộc Việt nam sau một nghìn năm Bắc thuộc.
Đình Hàng Kênh là di tích đặc biệt, tiêu biểu của thành phố Hải Phòng,
được Nhà nước xếp hạng năm 1962.
b. Kiến trúc.
Kiến trúc của thành phố Hải Phòng là sự pha trộn hài hòa giữa hai nền
văn hóa Á - Âu. Sự pha trộn này tạo ra cho thành phố một nét đẹp đô thị riêng
biệt, vừa thanh lịch, vừa mạnh mẽ với một số công trình tiêu biểu như:
*Nhà hát lớn Hải Phòng:
Trong lịch sử Pháp thuộc, Việt Nam có ba thành phố được chọn xây dựng
nhà hát lớn đó là Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh. Nhà hát thành
phố Hải Phòng là một trong những di tích kiến trúc văn hoá tiêu biểu của giai
đoạn kiến trúc Việt Nam, với những trang trí hoa văn, phù điêu độc đáo được bố
cục hài hoà, có giá trị mĩ thuật cao. Nhà hát Thành phố là nơi tổ chức những
hoạt động văn hóa, chính trị lớn của thành phố Hải Phòng.
Các kiến trúc sư khi xây dựng nhà hát đã tận dụng các đường cong để tạo
nhịp điệu và những không gian phong phú, sinh động. Về trang trí thì tiêu biểu
nhất của nhà hát lớn phải kể đến hình tượng chiếc đàn Lia trên cánh cửa- đây có
thể xem như biểu tượng cho âm nhạc, cho nhà hát lớn.
Kiến trúc nhà hát lớn Hải Phòng được xây dựng theo kiểu kiến trúc
Barốc. Nên có thể nói nhà hát lớn được xem như một trong những công trình
kiến trúc lớn nhất thời bấy giờ.
*Bảo tàng thành phố Hải Phòng:
Nằm ngay khu vực trung tâm, số 66 đường Điện Biên Phủ, Phường Minh
Khai, Quận Hồng Bàng, Thành phố Hải Phòng.
Bảo tàng được xây dựng vào năm 1919, có kiến trúc đẹp, thiết kế theo
kiểu Gotich ở Châu Âu. Bảo tàng Hải Phòng được khánh thành chính thức ngày
Sinh viên: Đặng Thị Thùy Trang
Lớp: 2VH10

16


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng

20/12/1959. Thông qua hơn ba vạn tài liệu, hiện vật được trưng bày trong 15
phòng, với diện tích trên 120 m2, bảo tàng thành phố thể hiện một cách sinh
động, khái quát, có hệ thống những chặng đường phát triển của lịch sử Hải
Phòng.
Du khách đến tham quan Bảo tàng Hải Phòng không chỉ thưởng thức vẻ
đẹp bên ngoài với những vòm mái, khung nhà... mà còn được chiêm ngưỡng
những phòng trưng bày giới thiệu về thành phố Hải Phòng. Bảo tàng có số
lượng lớn hiện vật quý, trong đó có 154.497 tư liệu, 29.381 phim ảnh, gồm
nhiều giai đoạn lịch sử, chứa đựng nhiều nội dung phong phú và đa dạng. Bảo
tàng Hải Phòng còn là nơi trưng bày các đồ gốm, sứ cổ và hiện đại cùng với
tranh, tượng cổ hoặc mới sáng tác có nhiều giá trị thẩm mỹ. Trong khuôn viên
Bảo tàng còn trưng bày súng thần công, bia ký, máy bay MIC 17, chiếc tàu rà
phá thuỷ lôi của Hải Quân nhân dân Việt Nam và đặc biệt là những phiến đá
được mang về từ quần đảo Lý Sơn, minh chứng cho nền chủ quyền của Việt
Nam trên biển Đông.
*Quán hoa:
Là công trình được người Pháp xây dựng vào năm 1944. Mặc dù vậy,
quán hoa vẫn mang kiến trúc cổ theo hình thức phương đình truyền thống của
Việt Nam. Trong đó, dấu ấn rõ nét nhất của lối kiến trúc này chính là 4 trụ cột to
tạo thế cân đối. Hệ thống mái của quán hoa với bờ nóc có hình hoa chanh 4 cánh
toả ra 4 phía đông, tây, nam, bắc. Bờ dải chạy từ nóc xuống tạo thành một góc
nhọn vươn lên cao, cong vút. Toàn bộ mái được lợp bằng ngói vẩy rồng, 5 quán
hoa, mỗi quán có diện tích rộng gần 20m 2, cao gần 4m, các quán cách nhau 6m,
toàn bộ trải đều trên diện tích 300m 2. Nguyên liệu chính của quán hoa là gỗ lim,
có khả năng chống mối mọt, qua gần 60 năm quán vẫn nguyên vẹn.
Ngoài công trình kiến trúc tiêu biểu như: Cung Văn hóa Thanh niên Hải
Phòng, Trụ sở Ngân hàng nhà nước, Trung tâm triển lãm VHNT Hải Phòng,
Bưu điện thành phố...còn các công trình kiến trúc tôn giáo như: Đình Hàng
Kênh, Chùa Dư Hàng, Đền Phổ Chiếu, Đền Bà Đế, Miếu Chúa Bà Năm
Phương…
c.Lễ hội.
Hải Phòng cũng là địa phương bảo tồn được nhiều loại hình nghệ thuật
văn hóa, lễ hội như:
Sinh viên: Đặng Thị Thùy Trang
Lớp: 2VH10

17


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng

*Hội trọi trâu ở Đồ Sơn:
Vùng đất có truyền thống văn hoá với nhiều di tích lịch sử và danh thắng
mang đặc trưng của miền biển. Lễ hội vừa mang tinh thần thượng võ của dân
tộc, vừa là biểu tượng bao đời của nền nông nghiệp ở Việt Nam, con trâu gắn
liền với xứ sở trồng lúa nước.
Trong những di sản văn hoá ấy, nổi bật là lễ hội chọi trâu Đồ Sơn là một
lễ hội mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam. Đây là một sinh hoạt văn
hoá, tôn giáo, nghệ thuật truyền thống phản ánh cuộc sống vật chất và tâm linh
của một cộng đồng trong quá khứ.
Lễ hội Chọi trâu Đồ Sơn là lễ hội truyền thống của người dân quận Đồ
Sơn - TP Hải Phòng, được tổ chức chính thức vào 9/8 âm lịch hàng năm, trước
đó còn có hai cuộc đấu loại vào trung tuần tháng 5 và 8/6 âm lịch. Đây không
chỉ là một ngày hội gắn với tục thờ cúng thuỷ thần và tục hiến sinh mà còn thể
hiện tinh thần thượng võ của người dân miền biển, Hải Phòng.
Phần lễ vẫn giữ nguyên những nghi thức truyền thống với các nghi lễ
trang trọng.
Phần hội diễn ra vào chính hội ngày 9/8 với nhiều hoạt động mang đậm
bản sắc dân tộc.
Theo quan niệm cổ xưa, nếu trâu làng nào thắng trận trong lễ hội, năm ấy
cả làng sẽ gặp nhiều may mắn, mưa thuận gió hoà, mọi người bình yên trong
suốt hành trình đi biển. Và đặc biệt hơn nữa là cho dù thắng hay thua, sau khi
kết thúc lễ hội, các trâu đều được mổ thịt tế lễ trời đất, cầu mùa màng thuận hoà.
Người ta cũng tin rằng, nếu được ăn thịt trâu chọi trong dịp lễ hội, sẽ gặp nhiều
điều may mắn. Lễ hội chọi trâu mang đậm nét văn hoá tâm linh của người dân
miền biển, góp phần tạo nên phong cách rất riêng cho một vùng duyên hải.
*Lễ hội Hoa phượng đỏ:
Tổ chức tại thành phố Hải Phòng nhằm tôn vinh loài hoa đã gắn bó với
mảnh đất, con người Hải Phòng, đồng thời góp phần tạo nên điểm nhấn mới,
mang tính đột phá cho ngành du lịch Hải Phòng
Là một sản phẩm du lịch mới của thành phố Hải Phòng với nhiều hoạt
động văn hóa, nghệ thuật, thể thao hoành tráng, hấp dẫn, rực rỡ sắc màu, góp
phần quảng bá hình ảnh thành phố Cảng của miền bắc Việt Nam.

Sinh viên: Đặng Thị Thùy Trang
Lớp: 2VH10

18


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng

Việc Hải Phòng tổ chức lễ hội hoa phượng đỏ và đăng cai năm du lịch
Quốc gia Đồng bằng sông Hồng - Hải Phòng 2013 có ý nghĩa rất quan trọng, là
cơ hội để thành phố giới thiệu, quảng bá hình ảnh cũng như tiềm năng du lịch;
mở rộng quan hệ, xúc tiến đầu tư thương mại, du lịch trong nước và quốc tế.
Nếu tổ chức thành công, lễ hội hoa phượng đỏ sẽ trở thành sự kiện thường niên
của thành phố, là sản phẩm du lịch độc đáo, riêng có của du lịch Hải Phòng
trong những năm sắp tới.
*Lễ hội đua thuyền.
Vào ngày 21 tháng giêng hàng năm, lễ hội đua thuyền truyền thống thị
trấn Cát Hải lại được tổ chức. Lễ hội bắt nguồn từ ý nguyện tâm linh của những
người đi biển, cầu Nam Hải đại vương - vị thần cai quản vùng biển phù hộ cho
một năm mưa thuận gió hoà, tôm cá bội thu.
Lễ hội bắt nguồn từ làng Gia Lộc xưa có tục lệ ngày 21 tháng Giêng dân
làng mở hội đua thuyền, hay còn gọi là ngày các lái cầu, cầu cho mưa thuận gió
hoà, mùa màng bội thu để đời sống ngư dân trên đảo thêm phần ấm no, hạnh
phúc..
Lễ cùng các hoạt động phong phú đặc sắc, đã góp phần tạo nên bản sắc
riêng, độc đáo của văn hoá vùng biển.
Ngoài ra còn rất nhiều lễ hội như: Hội Đền Nghè, Hội Chùa Vẽ, Hội Đền
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hội chơi Hoa Thủy Tiên, Hội Tát Giang…
d. Nghệ thuật dân gian.
Hải Phòng có nhiều làng nghề nổi tiếng từ xưa như tạc tượng, làng con rối
Đồng Minh (Vĩnh Bảo), mà ông tổ nghề Tô Phú Vượng tiêu biểu cho tài năng
điêu khắc được vua Lê ban cho nghệ danh kỳ tài hầu, làm chiếu cói, thảm cói
Nam Am, Cổ Am, tạo hình tứ linh và các con vật.
*Nghệ thuật múa rối nước: rối nước, rối cạn, rối đèn:
Múa rối là môn nghệ thuật dân gian lâu đời ở Hải Phòng. Có hai loại hình
múa rối: múa rối nước và múa rối cạn. Phường múa rối cạn Bảo Hà, xã Đồng
minh, huyện Vĩnh Bảo xuất hiện từ rất lâu đời, ngày càng thu hút sự chú ý của
khách du lịch trong nước và quốc tế. Con rối Bảo Hà cao chừng 30cm, làm bằng
gỗ, tay rối làm bằng vải bông, rất giản dị và xinh xắn. Múa rối cạn ngày nay khi
biểu diễn thường kèm theo âm nhạc, lời nói và ca hát nên đã mang tính chất sân
khấu kịch hát, không còn thuần nhất và đơn giản như trước đây.
Sinh viên: Đặng Thị Thùy Trang
Lớp: 2VH10

19


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng

Bên cạnh múa rối cạn, múa rối nước ở Nhân Hòa, huyện Vĩnh Bảo cũng
là một trong những nét đặc sắc của nghệ thuật múa rối Hải Phòng. Đây là một
loại hình sân khấu trối kết hợp với thiên nhiên và lửa pháo. Con rối nước Nhân
Hòa làm bằng gốc sơn then, không mặc trang phục biểu diễn. Ngày nay, thay vì
biểu diễn ở hồ ao như trước đây, người ta đã tạo ra bể nước để có thể diễn rối
nước trong rạp hát.
* Hội xuân hát Đúm: ở Xã Phục Lễ, Phả Lễ (Thủy Nguyên).
Đã từ lâu, cứ vào ngày mùng 4 đến ngày mùng 10 tháng giêng âm lịch
hàng năm, Tổng Phục lại mở hội làng. Hội làng đầu xuân có rất nhiều cuộc thi:
Thi cỗ bánh, thi dệt cửi, thi đánh đu, đánh vật, đánh cờ...nhưng cuốn hút nhất
vẫn là thi hát Đúm. Đây là lễ hội có truyền thống từ xa xưa và được duy trì đến
tận hôm nay trong niềm đam mê không chỉ của các nghệ nhân có tuổi, mà cả ở
tầng lớp thanh, thiếu niên.
Bài bản của hát đúm rất phong phú. Đầu tiên, khi mới gặp nhau là những
câu hát chào, những câu hát mừng. Tiếp sau đó có thể là hát hỏi, hát đố, hát họa,
hát huê tình, hát cưới... và cuối cùng là hát ra về.
Hát đúm kéo dài từ sáng tới trưa, từ trưa tới tối. Giữa các canh hát, các cô
mời trầu nước, tặng vật kỷ niệm cho các chàng để tỏ lòng mến mộ. Chiều, các
cô mời các chàng về nhà mình ăn bữa cơm đầu xuân để biết nhà cửa và có sức
tiếp tục hát tới khuya. Cứ như vậy, ngày này qua ngày khác, cuộc hát đúm kéo
dài đến mồng 10. Qua những buổi hát, nhiều đôi đã kết nhau để cuối năm nên
duyên chồng vợ.
Vào những ngày xuân, hát đúm như trỗi dậy một sức sống mới vốn tiềm
ẩn từ lâu trong tâm trí và tấm lòng của những người con quê hương hát Đúm.
Các chàng trai, cô gái vẫn duyên dáng, say sưa trong những làn điệu hát Đúm
ngày xuân. Hát Đúm cũng như một số hình thái sinh hoạt văn hóa dân gian khác
đã phải trải qua những bước thăng trầm. Vậy mà, sức sống lâu bền, mãnh liệt
của nó vẫn còn đến ngày hôm nay.
Ngoài ra, còn có làng nghề đúc đồng, mây tre đan ở Thủy Nguyên, làng
tạc tượng ( xã Bảo Hà- Vĩnh Bảo), làng trồng hoa xứ ( An dương), làng trồng
cau ( Cao nhân- Thủy Nguyên)…

Sinh viên: Đặng Thị Thùy Trang
Lớp: 2VH10

20


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng

2.1.2.Cơ sở vật chất kĩ thuật và cơ sở hạ tầng để phục vụ du lịch của Hải
Phòng.
* Cơ sở vật chất kĩ thuật.
- Khách sạn và nhà nghỉ ở Hải Phòng:
Tính đến nay, trên địa bàn thành phố có 405 cơ sở kinh doanh lưu trú du
lịch với 9.009 phòng lưu trú, trong đó có 203 cơ sở lưu trú du lịch đã được phân
loại, xếp hạng với 6.069 phòng, bao gồm: 01 biệt thự cao cấp, 08 khách sạn 4
sao, 07 khách sạn 3 sao, 57 khách sạn 2 sao, 33 khách sạn 1 sao, 95 cơ sở đạt
tiêu chuẩn kinh doanh lưu trú du lịch, 62 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành,
trong đó 18 doanh nghiệp lữ hành quốc tế, 44 doanh nghiệp lữ hành nội địa.
Một số khách sạn tiêu biểu cấp cao của Hải Phòng là Best Western Pearl
River, Khách sạn Nam Cường, Khách sạn Quốc tế Sao Biển, Harbour View,
Camela, Cát bà sunrise, Hữu Nghị, Hoàng Long…
- Nhà hàng:
Cùng với cơ sở lưu trú, cơ sở phục vụ ăn uống ở Hải Phòng vô cùng
phong phú và đa dạng với các món ăn như: Bánh đa cua, bún cá, bánh mì cay,
cơm cháy hải sản, ốc cay… Ẩm thực Hải Phòng đã từng được quảng bá sang
Châu Âu tại lễ hội biển Brest 2008 ( cộng hòa Pháp) và gây được tiếng vang lớn.
- Khu vui chơi, giải trí:
Một số resort cấp cao nổi tiếng ở Hải Phòng: Camela, Hon dau Resort,
Cát Bà Sunrise, Cát Bà Island, Monkey, sông giá resort…
Hải Phòng có một hệ thống khu vui chơi giải trí, công viên thu hút được
rất nhiều khách du lịch như: Hồ Ông báo, Hồ Hạnh Phúc, Sân golf sông giá, sân
golf Đồ Sơn, dịch vụ câu cá tại khu sinh thái Nam Sơn, Suối nước khoáng nóng
ở Tiên Lãng…
*Cơ sở hạ tầng:
- Hệ thống giao thông:
Với vị trí là đầu mối giao thông quan trọng, là cửa ngõ ra biển của toàn
miền Bắc. Hải Phòng hội tụ tất cả các loại hình giao thông là đường bộ, đường
sắt, đường thủy, đường hàng không và hệ thống cảng biển.
Nằm ở vị trí giao lưu rất thuận lợi với tất cả các tỉnh trong nước và quốc tế,
từ Hải Phòng có thể rất dễ dàng đến các nơi trong nước và quốc tế bằng đường
biển, đường sắt, đường bộ, đường thủy và đường hàng không, tạo cho Hải Phòng
Sinh viên: Đặng Thị Thùy Trang
Lớp: 2VH10

21


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng

có thể trở thành địa phương đi đầu cả nước trong trao đổi hàng hoá, dịch vụ, tiếp
nhận các thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới, chủ động tham gia vào quá
trình phân công lao động quốc tế và khu vực.
Có cảng, có hệ thống hạ tầng giao thông đường sắt, đường bộ, đường sông,
đường biển và đường hàng không đến các tỉnh trong vùng Bắc Bộ, trong nước và
quốc tế. Trong khu vực Đông Nam Á có khoảng 536 cảng biển (trong đó có 5
cảng lớn, 11 cảng trung bình, 73 cảng nhỏ, còn lại là 487 cảng rất nhỏ) thì cảng
Hải Phòng và cảng Thành phố Hồ Chí Minh của Việt Nam được xếp vào nhóm
các cảng quan trọng cùng với các cảng Manila, Hồng Công (Hồng Kông), Bnawg
cốc ( Thái Lan), Singaore…
- Công nghệ thông tin:
Mạng lưới thông tin liên lạc của thành phố ngày càng hiện đại, đáp ứng
nhu cầu cao của khách hàng. Mạng bưu chính viễn thông đã phủ sóng di động
trên phạm vi toàn thành phố. Tại các cơ sở lưu trú, nhà hàng, khách sạn cũng đã
được lắp đặt các trang thiết bị kĩ thuật để phục vụ cho nhu cầu của khách.
2.1.3.Nguồn nhân lực phục vụ du lịch:
Nguồn lao động dồi đào và nhiệt huyết.
Gia tăng nhanh về số lượng và chất lượng (trình độ, năng lực, tri thức, trí
tuệ và nhân cách, phẩm chất).
Có nguồn nhân lực là lực lượng lao động trẻ, hiếu học, dồi dào, cần cù,
thông minh, linh hoạt,năng lực tiếp thu tri thức khoa học - công nghệ tốt.
Tập hợp một nguồn nhân lực giàu kinh nghiệm và đầy sáng tạo.
2.2. Thực trạng phát triển của du lịch Hải Phòng.
2.2.1. Số lượng khách.
Bảng 2.1: Bảng thống kê số lượng khách du lịch của Hải Phòng giai đoạn
2012- đầu 2015.
Đơn vị: Lượt khách
Chỉ tiêu năm
2012
2013
2014
Đầu 2015
Số lượt khách
4.300.700
4.718.812
5.287.428
1.965.731
Khách quốc tế
568.060
718.732
864.400
259.920
Khách nội địa
962.000
1.115.000
1.450.000
485.000
“Nguồn thông tin: sở văn hóa- Thể thao và du lịch Hải Phòng”
Năm 2013, là năm tình hình kinh tế chính trị bất ổn ở một số quốc gia đã
ảnh hưởng đến tình hình kinh tế đặc biệt là du lịch trong nước. Nhưng 2013 là
Sinh viên: Đặng Thị Thùy Trang
Lớp: 2VH10

22


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng

năm du lịch quốc gia Đồng Bằng Sông Hồng- Hải Phòng với nhiều hoạt động
văn hóa, thể thao, nghệ thuật lớn được tổ chức là điều kiện quảng bá thương
hiệu, tạo sức hút mạnh mẽ cho du lịch thành phố Hoa Phượng đỏ.
+ Lượng khách du lịch tăng hơn 400000 lượt khách so với năm 2012.
+ Lượng khách quốc tế tăng hơn 150000 lượt khách so với năm 2012.
+ Lượng khách nội địa tăng 153000 lượt khách so với năm 2012.
Năm 2014, nếu như năm 2013 ghi dấu ấn đặc biệt cho ngành du lịch của
thành phố với thành công của năm Du lịch quốc gia Đồng Bằng Sông Hồng- Hải
Phòng thì năm 2014 là sự thành công của Lễ Hội Hoa Phượng đỏ lần thứ III đã
tạo bước chuyển mạnh mẽ và nhận ra của các cấp, các ngành và các tầng lớp
nhân dân về vị trí, vai trò, hiệu quả nhiều mặt của du lịch. Chính vì vậy mà năm
2014 du lịch Hải Phòng đã đón được 5.287.428 lượt khách du lịch tăng hơn
568000 lượt khách so với năm 2013.
+ Lượng khách quốc tế tăng hơn 145000 lượt khách so với năm 2013
+ Lượng khách nội địa tăng hơn 335000 lượt khách so với năm 2013.
Hai trọng điểm du lịch Đồ Sơn, Cát Bà và dải trung tâm thành phố là
những nơi thu hút du khách đông đảo nhất.
+ Lượng khách đến Cát Bà đạt 1.513.000 lượt, trong đó lượng khách quốc
tế đạt 341.200 lượt.
+ Lượng khách đến Đồ Sơn đạt 2.3 triệu lượt.
Khách lưu trú tăng tập trung ở các khu du lịch Đồ Sơn, Cát Bà và khu vực
nội thành.
Đầu năm 2015, thành phố tổ chức nhiều hoạt động hấp dẫn, đặc sắc kỉ
niệm 60 năm giải phóng Hải Phòng và tổ chức Lễ hội Hoa Phượng đỏ - Hải
Phòng 2015 đã thu hút một lượng du khách đông đảo đến với Hải Phòng

2.2.2. Doanh thu.
Bảng 2.2. Doanh thu từ các dịch vụ du lịch giai đoạn năm 2012- 2015.
Sinh viên: Đặng Thị Thùy Trang
Lớp: 2VH10

23


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng

Đơn vị: Tỉ đồng
Chỉ tiêu năm
2012
2013
2014
Đầu 2015
Doanh thu
1.045,31
1.196,9
1.414,188 450,728
Doanh thu lữ hành
864,5
920,042
972,000
300,231
Doanh thu lưu trú
225,400
259,500
307,100
107,932
“Nguồn thông tin: sở văn hóa- Thể thao và du lịch Hải Phòng”
Doanh thu du lịch Hải Phòng tăng khá ổn định qua các năm, do Hải
Phòng đã có nhiều biện pháp và hướng đầu tư phù hợp để phát triển du lịch, đặc
biệt trong lĩnh vực quảng bá, thu hút khách đến với Hải Phòng. Tuy nhiên, mức
tăng vẫn chưa cao do khả năng chi trả của du khách còn ít. Thời gian lưu trú
trung bình của khách du lịch ở Hải Phòng tuy có tăng nhưng không đáng kể, cụ
thể:
Năm 2013, tổng doanh thu là 1.196,9 tỉ tăng 151,59 tỉ so với năm 2012,
trong đó:
+ Doanh thu lữ hành tăng 55,542 tỉ so với năm 2012.
+ Doanh thu từ lưu trú tăng 31,4 tỉ so với năm 2012.
Năm 2014, tổng doanh thu tăng 217.288 tỉ so với năm 2013, trong đó:
+ Doanh thu từ lữ hành tăng 51,958 tỉ.
+ Doanh thu từ lưu trú tăng 47,6 tỉ.
Đầu năm 2015: có dấu hiệu khả quan, số lượng khách tương đối ổn định.
2.2.3. Thực trạng phát triển nhân lực.
Tính đến năm 2013 nguồn nhân lực phục vụ trong ngành du lịch Hải
Phòng là 13.865 người. Trong đó:
+ Số lao động thường xuyên là: 13.040 người.
+ Số lao động mùa vụ là: 825 người.
+ Số cán bộ, quan chức quản lí nhà nước về du lịch là: 44 người.
+ Số lao động đã qua đàotạo các chuyên môn,nghiệp vụ khác nhau:
9619 người ( trong đó: Đại học – trên đại học: 1.250 người, Cao đẳng – trung
cấp: 4.425 người, Sơ cấp, khác: 3.944 người) .
+ Số lao động biết ngoại ngữ: 8.840 người.
+ Độ tuổi trong ngành từ: 24- 40 tuổi chiếm 70%.

Sinh viên: Đặng Thị Thùy Trang
Lớp: 2VH10

24


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng

Tuy lực lượng lao động trong ngành du lịch Hải Phòng trong những năm
qua phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng nhưng cũng bộc lộ những mặt hạn
chế
Số lượng lao động trực tiếp, gián tiếp trong những năm qua có tăng qua
các năm, nhưng chưa đáp ứng yêu cầu để triển khai các hoạt động du lịch đang
ngày càng đa dạng về sản phẩm, loại hình du lịch và chất lượng các loại hình,
sản phẩm du lịch.
Đội ngũ công chức làm công tác quản lý về du lịch còn thiếu và yếu, cán
bộ chuyên trách làm công tác du lịch ở quận, huyện không nhiều. Cán bộ quản
trị kinh doanh du lịch chưa được đào tạo chuyên sâu. Đội ngũ nhân viên nghiệp
vụ du lịch còn thiếu tính chuyên nghiệp, kỹ năng nghề chưa thuần thục, sử dụng
được ngoại ngữ và tin học phục vụ công việc không nhiều.
Số lao động có trình độ đại học và trên đại học chiếm tỉ lệ thấp trong tổng
số lao động đã qua đào tạo, nhưng rất ít người được đào tạo đúng chuyên ngành.
Đội ngũ lao động đang làm việc trong ngành Du lịch chưa được bồi
dưỡng cập nhật kiến thức thường xuyên, chưa có cơ chế thỏa đáng để khuyến
khích nhân viên học thêm nghiệp vụ, ngoại ngữ và tin học.
Đặc biệt là kỹ năng giao tiếp tiếng nước ngoài còn hạn chế đối
Khi tuyển chọn nhân viên, các doanh nghiệp chưa chú trọng đến yêu cầu
đòi hỏi nhân lực du lịch phải có kiến thức, có trình độ tin học, ngoại ngữ, tinh
thông nghiệp vụ và phải là con người có văn hoá, am hiểu sâu sắc về
Cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy học tập ở các trường còn lạc hậu, mang
nặng lý thuyết, thiếu thực hành, đôi khi còn mang tính thử nghiệm hoặc vận
dụng máy móc các chương trình đào tạo của nước ngoài. Giảng viên chưa có
kinh nghiệp thực tế, chất lượng chưa cao. Đầu tư thấp dẫn tới thiếu những
phương tiện dạy học tối thiểu, nhất là các phương tiện giảng dạy hiện đại và
phương tiện cho thực hành của sinh viên.
Có thể nói, phát triển nguồn nhân lực vừa có tính cấp bách, vừa mang ý
nghĩa chiến lược và cũng là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, phải đặt lên vị
trí hàng đầu trong quá trình phát triển của du lịch Hải Phòng.

Sinh viên: Đặng Thị Thùy Trang
Lớp: 2VH10

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×